1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn KT - KN

130 613 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Dạy Học Và Kiểm Tra Đánh Giá Theo Chuẩn KT - KN
Trường học Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 863,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần thứ nhấtNhững vấn đề chung Nội dung 1.1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO VIÊN THỰC HIỆN DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CỦA CHƯƠNG TRÌN

Trang 1

Phần thứ nhất

Những vấn đề chung

Nội dung 1.1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO VIÊN THỰC HIỆN

DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG CỦA CHƯƠNG

TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

I- MỤC TIÊU TẬP HUẤN

Sau khi tập huấn, học viên sẽ đạt được:

1 Về kiến thức

a.Hiểu các khái niệm cơ bản về chuẩn.

b.Biết chọn lựa nội dung trong sách giáo khoa, những ví dụ thực tiễn để diễn tả rõ Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình môn giảng dạy.

c.Thực hiện được việc dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng (tự xây dựng được một số bài giảng và bài kiểm tra).

d.Biết phát huy khả năng sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá khi thực hiện Chuẩn KT-KN (tự xây dựng được một số bài giảng và bài kiểm tra).

e.Hiểu rõ vai trò quan trọng việc dạy học phân hoá phù hợp với năng lực, trình độ học sinh, phát triển

tư duy, sáng tạo của học sinh (tự xây dựng được một số bài giảng và bài kiểm tra).

3 Về thái độ: Thực hiện nghiêm túc các yêu cầu đặt ra đối với công tác tập huấn bồi dưỡng giáo viên

cũng như chủ trương dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình GDĐT.

II NỘI DUNG TẬP HUẤN

1.Giới thiệu nội dung Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.

2.Hướng dẫn tổ chức dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học qua áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực.

3.Hướng dẫn tổ chức kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng.

4.Hướng dẫn tổ chức công tác tập huấn tại các địa phương

Nội- tháng 11 năm 2010

Trang 2

III GIỚI THIỆU TÀI LIỆU TẬP HUẤN

1.Hướng dẫn dạy học theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng Chương trình giáo dục phổ thông.

2.Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy học và kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong Chương trình giáo dục phổ thông.

3.Các tài liệu tham khảo về dạy học và kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông.

Nội dung 1.2: KHÁI QUÁT VỀ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ

NĂNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

I LÍ DO VÀ MỤC ĐÍCH BIÊN SOẠN TÀI LIỆU

Trong CTGDPT, Chuẩn kiến thức, kĩ năng (KT-KN) được thể hiện, cụ thể hoá ở các chủ đề của chương trình môn học, theo từng lớp học; đồng thời cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học

Điểm mới của CTGDPT lần này là đưa Chuẩn KT-KN vào thành phần của CTGDPT, đảm bảo việc chỉ đạo dạy học, kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn KT-KN tạo nên sự thống nhất trong cả nước; góp phần khắc phục tình trạng quá tải trong giảng dạy, học tập; hạn chế dạy thêm, học thêm.

Việc làm rõ điểm mới của CTGDPT giúp các nhà quản lí giáo dục, các nhà giáo hiểu đúng và làm đúng là hết sức cần thiết.

Một thực tế nữa là các trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã vận dụng được Chuẩn KT-KN trong giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá; song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông, cần phải được tiếp tục quan tâm, chú trọng hơn nữa.

Từ lí do và mục đích trên, Bộ GDĐT tổ chức biên soạn bộ tài liệu “Hướng dẫn thực hiện Chuẩn

kiến thức, kĩ năng trong Chương trình giáo dục phổ thông” cho các môn học, nhằm giúp các cán

bộ quản lí giáo dục, các cán bộ chuyên môn, giáo viên, học sinh nắm vững và thực hiện bám sát theo Chuẩn KT-KN.

II CẤU TRÚC TÀI LIỆU

Phần thứ nhất: Giới thiệu chung về Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông:

Phần thứ nhất có hai nội dung chủ yếu:

1.Giới thiệu chung về Chuẩn và Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình giáo dục phổ thông

2.Hướng dẫn dạy học và kiểm tra, đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng.

Phần thứ hai: Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học

Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT-KN môn học biên soạn theo hướng chi tiết, tường minh các yêu cầu

cơ bản, tối thiểu về KT-KN của Chuẩn KT-KN từng đơn vị kiến thức bằng các nội dung chọn lọc trong sách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho giáo viên và học sinh thực hiện trong quá trình giảng dạy, học tập; kiểm tra, đánh giá

III YÊU CẦU CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU

1.Nghiên cứu thật kĩ để hiểu sâu nội dung tài liệu;

Trang 3

2.Vận dụng được trong dạy học và kiểm tra, đánh giá;

3.Chia sẻ thông tin với đồng nghiệp thông qua các đợt bồi dưỡng, tập huấn, hội thảo cũng như các sinh hoạt chuyên môn sau này;

4.Làm mịn thông tin: Trong quá trình học tập, làm giảng viên và sử dụng tài liệu vào dạy học, kiểm tra, đánh giá, mỗi giáo viên cần nghiên cứu sâu để góp ý cho tài liệu, bình luận, đánh giá những điểm mạnh, những điểm yếu, giúp các tác giả chỉnh sửa, nâng cao chất lượng tài liệu;

5.Phát triển tài liệu: Trên cơ sở tài liệu của Bộ, giáo viên có thể phát triển tài liệu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế địa phương, phù hợp với năng lực, trình độ của giáo viên, học sinh

Nội dung 1.3: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN MỘT SỐ KHÁI NIỆM

I GIỚI THIỆU VỀ CHUẨN

1 Khái niệm

Chuẩn là những yêu cầu, tiêu chí (có thể gọi chung là yêu cầu hoặc tiêu chí) tuân thủ những

nguyên tắc nhất định, được dùng để làm thước đo đánh giá hoạt động, công việc, sản phẩm của lĩnh vực nào đó; đạt được những yêu cầu của Chuẩn là đạt được mục tiêu mong muốn của chủ thể quản lí hoạt động, công việc, sản phẩm đó.

Yêu cầu của Chuẩn là sự cụ thể hoá, chi tiết, tường minh; Chuẩn chỉ ra những căn cứ để đánh giá chất lượng Yêu cầu có thể được đo thông qua chỉ số thực hiện

2 Những yêu cầu cơ bản của Chuẩn

2.1 Chuẩn phải có tính khách quan, không lệ thuộc vào quan điểm hay thái độ chủ quan của người sử dụng Chuẩn;

2.2 Chuẩn phải có hiệu lực ổn định cả về phạm vi lẫn thời gian áp dụng;

2.3 Đảm bảo tính khả thi, có nghĩa là Chuẩn đó có thể đạt được;

2.4 Đảm bảo tính cụ thể, tường minh và có tính định lượng;

2.5 Đảm bảo không mâu thuẫn với các Chuẩn khác trong cùng lĩnh vực hoặc những lĩnh vực có liên quan.

3 Chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục

3.1 Chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục (gọi tắt là Chuẩn) là mức độ yêu cầu và điều kiện mà đối tượng giáo dục được đánh giá phải đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục (gọi tắt là tiêu chuẩn); mỗi tiêu chuẩn bao gồm các yêu cầu, tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục (gọi tắt là tiêu chí)

Đối tượng được đánh giá chất lượng giáo dục (sau đây gọi tắt là đối tượng) chủ yếu là: Chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu; Cơ sở giáo dục; Cán bộ quản lí và Nhà giáo; Học sinh.

3.2.Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục (sau đây gọi tắt là tiêu chí) là mức độ yêu cầu và điều kiện đối tượng cần đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chuẩn Mỗi tiêu chí có các chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục.

3.3.Chỉ số đánh giá chất lượng giáo dục (sau đây gọi tắt là chỉ số) là mức độ yêu cầu mà đối tượng cần

đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chí

Trang 4

4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng của Chương trình Giáo dục phổ thông

4.1.Chuẩn KT-KN của Chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà học sinh cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài, chủ đề, chủ điểm, mô đun)

Chuẩn KT-KN của một đơn vị kiến thức là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của đơn

vị kiến thức mà học sinh cần phải và có thể đạt được

Yêu cầu về KT-KN thể hiện mức độ cần đạt về KT-KN

Mỗi yêu cầu về KT-KN có thể được chi tiết hơn bằng những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cụ thể, tường minh hơn; minh chứng bằng những ví dụ thể hiện được cả nội dung KT-KN và mức độ cần đạt

-Nhận biết: Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây; nghĩa là có thể nhận biết thông tin,

ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp.

-Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật; giải

thích được, chứng minh được.

Có thể cụ thể hoá mức độ thông hiểu bằng các yêu cầu.

-Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới: vận dụng nhận

biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Trang 5

-Phân tích: Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu

được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.

-Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định, xác định được giá trị của

một tư tưởng, một nội dung kiến thức, một phương pháp

-Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin; khai thác, bổ sung thông tin từ các

nguốn tư liệu khác để sáng lập một hình mẫu mới.

Tuy nhiên, trong CTGDPT, chủ yếu đề cập đến 3 mức độ đầu Các mức độ còn lại chú trọng phát huy năng khiếu, sở trường, năng lực sáng tạo của học sinh

II GIỚI THIỆU VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

1 Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp (PP),

trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện, hình thức tổ chức dạy học, những định hướng về vai trò của giáo viên (GV) và học sinh (HS) trong quá trình dạy học (DH)

2 Phương pháp dạy học (PPDH) là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong

những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học.

3.Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những động tác, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ, cụ thể nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.

Quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng việc lựa chọn các phương pháp dạy học cụ thể Phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn, đưa ra các mô hình hoạt động Kĩ thuật dạy học là khái niệm nhỏ nhất thực hiện các tình huống cụ thể của hoạt động

4.Định hướng đổi mới phương pháp dạy học

Trang 6

Cốt lõi của đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, chống lại thói quen học tập thụ động Đổi mới PPDH bao gồm đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học, đổi mới kĩ thuật dạy học với định hướng:

4.1.Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông;

4.2.Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể;

4.3.Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh;

4.4.Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường;

4.5.Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học;

4.6.Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của các phương pháp dạy học truyền thống;

4.7.Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin.

5 Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học

Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy học tích cực” (PPDHTC) với các kĩ thuật dạy, học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập Làm cho

“Học” là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí

thông tin, tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin, năng động, sáng tạo trong cuộc sống Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội.

PPDHTC, được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động Kĩ thuật

dạy học tích cực là “hạt nhân” của PPDHTC, hướng tới việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của

học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạy.

5.1.Các yếu tố tác động trong các PPDHTC

a Phương tiện vật chất luôn là yếu tố cần thiết, nếu được sử dụng hợp lí có thể dẫn đến biến đổi sâu sắc quan hệ giáo dục Công nghệ thông tin, thiết bị dạy học được sử dụng đúng liều lượng sẽ thích hợp với hứng thú và mục tiêu học tập.

b Trong PPDHTC, GV có vai trò kích thích HS hoạt động Tuỳ theo yêu cầu, GV có thể là người thúc giục, hoặc trung gian, hoà giải, cố vấn Phân biệt PPDHTC với phương pháp cổ truyền là ở chỗ

GV là chất xúc tác, không đảm nhận một hành động trực tiếp nào; GV là người kích thích nhằm

Trang 7

thường xuyên thức tỉnh một số khuynh hướng, một số quy trình bổ sung cần thiết cho sự thăng bằng nhân cách.

c Dạy học cần xuất phát từ những gì ta hiểu về trẻ em để tiến tới những gì trẻ em phải đạt được HS không có năng lực giống nhau, dạy học cần thích ứng với trình độ, sự thông minh của các em Đánh giá trẻ em trên cơ sở năng lực của chính trẻ em.

5.2.Thuận lợi và khó khăn của PPDHTC

-PPDHTC không thể bao quát toàn bộ lĩnh vực giáo dục có những kiến thức không thể do HS phát hiện được mặc dù cung cấp cho HS bất cứ phương tiện nào Cũng không phải mọi HS đều sẵn sàng tham gia vào hoạt động tích cực;

-Trong nhiều trường hợp, nếu cho phép người học phát hiện, giải quyết, chiếm lĩnh tri thức thì mất rất nhiều thời gian Từ đó có thể thấy không thể áp dụng máy móc PPDHTC cho toàn bộ các bài học, các nội dung dạy học ;

-PPDHTC đòi hỏi một số điều kiện như GV, HS, phương tiện, tài liệu Thực tiễn cho thấy còn có những vùng HS chưa thích nghi với PPDHTC Tập quán lạc hậu của một số địa phương cũng cản trở PPDHTC ;

-Nếu quá thiên về PPDHTC có thể sẽ ảnh hưởng thiên lệch trong tâm lí của trẻ, chẳng hạn: phủ nhận vai trò của môi trường; hoặc do quá đề cao vai trò người học có thể dẫn đến coi nhẹ vai trò của người dạy và HS có thể tự mãn;

-PPDHTC chú trọng tính tự chủ trong việc thực hiện mục tiêu dạy học: nếu chỉ thiên về những kĩ năng, kiến thức đơn giản thì những HS xuất sắc bị thiệt thòi Ngược lại, nếu thiên về mục tiêu phát triển thì thiệt thòi cho HS chậm phát triển, kém thông minh.

6 Đặc trưng cơ bản của PPDHTC

6.1.Dạy học tích cực phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh

Dạy học thay vì lấy “Dạy” làm trung tâm sang lấy “Học” làm trung tâm Trong phương pháp tổ chức, người học  đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học”  được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức, kĩ năng mới, vừa nắm

Trang 8

được phương pháp kiến tạo ra kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc

lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo.

Dạy theo cách này, giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Nội dung và phương pháp dạy học phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ động

6.2.Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp học tập và phát huy năng lực tự học của học sinh

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học.

Trong các phương pháp học tập thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh

mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học

chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.

6.3.Dạy học phân hoá kết hợp với hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập Áp dụng phương pháp dạy học tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn.

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy  trò, trò  trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình

độ mới Bài học phải tận dụng được vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống cũng như những trải nghiệm phong phú của thầy giáo

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được

sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến

6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện nhu cầu thực sự cần phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình ; được tập thể uốn nắn, điều chỉnh; phát triển tình bạn, ý thức cộng đồng, tạo niềm vui, hứng khởi trong học tập, nâng cao

ý thức tổ chức kỉ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, Hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ tránh được hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, các em sẽ năng động, tự tin hơn Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho học sinh.

Trang 9

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều

so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có năng lực sư phạm mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

7 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các PPDH hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại 7.1.Yêu cầu chung

a.Căn cứ Chuẩn KT-KN để xác định mục tiêu bài học Chú trọng dạy học nhằm đạt được các yêu cầu

cơ bản và tối thiểu về kiến thức, kĩ năng, đảm bảo không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK; mức độ khai thác sâu KT-KN trong SGK phải phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh b.Sáng tạo về phương pháp dạy học phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác học tập của học sinh Chú trọng rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh

c.Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh; tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác, làm việc theo nhóm.

d.Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiến thức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn

a.Nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông của Đảng, Nhà nước Nắm vững mục đích, yêu cầu, nội dung đổi mới thể hiện cụ thể trong các văn bản chỉ đạo của ngành, trong CTSGK, PPDH, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học, hình thức tổ chức dạy học, kĩ thuật dạy học và đánh giá kết quả giáo dục.

b.Nắm vững yêu cầu dạy học bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng trong CTGDPT, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, động viên, khuyến khích giáo viên tích cực đổi mới PPDH.

Trang 10

c.Có biện pháp quản lí, chỉ đạo tổ chức thực hiện đổi mới PPDH trong nhà trường một cách hiệu quả; thường xuyên kiểm tra đánh giá các hoạt động dạy học theo định hướng dạy học bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng, đồng thời với tích cực đổi mới PPDH

d.Động viên, khen thưởng kịp thời những giáo viên thực hiện có hiệu quả, đồng thời phê bình, nhắc nhở những người chưa tích cực đổi mới PPDH, dạy quá tải do không bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng.

7.3.Yêu cầu đối với giáo viên

a.Bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng: Mục tiêu của bài giảng là đạt được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng Dạy không quá tải và không quá lệ thuộc hoàn toàn vào SGK; việc khai thác sâu kiến thức, kĩ năng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.

b.Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và

địa phương.

c.Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá, phát hiện, đề xuất và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân.

d.Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các TBDH; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.

e.Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; phù hợp với nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ HS; phù hợp với thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương.

7.4.Yêu cầu đối với học sinh

a.Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn

b.Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành thí nghiệm; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tình huống và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện.

c.Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn

d.Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè.

III GIỚI THIỆU VỀ ĐÁNH GIÁ

1.Quan niệm về đánh giá

Đánh giá là khả năng xác định giá trị của thông tin, xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu.

Trang 11

Kiểm tra là thu thập thông tin từ riêng lẻ đến hệ thống về kết quả thực hiện mục tiêu Kiểm tra là công

cụ của đánh giá, đồng thời kiểm tra, đánh giá là hai khâu trong một quy trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu Trong nhiều trường hợp, khi nói đánh giá, nghĩa là đã bao gồm cả kiểm tra.

2 Hai chức năng cơ bản của đánh giá

2.1.Chức năng xác định:

a Xác định mức độ đạt được trong việc thực hiện mục tiêu;

b Xác định đòi hỏi tính chính xác, khách quan, công bằng.

2.2.Chức năng điều khiển:

a.Phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, khó khăn, vướng mắc và xác định nguyên nhân;

b.Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả.

3 Chất lượng giáo dục phổ thông (gọi tắt là chất lượng giáo dục hoặc chất lượng) và đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông (gọi tắt là đánh giá chất lượng giáo dục; đánh giá chất lượng hoặc đánh giá)

3.1.Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật Giáo dục.

3.2.Đánh giá chất lượng là hoạt động đánh giá các đối tượng của giáo dục (gọi tắt là đối tượng) về mức độ đáp ứng các Quy định về chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đối với từng đối tượng do Bộ GDĐT ban hành.

Đánh giá là một thành tố quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục Đánh giá thường ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục.

Những đối tượng được đánh giá chủ yếu trong giáo dục phổ thông là: Chương trình, sách giáo khoa, tài

liệu; Cơ sở giáo dục phổ thông; Cán bộ quản lí, Nhà giáo; Học sinh Tuy nhiên, tài liệu này chỉ đề cập

đến đánh giá học sinh

4 Mục đích đánh giá chất lượng

4.1.Đánh giá chất lượng giáo dục nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn

của đối tượng được đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan

quản lí nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận đối tượng đạt chuẩn chất lượng giáo dục.

4.2.Kết quả đánh giá chất lượng:

a.Giúp học sinh biết được khả năng học tập của mình so với yêu cầu của chương trình; xác định nguyên nhân thành công cũng như chưa thành công, từ đó điều chỉnh PPHT; phát triển kĩ năng tự đánh giá;

b.Giúp giáo viên nắm được tình hình học tập, mức độ phân hoá về trình độ học lực của HS trong lớp,

từ đó có biện pháp giúp đỡ HS yếu kém và bồi dưỡng HS giỏi; giúp GV điều chỉnh, hoàn thiện PPDH; c.Giúp cán bộ quản lí giáo dục đề ra giải pháp quản lí phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục;

Trang 12

d.Giúp cha mẹ HS và cộng đồng biết được kết quả giáo dục của từng HS, từng lớp và của cả cơ sở giáo dục

5 Quy trình đánh giá chất lượng

5.1.Đối tượng tự đánh giá;

5.2.Đánh giá ngoài;

5.3.Công nhận đối tượng đạt chuẩn chất lượng giáo dục.

Tự đánh giá là hoạt động tự xem xét, tự kiểm tra, đánh giá của đối tượng căn cứ vào chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GGĐT ban hành để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng chuẩn chất lượng giáo dục.

Đánh giá ngoài đối với đối tượng được đánh giá là hoạt động đánh giá của một tổ chức đánh giá ngoài (không bao gồm đối tượng được đánh giá) nhằm xác định mức độ đối tượng thực hiện chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục do Bộ GDĐT ban hành.

6 Yêu cầu đánh giá

6.1.Đánh giá phải căn cứ vào Chuẩn KT-KN của từng môn học ở từng lớp; các yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt về KT-KN của học sinh sau mỗi giai đoạn, mỗi lớp, mỗi cấp học.

6.2.Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của các nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì; đảm bảo chất lượng kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kì chính xác, khách quan, công bằng; không hình thức, đối phó nhưng cũng không gây áp lực nặng nề Kiểm tra thường xuyên và định kì theo hướng vừa đánh giá được đúng với Chuẩn kiến thức, kĩ năng, vừa có khả năng phân hoá cao; kiểm tra kiến thức, kĩ năng cơ bản, năng lực vận dụng kiến thức của người học, thay vì chỉ kiểm tra học thuộc lòng, nhớ máy móc kiến thức 6.3.Áp dụng các phương pháp phân tích hiện đại để tăng cường tính tương đương của các đề kiểm tra, thi Kết hợp thật hợp lí giữa các hình thức kiểm tra, thi vấn đáp, tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế lối học tủ, học lệch, học vẹt; phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức.

6.4.Đánh giá chính xác, đúng thực trạng: Nếu đánh giá cao hơn thực tế sẽ triệt tiêu động lực phấn đấu vươn lên, ngược lại đánh giá khắt khe quá mức hoặc thái độ thiếu thân thiện, không thấy được sự tiến

bộ, sẽ ức chế tình cảm trí tuệ, giảm vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.

6.5.Đánh giá kịp thời, có tác dụng giáo dục và động viên sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh sửa chữa thiếu sót Đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, chú trọng đánh giá hành động, tình cảm của học sinh: nghĩ và làm; năng lực vận dụng vào thực tiễn, thể hiện qua ứng xử, giao tiếp; quan tâm tới mức

độ hoạt động tích cực, chủ động của học sinh trong từng tiết học tiếp thu tri thức mới, ôn luyện cũng như các tiết thực hành, thí nghiệm

6.6.Đánh giá kết quả học tập của học sinh, thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng mà chú ý cả quá trình học tập Tạo điều kiện cho học sinh cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập với yêu cầu không tập trung vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp; có nhiều hình thức và độ phân hoá cao trong đánh giá.

Trang 13

6.7.Đánh giá hoạt động dạy học không chỉ đánh giá thành tích học tập của học sinh mà còn bao gồm đánh giá quá trình dạy học nhằm cải tiến quá trình dạy học Chú trọng phương pháp, kĩ thuật lấy thông tin phản hồi từ học sinh để đánh giá quá trình dạy học

6.8.Kết hợp thật hợp lí giữa đánh giá định tính và định lượng: Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp học, cấp học, quy định đánh giá bằng điểm, kết hợp với nhận xét của giáo viên hay đánh giá bằng nhận xét, xếp loại của giáo viên

6.9.Kết hợp đánh giá trong và đánh giá ngoài

Để có thêm các kênh thông tin phản hồi khách quan, cần kết hợp hài hoà giữa đánh giá trong và đánh giá ngoài:

a.Tự đánh giá của HS với đánh giá ngoài của bạn học, của GV, của cơ sở giáo dục, của gia đình và cộng đồng.

b.Tự đánh giá của GV với đánh giá ngoài của đồng nghiệp, của học sinh, gia đình học sinh, của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng.

d.Tự đánh giá của cơ sở giáo dục với đánh giá ngoài của các cơ quan quản lí giáo dục và của cộng đồng

e.Tự đánh giá của ngành giáo dục với đánh giá ngoài ngành (đánh giá trong nước và đánh giá quốc tế) 6.10 Kết hợp đánh giá theo Mẫu và đánh giá theo Chuẩn.

6.11 a Đối với đánh giá theo Mẫu:

- Tăng cường chất lượng công cụ đánh giá: sử dụng hệ thống câu hỏi mở thay vì những câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh học thuộc lòng, ghi nhớ máy móc;

- Điều chỉnh mục tiêu đánh giá: Không chỉ đánh giá việc nắm KT-KN của học sinh, mà phải chú trọng đánh giá khả năng vận dụng các KT-KN; khả năng phân tích, lí giải, truyền đạt thuyết phục khi xem xét và giải quyết các vấn đề.

b Đối với đánh giá theo Chuẩn:

- Xây dựng Chuẩn đầu ra;

- Tổ chức đánh giá đúng quy trình theo Chuẩn đầu ra.

6.12 Phải là động lực thúc đẩy đổi mới PPDH: Đổi mới PPDH và đổi mới kiểm tra, đánh giá là hai mặt thống nhất hữu cơ của quá trình dạy học, là nhân tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng dạy học.

7 Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)

Phần dưới đây giới thiệu một số vấn đề cơ bản nhất về PISA để giáo viên nắm được và quán triệt trong việc tổ chức dạy học trong thời gian tới Việt Nam đang chuẩn bị tích cực cho việc tham gia PISA vào năm 2012.

7.1.Lịch sử ra đời

Nhằm đáp ứng yêu cầu của các nước thành viên về các dữ liệu đều kì và tin cậy về kiến thức và kĩ năng của học sinh cũng như việc thực hiện của các hệ thống giáo dục, OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới - Organization for Economic Cooperation and Development) đã bắt đầu chuẩn bị PISA vào khoảng giữa thập kỷ 90 Năm 1997 PISA đã chính thức được triển khai Cuộc khảo sát đầu

Trang 14

tiên diễn ra trong năm 2000, các cuộc tiếp theo vào các năm 2003; 2006; 2009 và kế hoạch sẽ là các cuộc điều tra trong các năm 2012, 2015 và những năm tiếp theo

7.3.Đặc điểm của PISA

PISA nổi bật nhờ quy mô toàn cầu và tính chu kì Hiện đã có hơn 60 quốc gia tham gia vào cuộc khảo sát có chu kì 3 năm 1 lần này để theo dõi tiến bộ của mình trong phấn đấu đạt được các mục tiêu giáo dục cơ bản

a.Cho tới nay PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh ở độ tuổi 15, độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia

b.Tính độc đáo của PISA cũng thể hiện ở những vấn đề được xem xét và đánh giá:

-Chính sách công (public policy): Các chính phủ, các hiệu trưởng, giáo viên và phụ huynh đều muốn

có câu trả lời cho tất cả các câu hỏi như “Nhà trường của chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ cho những người trẻ tuổi trước những thách thức của cuộc sống của người trưởng thành chưa?”, “Phải chăng một số loại hình giảng dạy và học tập của những nơi này hiệu quả hơn những nơi khác?” và “Nhà trường học

có thể góp phần cải thiện tương lai của học sinh có gốc nhập cư hay có hoàn cảnh khó khăn?”.

-Hiểu biết phổ thông (literacy): Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chương trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của học sinh ứng dụng các kiến thức và kĩ năng trong các lĩnh vực chuyên môn cơ bản và khả năng phân tích, lí giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải

và giải quyết các vấn đề.

-Học tập suốt đời (lifelong learning): Học sinh không thể học tất cả mọi thứ cần biết trong nhà trường.

Để trở thành những người học suốt đời có hiệu quả, thanh niên không những phải có kiến thức và kĩ năng mà còn cả ý thức về lí do và cách học PISA không những đo cả việc thực hiện của học sinh về đọc hiểu, toán và khoa học mà còn hỏi học sinh cả về động cơ, niềm tin về bản thân cũng như các chiến lược học tập.

7.4.Mục tiêu của PISA

Mục tiêu của chương trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc,

học sinh đã được chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào

Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn được xác định dựa trên các kiến thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống tương lai, không dựa vào nội dung các chương trình giáo dục quốc gia Đây chính là điều

mà PISA gọi là “năng lực phổ thông” (literacy).

Trang 15

Để làm được việc đó PISA thu thập và cung cấp cho các quốc gia các dữ liệu có thể so sánh được ở

tầm quốc tế cũng như xu hướng của dữ liệu quốc gia về trình độ đọc, toán học và khoa học của học

sinh độ tuổi 15

7.5.Các lĩnh vực năng lực phổ thông (literacy domain) được đánh giá trong PISA

Khái niệm literacy (tạm dịch là năng lực phổ thông) là một khái niệm quan trọng trong việc xác định nội dung đánh giá của PISA Việc xác định khái niệm này xuất phát từ sự quan tâm tới những điều mà một học sinh sau giai đoạn giáo dục cơ sở cần biết, trân trọng, và có khả năng thực hiện – những điều

cần thiết chuẩn bị cho cuộc sống trong một xã hội hiện đại Các lĩnh vực năng lực phổ thông về làm

toán, về khoa học, về đọc hiểu được sử dụng trong PISA.

Năng lực làm toán phổ thông (mathematic literacy): Năng lực của một cá nhân để nhận biết và hiểu

về vai trò của toán học trong thế giới, biết dựa vào toán học để đưa ra những suy đoán có nền tảng vững chắc vừa đáp ứng được các nhu cầu của đời sống cá nhân vừa như một công dân biết suy luận,

có mối quan tâm và có tính xây dựng Đó chính là năng lực phân tích, lập luận và truyền đạt ý tưởng (trao đổi thông tin) một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống và hoàn cảnh khác nhau.

Trong khuôn khổ của PISA, năng lực làm toán phổ thông được định nghĩa là năng lực của một cá nhân:

a.Có thể xác định và hiểu được vai trò của toán học trong thế giới;

b.Có khả năng lập luận toán học tốt;

c.Biết học toán, vận dụng toán theo cách nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống hiện tại và tương lai của cá nhân như một công dân sáng tạo, có trách nhiệm và nhạy bén”.

Bởi vậy, năng lực làm toán phổ thông không đồng nhất với nội dung của một chương trình toán nhà trường (phổ thông) truyền thống mà điều cần nhấn mạnh đó là kiến thức toán học được sử dụng như thế nào để tạo ra khả năng suy xét, lập luận và phát hiện được những tri thức toán học ẩn giấu bên trong các tình huống, các sự kiện

Năng lực đọc hiểu phổ thông (reading literacy): Năng lực của một cá nhân để hiểu, sử dụng

và phản ánh trên văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, nâng cao kiến thức và tiềm năng của cá nhân

đó và tham gia vào đời sống xã hội Trong định nghĩa này cần lưu ý: Khái niệm biết đọc như là sự giải

mã và thấu hiểu tư liệu: bao hàm cả việc hiểu, sử dụng và phản hồi về những thông tin với nhiều mục đích khác nhau.

d.Theo PISA, định nghĩa về đọc và biết đọc có sự thay đổi theo thời gian và điều kiện kinh tế, văn hoá,

xã hội Khái niệm học và đặc biệt là học suốt đời đòi hỏi phải mở rộng cách hiểu về việc biết đọc e.Biết đọc không chỉ còn là một yêu cầu của suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, thay vào

đó nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời khi họ tham gia vào các hoạt động ở những tình huống khác nhau, trong mối quan hệ với người xung quanh, cũng như trong cả cộng đồng rộng lớn.

Trang 16

Năng lực khoa học phổ thông (science literacy): Năng lực của một cá nhân biết sử dụng kiến

thức khoa học để xác định các câu hỏi và rút ra kết luận dựa trên chứng cứ để hiểu và đưa ra quyết định về thế giới tự nhiên và thông qua hoạt động của con người, thực hiện việc thay đổi thế giới tự nhiên Cụ thể là :

f Có kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để xác định các câu hỏi, chiếm lĩnh kiến thức mới, giải thích hiện tượng khoa học và rút ra kết luận trên cơ sở chứng cứ về các vấn đề liên quan tới khoa học g.Hiểu những đặc tính của khoa học như là một dạng tri thức của loài người và một hoạt động tìm tòi khám phá của con người.

h.Nhận thức được vai trò của khoa học và công nghệ đối với việc hình thành môi trường văn hoá, tinh thần, vật chất.

i Sẵn sàng tham gia – như là một công dân tích cực  vận dụng hiểu biết khoa học, vào giải quyết các vấn đề liên quan tới khoa học.

Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving): Khả năng sử dụng kiến thức của một cá nhân

trong quá trình nhận thức và giải quyết thực tế Bằng những tình huống rèn luyện trí óc, đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng phối hợp các lĩnh vực đọc hiểu, làm toán và khoa học mới đưa ra được giải pháp.

7.6.Đối tượng đánh giá

Học sinh trong độ tuổi 15 (được định nghĩa chính xác là từ 15 tuổi 3 tháng tới 16 tuổi 2 tháng) đang theo học trong các nhà trường trung học Một tỉ lệ học sinh chọn theo mẫu ngẫu nhiên, không phân biệt đang học lớp nào, sẽ được chọn để cho tiến hành đánh giá, tuy nhiên các quốc gia tham gia có thể chọn một tỉ lệ cao hơn tỉ lệ chung của PISA nếu thấy cần có các phân tích chi tiết hơn về tình hình giáo dục trong nước.

7.7.Những quốc gia đã tham gia PISA

Tất cả các nước thành viên OECD, cùng với một số quốc gia đối tác (partner countries) khác Kì đánh giá năm 2000 có 43 nước tham gia, năm 2003 có 41 nước, năm 2006 là 57 nước và 2009 có 67 nước Các quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia PISA chiếm tới hơn 90% dân số toàn thế giới.

Trang 17

Phần thứ hai

TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO CHUẨN KIẾN THỨC,

KĨ NĂNG THÔNG QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC

TÍCH CỰC

I GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân

Trong xu thế đổi mới dạy học- giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) là một nhiệm vụ quan trọng Khi đề cập đến vấn đề PPDH môn GDCD, trướchết chúng ta phải quan tâm đến những yêu cầu, những quan điểm có tính định hướngcho việc đổi mới PPDH môn học

Nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII đã xác định “ phải khuyến khích tựhọc”, “ áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tưduy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tụckhẳng định “ phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụmột chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Nghị quyết số 40 năm

2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định phải đổimới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học nhằm nâng caochất lượng giáo dục toàn diện thể hệ trẻ

Định hướng đổi mới về PPDH của Đảng và nhà nước đã được pháp chế hoá trong vănbản pháp luật Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung) năm 2009 Điều 28, khoản 2 đã nêu rõ:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phươngpháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Trang 18

Vận dụng định hướng trên, trong dạy học môn GDCD cần nhấn mạnh các yêucầu sau:

1 Đổi mới PPDH môn GDCD phải theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của HS trong quá trình học tập Trong dạy học, GV phải biết vận dụng các phươngpháp dạy học vào việc tổ chức hoạt động, kích thích HS nỗ lực suy nghĩ và tự tìm tòi,phát hiện Những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cần hình thành ở HS không phải lànhững khuôn mẫu cho sẵn, mà trong quá trình học tập, HS tự khai thác thông tin, tựkiến tạo tri thức và kỹ năng, qua đó phát triển nhận thức, niềm tin và tình cảm đạo đức,pháp luật

2 Đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học bộ môn; khắc phục tínhchất đơn điệu, nghèo nàn trong việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học môn GDCD phụ thuộc vào việclựa chọn và kết hợp một cách hài hoà, hợp lý các phương pháp dạy học cụ thể, phù hợpvới nội dung dạy học, với khả năng học tập và thái độ của HS đối với nhiệm vụ học tập,phù hợp với từng tình huống dạy học cụ thể để có thể tạo ra một thái độ tích cực, sẵnsàng đáp ứng nhiệm vụ học tập và có sự nỗ lực cao trong hoạt động Cần kết hợp mộtcách linh hoạt, hợp lý nhiều phương pháp, cả phương pháp truyền thống và phươngpháp hiện đại, không phủ định hoàn toàn hoặc lạm dụng, tuyệt đối hoá vai trò vạn năngcủa một phương pháp nào; tuỳ từng bài, từng phần, tuỳ điều kiện dạy học của nhàtrường, khả năng của HS và năng lực, sở trường của GV mà lựa chọn phương pháp.Việc kết hợp các PPDH thể hiện trong mỗi bài, mỗi hoạt động của giờ học Sự đơn điệutrong việc sử dụng PPDH sẽ làm cho HS nhàm chán và do đó, hiệu quả giáo dục củamôn học bị hạn chế Phải phát triển nhiều phong cách, nhiều nghệ thuật giảng dạy khácnhau trong thiết kế và thực hiện giờ học trên lớp, cũng như khuyến khích nhiều phongcách học tập khác nhau của HS

Bên cạnh đó, phải gắn đổi mới PPDH với đổi mới hình thức tổ chức dạy học,tăng cường tính chất tương tác, tính chất đối thoại trong các hình thức khác nhau củagiờ học như học ở trên lớp, học tại địa điểm tham quan, học ở nhà; học theo lớp, theonhóm - tổ, học cá nhân; học trong giờ ngoại khoá, học trong hoạt động Đoàn - Đội,trong công tác độc lập của cá nhân, trong sinh hoạt tập thể, thực hành đạo đức, pháp

Trang 19

luật, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các mối quan hệ giáo dục, các lực lượng giáodục Cần chú trọng khuyến khích các hình thức tự học, tự liên hệ của HS.

3 Việc sử dụng PPDH môn GDCD cần định hướng vào việc phát triển tính tích cựcnhận thức, kỹ năng học tập, thái độ tự giác và chủ động, khả năng độc lập hoạt động,khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng tự kiểm tra đánh giá, khả năng tổchức của HS Cần kiên quyết khắc phục tính chất áp đặt, đơn điệu và thụ động, vụnvặt và hình thức chủ nghĩa trong việc vận dụng các PPDH

Cần tạo ra những tình huống, những vấn đề giúp HS có cơ hội thể hiện lậptrường, ý kiến cá nhân của bản thân về những vấn đề đạo đức, pháp luật trong cuộcsống Những vấn đề trong dạy học môn GDCD (gồm những tri thức, kỹ năng, mẫu hành

vi ứng xử ) có tác dụng kích thích HS suy nghĩ, phán đoán, lựa chọn những phương án

để xử lý, tạo ra sự khác biệt giữa các lập luận, các biện pháp xử lý tình huống, nhờ vậy

mà HS tích cực hoạt động và chiếm lĩnh các giá trị đạo đức, pháp luật một cách tự giác

4 Dạy học môn GDCD phải gắn bó chặt chẽ với đời sống của cá nhân, tập thể và địaphương GV phải hướng dẫn HS tìm hiểu các sự kiện, vấn đề đạo đức, pháp luật trongcuộc sống có liên quan với chủ đề bài học; hướng dẫn HS sử dụng và phát huy vốn kinhnghiệm của bản thân để phân tích, lý giải, đánh giá, tìm cách ứng xử phù hợp Quaviệc tổ chức cho HS xử lý các tình huống dạy học mà hình thành hệ thống giá trị mớitrong mỗi em Phương thức dạy học như vậy sẽ tạo nhiều cơ hội để HS tập dượt thể hiệntính năng động, tự giác trong lĩnh hội, tự xây dựng niềm tin cũng như tự trải nghiệmtrong cuộc sống

5 Cần tăng cường sử dụng các thiết bị và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học Việc

sử dụng các thiết bị, phương tiện dạy học có tác dụng:

- Tạo điều kiện để thực hiện đổi mới PPDH, loại trừ khuynh hướng dạy chay làm chocác giờ học khô khan và mang tính chất lý thuyết, áp đặt đối với HS

- Làm tăng tính hấp dẫn đối với nội dung học tập, gây hứng thú học tập của HS

- Làm cho việc dạy và học trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Các thiết bị, phương tiện

kĩ thuật dạy học là nguồn cung cấp các chất liệu để HS khai thác nội dung học tập mộtcách tích cực, tự giác

Trong điều kiện phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, GV cần tích cực ứng dụngcông nghệ thông tin trong thiết kế và thực hiện giờ dạy trên lớp

Trang 20

6 Cải tiến các biện pháp và kỹ thuật quản lý, điều hành trong giờ học cho phù hợp với

xu thế đổi mới phương pháp dạy học Công tác tổ chức, quản lý giờ học trong đổi mớidạy học không đơn thuần là GV trực tiếp chỉ đạo HS như trước đây và quan hệ tronggiờ học không chỉ một chiều GV - HS, mà phải tạo ra được quan hệ giao lưu đa chiều,giao lưu giữa các cá nhân, tổ, nhóm HS và giao lưu giữa HS với HS là cơ bản Cần tạokhông khí sôi nổi, cuốn hút HS vào hoạt động bằng phong cách dân chủ, cởi mở vàquan hệ giao tiếp linh hoạt, hấp dẫn, giàu cảm xúc, dựa trên cơ sở tự nguyện, sự thiệnchí, tạo niềm vui, hứng thú, động viên khuyến khích HS phấn khởi học tập Cần khắcphục tính chất áp đặt, quyền uy trong quan hệ giao tiếp của giờ học

2 Giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy học môn GDCD

2.1 Phương pháp thảo luận nhóm

a/ Bản chất

Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh được chia thànhcác nhóm nhỏ và trong một thời gian nhất định các nhóm cùng nhau thảo luận để giảiquyết những vấn đề mà giáo viên đặt ra

Đặc trưng của phương pháp thảo luận nhóm là có sự tiếp xúc trực diện giữa nhữngngười tham gia và sự tự do trao đổi ý tưởng, quan điểm, kinh nghiệm của cá nhân; tạo ra

sự khác biệt, sự hoà đồng hoặc sự gần nhau rất phong phú của các quan điểm, ý tưởng

b/ Tác dụng

Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học được sử dụng rộng rãi trong dạy học Nó giúphọc sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình học tập trên cơ sở có sựhợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau; giúp học sinh hiểu vấn đề một cách sâusắc, giáo dục tính độc lập, tư duy phê phán, biết lắng nghe ý kiến của người khác, hìnhthành quan điểm, lập trường cá nhân; phát triển năng lực giao tiếp và ý thức trách nhiệmcủa học sinh

c/ Cách thực hiện

Thảo luận nhóm được tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận

- Chia lớp thành những nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian vàphân công vị trí làm việc của từng nhóm

Trang 21

- Các nhóm thảo luận giải quyết các nhiệm vụ được giao, ghi kết quả thảo luận ra giấykhổ lớn.

- Từng nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước lớp Các nhómkhác lắng nghe và trao đổi ý kiến, nhận xét, bổ sung

- GV tổng kết lại những nội dung, vấn đề mà học sinh cần nắm vững, định hướng nhậnthức, hành vi của học sinh; nhận xét kết quả làm việc của các nhóm

d/ Một số điểm cần lưu ý

- Cần thường xuyên thay đổi thành phần của nhóm bằng các cách chia nhóm khác nhau,

tạo điều kiện cho học sinh được hợp tác, giao lưu với tất cả các bạn trong lớp, không nêngiữ nguyên thành phần của nhóm trong thời gian dài Số lượng học sinh của nhóm khôngnên quá đông để tránh tình trạng một số em ỷ lại không tham gia hoạt động Mỗi nhómnên từ 4- 6 học sinh là phù hợp

- Mỗi nhóm cần cử nhóm trưởng để điều khiển nhóm làm việc và thư kí để ghi chép các

ý kiến Nhiệm vụ nhóm trưởng và thư kí cần luân phiên nhau để tất cả mọi học sinh đều

có khả năng thực hiện

- Nhiệm vụ thảo luận phải phù hợp với chủ đề bài học, sát với trình độ, năng lực củahọc sinh Các câu hỏi phải sáng sủa, ngắn gọn, rõ ràng, kích thích suy nghĩ của học sinh,tạo ra nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau

- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau, tuỳ từng hoạt động

- Trong khi các nhóm thảo luận, giáo viên cần theo dõi, khuyến khích và giúp đỡ khicần thiết (điều chỉnh để cuộc thảo luận đi đúng hướng, động viên những học sinh nhútnhát tham gia ý kiến, gợi ý khi cuộc thảo luận gặp khó khăn, bế tắc )

- Cần bố trí chỗ làm việc của các nhóm sao cho thuận lợi, để các thành viên có thểhướng vào nhau, lắng nghe và cùng chia sẻ suy nghĩ/ý tưởng

- Cách trình bày kết quả thảo luận nhóm có thể bằng nhiều hình thức : bằng lời, bằngtranh vẽ, sơ đồ, đóng vai Cần luân phiên nhau trình bày kết quả thảo luận của nhóm

2.2 Phương pháp xử lí tình huống

a/ Bản chất

Tình huống là một hoàn cảnh thực tế gắn với câu chuyện, có nhân vật, trong đóchứa đựng những mâu thuẫn, xung đột mà người ta phải đưa ra quyết định trên cơ sở

Trang 22

cân nhắc các phương án khác nhau Tình huống trong dạy học là những tình huống thựchoặc mô phỏng theo tình huống thực.

Xử lí tình huống là phương pháp trong đó giáo viên đưa học sinh vào những tình huống/vấn đề có thực trong cuộc sống, chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết

và hướng dẫn, kích thích học sinh chủ động, tự lực tìm hiểu tình huống, tìm giải phápcần thiết để giải quyết tình huống/vấn đề đó

c/ Cách thực hiện

Xử lí tình huống được thực hiện theo các bước sau :

- Đưa học sinh vào tình huống

GV cho học sinh xem xét một tài liệu mô tả trường hợp nào đó phản ánh vấn đề phápluật cần tìm hiểu và giải quyết Tình huống có thể do giáo viên mô tả bằng lời, có thểhọc sinh kể hoặc đọc trong tài liệu do giáo viên cung cấp, có thể qua băng hình, phimvideo, có thể do học sinh đóng Trong quá trình mô tả tình huống, nếu có các phươngtiện hỗ trợ như tranh/ảnh, băng hình, sơ đồ, bảng biểu thì càng tốt

- Học sinh tìm hiểu tình huống và giải thích tình huống

Ở bước này, học sinh cần phải xác định, nhận diện được tình huống/vấn đề Các em cóthể thảo luận những điều còn thắc mắc hoặc đưa ra câu hỏi để giáo viên giải đáp

- Tìm giải pháp giải quyết tình huống

+ Học sinh suy nghĩ tìm cách giải quyết tình huống, đề xuất giải pháp của cá nhân, lígiải, lập luận để bảo vệ giải pháp đó

+ Liệt kê các các cách giải quyết có thể có

+ Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (mặt, lợi, mặt hại, cảm xúc )

- Lựa chọn giải pháp

Trang 23

Giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn, tìm giải pháp hợp lí, đúng đắn nhất, phùhợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật mà bài học đặt ra.

- Quyết định hành động

Học sinh quyết định và thực hiện trong thực tế theo cách giải quyết tình huống đãlựa chọn

d/ Một số điểm cần lưu ý

- Tình huống/vấn đề đưa ra để học sinh xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau :

+ Tình huống cần phải liên hệ với kinh nghiệm sống thực của học sinh

+ Tình huống phải chứa đựng mâu thuẫn/vấn đề, có thể liên quan liên đến nhiềuphương diện, gợi ra cho học sinh nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết

+ Tình huống phải vừa sức với khả năng của học sinh và có thể giải quyết trongđiều kiện cụ thể

+ Tình huống cần có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau, giúp học sinh hiểuđược rằng một tình huống thực tiễn có nhiều phương diện xem xét khác nhau, nhiềucách giải quyết, không phải là duy nhất

- Phương án giải quyết tình huống tối ưu đối với mỗi học sinh có thể giống nhau hoặckhác nhau Giáo viên chỉ nên định hướng cho học sinh, không nên áp đặt một phương

b/ Tác dụng

Làm cho bài học trở nên gần gũi, sinh động, dễ hiểu đối với học sinh

c/ Cách thực hiện

Nghiên cứu trường hợp điển hình được thực hiện theo các bước sau :

- Học sinh đọc hoặc nghe kể/xem về trường hợp điển hình

- Suy nghĩ về nội dung câu chuyện (có thể viết một vài suy nghĩ trước khi thảo luận điều

đó với người khác)

Trang 24

- Thảo luận về trường hợp điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của GV

d/ Một số điểm cần lưu ý

- Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sốngthực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khácnhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản

- Trường hợp điển hình phải phù hợp với trình độ của học sinh và thời lượng cho phép

- Có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân côngmỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau

2.4 Phương pháp đóng vai

a/ Bản chất

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số cách ứng xử nào

đó trong một tình huống giả định Học sinh sẽ đóng vai các nhân vật, thể hiện cách xử lígiải quyết tình huống trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em Đây làphương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vàomột sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” khôngphải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy

b/ Tác dụng

- Đóng vai có nhiều ưu thế trong việc rèn luyện kĩ năng ứng xử cho học sinh, giúp họcsinh có cơ hội thực hành những kĩ năng ứng xử trong điều kiện có sự kiểm soát, điềuchỉnh trước khi xảy ra tình huống thực

- Học sinh hứng thú với hoạt động

- Làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh trong việc tìm kiếm cách xử lí và thể hiện cáchứng xử

- Làm thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng tích cực

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói và việc làm của các vai diễn

c/ Cách thực hiện

Đóng vai được tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm Trong đó có quy định

rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm

Trang 25

- Các nhóm thảo luận nghiên cứu tình huống xây dựng kịch bản, chuẩn bị vai diễn vàphân công đóng vai.

- Các nhóm lên đóng vai thể hiện cách ứng xử trong tình huống

- Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử của các vai diễn

- GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho

- Phải dành thời gian thích hợp cho học sinh thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bịđóng vai

- Trong khi học sinh thảo luận và chuẩn bị đóng vai, giáo viên nên đi đến từng nhómlắng nghe và gợi ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết

- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của học sinh

- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của người học

- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, năng lực hợp tác trong côngviệc, năng lực đánh giá

- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn

- Rèn luyện nhiều kĩ năng sống như hợp tác, giao tiếp, ra quyết định, giải quyết vấn đề,đặt mục tiêu, quản lí thời gian

Trang 26

c/ Cách thực hiện

Phương pháp dự án được thực hiện qua các bước sau :

- Lựa chọn chủ đề : GV cùng học sinh đề xuất chủ đề, mục đích của dự án GV có thểgiới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá thành những tiểu chủđề

- Xây dựng kế hoạch dự án : Học sinh xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện dự án.Trong kế hoạch cần xác định nội dung những công việc cần làm, dự kiến thời gian chotừng công việc, phân công thực hiện

- Thực hiện kế hoạch dự án : Trong bước này, các thành viên và nhóm cần thực hiện cáccông việc đã được phân công, thu thập và xử lí thông tin, tìm câu trả lời cho các vấn đềcần giải quyết

- Trình bày kết quả dự án : Học sinh trình những điều đã học được, tìm thấy hay tạo ra.Kết quả được trình bày dưới những hình thức khác nhau : bài thu hoạch, báo cáo, tranhảnh, văn thơ, triển lãm, mô hình, diễn kịch, biểu diễn văn nghệ, phim video

- Đánh giá dự án : Giáo viên và học sinh cùng đánh giá quá trình thực hiện và kết quảcủa dự án, rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo

Các kĩ thuật dạy học tích cực được sử dụng cùng với các phương pháp dạy học,

có tác dụng hỗ trợ để việc sử dụng phương pháp có hiệu quả hơn Dưới đây xin giớithiệu một số kĩ thuật dạy học tích cực có thể áp dụng trong dạy học môn GDCD

3.1 Kĩ thuật động não (công não)

Trang 27

Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ýtưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một

cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng Động não thường được sử dụng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề; tìm các phương án giải quyết vấn đề; thu thập các khả

năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau

Động não có thể tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần được trả lời hoặc giải quyết

- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùnglặp

- Phân loại các ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng

- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận

3.2 Kĩ thuật khăn trải bàn

- HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm có một tờ giấy A0 đặttrên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xungquanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người)

- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho các nhóm

- Mỗi thành viên trong nhóm suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình vào phần cạnh

“khăn trải bàn” trước mặt mình Sau vài phút, khi mọi người đều đã xong, thảo luậnnhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”

3.3 Kĩ thuật phòng tranh

Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm

- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm

- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạnhững ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanhlớp học như một triển lãm tranh

- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung

- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối ưu

3.4 Kĩ thuật công đoạn

Trang 28

- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khácnhau

- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm sẽluân chuyển giấy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau (nhóm 1 chuyển cho nhóm 2,Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm1)

- Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn Sau đó lại tiếp tục luân chuyểnkết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý

- Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình cùngvới các ý kiến góp ý của các nhóm khác Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của cácbạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽtreo kết quả thảo luận lên tường lớp học

3.5 Kĩ thuật hỏi và trả lời

- GV (hoặc 1 HS) bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một HS khác

trả lời câu hỏi đó

- HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một

HS khác trả lời

- HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp Việc hỏi và trảlời cứ tiếp tục cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại

3.6 Kĩ thuật “Hỏi chuyên gia”

- HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành các nhóm “chuyên gia” vềmột chủ đề nhất định

- Các ”chuyên gia” nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên quan đếnchủ đề mình được phân công

- Nhóm ”chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học

- Một em trưởng nhóm ”chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời cácbạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời ”chuyên gia” giải đáp, trả lời

3.7 Kĩ thuật “ Trình bày một phút”

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi vềnhững điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với

Trang 29

các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quátrình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào

Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiếthọc (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau:Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quantrọng nhất mà chưa được giải đáp?

- HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khácnhau

- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được

và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếptục tìm hiểu thêm

3.8 Kĩ thuật lược đồ tư duy

Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề

Cách tiến hành như sau:

- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề

- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viếtmột nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trungtâm nói trên

- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánhchính đó

- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Ứng dụng của lược đồ tư duy

Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề

- Trình bày tổng quan một chủ đề

- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng

3.9 Kỹ thuật XYZ

Trang 30

Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm X là

số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗingười Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:

- Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cáchgiải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh

- Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;

- Con số X-Y-Z có thể thay đổi

Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến

3.10 Kỹ thuật ”bể cá”

Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồigiữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòngngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra nhữngnhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận Trong nhóm thảo luận có thể có một

vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đónggóp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặcphát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này đượcgọi là phương pháp thảo luận "bể cá", vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sátnhững người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trongquá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai tròvới nhau

Bảng câu hỏi cho những người quan sát:

- Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không ?

- Họ có nói một cách dễ hiểu không ?

- Họ có để những người khác nói hay không ?

- Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không ?

- Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không ?

- Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không ?

- Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không ?

3.11 Kĩ thuật ”đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)

Trang 31

Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệmthời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đốivới HS

Cách tiến hành như sau:

- GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc

- HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có)

Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

- GV nêu chủ đề cần thảo luận

- Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút vềnhững gì mà các em biết về chủ đề này

- HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp

- Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên

II TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG THÔNG QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

Trang 32

1 Mối quan hệ giữa Chương trình giáo dục phổ thông, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng và sách giáo khoa

Để hiểu rõ mối quan hệ giữa Chương trình, hướng dẫn thực hiện chuẩn và sáchgiáo khoa, trước hết phải hiểu thế nào là chương trình giáo dục phổ thông Luật Giáodục (sửa đổi, bổ sung) năm 2009 nêu rõ: ”Chương trình giáo dục phổ thông thể hiệnmục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúcnội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục,cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học củagiáo dục phổ thông” (Điều 29 khoản 1)

Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của Chương trình giáo dục phổthông được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học/hoạt động giáo dục và cácchương trình cấp học Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấphọc được cụ thể hoá thành chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học, cấp học

Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản, tối

thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau mỗi đơn

vị kiến thức (mỗi bài/chủ đề/chủ điểm)

Trong chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu vềthái độ đối với người học được cụ thể hoá ở các chủ đề (chương, bài) của chương trìnhmôn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập; đồng thời chuẩn kiến thức, kĩ năng vàyêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học

Như vậy có thể hiểu chuẩn kiến thức, kĩ năng là thành phần của chương trình,

quy định mức độ tối thiểu cần đạt được của chương trình, thể hiện ở các yêu cầu cụ thể,

rõ ràng về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ đối với từng chủ đề/bài Dạy học

phải theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiếnthức, kĩ năng sẽ tạo nên sự thống nhất, làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải do đưathêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với yêu cầu của chương trình môn học

Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng là những điều giải thích chuẩn, chỉ ranhững nội dung cụ thể cần đạt được về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ đối vớitừng chuẩn

”Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy địnhtrong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp

Trang 33

ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông.” (Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm

2009 Điều 29, khoản 2) Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản của HS, là sự cụ thểhoá hơn các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ của chương trình Sáchgiáo khoa bảo đảm cho việc lĩnh hội các yêu cầu của chương trình và chuẩn qua việc thểhiện nội dung và phương pháp dạy học Bên cạnh việc bám sát nội dung chương trình

và chuẩn, sách giáo khoa còn có những nội dung để giải thích, chứng minh những nộidung đó hoặc cung cấp thêm cho HS những nguồn thông tin cần thiết khác, làm chosách sinh động, hấp dẫn, phù hợp với nhận thức của HS, giúp HS học tập và lĩnh hộiđược thuận lợi Vì vậy, trong dạy học, GV có thể không dạy hết các nội dung trong sáchgiáo khoa, có thể có nội dung để cho HS tự học; GV không nên buộc HS phải học thuộc

và nhớ hết các nội dung của sách giáo khoa, mà chỉ tập trung vào nội dung yêu cầu củachuẩn kiến thức, kĩ năng

Mối quan hệ giữa chương trình môn GDCD cấp THCS, hướng dẫn thực hiện chuẩnkiến thức, kĩ năng, định hướng thái độ và sách giáo khoa được thể hiện trong bảng sau : Chương trình Chuẩn chương trình Hướng dẫn thực hiện chuẩn Sách giáo khoa

- Nêu được ý nghĩa

- Khoan dung có nghĩa là rộng lòng tha thứ Người có lòng khoan dung luôn tôn trọng và thông cảm với người khác, biết tha thứ cho người khác khi họ hối hận

và sửa chữa lỗi lầm.

- Tôn trọng người khác là tôn trọng cá tính, sở thích, thói quen, mọi sự khác biệt ở họ ; là thái độ công bằng, vô tư , không định kiến hẹp hòi ; không đối xử nghiệt ngã, gay gắt.

- Khoan dung không có nghĩa là bỏ qua những việc sai trái và những người cố tình làm điều sai trái, cũng không phải

là sự nhẫn nhục.

Ví dụ : ôn tồn thuyết phục, góp ý giúp bạn sửa lỗi ; tha thứ khi người khác đã biết lỗi và sửa lỗi ; nhường nhịn bạn bè,

em nhỏ ; công bằng, vô tư khi nhận xét người khác ;

- Đối với cá nhân : Khoan dung là một

Trang 34

của lòng khoan dung

2 Về kĩ năng

Biết thể hiện lòng khoan dung trong quan hệ với mọi người xung quanh.

3 Về thái độ

Khoan dung, độ lượng với mọi người ; phê phán sự định kiến, hẹp hòi, cố chấp trong quan hệ giữa người với người

đức tính quý báu Người có lòng khoan dung được mọi người yêu mến, tin cậy

và có nhiều bạn tốt

- Đối với xã hội : Nhờ có lòng khoan dung, cuộc sống xã hội và quan hệ giữa mọi người trở nên lành mạnh, thân ái,

- Nghiêm khắc với bản thân, dũng cảm nhận và sửa lỗi, không tìm cách đổ lỗi cho người khác.

Công bằng, vô tư và thông cảm với mọi người ; có thái độ không đồng tình, phản đối, bác bỏ những hành vi thể hiện

sự định kiến, hẹp hòi, cố chấp, thiếu thông cảm, coi thường, đánh giá thấp những người trước kia đã mắc khuyết điểm hoặc nhận xét, đánh giá người theo ý chủ quan của mình, không chịu thay đổi…

AIDS đối với loài người.

- Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng, chống nhiễm HIV/ AIDS

Đó là : huỷ hoại sức khoẻ, cướp đi tính mạng con người ; phá hoại hạnh phúc gia đình ; huỷ hoại tương lai, nòi giống của dân tộc ; ảnh hưởng đến kinh tế- xã hội của đất nước.

Nêu được các quy định về : trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng, chống nhiễm HIV/AIDS, trách nhiệm tham gia các hoạt động phòng chống nhiễm HIV/ AIDS tại gia đình và cộng đồng, không tham gia vào các hành vi nguy cơ ; về

Trang 35

- Nêu được các biện

nhiễm HIV/ AIDS.

- Tham gia các hoạt

Cụ thể là : sống an toàn, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, đặc biệt là

ma túy, mại dâm ; không phân biệt đối

xử với những người nhiễm HIV/AIDS ; tích cực tham gia các hoạt động phòng chống nhiễm HIV/AIDS ở nhà trường

và cộng đồng.

Cụ thể là : sống lành mạnh ; không tiêm chích ma tuý ; yêu cầu làm xét nghiệm cẩn thận trước khi cho hoặc được truyền máu, yêu cầu tiệt trùng các dụng cụ khi

đi khám, chữa, nhổ răng, khi tiêm thuốc, khi xâu lỗ tai, ; không quan hệ tình dục bừa bãi ;

Biết chia sẻ, giúp đỡ, động viên, không

kì thị, xa lánh, phân biệt đối xử với những bạn bè, người thân và người dân trong cộng đồng bị nhiễm HIV/AIDS Tham gia các hoạt động phòng, chống nhiễm HIV/AIDS phù hợp với khả năng như : tham gia hoạt động thi tìm hiểu về phòng chống nhiễm HIV/AIDS ; tham gia vẽ tranh, phát tờ rơi, biểu diễn văn nghệ về chủ đề phòng chống HIV/AIDS

; tham gia phát thanh, tuyên truyền, cổ động về phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng ;

Sống an toàn, lành mạnh ; không tiêm chích ma tuý và tránh xa các tệ nạn, các hoạt động có thể dẫn đến nhiễm HIV/AIDS.

Cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ, động viên,

an ủi bạn bè, người thân và những

Trang 36

- Tích cực phòng,

HIV/AIDS.

- Quan tâm, chia sẻ

và không phân biệt đối xử với người có HIV/ AIDS.

người dân trong cộng đồng bị nhiễm HIV/AIDS ; không có thái độ, cử chỉ, hành động, lời nói xúc phạm hoặc làm

họ bị tổn thương ; đồng thời không đồng tình với những hành vi kì thị, xa lánh, phân biệt đối xử với những người

cơ bản, trọng tâm, các kĩ năng và thái độ cần hình thành ở HS Cần chú ý loại trừ cáckhuynh hướng sau :

+ Khuynh hướng ôm đồm, lệ thuộc vào sách giáo khoa Theo đó, GV cố dạy chohết tất cả các kiến thức trong sách giáo khoa (có trường hợp khi dạy tập trung rất nhiềuthời gian vào những số liệu trong phần thông tin, sự kiện ) Cần chú ý là các thông tintrong sách giáo khoa đóng vai trò là phương tiện để GV hướng dẫn HS khai thác, từ đórút ra nội dung kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ, đó không phải là kiến thức cơbản nhưng có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy và học Nhưtrên đã trình bày, sách giáo khoa có những nội dung mở rộng, giải thích, chứng minh,những ví dụ thực tế làm sách sinh động, hấp dẫn, HS hứng thú và dễ dàng tiếp nhậnkiến thức, kĩ năng, GV phải biết lựa chọn và xác định những gì là trọng tâm trong đó

Để làm được việc này, GV phải căn cứ vào hướng dẫn thực hiện chuẩn

Trang 37

+ Lược bỏ bớt những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ Cần lưu ý chuẩnchương trình là yêu cầu tối thiểu mà mỗi HS cần phải đạt được và thống nhất trong toànquốc, vì vậy việc dạy học tuân theo yêu cầu của chuẩn là bắt buộc.

+ Khuynh hướng đưa thêm nội dung kiến thức, kĩ năng vào bài hoặc khai thácquá sâu nội dung bài, gây quá tải đối với HS GV cần lưu ý là tuỳ điều kiện cụ thể củadạy học, có thể khai thác sâu hơn nội dung kiến thức, kĩ năng, giúp nâng cao nhận thứccủa HS nhưng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS; không làm cho bài học nặng

nề, khó hiểu, khiến HS mất hứng thú, niềm vui học tập, do đó học tập không có kết quả

- Khi thiết kế và thực hiện bài giảng, GV phải biết vận dụng kết hợp một cách hợp lí,linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế thành các hoạt độngdạy học cụ thể Tuỳ từng bài, tuỳ từng phần, tuỳ đối tượng HS, điều kiện dạy học cụ thể,

sở trường của GV mà có thể sử dụng phương pháp, kĩ thuật này hay khác Tuy nhiêncũng cần lưu ý là không loại trừ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyếttrình, đàm thoại, nêu gương là những phương pháp có tác dụng giáo dục tốt Một bàisoạn cần tránh chỉ liệt kê các kiến thức, mà điều quan trọng là phải thiết kế các hoạtđộng dạy học, thông qua hoạt động mà hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ cho HS

- Cần chú trọng việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng cho HS Việc hình thành các kĩnăng qua học tập của HS là một việc làm khó Do đặc trưng của môn GDCD là môn học

có tính giáo dục cao và yêu cầu HS phải biết thực hiện các chuẩn mực đã học trongcuộc sống, nên việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng là rất quan trọng Như chúng ta

đã biết, việc hình thành các kĩ năng không thể chỉ qua việc quan sát hoặc nghe nói, màchỉ được hình thành trên cơ sở hoạt động, trực tiếp làm Vì vậy, muốn hình thành kĩnăng phải thông qua các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức hoạt độngcho HS, qua hoạt động HS được rèn luyện các kĩ năng như hợp tác, tư duy sáng tạo, thuthập và xử lí thông tin, trình bày suy nghĩ/ý tưởng, giao tiếp/ứng xử, giải quyết vấn đề,

kĩ năng thể hiện sự cảm thông/chia sẻ và có khả năng ứng dụng bài học trong thực tếcuộc sống

- Tích cực sưu tầm, chế tạo và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các phương tiện, đồ dùng,thiết bị dạy học Để tổ chức các hoạt động học tập của HS, phải có các đồ dùng, thiết bịdạy học Đồ dùng dạy học có thể do nhà trường cung cấp, nhưng phần quan trọng là do

GV sưu tầm, tự làm và hướng dẫn HS làm

Trang 38

3 Tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân

Chúng tôi xin nêu một số bài cụ thể trong việc tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩnăng

Chương trình giáo dục công dân 6

B i 1 ài 1

T ch m sóc rèn luy n thân th ự chăm sóc rèn luyện thân thể ăm sóc rèn luyện thân thể ện thân thể ể

1 Sử dụng Chuẩn kiến thức, kĩ năng để xác định mục tiêu tiết dạy

a Về kiến thức

Nhận thức được

- Thân thể, sức khỏe là tài sản quý nhất của mỗi người nên cần phải tự chăm sóc, rènluyện thân thể

- ý nghĩa của việc tự chăm sóc, rèn luyện thân thể (về mặt thể chất và tinh thần)

- Cách tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

b V k n ng ề kĩ năng ĩ năng ăng

- Biết nhận xét, đánh giá hành vi tự chăm sóc, rèn luyện thân thể của bản thân và củangười khác

- Biết đưa ra cách xử lí phù hợp trong các tình huống để tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

- Biết đặt kế hoạch tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và thực hiện theo kế hoạch đó

( HS chỉ ra được những việc làm, cách làm và thời gian, thời điểm thực hiện, cần sự hỗtrợ từ ai và thực hiện đúng kế hoạch)

Trang 39

- Tự chăm sóc sức khỏe là biết giữ vệ sinh cá nhân, ăn uống điều độ, không hút thuốc lá

và các chất gây nghiện khác Phải biết phòng bệnh, khi có bệnh phải đến thầy thuốckhám và điều trị

- Tự rèn luyện thân thể là tập thể dục hàng ngày và hoạt động thể thao đúng mức đểthân thể khỏe mạnh, sức lực dẻo dai, hạn chế ốm đau, bệnh tật

+ Hoạt động thể thao đúng mức là lựa chọn môn thể thao phù hợp với sở thích, tìnhtrạng sức khỏe của bản thân; tập luyện vừa phải, đúng lúc, khoa học

b ý nghĩa của việc tự chăm sóc, rèn luyện thân thể (về mặt thể chất và tinh thần)

- Mặt thể chất : Giúp chúng ta có một cơ thể khoẻ mạnh, cân đối, có sức chịu đựng dẻodai, thích nghi được với mọi sự biến đổi của môi trường và do đó làm việc, học tập cóhiệu quả

- Mặt tinh thần : Thấy sảng khoái, sống lạc quan, yêu đời

c Cách tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

- Những việc cần làm để chăm sóc, rèn luyện thân thể của bản thân như : giữ gìn vệ sinh

cá nhân (vệ sinh răng miệng, tai, mũi, họng, mắt) ; ăn uống, sinh hoạt điều độ, đảm bảo

vệ sinh, đúng giờ giấc ; kết hợp học tập, làm việc, nghỉ ngơi hợp lí ; luyện tập thể dục,thể thao thường xuyên ; phòng bệnh cho bản thân, khi thấy có bệnh thì kịp thời đến cơ

- Phân biệt được hành vi nào là có lợi, phù hợp với yêu cầu rèn luyện thân thể, sức khoẻ

; hành vi nào là có hại cho sức khoẻ, có thể dẫn tới ốm đau, bệnh tật (ví dụ : thức quákhuya, dùng chất kích thích)

b Biết đưa ra cách xử lí phù hợp trong các tình huống để tự chăm sóc, rèn luyện thânthể

Trang 40

Ví dụ : khi trời rét thì phải mặc đủ ấm ; trời nắng nóng thì phải đội mũ nón khi rađường, tắm rửa thường xuyên ; khi thấy người mệt mỏi phải báo cho cha mẹ biết để kịpthời khám chữa ;

c Biết đặt kế hoạch tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và thực hiện theo kế hoạch đó :

Chỉ ra được những việc làm, cách làm và thời gian, thời điểm thực hiện, cần sự hỗ trợ từ

ai Và thực hiện đúng kế hoạch Ví dụ : Kế hoạch tập bơi vào mùa hè

3 Vận dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng và kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng các hoạtđộng lên lớp bài học GDCD

a Hướng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Thân thể, sức khỏe là tài sản quý nhấtcủa mỗi người nên cần phải tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

- Trước hết giáo viên cần cho học sinh hiểu khái niệm “sức khoẻ”

- Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để rút ra vai trò quan trọng của sứckhoẻ con người thông qua câu hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, những hoạt động nàocần phải có sức khoẻ mới thực hiện được ?

+ Giáo viên chốt : Thực hiện bất kì một hoạt động nào cũng cần phải có sức khoẻ Conngười cần phải có sức khoẻ mới thực hiện được ước mơ, hoài bão Sức khoẻ có vai trò

vô cùng quan trong với cuộc sống con người, có sức khoẻ là có tất cả Vì vậy cần phảibiết tự chăm sóc và rèn luyện thân thể

b Hướng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Cách tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

và chuẩn kĩ năng (biết nhận xét, đánh giá hành vi tự chăm sóc, rèn luyện thân thể, đưa

ra cách xử lí phù hợp trong các tình huống, đặt kế hoạch tự chăm sóc, rèn luyện thân thể

và thực hiện theo kế hoạch)

- Giáo viên tổ chức cho học sinh sắm vai thể hiện các cách tự chăm sóc, rèn luyện thânthể

+ Nêu câu hỏi để học sinh tự khái quát cách tự chăm sóc rèn luyện thân thể

+ Giáo viên chốt : Những việc cần làm để chăm sóc, rèn luyện thân thể của bản thânnhư : giữ gìn vệ sinh cá nhân; ăn uống, sinh hoạt điều độ, đảm bảo vệ sinh, đúng giờgiấc ; kết hợp học tập, làm việc, nghỉ ngơi hợp lí ; luyện tập thể dục, thể thao thườngxuyên ; phòng bệnh cho bản thân, khi thấy có bệnh thì kịp thời đến cơ sở y tế để khám

và điều trị ;

Ngày đăng: 30/11/2013, 11:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

a) Lập một bảng cú 2 chiều, trong đú, một chiều thể hiện nội dung, một chiều thể hiện cỏc mức độ nhận thức cần kiểm tra. - Tài liệu dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn KT - KN
a Lập một bảng cú 2 chiều, trong đú, một chiều thể hiện nội dung, một chiều thể hiện cỏc mức độ nhận thức cần kiểm tra (Trang 95)
Chiếu bảng số liệu - Tài liệu dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn KT - KN
hi ếu bảng số liệu (Trang 106)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w