Tổ chức công tác kế toán bỏn hàng xác định KQKD tại Cty cổ phần vật tư nụng nghiệp Cao Bằng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trường mở cửa với nhiều thành phần kinh tế hoạt
động dưới sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, theo định hướng XHCN; đất
nước ta đã có sự thay đổi về mọi mặt, dần hoà mình vào sự phát triển chung
của khu vực và thế giới Đặc biệt với sự kiện nước ta gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO tháng 11 năm 2007 vừa qua là một bước ngoặt mở
ra một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức, khó
khăn Cơ chế kinh tế mở đă tạo tiền đề cho các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế trong cả nước có cơ hội giao lưu, hội nhập, vươn lên mạnh mẽ
trên thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động trong kinh
doanh song cũng đẩy các doanh nghiệp vào thế cạnh tranh quyết liệt Hoạt
động trong một môi trường cạnh tranh tự do, sự ganh đua lẫn nhau giữa các
thành phần để giành phần có lợi cho mình khiến mỗi doanh nghiệp đều phải
tìm cho mình một phương thức kinh doanh phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh của mình trong nền kinh tế thị trường đầy biến động Mỗi doanh nghiệp
phải năng động sáng tạo trong kinh doanh, phải tự chịu trách nhiệm với kết
quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn và quan trọng hơn là hoạt động
kinh doanh phải có lãi, tạo điều kiện để tái sản xuất mở rộng, có như vậy
doanh nghiệp mới có thể tồn tại, đứng vững và ngày càng phát triển Muốn
vậy, các doanh nghiệp phải nhận thức được đúng đắn vị trí của khâu tiêu thụ
hàng hóa, thành phẩm, nó quyết định đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp và là cơ sở để doanh nghiệp có thu nhập bù đắp các chi phí đã bỏ ra
Đặc biệt với một doanh nghiệp thương mại, khâu bán hàng hóa là khâu cơ
bản và quan trọng nhất, quyết định sự tồn-vong, thành- bại của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, mục đích hoạt động của các doanh nghiệp là lợi nhuận nên việc
xác định đúng đắn và chính xác kết quả kinh doanh nói chung và kết quả bán
hàng nói riêng cũng rất quan trọng
Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, tài chính chủ đạo, đảm
nhiệm hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế, có vai
trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế
Trang 2trong doanh nghiệp, kế toán có vị trí đặc biệt quan trọng Do đó việc tổ chức
hợp lý công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là rất cần
thiết giúp doanh nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa các
quyết định kinh doanh đúng đắn Như vậy trong công tác quản lý doanh
nghiệp, đặc biệt tại các doanh nghiệp thương mại, kế toán bán hàng và xác
định KQKD là công việc luôn được các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm
vì nó chi phối đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đồng
thời thông qua thông tin mà kế toán bán hàng và xác định KQKD cung cấp
giúp cho các nhà quản trị đưa ra được quyết định phù hợp cho sự phát triển
và yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của tổ chức công tác kế toán bán hàng
và xác định kết quả kinh doanh đặc biệt tại doanh nghiệp thương mại, vận
dụng lý luận đã học tập và nghiên cứu ở trường, kết hợp với thực tế thu nhận
được từ công tác kế toán tại Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao
Bằng , em đã lựa chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế toán bán hàng xác
định KQKD tại Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng ” làm để
tài nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp
Nội dung luận văn gồm 3 phần:
Chưong I: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán bán hàng và
xác định kết quả kinh doanh tại doanh nghiệp thương mại.
Chương II: Thực tế tổ chức công tác kế toán bán hàng và xác định
kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng
Chương III: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán
hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần vật tư nông
nghiệp Cao Bằng
Trang 3Trong quá trình thực tập, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của các
thầy cô trong bộ môn kế toán, trực tiếp là Tiến sĩ Trần Văn Hợi cùng với sự
hướng dẫn, giúp đỡ của các cô chú cán bộ kế toán Công ty cổ phần vật tư
nông nghiệp Cao Bằng Tuy nhiên, do phạm vi của đề tài rộng, thời gian
thực tế chưa nhiều nên khó tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong được
ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo và các cô chú phòng Kế toán – tài vụ của
công ty để em bổ sung, nâng cao nhận thức và hoàn thiện tốt luận văn của
mình
Vũ Thị Phương Thảo
1 CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN
BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1 Những khái niệm cơ bản
Theo nội dung đoạn 3- chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập
khác” (Ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày
31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) và theo quan điểm
chung của các nhà kinh tế có giải thích nội dung một số thuật ngữ như sau:
Hàng hóa: Là những vật phẩm các doanh nghiệp mua về để bán
phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội
Bán hàng: Là việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa, sản phẩm gắn với
phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng, đồng thời được khách
hàng thanh toán hoặc được chấp nhận thanh toán
Doanh thu:Là tổng các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong
thời kỳ hạch toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm
yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn theo thỏa thuận về
chiết khấu thương mại đã ghi trong hợp đồng mua bán hoặc các cam
kết mua bán hàng
Trang 4 Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa
kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu
Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác
định là tiêu thụ, bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán
Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người
mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo
thỏa thuận đã ghi trong hợp đồng thương mại hoặc cam kết mua bán
hàng
Giá vốn hàng bán: Là chỉ tiêu phản ánh trị giá gốc của hàng đã thực
sự tiên thụ trong kì Đối với hàng hóa, đó chính là trị giá mua của
hàng tiêu thụ cộng với phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ trong kì
Chi phí bán hàng: Là toàn bộ chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị
phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch
vụ
Chi phí quản lý Doanh nghiệp: Là toàn bộ những khoản chi phí mà
doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến việc tổ chức, quản lý, điều
hành hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp trong kì
Chi phí hoạt động tài chính: Là những chi phí liên quan đến các hoạt
động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính và các nghiệp vụ mang
tính chất tài chính khác của doanh nghiệp
Doanh thu hoạt động tài chính: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế mà
doanh nghiệp thu được từ hoạt động tài chính hoặc hoạt động kinh
doanh về vốn trong kì kế toán
Kết quả hoạt động kinh doanh: Là kết quả cuối cùng của hoạt động
sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh
nghiệp trong một thời kì nhất định, biểu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ
Trang 51.2 Vai trò và ý nghĩa của công tác kế toán bán hàng và xác
định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương
mại
Khái quát về hàng hóa và ý nghĩa của hoạt động bán hàng, xác
định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp thương mại
“ Hoạt động Thương mại” theo luật thương mại Việt Nam( quốc hội khoá
IX đã thông qua ngày 10/05/1997) được hiểu là việc thực hiện một hay
nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại
nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã
hội
Hàng hoá trong DNTM tồn tại dưới hình thức vật chất, là sản phẩm
của quá trình lao động nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người;
được thực hiện thông qua hành vi mua bán trên thị trường mà doanh nghiệp
là trung gian, mua vào để bán ra phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng
của xã hội
Bán hàng là quá trình các doanh nghiệp thực hiện việc chuyển hóa
vốn kinh doanh của mình từ hình thái hàng hóa sang hình thái tiền tệ và
hình thành kết quả tiêu thụ Đây là kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh tại đơn vị
Vốn kinh doanh của DNTM không ngừng vận động và chuyển hóa
hình thái tương ứng với mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh; từ hình thái
vốn tiền tệ sang hình thái vật chất khác là hàng hóa mà doanh nghiệp mua
về, và cuối cùng- sau khi kết thúc quá trình bán hàng, vốn kinh doanh lại
quay về dạng ban đầu là hình thái tiên tệ Như vậy quá trình vận động của
hàng hoá cũng là quá trình vận động của vốn kinh doanh trong doanh
nghiệp
Bán hàng là giai đoạn cuối cùng kết thúc quá trình lưu thông hàng
hoá, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn hàng hóa sang hình
thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán
hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ vận động của vốn kinh doanh,
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Trang 6Để thực hiện quá trình bán hàng, DNTM phải bỏ ra các khoản chi
phí dưới hình thức các khoản tiền đã chi ra, các khoản khấu trừ vào tài sản
hoặc phát sinh các khoản nợ làm giảm vốn chủ sở hữu, do đó làm giảm lợi
ích kinh tế trong kỳ Đồng thời, doanh nghiệp cũng thu được các khoản
doanh thu và thu nhập khác, đó là tổng giá trị các lợi ích kinh tế thu về góp
phần làm tăng vốn chủ sở hữu Do đó việc xác định chính xác kết quả hoạt
động kinh doanh cuối kỳ là một yêu cầu bắt buộc có ý nghĩa sống còn đối
với doanh nghiệp Kết quả kinh doanh là nguồn chính để doanh nghiệp
trang trải các chi phí về công cụ lao động, đối tượng lao động, các chi phí
trong sản xuất kinh doanh đã bỏ ra; làm các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà
nước, là nguồn quan trọng bổ sung vốn kinh doanh giúp doanh nghiệp ngày
càng mở rộng và phát triển
Với ý nghĩa vô cùng quan trọng như vậy, việc tổ chức công tác kế
toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cần được thực hiện một cách
chính xác và khoa học, đầy đủ và kịp thời, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt
ra, từ đó giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể nhanh chóng đưa ra các
quyết định đúng đắn, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển
Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
Như phần trên đã nói, với vai trò quan trọng của công tác bán hàng
và xác định KQKD, để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi đặt ra công tác kế toán
bán hàng và xác định KQKD trong các doanh nghiệp thương mại có các
nhiệm vụ sau:
Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình hiện có và
sự biến động của từng loại thành phẩm, hàng hóa theo chỉ tiêu số
lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị
Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác các khoản doanh
thu, giảm trừ doanh thu và chi phí của từng hoạt động trong doanh
nghiệp; đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu của khách
hàng
Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của từng hoạt động, giám sát
tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và tình hình phân phối
kết quả các hoạt động
Trang 7 Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài
chính và định kì phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình
bán hàng, xác định và phân phối kết quả
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên kế toán bán hàng và xác định kết quả
kinh doanh cần chú ý những yêu cầu sau:
Xác định đúng thời điểm hàng hoá được coi là đã bán để kịp thời lập
báo cáo bán hàng và phản ánh doanh thu Báo cáo thường xuyên, kịp
thời tình hình bán hàng và thanh toán với khách hàng chi tiết theo
từng loại, từng hợp đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ hàng bán về
số lượng, chất lượng, thời gian Đôn đốc việc thu tiền khách hàng
nộp về quỹ
Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự luân chuyển chứng từ
hợp lý Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ, hợp pháp, luân chuyển
khoa học, hợp lý, không quá phức tạp mà vẫn đảm bảo yêu cầu quản
lý, nâng cao hiệu quả công tác kế toán
Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng, chi phí quản lý
Doanh nghiệp, phân bổ chi phí hợp lý cho hàng còn lại cuối kỳ và
kết chuyển chi phí cho hàng bán trong kỳ để xác định kết quả kinh
Theo phương thức này, định kỳ doanh nghiệp sẽ gửi hàng cho khách
hàng theo những thỏa thuận trong hợp đồng Khách hàng có thể là đơn vị
nhận bán hàng đại lý hoặc là những khách hàng mua thường xuyên theo
hợp đồng kinh tế Khi xuất kho hàng hóa giao cho khách hàng thì số hàng
hóa đó vẫn thuộc quyến sở hữu của doanh nghiệp, bởi vì chưa thỏa mãn 5
điều kiện ghi nhận doanh thu Đến khi khách hàng thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán kế toán ghi nhận doanh thu do doanh nghiệp đã chuyển
các lợi ích gắn với quyền sở hữu hàng hóa cho khách hàng
Trang 81.3.1.2 Phương thức bán hàng trực tiếp
Theo phương thức này, bên khách hàng đến nhận hàng trực tiếp tại
kho của doanh nghiệp hoặc giao nhận hàng tay ba (các doanh nghiệp
thương mại mua bán thẳng ) Khi doanh nghiệp giao hàng hóa, thành phẩm
hoặc lao vụ, dịch vụ cho khác hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán
hoặc chấp nhận thanh toán ngay, đủ điều kiện ghi nhận doanh thu
Phương thức này gồm các hình thức cụ thể như :
1.3.1.2.1 Bán hàng thu tiền ngay
Theo phương thức này, ngay khi doanh nghiệp giao hàng cho người
mua, người mua sẽ thanh toán đầy đủ toàn bộ số tiền hàng theo đúng đơn
giá đã thỏa thuận Doanh thu bán hàng được ghi nhận ngay khi giao hàng,
nhận tiền
1.3.1.2.2 Bán hàng chậm trả không tính lãi, được người mua chấp nhận
thanh toán ngay
1.3.1.2.3 Bán hàng trả chậm, trả góp có tính lãi trả chậm, trả góp
Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì số hàng đó
được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp không còn quyền sở hữu số hàng đó
Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua Số tiền còn lại
người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi
nhất định Thông thường thì số tiền trả ở các kỳ sau phải bằng nhau bao
gồm một phần tiền gốc và một phần lãi trả chậm
1.3.1.2.4 Bán hàng đổi hàng không tương tự
Hàng đổi hàng là phương thức tiêu thụ mà trong đó người bán đem
sản phẩm, vật tư, hàng hóa của mình để đổi lấy vật tư, hàng hóa không
tương tự của người mua Giá trao đổi là giá bán của hàng hóa, vật tư doanh
nghiệp đem đi trao đổi trên thị trường
Phương thức này có thể chia làm ba trường hợp:
- Xuất kho lấy hàng ngay
- Xuất hàng trước, lấy vật tư, sản phẩm, hàng hóa về sau
Trang 91.3.1.2.5 Các trường hợp được coi là tiêu thụ khác
Trên thực tế ngoài các phương pháp bán hàng như trên, sản phẩm,
hàng hóa của doanh nghiệp cũng có thể được tiêu thụ dưới nhiều hình thức
khác Đó là khi doanh nghiệp xuất hàng hóa, thành phẩm để tặng, hoặc trả
lương, thưởng cho cán bộ, nhân viên trong nội bộ doanh nghiệp
Kế toán giá vốn hàng bán
1.3.1.3 Phương pháp xác định giá vốn hàng bán (GVHB) trong các
DNTM
Đối với doanh nghiệp thương mại, trị giá vốn thực tế của hàng xuất
kho để bán bao gồm 2 bộ phận: trị giá mua thực tế của hàng xuất kho để
bán và chi phí mua hàng phân bổ cho số hàng xuất kho đó Do khi nhập
kho hàng hóa, kế toán ghi theo trị giá mua thực tế của từng lần nhập hàng
cho từng thứ hàng hóa (hạch toán vào tài khoản 1561) các chi phí thu mua
thực tế phát sinh liên quan trực tiếp đến quá trình mua hàng được hạch toán
riêng (tài khoản 1562) Đến cuối tháng mới tính toán, phân bổ chi phí mua
hàng cho hàng hóa xuất kho để tính trị giá vốn thực tế của hàng hóa xuất
kho
Cuối kì, Chi phí thu mua được phân bổ cho số hàng hóa xuất kho để
bán theo công thức:
Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho để bán được tính bằng một
trong các phương pháp sau:
1.3.1.3.1 Phương pháp bình quân gia quyền:
Trị giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho được tính căn cứ vào số lượng
hàng xuất trong kỳ và đơn giá bình quân gia quyền, theo công thức:
Tiêu chuẩn phân bổ của hh đã xuất bán trong kì
x
Hh tồn kho
Hh đã xuất bán trong kì
Trang 10- Đơn giá bình quân thường được tính cho từng thứ hàng hoá.
- Đơn giá bình quân có thể được xác định cho cả kỳ được gọi là đơn giá
bình quân cả kỳ hay đơn giá bình quân cố định Theo cách tính này, khối
lượng tính toán giảm nhưng chỉ tính được giá trị vốn thực tế của hàng hoá
vào thời điểm cuối kỳ nên không thể cung cấp thông tin kịp thời
- Đơn giá bình quân có thể được xác định sau mỗi lần nhập được gọi là đơn
giá bình quân liên hoàn; theo cách tính này, xác định được trị giá vốn thực
tế hàng hoá hàng ngày cung cấp thông tin kịp thời Tuy nhiên khối lượng
công việc tính toán sẽ lớn nên phương pháp này rất thích hợp đối với
những doanh nghiệp áp dụng kế toán máy
1.3.1.3.2 Phương pháp nhập trước, xuất trước:
Phương pháp này dựa trên giả định lô hàng nào được mua vào trước
thì được xuất ra trước và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là những lô hàng tồn
kho được mua gần thời điểm cuối kỳ Theo phương pháp này thì hàng xuất
kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần
đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở
thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho
1.3.1.3.3 Phương pháp nhập sau xuất trước:
Phương pháp này dựa trên giả định là hàng nào được mua sau thì
được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua
trước đó Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo
Trị giá mua thực tế của
hàng xuất kho
Số lượng hàngxuất kho
Đơn giá bình quân gia quyền
Đơn giá bình
quân gia quyền =
Trị giá thực tế của hàng tồn đầu kỳ +
Trị giá thực tế của hàng nhập trong kỳ
Số lượng hàngtồn đầu kỳ +
Số lượng hàngnhập trong kỳ
Trang 11giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, trị giá hàng tồn kho được tính
theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ còn tồn kho
1.3.1.3.4 Phương pháp thực tế đích danh:
Trị giá thực tế mua vào của hàng hóa tồn kho được tính như sau:
hàng tồn kho thuộc lô nào sẽ được tính theo đơn giá của lô đó Phương
pháp này phản ánh chính xác giá của từng lô hàng xuất nhưng công việc
khá phức tạp đòi hỏi thủ kho phải nắm được chi tiết từng lô hàng
Trong thực tế ngoài các phương pháp tính trị giá vốn thực tế của
hàng hoá theo chuẩn mực kế toán hàng tồn kho quy định thì các doanh
nghiệp còn áp dụng một số phương pháp khác phù hợp đặc điểm doanh
nghiệp như:
1.3.1.3.5 Phương pháp giá hoạch toán
Giá hoạch toán của hàng hóa là giá do doanh nghiệp tự quy định (có
thể lấy giá kế hoạch hoặc giá mua tại một thời điểm nào đó) và được sử dụng
thống nhất ở doanh nghiệp trong một thời gian dài Hàng ngày sử dụng giá
hoạch toán để ghi sổ chi tiết giá trị hàng nhập, xuất Cuối kỳ kế toán tính ra
trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho theohệ số giá:
Trị giá hạch toán hàng
Trị giá hạch toán của hàng nhập trong kỳ
Trị giá mua thực tế
hàng hóa xuất kho
trong kỳ
Trị giá mua hạch toán hàng hóa xuất kho trong kỳ
Trang 12Như vậy hàng ngày, kế toán sử dụng giá hạch toán để ghi sổ chi tiết
hàng hóa Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số
liệu ghi vào các tài khoản, sổ tổng hợp và báo cáo kế toán
Mỗi một phương pháp tính Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho để
bán đều có những ưu, nhược điểm riêng Việc lựa chọn phương pháp nào để
vận dụng cho doanh nghiệp mình, phải căn cứ vào tình hình thực tế yêu cầu
hạch toán của doanh nghiệp, đồng thời việc lựa chọn và áp dụng phương
pháp tính Trị giá mua thực tế của hàng xuất kho để bán phải đảm bảo nguyên
tắc nhất quán, để báo cáo tài chính có thể so sánh được và đảm bảo nguyên
tắc công khai để chỉ đạo việc thay đổi từ phương pháp này sang phương
pháp khác nếu thấy cần thiết
1.3.1.4 Phương pháp tính trị giá vốn của hàng hóa đã bán
Xác định chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho
số hàng đã bán:
- Nếu doanh nghiệp thương mại dịch vụ có dự trữ
hàng hóa ít, doanh thu ổn định thì cuối kỳ phân bổ cho số hàng đã
bán trong kỳ
- Nếu doanh nghiệp thương mại dịch vụ có dự trữ hàng
hóa nhiều, doanh thu không ổn định thì cuối kỳ cần phân bổ chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho số hàng đã bán trong kỳ
và số hàng tồn kho theo công thức sau:
Trị giá vốn
của hàng
Trị giá vốn hàng xuất đã
Chi phí QLKD phân bổ cho số hàng đã bán
CPQLKD phân bổ cho hàng
đã bán
=
CPQLKD phân bổ chohàng tồn
CPQLKD được tập hợp trong kỳ
Trị giá hàngtồn cuối kỳ + Trị giá vốn hàng xuất
trong kỳ
Trang 131.3.1.5 Phương pháp kế toán giá vốn hàng bán tại DNTM
Tùy theo từng phương thức bán hàng mà nội dung và trình tự kế toán
GVHB có sự khác nhau, cụ thể như sau
1.3.1.5.1 Kế toán GVHB theo phương thức gửi hàng
Tài khoản sử dụng
Tài khoản 157: Hàng gửi đi bán
Phản ánh số hiện có và tình hình biến động của trị giá vốn hàng hoá
gửi bán, chưa được xác định là đã tiêu thụ
Kế toán sử dụng một số TK khác: TK 632/611, TK
156,
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Trường hợp 1: Doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp
kê khai thường xuyên
Sơ đồ 1
Xuất kho TP, HH gửi đi bán Kết chuyển trị giá
vốn số hàng đã bán
Hàng hoá mua gửi bán thẳng
TK 133 Hàng gửi đi không
thụ
Trang 14(2): Cuối kỳ phản ánh trị giá vốn thực tế của hàng hoá, dịch vụ đã gửi bán
chưa xác định tiêu thụ đến cuối kỳ
1.3.1.5.2 Kế toán GVHB theo phương thức bán hàng trực tiếp
Tài khoản sử dụng
Tài khoản 632 : Giá vốn hàng bán
Phản ánh trị giá vốn thực tế hàng hóa xuất bán trong kì và một vài
nghiệp vụ khác Tuy nhiên nội dung, kết cấu của TK 632 có sự khác
nhau giữa 2 phương pháp kế toán hàng tồn kho
Kế toán sử dụng một số tài khoản khác: TK156, 331, 911,
Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Trường hợp 1: Doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp
kê khai thường xuyên
(1): Trị giá vốn hàng hóa đã xuất bán trực tiếp trong kì
(2): Trị giá vốn thực tế của hàng hoá đã bán bị KH trả lại (ghi theo giá vốn
thực tế tại thời điểm xuất bán)
(3): Giá vốn thực tế của hàng đã mua xuất bán thẳng, không qua nhập kho
(4): Cuối kì, trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho cho kì sau
Trang 15(6): Cuối kỳ kết chuyển giá vốn thực tế của hàng hoá đã xuất kho bán để
(1a)
(1b)
(4)(5)
Trang 16(1a) Kết chuyển số dư đầu kỳ của TK157 - Hàng gửi đi bán sang
TK611
(1b) Kết chuyển số dư đầu kỳ của TK156 Hàng hoá sang TK611
-Mua hàng
(2) Cuối kì xác định và kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng xuất
bán được xác định là đã tiêu thụ trong kỳ
(3) Phản ánh trị giá vốn thực tế của hàng gửi đi bán chưa được xác
định là tiêu thụ
(4) Mua hàng chưa thanh toán tiền
(5) Hàng gửi bán nhưng chưa xác định là bán
(6) Phản ánh trị giá vốn của hàng hoá đã bán trong kì, kết chuyển để
xác định KQKD cuối kì
1.3.2 Kế toán doanh thu bán hàng
1.3.2.1 Điều kiện và thời điểm ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực kế
toán số 14
Chuẩn mực số 14 ban hành theo QĐ 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001
định nghĩa doanh thu như sau:
Doanh thu: là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được
trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông
thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn các điều kiện
sau:
1 Doanh nghiệp đã chuyển phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua
Trang 172 Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như
người sở hữu sản phẩm hoặc quyền kiểm soát hàng hoá
3 Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
4 Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế giao
dịch bán hàng
5 Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Tuy nhiên phụ thuộc vào cách tính thuế hàng hoá tiêu thụ mà chỉ tiêu
doanh thu bán hàng có sự khác biệt
- Đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tương chịu thuế GTGT tính theo
phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền hàng,
tiền cung ứng dịch vụ (được tính theo giá chưa có thuế GTGT ) bao
gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ sở
kinh doanh được hưởng
- Đối với hàng hóa, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT
hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực
tiếp Doanh thu bán hàng là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch
vụ bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có) mà cơ
sở kinh doanh được hưởng (tổng giá thanh toán bao gồm cả thuế)
- Đối với sản phẩm, hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng là tổng giá thanh
toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu
Trang 18- Đối với sản phẩm, hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt, hoặc thuế xuất khẩu thì doanh thu bán hàng là tổng giá thanh
toán (bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt, hoặc thuế xuất khẩu)
- Những DN nhận gia công vật tư, hàng hoá thì chỉ phản ánh vào
doanh thu bán hàng số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao
gồm giá trị vật tư hàng hoá nhận gia công
- Đối với hàng hoá nhận bán đại lý, kí gửi theo phương thức bán đúng
giá hưởng hoa hồng thì hạch toán vào doanh thu bán hàng phần hoa
hồng bán hàng mà DN được hưởng
- Trường hợp bán hàng theo phương pháp trả chậm, trả góp thì DN ghi
nhận doanh thu bán hàng theo giá bán trả ngay và ghi nhận vào
doanh thu hoạt động tài chính về phần lãi tính trên khoản phải trả
nhưng trả chậm phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu được xác
nhận
- Trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ trao đổi lấy hàng hóa hoặc dịch
vụ tương tự về bản chất thì không được ghi nhận là doanh thu
Trang 191.3.2.2 Chứng từ và tài khoản kế toán sử dụng
Chứng từ kế toán: Các chứng từ sử dụng trong kế toán doanh thu bán
hàng bao gồm:
- Hoá đơn GTGT ( áp dụng đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ) hoặc Hóa đơn bán hàng ( áp dụng đối với doanh
nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp )
- Bảng thanh toán hàng bán đại lí, ký gửi
- Thẻ quầy hàng,
- Phiếu thu tiền mặt, giấy báo nợ, báo có của ngân hàng, sec chuyển
khoản…
- Các chứng từ kế toán có liên quan khác: Phiếu xuất kho, bảng kê…
Tài khoản kế toán:
Theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành (ngày
14/09/2006) quyết định về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp vừa
và nhỏ, để hạch toán các nghiệp vụ liên quan đến doanh thu bán hàng và
xác định KQKD, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng một số tài khoản
TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp trong một kì kế toán của hoạt động sản xuất kinh doanh từ
các giao dịch và các nghiệp vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ
Tài khoản này không có số dư
Theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành, tài
khoản 511 áp dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có 4 tài khoản cấp II như
sau: TK 5111: Doanh thu bán hàng hoá
TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm
TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5118 Doanh thu kinh doanh khác
TK 3331: Thuế GTGT phải nộp
Tài khoản này áp dụng chung cho đối tượng nộp thuế GTGT theo
phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp
Ngoài ra để tổ chức công tác kế toán bán hàng còn sử dụng một số
Tài khoản liên quan khác
Trang 201.3.2.3 Trình tự kế toán một số nghiệp vụ về doanh thu chủ yếu
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu được thể hiện qua sơ đồ sau:
Thuế VAT đầu ra
(3)
Trong đó, cụ thể các nghiệp vụ như sau:
(1a) Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phát sinh ( trường hợp
đơn vị áp dụng phương pháp nộp thuế GTGT trực tiếp)
(1b) Doanh thu bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phát sinh ( trường hợp
đơn vị áp dụng phương pháp nộp thuế GTGT khấu trừ
(2) Các khoản thuế làm giảm doanh thu như
+ Thuế xuất khẩu+ Thuế tiêu thụ đặc biệt+ Thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp(3) Các khoản giảm trừ doanh thu phát sinh trong kì như
+ Chiết khấu thương mại+ Doanh thu hàng bán bị trả lại
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ phát sinh
Trang 21+ Giảm giá hàng bán(4) Cuối kì kết chuyển các khoản làm giảm trừ doanh thu trong kì
(5) Cuối kì xác định và kết chuyển doanh thu thuần, xác định KQKD
1.3.3 Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
Các khoản làm giảm trừ doanh thu trong doanh nghiệp thương mại gồm:
+ Chiết khấu thương mại
+Giảm giá hàng bán+ Hàng bán bị trả lạiNgoài ra, các khoản thuế như : Thuế xuất khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT
đầu ra ( nộp theo phương pháp trực tiếp) cũng là một khoản làm giảm doanh
thu bán hàng
Tương ứng để theo dõi và quản lý chi tiết từng khoản giảm trừ, theo
Quyết định 48/2006/QĐ-BTC, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sử dụng tài
khoản 521 : Các khoản giảm trừ doanh thu
TK 521 được mở chi tiết thành 3 tài khoản cấp II
TK5211: Chiết khấu thương mại
TK5212: Hàng bán bị trả lại
TK5213: Giảm giá hàng bán
Ngoài ra, để theo dõi, quản lý các khoản làm giảm trừ doanh thu, kế toán
cần sử dụng thêm Tài khoản 333: Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
TK333 được mở chi tiết cho nhiều loại thuế, cụ thể liên quan đến các khoản
giảm trừ doanh thu, có các tài khoản chi tiết sau:
TK33311: Thuế GTGT đầu ra
TK3332: Thuế tiêu thụ đặc biệt
TK3333: Thuế xuất nhập khẩu
Trình tự hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu: đã được thể hiển ở sơ đồ 5
Trang 221.3.4 Kế toán chi phí tài chính và doanh thu hoạt động tài chính
1.3.4.1 Kế toán chi phí tài chính
Chi phí tài chính là những chi phí liên quan đến các hoạt động về vốn,
các hoạt động đầu tư tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất tài chính của
doanh nghiệp, bao gồm:
- Các khoản chi phí hoặc các khoản lỗ liên quan đến các hoạt động
đầu tư tài chính
- Chi phí cho vay và đi vay vốn
- Chi phí góp vốn liên doanh, liên kết
- Lỗ chuyển nhượng chứng khoán ngắn hạn
- Chi phí liên quan đến việc bán chứng khoán
- Khoản lỗ phát sinh khi bán ngoại tệ , lỗ tỷ giá hối đoái
- Trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán
………
Tài khoản kế toán sử dụng: TK635: Chi phí tài chính
Khái quát trình tự kế toán:
1.3.4.2 Kế toán doanh thu hoạt động tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh
nghiệp thu được từ hoạt động tài chính hoặc hoạt động kinh doanh về vốn
trong kì kế toán Doanh thu hoạt động tài chính phát sinh từ các khoản tiền
Các khoản Chi phí tài
chính phát sinh trong kì
k/c chi phí tài chính xác định KQKD
Trang 23lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp chỉ được
ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:
- Có khả năng thu được lợi ích từ giao dịch đó
- Doanh thu được xác định là tương đối chắc chắn
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm:
- Lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp
- Lãi do bán, chuyển nhượng các công cụ tài chính, đầu tư liên
doanh, liên kết; đầu tư vào công ty con
- Cổ tức, lợi nhuận được chia
- Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, lãi chênh lệch tỷ giá ngoại tệ
- Chiết khấu thanh toán được hưởng do mua hàng
- Thu nhập liên quan đến các hoạt động tài chính khác
Tài khoản kế toán sử dụng : TK515- doanh thu hoạt động tài chính
Khái quát trình tự kế toán:
Sơ đồ 7:
TK 515- DTHĐ tài chính
TK 911
1.3.5 Kế toán chi phí quản lý kinh doanh
1.3.5.1 Nội dung và tài khoản sử dụng
Theo Quyết định 48/2006/QĐ-BTC do Bộ Tài Chính ban hành, áp
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngoài các khoản chi phí phục vụ sản
xuất, các khoản chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh được hạch toán vào
chi phí quản lý kinh doanh Chi phí quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp
Thuế GTGT phải nộp theo
pptt đối với hđtc
K/c DTHĐTC thuần
xác định KQKD
Các khoản DTHĐTCPhát sinh trong kì
Trang 24bao gồm toàn bộ các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp
Để theo dõi và quản lý khoản chi phí quản lý kinh doanh, kế toán
doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng tài khoản 642: chi phí quản lý kinh doanh
Tài khoản 642 được mở chi tiết thành 2 tài khoản cấp II, phục vụ việc
theo dõi, quản lý các khoản chi phí phát sinh ở từng khâu, phục vụ từng mục
đích khác nhau :
+ TK 6421: Chi phí bán hàng+ TK 6422: Chi phí quản lý doanh nghiệp Trong đó, nội dung mỗi tài khoản cấp II gồm các yếu tố như:
1 Chi phí nhân viên: Bao gồm toàn bộ chi phí về tiền
lương, phụ cấp, BHXH, BHYT của nhân viên ở từng khâu (bán hàng
và QLDN )
2 Chi phí vật liệu: Trị giá thực tế các loại vật liêu, nhiên
liệu, bao bì…xuất dùng cho hoạt động bán hàng và hoạt động QLDN
3 Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Là các khoản chi phí về công
cụ dụng cụ, đồ dùng, thiết bị…phục vụ cho từng hoạt động
4 Chi phí khấu hao TSCĐ: khoản chi phí khấu hao các
TSCĐ phục vụ cho quá trình hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ,
tiêu thụ sản phẩm và các TSCĐ phục vụ chung cho toàn doanh
nghiệp, phục vụ công tác quản lý doanh nghiệp
5 Chi phí dự phòng: các khoản trích dự phòng được hạch
toán vào Tài khoản 642
6 Chi phí dịch vụ mua ngoài: chi phí về dịch vụ mua ngoài
(điện nước, điện thoại, thuê nhà, thuê sửa chữa TSCĐ, tài liệu kĩ
thuật, bằng phát minh, sáng chế…)dùng chung cho toàn doanh
nghiệp và phục vụ hoạt động bán hàng, QLDN…
7 Chi phí khác bằng tiền: các khoản chi bằng tiền khác phát
sinh cho nhu cầu quản lý doanh nghiệp, công tác bán hàng … ngoài
các khoản chi phí đã kể trên như chi hội nghị, tiếp khách, công tác
phí, chi phí kí hợp đồng…
Ngoài ra tùy thuộc từng doanh nghiệp, từng hoạt động mà nội dung của
khoản chi phí quản lý kinh doanh có thể thay đổi, thêm bớt một vài nội dung
Trang 251.3.5.2 Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu
Chi phí QLKD cuối kỳ cần được tính toán phân bổ, kết chuyển để xác
định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Công thức phân bổ CPBH,
CPQLDN cho hàng còn lại cuối kỳ (được trình bày ở phần phương pháp tính
Chi phí dụng cụ, đồ dùng QL Xác định KQKD
Trang 261.3.6.1.1 Nội dung các khoản thu nhập khác, chi phí khác
Thu nhập khác: là thu nhập không phải là doanh thu của doanh
nghiệp Đây là khoản thu nhập được tạo ra từ các hoạt động khác ngoài hoạt
động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán
số 14 “doanh thu và thu nhập khác “ quy định, thu nhập khác bao gồm các
khoản thu từ các hoạt động xảy ra không thường xuyên, ngoài các hoạt động
tạo ra doanh thu, gồm:
- Thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ
- Thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng
- Thu tiền bảo hiểm được bồi thường
- Thu từ các khoản nợ phải thu đã xóa sổ tính vào chi
- Các khoản thu khác (thu nhập từ quà biếu tặng, bằng
tiền, hiện vật, thu nhập từ hoạt động kinh doanh năm trước bị bỏ sót
hay quên nay được phát hiện )
Chi phí khác: là các khoản chi phí của các hoạt động ngoài hoạt
động sản xuất kinh doanh tạo ra doanh thu của doanh nghiệp Đây là khoản
Trang 27lỗi do các sự kiện hay các nghiệp vụ khác biệt với hoạt động kinh doanh
thông thường của doanh nghiệp, nội dung cụ thể bao gồm:
- Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ
- Giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý, nhượng bán (thông
thường)
- Các khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế
- Khoản bị phạt thuế, truy thu nộp thuế
- Các khoản chi phí do ghi nhầm, bỏ sót khi ghi sổ kế
toán
1.3.6.1.2 Tài khản kế toán sử dụng
Kế toán thu nhập khác, chi phí khác sử dụng các tài khoản chủ yếu sau
Tài khoản 711: thu nhập khác
Tài khoản 811: chi phí khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số tài khoản liên quan khác như:
Tùy thuộc nội dung từng khoản thu nhập khác /chi phí khác kế toán sử dụng
Tài khoản liên quan thích hợp để phản ánh
(a) Hạch toán nghiệp vụ kế toán liên quan đến các
khoản chi phí khác (tùy thuộc nội dung khoản chi phí khác đó đã nói
trong phần trên)
(b) Hạch toán nghiệp vụ kế toán liên quan đến các
khoản thu nhập khác (tùy thuộc nội dung khoản thu nhập khác đó đã
nói trong phần trên)
Trang 28(1) Tập hợp các khoản thu nhập khác / chi phí khác thực tế phát sinh
trong kì
(2) Kết chuyển các khoản thu nhập khác / chi phí khác để xác định
KQKD cuối kì kế toán
1.3.7 Kế toán chi phí thuế Thu nhập doanh nghiệp
Theo quy định của luật thuế TNDN hiện hành ( số 09/2003/QH11, ban
hành ngày 17 tháng 6 năm 2003), tại điều 1 có quy định: “Tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh
doanh) có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế TNDN là sắc thuế đánh vào phần thu nhập chịu thuế của doanh
nghiệp (căn cứ tính thuế, thuế suất và cách xác định cụ thể được quy định
trong luật thuế TNDN số 09/2003/QH 11 và được quy định chi tiết cách thức
thi hành tại Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2007 do
chính phủ ban hành) Theo đó tại điều 12, 13, 14 của luật thuê TNDN quy
định cụ thể về kê khai, nộp thuế và quyết toán thuế của các cơ sở kinh
doanh, nội dung như sau:
Điều 12 Kê khai thuế
1 Hàng năm, cơ sở kinh doanh căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ của năm trước và khả năng của năm tiếp theo tự kê
khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, có chia
ra từng quý theo mẫu của cơ quan thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp
quản lý chậm nhất là ngày 25 tháng 01; nếu tình hình sản xuất, kinh doanh
trong năm có sự thay đổi lớn thì cơ sở kinh doanh phải báo cáo cơ quan thuế
trực tiếp quản lý để điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm và từng quý Trong
trường hợp cơ quan thuế kiểm tra phát hiện việc kê khai thuế của cơ sở kinh
doanh chưa phù hợp thì có quyền ấn định số thuế tạm nộp cả năm và từng
quý .…
Điều 13 Nộp thuế
1 Cơ sở kinh doanh tạm nộp số thuế hàng quý theo bản tự kê khai
hoặc theo số thuế cơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách nhà
nước Thời hạn nộp thuế hàng quý chậm nhất là ngày cuối quý …
Trang 291.3.7.1 Tài khoản sử dụng và trình tự hạch toán một số nghiệp vụ chủ
yếu liên quan đến chi phí thuế TNDN
Để phản ánh chi phí thuế TNDN phát sinh trong năm, làm căn cứ xác
định KQKD của doanh nghiệp trong năm tài chính hiện hành, kế toán sử
dụng tài khoản 821- “chi phí thuế TNDN”
Trình tự hạch toán
1 Hàng quý, kế toán căn cứ vào tờ khai thuế TNDN để ghi nhận số
thuế TNDN tạm phải nộp vào chi phí thuế TNDN
2 Cuối năm tài chính, căn cứ vào tờ khai quyết toán thuế tiến hành
nộp bổ sung vào chi phí thuế TNDN (nếu số thuế TNDN tạm nộp
trong năm nhỏ hơn số phải nộp cho năm đó), hoặc ghi giảm chi
phí thuế TNDN của năm đó (nếu số thuế TNDN tạm nộp trong
năm lớn hơn số phải nộp)
3 Trường hợp phát hiện sai sót không trọng yếu liên quan đến
khoản thuế TNDN phải nộp của các năm trước, doanh nghiệp
được hạch toán tăng (hoặc giảm) số thuế TNDN phải nộp của các
năm trước vào chi phí thuế TNDN của năm phát hiện sai sót
4 Cuối năm tài chính, kế toán tiến hành kết chuyển chi phí thuế
TNDN phát sinh trong năm vào tài khoản 911 để xác định KQKD
Phương pháp phản ánh một số nghiệp vụ liên quan
Trang 30-Phát hiện sai sót không trọng yếu, của các năm trước, phải hạch toán
tăng chi phí thuế TNDN
(2) Khi nộp thuế TNDN vào Ngân sách Nhà nước
(3) Điều chỉnh giảm chi phí thuế TNDN vào cuối năm (trường hợp số thuế
tạm nộp lớn hơn số thực tế phải nộp hoặc do phát hiện sai sót không trọng
yếu của các năm trước, được phép hạch toán giảm chi phí thuế TNDN)
(4a) Cuối năm tài chính, kết chuyển chi phí thuế TNDN ( trường hợp tài
khoản 821 có SPS Nợ lớn hơn SPS Có)
(4b) Cuối năm tài chính, kết chuyển chi phí thuế TNDN ( trường hợp tài
khoản 821 có SPS Nợ nhỏ hơn SPS Có)
1.3.8 Kế toán xác định kết quả kinh doanh
1.3.8.1 Nội dung và tài khoản sử dụng
Kết quả hoạt động kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản
xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác tại doanh nghiệp sau
một thời kỳ nhât định, biểu hiện bằng số tiền lỗ hay lãi
Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt
động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác
Kết quả hoạt động kinh doanh thông thường là kết quả từ
những hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp ( gồm hoạt động bán
hàng, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính )
Kết quả hoạt động khác là kết quả được tính bằng chênh lệch
giữa thu nhập thuần khác và chi phí khác
Trong đó doanh thu thuần được tính bằng tổng doanh thu trừ đi (-) các
khoản giảm trừ doanh thu
Kế toán xác định kết quả kinh doanh sử dụng chủ yếu các tài khoản sau:
Kết quả
hoạt động
bán hàng =
Tổng DT thuần về BH
và CCDV
_ Trị giá vốn của hàng đã bán
(xd theo công thức phần 1.3.2.2)
Kết quả từ hoạt
động tài chính =
Tổng DT thuần về hoạt động tài chính
Chi phí về hoạt động tài chính _
Trang 31 Tk 911: Xác định kết quả kinh doanh.
Dùng để xác định và phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh và các
hoạt động khác của doanh nghiệp
Tk 421: Lợi nhuận chưa phân phối
Dùng để phản ánh Kết quả kinh doanh (Lợi nhuận, lỗ) sau thuế TNDN
và tình hình phân chia lợi nhuận hoặc xử lý lỗ của doanh nghiệp)
Tài khoản này có 2 Tài khoản cấp II (theo Quyết định
48/2006/QĐ-BTC) như sau:
Tk 4211: Lợi nhuận năm trước
Tk 4212: Lợi nhuận năm sau
1.3.8.2 Trình tự kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:
Trang 321.3.9 Hệ thống sổ kế toán bán hàng và xác định KQKD
Tùy theo hình thức kế toán doanh nghiệp áp dụng mà các nghiệp vụ liên
quan đến bán hàng, xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp được
phản ánh trên các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết phù hợp theo
đúng quy định của chế độ kế toán hiện hành Cụ thể như sau:
Doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chung:
- Kế toán sử dụng sổ nhật ký chung, sổ cái các tài
khoản liên quan (TK632, TK 511, TK911, TK641, TK642, )
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết (bảng kê bán hàng, báo cáo
bán hàng, sổ chi tiết các tài khoản…)
Doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ:
- Kế toán sử dụng: Chứng từ ghi sổ, sổ cái tài khoản
liên quan, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Thẻ kế toán chi tiết, Sổ chi tiết các tài khoản 511, 512,
911, 641, 642,…
Doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán nhật ký chừng từ
- Kế toán sử dụng các bảng kê ( BK 8, BK 9, BK 10,
BK 11…), các nhật ký chứng từ (NKCT số 7, 8, 10), sổ cái các tài
khoản liên quan
- Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Doanh nghiệp sử dụng hình thức nhật ký sổ cái, kế toán sử dụng các
loại sổ
- Sổ nhật ký sổ cái
- Các sổ thẻ kế toán chi tiết TSCĐ, thẻ kho
Trang 332 CHƯƠNG 2
THỰC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CAO BẰNG
2.1 Tổng quan về công ty và tình hình hoạt động của công ty cổ
phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng là doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực thương mại, được thành lập từ tháng 11/1960 với tên gọi
Công ty tư liệu sản xuất nông nghiệp thuộc Bộ nội thương
Năm 1964 Công ty được phân cấp về tỉnh và tách khỏi Bộ nội thương
nhưng vẫn hạch toán toàn ngành
Năm 1971 thành lập công ty vật tư nông nghiệp tỉnh Cao Bằng trực thuộc
UBND tỉnh, hạch toán độc lập
Năm 1991, thực hiện quy chế thành lập- giải thể DNNN theo nghị định số
388 HĐBT (20/11/1991) của Hội đồng bộ trưởng, công ty giải thể
Năm 1993 Công ty được UBND tỉnh cho phép thành lập lại dưới hình
thức doanh nghiệp Nhà Nước
Tháng 1/2001 Công ty chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần với tên
gọi chính thức từ đó đến nay là “Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao
Bằng “
Trụ sở chính đặt tại : Km2 quốc lộ 3 đường Cao Bằng - Hà Nội thuộc
phường Sông Hiến - thị xã Cao Bằng – tỉnh Cao Bằng
Trang 342.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty trong giai đoạn
hiện nay
2.1.2.1 Chức năng – nhiệm vụ, đặc điểm ngành nghề kinh doanh
Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng là đơn vị thương mại nhưng
có nhiệm vụ cung ứng, phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính,
hoạt động kinh doanh là phụ
Chuyên cung ứng, kinh doanh các loại vật tư, phân bón hóa học phục vụ sản
xuất nông nghiệp theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Cụ thể các mặt
hàng cung ứng – kinh doanh gồm
3Đặc điểm ngành nghề, sản phẩm kinh doanh
Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng là một doanh nghiệp
thương mại, đặc điểm cung ứng - kinh doanh phân bón theo thời vụ nên hoạt
động kinh doanh mang tính thời vụ cao, đòi hỏi phải có nguồn vốn lưu động
lớn Hoạt động mang tính chất cung ứng, phục vụ theo yêu cầu và nhiệm vụ
Nhà nước giao cho là chính, mang tính chất kinh doanh là phụ
Phương thức cung ứng mặt hàng kinh doanh theo chính sách trợ cước
của Trung ương, thủ tục mua bán theo giá trợ cước rất phức tạp
Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng là đơn vị thương mại,
kinh doanh chủ yếu dưới hình thức mua vào – bán ra, nguồn hàng chủ yếu
của công ty là mua từ các đơn vị cấp I, nguồn cung ứng đảm bảo như :
- Công ty cổ phần xuất-nhập khẩu Hà Anh
- Công ty supe phốt phát và hóa chất Lâm Thao
- Công ty phân bón sông Gianh
- Công ty TNHH 1 thành viên Quế Lâm
Trang 35Ngoài ra có một vài đơn vị cung cấp nhỏ lẻ khác
Thị trường đầu ra chủ yếu là phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp
trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất của các hộ nông dân, tổ đội sản xuất
nông nghiệp, hội phụ nữ…
3.1.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần vật tư nông
nghiệp Cao Bằng trong thời gian qua, phương hướng, nhiệm vụ trong
giai đoạn tới
3.1.1.1.1 Điều kiện, đặc điểm hoạt động của công ty
4Thuận lợi
- Từ nhiều năm qua, công ty luôn được sự chi đạo và tạo điều
kiện giúp đỡ từ UBND Tỉnh và các cơ quan, ban ngành các cấp trong Tỉnh,
nhất là sự chỉ đạo sát sao của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tỉnh
Cao Bằng
- Đội ngũ CB-CNV đều trẻ và có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
khá vững, đáp ứng được yêu cầu của công ty
- Công ty có hệ thống cơ sở vật chất, các cửa hàng, đại lý bán lẻ
rộng khắp trên toàn tỉnh, tại tất cả các huyện, cụm xã, luôn đáp ứng tốt cho
công tác cung ứng, phục vụ và kinh doanh
- Là công ty có hoạt động cung ứng, kinh doanh lâu năm, tiền
thân là doanh nghiệp nhà nước, có thị trường đầu vào và đầu ra ổn định
Đồng thời công ty luôn chủ động xác định lượng dự trữ đầu vào ngay từ đầu
vụ (lượng hàng dự trữ đầu năm được 1.400 tấn phân bón)
5Khó khăn
- Kinh doanh phân bón mang tính mùa vụ cao, đòi hỏi phải có
nguồn vốn lưu động lớn song nguồn vốn kinh doanh của công ty còn hạn hẹp
- Trong những năm gần đây, do tình hình thời tiết thất thường,
giá cả các loại vật tư phân bón biến động nhiều nên ảnh hưởng lớn tới công
tác cung ứng, phục vụ và kinh doanh của công ty
- Địa hình đồi núi, giao thông vận tải gặp nhiều khó khăn, phần
lớn là vùng sâu, vùng xa và đang nâng cấp nhưng phương tiện vận tải lại cũ
Trang 36hỏng nhiều, ảnh hưởng đến công tác vận chuyển hàng của đơn vị trong thời
kì mùa vụ
- Kinh phí trợ cấp vận chuyển còn thiếu rất nhiều so với nhu cầu
của nông dân, mới chỉ đạt khoảng 40% so với lượng hàng đơn vị cung ứng
Mặt khác, phương thức cung ứng mặt hàng phân bón theo chính sách trợ
cước lại có nhiều thay đổi, rất phức tạp, gây nhiều phiền hà cho dân và các
cấp chính quyền từ huyện đến xã, xóm
- Việc thanh toán kinh phí trợ cước vận chuyển còn chậm so với
tiến độ vận chuyển, vì thế gây khó khăn về vốn cho công ty
5.1.1.1.1 Khái quát kết quả kinh doanh của công ty cổ phần vật tư nông
nghiệp Cao Bằng trong những năm vừa qua
Mặc dù gặp những khó khăn trên, song với những thuận lợi vốn có,
cùng với đội ngũ CB-CNV có kinh nghiệm và trình độ, chủ động khắc phục
mọi khó khăn, thách thức Thêm vào đó, nhờ có sự chỉ đạo sát sao của các
ban ngành, đặc biệt là Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh, công ty
cổ phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng đã hoàn thành tốt kế hoạch và nhiệm
vụ được giao, cụ thể như sau:
Tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2002 – 2006 và kết quả thực hiện
kế hoạch năm 2007
TT Năm Thực hiện KH sản lượng
(tấn)
Thực hiện KH nộp NS (trđ)
Năm 200756.700.000.000925.000.000
Tăng (%)5,00%
8,57%
Trang 37Là một doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp tỉnh Cao Bằng, công
ty luôn hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao, phục vụ tốt cho sản
xuất nông nghiệp tỉnh nhà Đơn vị không ngừng phát triển đi lên, các
CBCNV, các cổ đông yên tâm công tác và hiệu quả đồng vốn góp vào công
ty luôn được đảm bảo, năm 2007 mức chi trả cổ tức ước đạt 11,0%
5.1.1.1.2 Nhiệm vụ cung ứng kinh doanh năm 2008
6Nhu cầu và kế hoạch cung ứng năm 2008:
Dự đoán nhu cầu tiêu thụ trong năm 2008 sẽ còn tăng cao hơn năm
trước, ước khoảng 17.000 tấn các loại ( Ure A khoảng 8.000 tấn)
Trong đó lượng hàng tồn đầu năm 2008 là 2.500 tấn (Ure A :458 tấn)
Vụ Đông –Xuân tới tới sẽ phải cung ứng ngay từ tháng 1, công ty
cần phải có nhiều nỗ lực phấn đấu và đề ra giải pháp thực hiện
7 Phương hướng, giải pháp
- Về hàng hóa: công ty phải chủ động nhập hàng dự trữ, đảm
bảo cung ứng đầy đủ cho các nhu cầu của sản xuất ngay từ đầu
mùa vụ
- Về giá cả: trong khi chờ hướng dẫn của Sở Tài chính, công
ty áp dụng đồng thời 2 loại giá: giá trợ cước và giá đảm bảo kinh
doanh
- Tiếp tục cung ứng chậm trả cho nông dân thông qua kênh
phân phối hội nông dân và các kênh khác
- Chủ động trong khâu thuê vận chuyển hàng hóa, nhất là từ
TW, đầu tư nhanh các phương tiện vận tải nội bộ tỉnh
- Các phòng lập KH năm, quý theo chức năng nhiệm vụ…
7.1.1.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý công ty
Với đội ngũ 52 CBCNV nhiệt tình, nhiều kinh nghiệm và đã gắn bó
lâu năm, tâm huyết với nghề, tổ chức bộ máy của công ty khá phù hợp với
đặc điểm và yêu cầu quản lý của công ty; tương đối gọn nhẹ, quan hệ chỉ đạo
rõ ràng, quan hệ nghiệp vụ chặt chẽ, khăng khít
Trang 38Sơ đồ các phòng ban được bố trí cũng khá hợp lí với cơ cấu tổ chức theo mô
hình một công ty cổ phần như sau:
Chức năng – nhiệm vụ cụ thể từng bộ phận
Đại hội đồng cổ đông : gồm toàn bộ 52 cổ đông có quyền biểu quyết
của công ty Là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty
Hội đồng quản trị: Do ĐHĐCĐ bầu ra, là đại diện của ĐHĐCĐ, có
trách nhiệm thay mặt cổ đông kiểm tra, giám sát và chỉ đạo toàn bộ
hoạt động của công ty
Ban kiểm soát : Do ĐHĐCĐ bầu ra, thành viên ban kiểm soát gồm 3
cổ đông Đây là bộ phận độc lập với HĐQT, có trách nhiệm kiểm tra,
kiểm soát quá trình thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của HĐQT
Ban giám đốc : Do HĐQT bổ nhiệm, gồm 1 Giám đốc và 1 phó giám
đốc Là đại diện theo pháp luật của công ty, phụ trách quản lý, giám
đốc các hoạt động kinh doanh của công ty Chịu trách nhiệm trước
HĐQT và pháp luật về mọi mặt hoạt động kinh doanh của công ty
Phòng tổ chức hành chính : Chịu trách nhiệm quản lí hồ sơ nhân sự,
giải quyết các chế độ chính sách cho cán bộ- CNV Xây dựng phương
án đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nhân lực cho đội ngũ
Ban kiểm soát HĐQT
Ban giám đốc Đại Hội đồng cổ đông
Phòng tổ chức-
hành chính
Phòng kế hoạch- thị trường
Phòng kế toán- tài vụ
Các kho, cửa hàng,
Đại lý
Trang 39CB_CNV công ty Giúp việc và chịu trách nhiệm trước ban giám đốc
mọi công việc liên quan đến công tác hành chính, nhân sự trong công
ty
Phòng kế toán – tài vụ : Tổ chức công tác hạch toán kế toán, thống kê
theo đúng chế độ, chính sách quy định Xây dựng biểu phí bán hàng
hợp lý trên cơ sở chế độ, chính sách tài chính Nhà nước ban hành,
trình sở Tài chính tỉnh Cao Bằng phê duyệt Có chức năng tham mưu
giúp Ban Giám đốc về mọi mặt liên quan đến công tác tài chính, cung
cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về mọi mặt tình hình tài
sản-nguồn vốn và kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Phòng kế hoạch – thị trường : Xây dựng kế hoạch cung ứng hàng hóa,
kế hoạch nhập - xuất – tồn kho dự trữ hàng hóa theo đúng thời vụ,
đúng yêu cầu Điều hành hoạt động kinh doanh, cung ứng hàng hóa
theo đúng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn Tổ chức điều hành độ xe vận
tải đưa hàng phục vụ đến từng địa bàn cơ sở Nắm bắt yêu cầu thị
trường, truyển tải chính sách của công ty về cơ sở, để ra phương án
mở rộng cung ứng, tiêu thụ hàng hóa
Các cửa hàng, đại lý: là nơi trực tiếp tiêu thụ hàng hóa theo giá bán
quy định của công ty, tiến hành bán lẻ, thu tiền, cuối tháng lập báo cáo
bán hàng và nộp tiền về phòng kế toán – tài vụ của công ty
Công ty có hệ thống mạng lưới phân phối, bán hàng rộng khắp toàn
tỉnh, gồm 34 cửa hàng và trên 40 đại lý tại trung tâm các huyện, cụm
xã trong tỉnh, đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu cung ứng hàng hóa của
người tiêu dùng và của Nhà nước
Ngoài ra, để phục vụ hoạt động cung ứng- kinh doanh hang hóa, công
ty còn có 1 đội xe vận tải gồm nhiều loại, chuyên chở hàng hóa, vận chuyển
từ đầu vào đến đầu ra, ngoài ra có thể cung cấp thêm dịch vụ vận tải, tăng
doanh thu của công ty
7.1.2 Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty
7.1.2.1 Hình thức tổ chức bộ máy kế toán
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty, đáp ứng
yêu cầu quản lý, yêu cầu thông tin tài chính của doanh nghiệp, công ty cổ
Trang 40phần vật tư nông nghiệp Cao Bằng đã áp dụng hình thức kế toán tập trung.
Theo mô hình này mọi công việc liên quan đến tài chính, kế toán đều được
thực hiện tập trung tại phòng kế toán- tài vụ của công ty, đảm bảo sự kiểm
tra, giám sát và chỉ đạo kịp thời, tập trung, nhất quán trong hoạt động kinh
doanh, là điều kiện thuận lợi để tiến hành hiện đại hóa công tác kế toán
Tại các cửa hàng, đại lý của công ty ở khắp địa bàn tỉnh có nhân viên
hạch toán ban đầu, ghi nhận và hạch toán ban đầu nghiệp vụ kinh tế khi phát
sinh, định kỳ nộp báo cáo bán hàng và các chứng từ liên quan lên phòng kế
toán tài vụ của công ty
Cụ thể bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo sơ đồ sau:
Chức năng, nhiệm vụ cụ thể từng bộ phận:
Kế toán trưởng : Điều hành, chỉ đạo chung công tác kế toán toàn công
ty Lập BCKTTC, BCKTQT, cung cấp thông tin kế toán kịp thời theo yêu
cầu ban Giám đốc Chịu trách nhiệm trước BGĐ về toàn bộ hoạt động hạch
toán kế toán của công ty Tham gia xây dựng đơn giá hàng hóa, vật tư và các
chi phí định mức thuộc thẩm quyền của công ty
Thủ quỹ : Theo dõi tình hình nhập, xuất, tồn tiền mặt tại quỹ hàng
ngày Tiến hành các thủ tục nhập xuất tiền mặt theo yêu cầu nhà quản trị và
phù hợp với quy định chung
KT vật tư, TSCĐ : Theo dõi, quản lý và tiến hành trích khấu hao
TSCĐ theo đúng quy định, thực hiện hạch toán, kế toán TSCĐ và các nghiệp
vụ liên quan.Quản lý, theo dõi tình hình nhập – xuất – tồn kho vật tư các
lọai, kế toán các khoản mục liên quan đến vật tư
Kế toán trưởng
Thủ
quỹ KT vật tư, TSCĐ hàng hóaKế toán Kế toán tiền,công nợ , thanh toán Kế toán chi phí, thuế
Nhân viên kinh tế các cửa hàng bán lẻ Nhân viên kinh tế các các đại lý