Nhận thức luận của Kant được tập trung phân tích trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” với hai nội dung trọng tâm là “cảm năng học siêu nghiệm” và “lôgic học siêu nghiệm”.. Cùng vớ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN VINH
"LÔGIC HỌC SIÊU NGHIỆM" TRONG TÁC PHẨM "PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY" CỦA
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Mỹ Dung Những tài liệu tham khảo
và trích dẫn sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả
Nguyễn Xuân Vinh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY” CỦA IMMANUEL KANT 10
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” 10
1.2 Mục đích của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” 28
1.3 Kết cấu của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” 31
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA “LÔGIC HỌC SIÊU NGHIỆM” TRONG TÁC PHẨM “PHÊ PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY” CỦA IMMANUEL KANT 40
2.1.“Phép phân tích siêu nghiệm” hay vấn đề nhận thức giác tính của Immanuel Kant 40
2.2 “Phép biện chứng siêu nghiệm” hay vấn đề nhận thức lý tính của Immanuel Kant 63
2.3 Một số nhận định, đánh giá về “lôgic học siêu nghiệm” của Immanuel Kant 84
Kết luận chương 2 92
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Immanuel Kant là người đặt nền móng cho triết học cổ điển Đức, với mong muốn tạo dựng hạnh phúc chung cho nhân loại Ông cố gắng xây dựng hệ thống triết học của riêng mình bao gồm triết học lý luận và triết học thực tiễn Triết học lý luận của Kant tập trung nghiên cứu khả năng nhận thức của con người Triết học thực tiễn cố gắng lý giải những nguyên lý nền tảng cho hoạt động thực tiễn như: đạo đức, pháp quyền… Trong đó triết học lý luận hay vấn đề nhận thức luận giữ vai trò quan trọng, nó thể hiện đầy đủ thế giới quan và phương pháp luận của hệ thống triết học của Kant Vì vậy, việc tìm hiểu vấn đề nhận thức luận sẽ là mắt xích đầu tiên, bộ phận không thể thiếu khi nghiên cứu toàn
bộ triết học Kant
Nhận thức luận của Kant được tập trung phân tích trong tác phẩm “Phê
phán lý tính thuần túy” với hai nội dung trọng tâm là “cảm năng học siêu nghiệm” và “lôgic học siêu nghiệm” “Cảm năng học siêu nghiệm” là khoa học
về các nguyên tắc tiên nghiệm của cảm tính “Lôgic siêu nghiệm” nghiên cứu về năng lực nhận thức giác tính và lý tính Khi phân tích về giác tính, Kant chỉ ra nguồn gốc, giá trị của các phạm trù tiên nghiệm Nghiên cứu năng lực nhận thức
lý tính, Kant phát hiện những sai lầm, ảo tưởng mà lý tính tất yếu gặp phải khi tiến hành nghiên cứu về các đối tượng nằm ngoài phạm vi của kinh nghiệm Cùng với “cảm năng học siêu nghiệm”, “lôgic học siêu nghiệm” đã trở thành bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học Kant
“Lôgic học siêu nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” là một bộ phận quan trọng trong nhận thức luận nói riêng và triết học Kant nói chung Thông qua “lôgic học siêu nghiệm” Kant đã làm rõ hơn về thế giới quan
và phương pháp luận của ông Đồng thời, nhận thức luận của Kant còn là bước đột phá quan trọng làm phá vỡ quan niệm siêu hình đã tồn tại trong nhiều thế kỷ Ngoài ra, hệ thống phạm trù trong “lôgic học siêu nghiệm‟ cũng là một đóng
Trang 5góp lớn của Kant Ông là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng học thuyết phạm trù tương đối hoàn chỉnh và khoa học
Bên cạnh đó, “lôgic học siêu nghiệm” còn thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và đối tượng trong quá trình tư duy Phép biện chứng thời cổ đại cũng đã được Kant phục hồi, đồng thời đem đến cho phép biện chứng nhiều ý nghĩa mới Hệ thống các nghịch lý mà Kant nêu ra cũng là phát hiện quan trọng trong lịch sử nhận thức luận Lần đầu tiên, mâu thuẫn được hiểu như bản chất của quá trình nhận thức, thể hiện tính phức tạp, quanh co trong tiến trình nghiên cứu khoa học Với “lôgic siêu nghiệm”, những đối tượng siêu việt (linh hồn, Thượng đế, vũ trụ) lần đầu tiên bị gạt ra khỏi các chủ đề của nhận thức, siêu hình học không cần phải cố gắng bàn luận đến những chủ đề nằm ngoài trực quan cảm tính của con người
“Phê phán lý tính thuần túy” nói chung và “lôgic học siêu nghiệm” nói riêng là sự kết tinh những nhận định có tính phê phán đối với nhiều trào lưu triết học trước đó (từ Platon đến Christian Wolff), là xuất phát điểm của triết học cổ điển Đức (Fichte, Schelling, Hegel) Thông qua “lôgic học siêu nghiệm”, Kant
đã thể hiện sự sáng tạo của ông trong những khám phá mang tính bước ngoặc
như: Hệ thống các phạm trù, thông giác siêu nghiệm, lược đồ siêu nghiệm, các nghịch lý của lý tính thuần túy… Chính những sáng tạo đó đã làm rung chuyển
cơ sở siêu hình học cổ truyền, buộc con người phải xem xét lại toàn bộ các vấn
đề liên quan đến “lý tính thuần túy”
Ngoài ra, “lôgic học siêu nghiệm ” còn là sự mở đường cho nhiều trào lưu triết học hiện đại Lịch sử triết học phương Tây hiện đại từ Schopenhauer qua Husserl, Heidegger đến chủ nghĩa Kant mới, phần lớn là lịch sử của sự tiếp cận, truyền bá, cải biến, chống đối và tiếp nhận trở lại những ý tưởng của Kant Có thể nói, nhận thức luận của Kant với phương pháp “Phê phán” và thế giới quan duy tâm tiên nghiệm đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử triết học, với vai trò quan trọng của triết học cổ điển Đức Do đó, nghiên cứu triết học Kant nói
Trang 6chung và “lôgic học siêu nghiệm” nói riêng có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp cận và nghiên cứu những trào lưu triết học đương đại
Bên cạnh đó, nhận thức luận của Kant, đặc biệt là “lôgic học siêu nghiệm” ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà triết học cổ điển Đức – tiền đề lý luận của triết học Mác Các nhà triết học duy tâm cổ điển Đức như Fichte, Schelling, Hegel đã
kế thừa những luận điểm cơ bản của triết học Kant, trong đó có “lôgic học siêu nghiệm”, từ đó thực hiện sự phê phán, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với hệ thống riêng của mình
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng thừa nhận những đóng góp tích cực của triết học Kant vào sự phát triển chung của lịch sử triết học, trong đó có những đột phá ở lĩnh vực nhận thức luận, tự nhiên, vũ trụ, đạo đức học và triết học xã hội Bên cạnh đó, C Mác và Ph Ăngghen cũng vạch ra hạn chế nhất định của Kant trong khía cạnh nhận thức luận hay bản thể luận và đạo đức học
Do đó, nghiên cứu triết học Mác không thể tách rời quá trình nghiên cứu về triết học Kant, đặc biệt là nhận thức luận của ông Tiếp cận “lôgic học siêu nghiệm” của Kant giúp chúng ta hiểu rõ lịch sử phát triển của các vấn đề nhận thức luận
Từ đó, cho chúng ta cái nhìn tổng quát về sự kế thừa, tiếp nối và đặc trưng riêng
có của triết học Mác so với triết học cổ điển Đức
Ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu triết học cổ điển Đức còn chưa tương xứng với tầm quan trọng và vị trí đặc biệt của nó Chúng ta còn quá ít các chuyên gia đầu nghành và sách, tư liệu ngoài triết học Mácxít cũng như triết học
cổ điển Đức, nhất là tài liệu nguyên bản [64, 832] Ở Việt Nam, các công trình viết về Kant chưa nhiều, việc giảng dạy triết học của ông tuy đã đưa vào chương trình đào tạo sau đại học, song số giờ quá ít, do vậy cả người dạy và người học gặp không ít khó khăn [16, 21] Do đó, việc nghiên cứu triết học Kant nói chung
và “lôgic học siêu nghiệm” nói riêng sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về triết học Kant
Trang 7Xuất phát từ những yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, tôi đã chọn vấn đề
““Lôgic học siêu nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Immanuel Kant” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng triết học Kant được sự quan tâm đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu, trong đó nhận thức luận chiếm vị trí quan trọng Tuy nhiên, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nhận thức luận của Kant chưa nhiều, đặc biệt nghiên cứu riêng về “lôgic học siêu nghiệm” còn rất hạn chế
Các tài liệu tham khảo về nhận thức luận của Kant tại Việt Nam tập trung phân tích các cấp độ nhận thức, các phạm trù, sự phân biệt giữa “vật tự nó” và
“hiện tượng” Đáng chú ý có tác phẩm Triết học Kant của Trần Thái Đỉnh được
xuất bản năm 1957 Tác phẩm này đã được Nxb Văn hóa Thông tin tái bản năm
2005 Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày triết học Kant một cách hệ thống,
thông qua việc phân tích nội dung của bộ ba tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực tiễn, Phê phán năng lực phán đoán Đặc biệt, trong
công trình nghiên cứu, tác giả đã trình bày một cách khái quát về “lôgic học siêu nghiệm”, phân biệt nó với “lôgic học hình thức”
Tác phẩm Triết học cổ điển Đức do PGS.TS Đinh Ngọc Thạch chủ biên, tủ
sách Đại học Tổng hợp, Tp Hồ Chí Minh năm 1989 cũng đã tập trung vào triết học nhận thức của Kant Trong đó, công trình nêu rõ đặc trưng của ba cấp độ nhận thức, kèm theo những đánh giá, so sánh để làm rõ hơn mục đích của Kant Đây là tài liệu quan trọng trong việc tiếp cận triết học Kant từ góc độ duy vật biện chứng, đồng thời chỉ ra những giá trị mà triết học Kant đã để lại
Năm 1997, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội xuất bản tác phẩm I.Cantơ – Người sáng lập nền triết học cổ điển Đức do GS Nguyễn Trọng Chuẩn chủ
biên, tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước Tác phẩm nêu lên bức tranh về triết học Kant nói chung, những khía cạnh, chủ đề riêng có trong triết học Kant, đồng thời chỉ ra những ảnh hưởng của nó đối với nền triết học phương Tây Bài viết của PGS.TS Vũ Văn Viên đã trình bày về các nghịch
Trang 8lý và “lôgic học siêu nghiệm” của Kant Trong đó, tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa
“lôgic học siêu nghiệm” với “Phép biện chứng siêu nghiệm” của Kant, khẳng định những ảnh hưởng của “lôgic học siêu nghiệm” đối với tác phẩm “Khoa học lôgic” của Hegel
Trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Triết học cổ điển Đức: Những vấn đề nhận thức luận và đạo đức học do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2006 đã có
17 tham luận trong và ngoài nước trình bày về vấn đề nhận thức luận của Kant Các tham luận chủ yếu nhấn mạnh các cấp độ nhận thức của Kant và những ảnh hưởng của nó đến triết học đương đại Các ý kiến trao đổi của các nhà nghiên cứu như GS.TS Tô Duy Hợp, PGS.TS Đỗ Vương Khang, PGS Bùi Đăng Duy… đã góp phần làm rõ hơn về triết học nhận thức của Kant qua việc phân tích các thuật ngữ: cái tiên nghiệm, cái siêu nghiệm, “vật tự nó”, lược đồ, thông giác…Tuy vẫn còn có những cách hiểu khác nhau, nhưng điều này đã giúp cho cách tiếp cận với triết học Kant thêm phong phú
Năm 2007, TS Lê Công Sự công bố tác phẩm Học thuyết phạm trù trong triết học I.Kant, tập trung nghiên cứu các phạm trù tiên nghiệm Tác giả chỉ ra
nguồn gốc, giá trị và phạm vi ứng dụng của phạm trù tiên nghiệm theo quan điểm của Kant, đồng thời nêu lên hạn chế và đóng góp của Kant trong lĩnh vực nhận thức luận Tác phẩm này cũng đã chỉ ra được những ảnh hưởng mà triết học Kant đã để lại cho các triết gia sau này, trong đó có Hegel và triết học duy vật biện chứng
Ngoài ra, luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Ánh Nguyệt nghiên cứu về “Tư tưởng triết học của Immanuel Kant về biện chứng của quá trình nhận thức và ý nghĩa lịch sử của nó” cũng là tài liệu tham khảo có giá trị Tác giả đã trình bày
và phân tích tư tưởng triết học Kant về biện chứng của quá trình nhận thức, rút
ra ý nghĩa lịch sử của nó đối với sự phát triển của tư tưởng triết học phương Tây Công trình đã khẳng định, tư tưởng biện chứng của Kant đã khắc phục được tính phiến diện của các trường phái triết học trước đó trong việc nghiên cứu về nguồn gốc và cách thức đạt tới tri thức khoa học Đây cũng là đóng góp to lớn
Trang 9của Kant cho lịch sử nhận thức nhân loại nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng
Một trong những công trình có đối tượng nghiện cứu khá gần với đề tài mà
chúng tôi thực hiện là luận văn “Vấn đề nhận thức luận trong triết học của Immanuel Kant” của Th.s Trần Minh Lê Trong công trình nghiên cứu này,
ngoài việc khái quát điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội nước Đức thế kỷ XVII – XVIII và những tiền đề hình thành tư tưởng triết học Kant, tác giả đã chia sự phát triển của triết học Kant làm hai thời kỳ chính là “tiền phê phán” và “phê phán” Từ đó, tác giả chỉ ra tính độc đáo trong thế giới quan tiên nghiệm và phương pháp phê phán của Kant Đồng thời, công trình phân biệt rõ ràng các giai đoạn nhận thức theo quan điểm của Kant, giúp người đọc có cái nhìn cụ thể
về các năng lực nhận thức cũng như mối quan hệ giữa chúng Tác giả cũng chỉ
ra được những giá trị tích cực cũng như những mâu thuẫn trong trong nhận thức luận của Kant
Riêng đối với tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant, đã được dịch và xuất bản ở nhiều quốc gia khác nhau, trong đó có Việt Nam Tác phẩm này đã được dịch giả Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải Bản dịch là tài liệu cần thiết cho việc nghiên cứu một cách trực tiếp đối với triết học Kant
Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu chuyên
sâu về nhận thức luận của Kant Tác phẩm “Đồng hành đến triết học Kant” (A Companion to Kant) do GS Graham Bird chủ biên, xuất bản năm 2006, được
xem như công trình nghiên cứu toàn bộ triết học Kant Tác phẩm này tập hợp bài viết của các học giả nối tiếng về Kant, với rất nhiều chủ đề quan trọng như: toán học, triết học, siêu hình học, nhận thức luận, lôgic học, triết học đạo đức, chính trị… Nhờ đó, tác phẩm đưa ra cái nhìn toàn cảnh về triết học Kant, cung cấp những cách tiếp cận mới, chỉ ra những giá trị to lớn mà Kant để lại Đồng thời, tác phẩm này cũng đã nêu lên vai trò của triết học Kant trong sự phát triển của lịch sử triết học, đặc biệt là triết học hiện đại Năm 2006, Anthon Kenny đã
chủ biên tác phẩm “Tân sử triết học Tây Âu” (A new history of western
Trang 10philosophy) với tập 3 là “Sự trỗi dậy của triết học hiện đại” (The rise of modern philosophy) được Đại học Oxford xuất bản Thông qua việc nghiên cứu về lịch
sử của triết học hiện đại, tác giả đã chỉ ra được vị trí của Kant trong dòng tư tưởng của phương Tây Anthon Kenny nêu ra mối liên hệ giữa Kant với các triết gia trước ông như Descartes, Berkeley, Hume… Đồng thời chỉ ra được ảnh hưởng của nhận thức luận của Kant đối với các triết gia cổ điển Đức, đặc biệt là Hegel
Ngoài ra còn có tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy của Kant (Kant„s critique of pure reason), của tác giả Paul Guyer được Đại học Cambridge xuất
bản vào năm 2010 Tác phẩm này tập trung nghiên cứu về các chủ đề trong nhận thức luận trong triết học Kant như: Diễn dịch các phạm trù, hệ thống các nguyên tắc, ý niệm thuần túy… so sánh sự khác nhau giữa hai lần xuất bản của tác phẩm
“Phê phán lý tính thuần túy” Ngoài ra, còn chỉ ra mối liên hệ của “Phê phán lý tính thuần túy” đối với chủ nghĩa duy tâm Đức, triết gia hiện sinh là Heidegger
Trong năm 2013, Nxb Tri thức cũng đã cho ra mắt tác phẩm Từ điển triết học Kant của Howard Caygill, đây là tác phẩm có giá trị hỗ trợ trong quá trình tìm
hiểu về triết học Kant Cuốn sách này, giải thích hầu hết những thuật ngữ từ cơ bản đến hiếm gặp của triết học Kant Thay vì chỉ giới thiệu ý nghĩa thuật ngữ, mỗi mục từ đã điểm lại lịch sử của vấn đề và cho thấy những phương thức để Kant đi đến chỗ xác định ý nghĩa của nó trong diễn trình suy tưởng
Thông qua các tác phẩm, các báo cáo, nghiên cứu đã tạo cơ sở cho việc hình dung một cách tổng quát về triết học Kant Tuy nhiên, việc nghiên cứu cụ thể vào “lôgic học siêu nghiệm” còn hạn chế so với tầm quan trọng của nó Trên
cơ sở tiếp thu, kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trên, luận văn sẽ dựa vào tác phẩm chính của Kant để trình bày về “lôgic học siêu nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, góp phần vào việc nghiên cứu triết học nhận thức của Kant
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: làm rõ những nội dung cơ bản của “lôgic học siêu
nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá về mặt tiến bộ và hạn chế của Kant về những vấn đề trên
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn sẽ giải quyết những vấn
đề sau:
Thứ nhất, khái quát hoàn cảnh ra đời, mục đích và kết cấu trong tác phẩm
“Phê phán lý tính thuần túy” của Immanuel Kant
Thứ hai, trình bày và phân tích những nội dung cơ bản của “lôgic học siêu
nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Immanuel Kant, từ đó đưa ra những nhận định về mặt tiến bộ và hạn chế trong “lôgic học siêu nghiệm” của Kant
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ tư tưởng triết học Kant mà chỉ nghiên cứu phần “lôgic học siêu nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: so sánh và đối chiếu, lôgic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, để làm rõ nội dung tư tưởng của “lôgic học siêu nghiệm” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học: trên cơ sở trình bày, phân tích và đánh giá về những
nội dung cơ bản của “lôgic học siêu nghiệm”, luận văn góp phần làm rõ hơn về nhận thức luận của Kant nói riêng và triết học của ông nói chung
Trang 12Về ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên chuyên nghành triết học và những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 2 chương và 6 tiết
Trang 13Chương 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI, MỤC ĐÍCH VÀ KẾT CẤU TÁC PHẨM “PHÊ
PHÁN LÝ TÍNH THUẦN TÚY” CỦA IMMANUEL KANT
1.1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
Immanuel Kant sinh ngày 22 - 4 - 1724 trong một gia đình gốc Scotland tại Königsberg, một thành phố nhỏ vùng Đông Bắc nước Phổ Thời thơ ấu, Kant chịu ảnh hưởng lớn từ người mẹ - một thánh giáo Đức có tấm lòng nhân ái, yêu lao động và sự thật Bà có một đức tin mãnh liệt và lối sống ngăn nắp nề nếp, điều này đã tạo ấn tượng sâu đậm trong suốt cuộc đời Kant Thoạt đầu, bố mẹ Kant muốn ông trở thành một mục sư nên đã gửi ông vào trường trung học Latinh Nhưng, lòng say mê khoa học tự nhiên và triết học đã làm Kant quyết định chuyển hướng các môn học Sau khi tốt nghiệp trung học, vào mùa thu năm
1740, Kant vào học khoa Triết học, trường Đại học Tổng hợp Königsberg Tại đây, Kant có dịp làm quen với cơ học, thiên văn học và toán học của các nhà khoa học nổi tiếng đương thời như: Newton, Descartes, Leibniz, Wolft và tư tưởng chính trị - xã hội của các nhà khai sáng Pháp
Trong sự nghiệp khoa học, Kant là người gặt hái được nhiều thành công: năm 1786, ông được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Phổ tại Berlin; năm 1794 ông trở thành Viện sĩ danh dự Viện hàn lâm khoa học Saint Peterburg; năm 1798, cả Viện hàn lâm khoa học Italia và Viện hàn lâm khoa học Paris đều bầu ông làm Viện sĩ Mặc dù có sự nghiệp vẻ vang như vậy, nhưng trong đời sống thường ngày Kant là một con người bình dị, trầm lặng có lối sống ngăn nắp, điều độ, suốt đời không đi khỏi thành phố quê hương Ông sống độc thân, dành cả đời cho việc nghiên cứu khoa học
Trong nghiên cứu triết học, Kant chú trọng đến việc phê phán hệ thống siêu hình học cũ, đặt lại vấn đề cho toàn bộ hệ thống triết học ngay cả những vấn đề tưởng đã được giải quyết Chính vì vậy, ông đã cho ra đời bộ ba tác phẩm phê
phán: Phê phán lý tính thuần túy (1781); Phê phán lý tính thực hành (1788); Phê
Trang 14phán năng lực phán đoán (1790) Với các tác phẩm này, Kant cố gắng trả lời ba
vấn đề cơ bản: "Tôi có thể biết được gì?"; "Tôi cần phải làm gì?"; "Tôi có thể hi vọng gì?" Ba câu hỏi ấy của thời đại phản ánh ba khía cạnh cơ bản trong mối quan hệ giữa con người với thế giới Câu hỏi thứ nhất thuộc vấn đề lý luận thuần túy, bàn về khả năng và giới hạn của nhận thức, được giải đáp trong “Phê phán
lý tính thuần túy” Câu hỏi thứ hai bàn đến hoạt động thực tiễn và nghĩa vụ của con người, được giải đáp trong “Phê phán lý tính thực tiễn” Câu hỏi thứ ba bao hàm cả khía cạnh lý luận lẫn khía cạnh thực tiễn, được Kant trả lời trong các bài viết và các công trình nghiên cứu tương đối ngắn viết về triết học lịch sử và triết học tôn giáo Tác phẩm “Phê phán năng lực phán đoán” là cầu nối cho cả ba câu hỏi trên, với mục đích trả lời cho câu hỏi thứ tư “Con người là gì?” Đối với Kant, triết học là một khoa học về con người, một nhân loại học nếu xét chức năng cao cả của nó
Trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, Kant tập trung phân tích các
vấn đề nhận thức luận nhằm trả lời cho câu hỏi: Tôi có thể biết được gì? Tác
phẩm này chiếm vị trí quan trọng, nó được xem là mắt xích đầu tiên trong hệ thống triết học của Kant Nhưng, để hiểu nội dung của “Phê phán lý tính thuần túy” mà trong đó “lôgic học siêu nghiệm” là một bộ phận quan trọng, trước hết chúng ta phải nghiên cứu những điều kiện kinh tế xã hội, những tiền đề khoa học tự nhiên và tiền đề lý luận cho sự ra đời tác phẩm này
“Phê phán lý tính thuần túy” là tác phẩm mở đầu cho thời kỳ phê phán của
triết học Kant, được ra đời trong điều kiện kinh tế - xã hội nước Đức thế kỷ
XVII – XVIII với đặc điểm chính là chia cắt về chính trị và lạc hậu về kinh tế
Những điều kiện này ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Kant nói chung, trong đó
có vấn đề nhận thức luận khi ông nghiên cứu về năng lực nhận thức của con người, về mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức
Sự chia cắt về chính trị ở Đức thể hiện rõ trong cuộc chiến giữa hoàng đế
và các nước chư hầu (1618 - 1648) Với hòa ước Westfallen, Cuộc chiến 30 năm
kết thúc nhưng trên lãnh thổ vương quốc Đức vẫn tồn tại hơn 300 nước chư hầu
Trang 15và nhiều lãnh địa kỵ sĩ Trong thế kỷ thứ XVI và XVII, các lực lượng tiến bộ ở Đức đã bị đàn áp và tiêu hủy phần lớn, đặc biệt là trong phong trào cải cách tôn giáo của Luther chống phong kiến Trong giai đoạn này, nước Đức còn được gọi
là “Đế quốc La Mã thần thánh của dân tộc German”
Trong giai đoạn này, chế độ phong kiến vẫn đứng vững trên ngai vàng của mình, tiếp tục ngăn cản kinh tế tư sản phát triển Qua nửa đầu thế kỷ XVII,
Chiến tranh 30 năm với sự can thiệp của hầu hết các cường quốc Âu châu, đã
tiêu hao gần hết lực lượng của Đức Tình hình nước Đức lúc này được Ăngghen đánh giá: “Những cuộc chiến tranh tôn giáo xảy ra sau đó, và cuối cùng, cuộc Chiến tranh ba mươi nǎm, với những sự tàn phá và giết hại dân chúng hàng loạt, diễn ra nhiều lần, đã đem lại cho nông dân những hậu quả nặng nề hơn rất nhiều
so với cuộc Chiến tranh nông dân; đặc biệt, cuộc Chiến tranh ba mươi nǎm đã thủ tiêu phần lớn những lực lượng sản xuất đã đầu tư vào nông nghiệp, và với việc đó cũng như với việc đồng thời phá hủy nhiều thành thị; cuộc chiến tranh
đó trong một thời gian dài, đã làm cho nông dân, bình dân và thị dân phá sản lâm vào một tình cảnh giống như tình cảnh bần cùng của người Ai-rơ-len dưới cái dạng tồi tệ nhất của nó“ [13, 200]
Tiếp đó là cuộc chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), với ưu thế thuộc về nước Phổ, tuy nhiên nước Phổ lại không giữ được vai trò tích cực trong lịch sử Đức Vua Friedrich Wilhelm II cai trị nước Phổ với những chính sách vô cùng bảo thủ, hà khắc nhằm tăng cường quyền lực, ngăn cản con đường phát triển của Đức theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa Những chính sách của Phổ không làm thống nhất nước Đức mà chỉ nhằm chiếm đoạt đất đai, mang tính chất chuyên chế, quân phiệt Điều này để lại hậu quả lớn lao cho nước Đức, kiềm hãm người dân trong chế độ phong kiến nông nô [25, 118]
Thế kỷ XVII còn chứng kiến sự tái diễn chế độ nông nô lần thứ hai, đẩy người dân Đức vào hoàn cảnh cùng cực Phía Bắc và Đông Bắc nước Đức là nơi chịu tác động nặng nề nhất, trong đó có vương quốc Phổ, quê hương của Kant Nơi đây tồn tại chế độ trung ương tập quyền, đồng thời còn xuất hiện cả chính
Trang 16thể quân chủ với quân đội hùng mạnh và giới quý tộc phong kiến Tầng lớp cai trị áp dụng những biện pháp hết sức hà khắc, vì vậy phần lớn nông dân đều bị nông nô hóa [20, 19]
Đến cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII nước Đức vẫn đang ì ạch trong chế
độ phong kiến Xu hướng phát triển theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa đã bị chế độ phong kiến quan liêu chuyên chế cản trở Nhà nước liên bang chỉ tồn tại trên danh nghĩa, gồm 360 công quốc nhỏ bé làm cho đất nước Đức trở thành một quốc gia manh mún, yếu kém về mọi mặt như Ăngghen đã gọi đó là “Sự cùng khổ Đức” Giai cấp tư sản Đức vẫn luôn hướng về cách mạng tư sản Pháp nhưng lại chưa dám thực hiện một cuộc cách mạng Sự lớn mạnh của các nước Anh, Pháp… có những ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng của người Đức, trong đó có Kant Nhiệm vụ lịch sử lúc này của các nhà triết học Đức là làm sao giải phóng con người, ca ngợi lý trí, hướng con người đến các giá trị tự do, nhân quyền Đây là những yếu tố cơ bản để giải phóng tư duy, giải phóng con người, là tiền
đề cho sự phát triển của nước Đức về sau này
Chiến tranh đã tàn phá nhiều thành thị, phá hoại những điều kiện căn bản
của sản xuất, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự lạc hậu về kinh tế của
Đức thế kỷ XVI - XVII Sự chia cắt về mặt chính trị, manh mún trong sản xuất
đã tạo nên những khác biệt trong hệ thống “cân, đo, đong, đếm” giữa các vùng của nước Đức Mỗi công quốc lại có hệ thống tiền tệ riêng Đặc biệt, nước Đức trong giai đoạn này tồn tại nhiều trạm thuế quan biên giới làm cản trở việc lưu thông hàng hóa giữa các vùng miền, làm cho nước Đức không thể trở thành một thị trường thống nhất [80, 149-152]
Công nghiệp Đức trong thế kỷ XVI và XVII còn non trẻ, thua xa công nghiệp Ý, Anh Nông nghiệp Đức lạc hậu rất nhiều so với Anh và Hà Lan; còn trong lĩnh vực thương nghiệp hàng hải thì người Anh và nhất là người Hà lan đã bắt đầu đánh bại người Đức Dân cư nước Đức vẫn còn rất thưa thớt Nền vǎn minh ở Đức chỉ tồn tại từng nơi, tập trung xung quanh một số trung tâm công nghiệp và thương nghiệp cá biệt; lợi ích của ngay cả những trung tâm đó cũng
Trang 17rất khác nhau, và chỉ một số ít có điểm giống nhau Bên cạnh đó, chính sách của vua Friderique II còn làm cản trở kinh tế tư bản chủ nghĩa, thành thị và công thương nghiệp nằm trong tình trạng trì trệ so với các nước tiên tiến trong khu vực Đó là kết quả của cái gọi là “chủ nghĩa chuyên chế sáng suốt” của nhà vua Phổ [80, 119]
Nhận xét về bối cảnh nước Đức lúc này, Ăngghen cho rằng: “Đây là một đống những cái chán chường, mục nát và tan rã Không ai cảm thấy dễ chịu, thủ công nghiệp, thương nghiệp, công nghiệp và nông nghiệp trong nước đều rơi vào cảnh điêu tàn cùng cực Nông dân, thợ thủ công và chủ xí nghiệp chịu hai lần khổ ải: chính quyền ăn bám và trạng thái tiêu điều [6, 755] Bên cạnh đó, Ăngghen còn cho rằng đó là thời kỳ nhục nhã về chính trị và xã hội “mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đỗ, thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt đẹp, vì dân tộc thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây
ma rữa nát của chế độ đã chết rồi” [6, 754]
Là một nhà triết học nổi tiếng, Kant luôn trăn trở về những khó khăn của dân tộc, những hạn chế của đất nước và của cả nhân loại Kant luôn mong muốn xóa bỏ tình trạng trì trệ, chia cắt về chính trị, lạc hậu về kinh tế, xây dựng nước Đức trong một “nền hòa bình vĩnh cửu” (Perpetual Peace) (1795) Kant nhận thấy rằng, con người là nền tảng đầu tiên cho mọi sự cải cách của xã hội Chính
vì vậy, ông chủ động chuyển hướng nghiên cứu từ tự nhiên sang chủ đề con người, trong đó có nhận thức luận
Kant cho rằng, muốn giải quyết một cách khoa học các vấn đề liên quan đến con người, phải tìm lời đáp cho ba câu hỏi lớn sau: Tôi có thể biết được gì?
– Tôi cần phải làm gì? – và Tôi có thể hy vọng gì? Trong đó, tác phẩm Phê phán
lý tính thuần túy trả lời cho câu hỏi thứ nhất thông qua việc nghiên cứu năng lực
nhận thức của con người Kant xác định đối tượng của triết học không chỉ là nghiên cứu về giới tự nhiên mà quan trọng hơn là hoạt động nhận thức của con người, là những điều kiện và năng lực của chủ thể nhận thức Kant tập trung phân tích mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, trong đó ông đề cao vai
Trang 18trò của tri thức Nghiên cứu khả năng nhận thức cũng nhằm tạo tiền đề cho việc nghiên cứu về các hoạt động đạo đức và năng lực thẩm mỹ của con người
Tóm lại, “Phê phán lý tính thuần túy” ra đời trong hoàn cảnh vô cùng khó
khăn của nước Đức, với đặc điểm nổi bật là chia cắt về chính trị và lạc hậu về kinh tế Chính trong hoàn cảnh này, Kant chủ động chuyển hướng nghiên cứu từ
tự nhiên sang nghiên cứu con người, bắt đầu bằng việc tìm hiểu khả năng nhận thức của con người Lịch sử tư tưởng đã chứng minh rằng, các học thuyết tiến
bộ có thể nảy sinh trong lòng một xã hội có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu nó biết tiếp thu thành tựu khoa học và tư tưởng của các xã hội tiến bộ khác Do đó, bên cạnh tiền đề kinh tế - xã hội thì tiền đề lý luận giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra bước ngoặt về tư tưởng trong triết học của Kant
Tiền đề lý luận cho sự ra đời của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” là
sự kế thừa tư tưởng của những nhà triết học vĩ đại thời cổ đại như Platon (
XVII – XVIII đó là chủ nghĩa duy lý, và chủ nghĩa duy nghiệm Ngoài ra còn có
tư tưởng nhân văn của Rousseau (1712 - 1778) và phong trào khai sáng thời cận đại
Platon với học thuyết thế giới ý niệm đã ảnh hưởng đến tư tưởng của Kant
về “ý niệm siêu nghiệm” trong “Phép biện chứng siêu nghiệm” Theo lý thuyết của Platon, ý niệm đóng vai trò là khuôn mẫu của các sự vật, vừa là thế giới mà các thực thể khả giác hướng về, vừa là khái niệm cơ sở cho cho các sự vật thuộc từng chủng loại Ý niệm, theo một cách khác, là một đối tượng không có trong cảm giác, đồng thời vượt trên cả nhận thức của giác tính Trong quan niệm của Platon, ý niệm xuất phát từ lý tính tối cao, là cái mà con người luôn muốn hướng đến
Lý thuyết về “ý niệm siêu nghiệm” của Kant đã kế thừa quan điểm trên khi Kant thừa nhận có những hình mẫu lý tưởng mà lý tính con người luôn hướng đến Lý tưởng này chỉ có thể xuất phát từ lý tính chứ không phải bất cứ năng lực
Trang 19nhận thức nào khác Tuy nhiên, Kant lại không đồng ý với Platon khi hữu thể hóa các ý niệm Kant “không tán thành sự diễn dịch [sự chứng minh] thần bí của ông (Platon) về các ý niệm” [36, 661] Theo Kant, đây là một sự cường điệu nhằm hữu thể hóa các ý niệm của lý tính thuần túy Trong “Phép biện chứng siêu nghiệm”, Kant chỉ ra rằng, các ý niệm thật sự tồn tại, nhưng đó không phải
là những đối tượng cho nhận thức, đồng thời không thể tiến hành hữu thể hóa chúng thông qua các lập luận mang tính lôgic
Nhà triết học vĩ đại Aristotle cũng để lại nhiều dấu ấn trong nhận thức luận
của Kant Ông cho rằng, lôgic học hình thức mà Aristotle xây dựng là một môn khoa học đã đi bước đi vững chắc ngay từ thời xa xưa [36, 37] Trong lôgic hình thức, Aristotle sử dụng ký hiệu hình thức và các phép toán đại số cùng với các nguyên tắc nhất định về giá trị chân lý để nhằm xác định tính đúng đắn của các lập luận Đặc biệt, nhờ tam đoạn luận mà con người có thể rút ra những luận giải hay kết luận từ các thực tế cho trước hay đã biết Kant viết: “Nó là môn khoa học trình bày cặn kẽ và chứng minh chặt chẽnhững quy luật hình thức của mọi
tư duy” [36, 38] Kant nhận thấy rằng, sở dĩ lôgic học hình thức có được thành công đó là bởi vì nó xác định rõ ràng giới hạn của mình [36, 38]
Kế thừa giá trị tích cực của “lôgic hình thức”, Kant tiến hành xây dựng
“lôgic siêu nghiệm” Một trong những nguyên tắc quan trọng của “lôgic siêu nghiệm” là phải xác định rõ đối tượng và giới hạn của tư duy Theo đó, phạm vi của nhận thức không tách rời với những đối tượng cảm tính hay thế giới “hiện tượng”, không gian – thời gian là điều kiện tất yếu của mọi kinh nghiệm [36, 175] Kant khẳng định, một khi xa rời thế giới cảm tính, nhận thức “không có giá trị khách quan mà chỉ là trò chơi đơn thuần của trí tưởng tượng” [36, 520] Đây là một đánh giá khoa học mà Kant đã kế thừa từ phương pháp của Aristotle Bên cạnh giá trị tích cực của “lôgic học hình thức”, Kant nhận ra rằng “nó không thể đi thêm một bước nào cả, cơ hồ như đã hoàn chỉnh và hoàn tất hẳn rồi” [36, 38] Kant muốn xây dựng một môn lôgic có phạm vi rộng hơn, không chỉ dừng lại ở hình thức mà đi sâu vào nội dung của phán đoán Với Kant, con
Trang 20người cần một loại lôgic đi vào nội dung của sự vật, chứ không phải đơn thuần
là hình thức của các phán đoán Ông gọi loại lôgic này là “lôgic siêu nghiệm” Với Kant, điểm khác nhau đầu tiên giữa “lôgíc siêu nghiệm” và lôgíc hình
thức thể hiện ở quan điểm về nguồn gốc tri thức Lôgic hình thức không quan tâm đến nguồn gốc của phạm trù, do đó cũng không đòi hỏi phân biệt tri thức kinh nghiệm hay tri thức tiên nghiệm “Lôgic siêu nghiệm” hoàn toàn ngược lại, chúng đòi hỏi phải loại trừ tất cả tri thức mang nội dung kinh nghiệm ra khỏi các phạm trù, phân biệt rõ ràng giữa phạm trù tiên nghiệm và phạm trù thường nghiệm Kant viết: “Môn Lôgic học (siêu nghiệm) này sẽ nghiên cứu nguồn gốc của các nhận thức của chúng ta về những đối tượng, trong chừng mực nguồn gốc này không thể quy cho những đối tượng; trong khi đó môn Lôgic học phổ biến không hề quan tâm đến việc nghiên cứu nguồn gốc [chủ quan] này của nhận thức” [36, 204]
Điểm khác nhau thứ hai là lôgic hình thức chỉ tìm hiểu các quan hệ hình
thức của phán đoán chứ không quan tâm phán đoán có quan hệ gì với kinh nghiệm Chính vì vậy, lôgic hình thức không đưa ra một hướng dẫn, hay ràng buộc các phán đoán trong tương quan giữa giác tính và kinh nghiệm Các phán đoán trong “lôgic học siêu nghiệm” thì khác, chúng luôn đặt trong mối tương quan với kinh nghiệm được mang lại nhờ cảm giác “Nếu môn Lô-gic phổ biến, như đã nói, không thể mang lại những quy luật hướng dẫn cho óc phán đoán, thì môn Lô-gic học siêu nghiệm lại hoàn toàn khác, thậm chí có thể nói, nhiệm vụ thực sự của Lô-gic học siêu nghiệm là mang lại những quy luật nhất định để điều chỉnh và đảm bảo vững chắc năng lực phán đoán trong việc sử dụng giác tính thuần túy” [36, 377]
Sự khác nhau thứ ba, theo Kant, lôgíc hình thức chỉ đưa ra “tiêu chuẩn phủ
định của chân lý” – tức là cái gì mâu thuẫn với các quy luật trong tam đoạn luận đều không phải là chân lý Bởi vì, tiêu chuẩn của lôgic hình thức chỉ hướng đến hình thức của tư duy, nhưng điều này là không đầy đủ [36, 208] Ngược lại,
“lôgíc siêu nghiệm” tìm hiểu mối quan hệ của tư duy đối với sự vật, những hình
Trang 21thức và nguyên tắc của tư duy mà thông qua việc sử dụng chúng trong kinh nghiệm sẽ cho ra tri thức xác thực, tiêu chuẩn của chân lý phù hợp với hình thức tiên nghiệm của giác tính “Lôgic siêu nghiệm” sẽ không chỉ chú trọng vào hình thức tư duy mà còn nghiên cứu cách thức các khái niệm được áp dụng một cách tiên nghiệm [36, 205]
Từ việc nghiên cứu lôgic học hình thức của Aristotle, Kant đã xây dựng một môn lôgic mới, có tính khoa học hơn khi khảo sát cả nội dung và hình thức của phán đoán Sự ra đời của “lôgic siêu nghiệm” đã khắc phục những hạn chế mang tính siêu hình của lôgic hình thức, mở ra cách tiếp cận biện chứng và khoa học hơn trong vấn đề nhận thức luận
Ngoài ra, Kant còn chịu ảnh hưởng từ Aristotle về vấn đề phạm trù trong cấp độ nhận thức giác tính nhưng cách thức triển khai hệ thống phạm trù của Kant hoàn toàn khác Khi xây dựng hệ thống phạm trù của mình, cũng như Aristotle, Kant xem các phạm trù như là công cụ của quá trình nhận thức, đặt phạm trù vào vị trí quan trọng nhất của các phán đoán Tuy nhiên, Kant không đồng ý với phương pháp tiến hành khảo sát các phạm trù của Aristotle Theo Kant, việc làm của Aristotle hoàn toàn mang tính chất may rủi mà không dựa trên một căn cứ vững chắc làm nền tảng Các phạm trù mà Kant muốn tìm kiếm hoàn toàn phải dựa trên các nguyên tắc tiên nghiệm, nhắm đến các dữ kiện cảm tính trong không gian, thời gian [36, 223]
Kế thừa những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế trong hệ thống phạm trù của Aristotle, Kant đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn vấn đề phạm trù tiên nghiệm Kant cố gắng xây dựng “lôgic học siêu nghiệm” dựa trên cơ sở phân tích các hình thức của tư duy và khảo sát cả những nội dung mà trực quan đem lại trong chừng mực nó xuất hiện một cách tiên nghiệm Đồng thời, Kant còn xem xét tính tiên nghiệm và tổng hợp của các phán đoán, từ đó vạch ra những mâu thuẫn (antinomia) của lý tính
Trang 22Bên cạnh các phạm trù tiên nghiệm, Kant còn tiến hành nghiên cứu về nguồn gốc và cách thức nhận thức của con người Trước Kant, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên do hạn chế về mặt khoa học và ảnh hưởng bởi tư duy siêu hình nên các nhà triết học lúc này có nhiều hạn chế trong nhận thức luận Họ thường tách rời nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, tuyệt đối hóa một mặt của quá trình nhận thức Điều này dẫn đến hai khuynh hướng triết
học thế kỷ XVII: chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm
Chủ nghĩa duy lý (Rene Descartes (1596 - 1626), Baruch Spinoza (1632 – 1677), Gottfried Wilhelm Leibniz (1646 - 1716), Christian Wolff (1679 -
1754)…), nhấn mạnh vai trò của lý trí con người đã phát triển mạnh mẻ và trở thành một trong những khuynh hướng triết học phổ biến của thế kỷ XVII Khuynh hướng này thiên về quan điểm cho rằng nguồn gốc của tri thức nằm ngay ở trí tuệ con người - một thực thể biết tư duy Theo chủ nghĩa duy lý, tri thức khoa học phải hiển nhiên, rõ ràng và phổ quát Điều này chỉ có thể mang lại nhờ phương pháp diễn dịch dựa trên nền tảng của lý tính
Khi nghiên cứu chủ nghĩa duy lý, Kant đồng ý rằng, trong nhận thức khoa học, khả năng suy luận lôgic của giác tính có một vai trò nhất định Giác tính có nhiệm vụ tổng hợp, khái quát hóa tri thức kinh nghiệm dựa trên chức năng của các phạm trù Đồng thời, phép phân tích mà chủ nghĩa duy lý đã triển khai giữ vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức Nhờ có phép phân tích mà đối tượng được phân tích rõ ràng, cụ thể hơn Mặc dù phán đoán phân tích không làm mở rộng tri thức nhưng có thể giúp con người hiểu rõ hơn về các khái niệm [36, 91]
Bên cạnh đó, Kant cũng đồng ý với chủ nghĩa duy lý về giá trị tri thức khoa học Theo Kant, chân lý phải rõ ràng, hiển nhiên và phổ quát Kant xem tính tất yếu và tính phổ quát là đặc điểm của tri thức khoa học, là dấu hiệu của nhận thức tiên nghiệm [36, 82]
Trang 23Kant cũng tiến hành phê phán tư duy siêu hình của chủ nghĩa duy lý vì đã tuyệt đối hóa nhận thức lý tính mà coi nhẹ nhận thức cảm tính Kant xem phái duy lý là “giáo điều” và “độc tài chuyên chế” vì buộc mọi người phải thừa nhận những “chân lý” mà trước đó chưa chịu tiến hành “Phê phán khả năng của lý tính” Nếu lý tính chỉ sử dụng các khái niệm mà không hàm chứa nội dung để đưa ra các lập luận lôgic, theo Kant chỉ là suy luận vô căn cứ Kant phân biệt rạch ròi giữa suy luận và nhận thức, trong đó, nhận thức phải bao gồm các khả năng suy lý cùng với nội dung của nó được mang lại thông qua trực quan kinh nghiệm
Là người theo chủ nghĩa duy lý, Descartes đã đề cao vai trò của tư duy lý
tính khi khẳng định “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” Ông cho rằng, lý tính có thể tự tạo lập tri thức đích thực, các phán đoán mang tính toán học chính là chân lý Kế thừa Descartes, Kant cũng đề cao vai trò của toán học và nhận thức lý tính Tuy nhiên, Kant không tuyệt đối hóa giác tính và lý tính mà luôn đặt nó trong mối quan hệ với kinh nghiệm cảm tính Kant cũng kế thừa cái “Cogito” của Descartes, nhưng ông không xem nó như một bản thể theo cách của Descartes Với Kant, cái “Tôi tư duy” chỉ là điều kiện cho quá trình nhận thức
Vấn đề Thượng đế chiếm vị trí đặc biệt trong siêu hình học Descartes Là
một tín đồ Thiên Chúa giáo, Descartes xem xét Thượng đế ngay trong phần đầu
tiên của “Các nguyên lý triết học”, bởi lẽ theo ông, tri thức về Thượng đế đóng
vai trò quan trọng đời sống con người Ở phần này Descartes bàn về Thượng đế
ở 17 mệnh đề, tập trung vào mấy điểm chính sau: tri thức về Thượng đế là tri thức chân lý, không có gì phải hoài nghi cả; Thượng đế là thực thể hoàn thiện tối cao, biểu tượng của tri thức tuyệt đối; Thượng đế là một hiện hữu phi vật thể, vĩnh viễn; nguyên nhân của những sai lầm trong nhận thức của con người không nằm ở Thượng đế
Việc nghiên cứu quan điểm của Descartes về Thượng đế là điều kiện cho Kant tiến hành phê phán các nội dung của lý tính thuần túy, đặc biệt là vấn đề Thần học duy lý Kant đồng ý với Descartes rằng, Thượng đế có vai trò quan
Trang 24trọng trong đời sống của con người Tuy nhiên, nhìn nhận Thượng đế dưới góc
độ bản thể học là điều mà Kant tiến hành phê phán Theo Kant, Thượng đế như cách hiểu của Descartes hoàn toàn không có cơ sở, bởi đó chỉ là những suy luận
mà không bao hàm trực quan Kant không cố gắng loại bỏ vấn đề Thượng đế ra khỏi đời sống con người mà ông chỉ khẳng định rằng, đây không phải là đối tượng của nhận thức mà là đối tượng của suy tưởng [36, 1047]
Wolff là một trong những nhà duy lý mà Kant chịu ảnh hưởng mạnh mẽ
Công lao của Wolff là đã hệ thống hóa và phổ biến tư tưởng của Leibniz ở Đức, ông tiếp tục làm rõ và phân biệt tri thức lý thuyết với tri thức kinh nghiệm, tri thức thuần túy với tri thức ứng dụng Chính ở điểm này, Kant cho rằng, Wolff là người khai sáng tinh thần nghiên cứu cặn kẽ, bằng cách khẳng định các nguyên tắc một cách hợp quy luật, xác định rõ ràng các khái niệm, bảo đảm tính chặt chẽcủa các bước chứng minh Theo Kant, công việc phê phán nói chung và
“lôgic học siêu nghiệm” nó riêng phải kế thừa phương pháp khoa học của Wolff Kant khẳng định: “trong khi thực hiện kế hoạch mà sự Phê phán đã đề ra, tức để hình thành hệ thống siêu hình học trong tương lai, chúng ta phải noi theo phương pháp chặt chẽ của Wolff trứ danh, khuôn mặt lớn nhất trong mọi triết gia giáo điều” [36, 61]
Tuy nhiên, Kant cũng cho rằng, sự phân biệt giữa cảm năng và giác tính mà Wolff thực hiện chỉ mang tính lôgic Theo Kant, cảm năng và các năng lực khác như giác tính, lý tính hoàn toàn khác nhau dựa trên tính tiên nghiệm của chúng Bởi những năng lực này không phải có được thông qua các lập luận lôgic mà nó
có sẵn trong bản tính con người
Trong sự hình thành những ý tưởng nhận thức luận của Kant, quan điểm về chân lý của Wolff đóng vai trò quan trọng Theo Wolff chân lý chỉ có thể do lý tính mang đến, nó phải bao gồm tính tất yếu và tính phổ quát Kế thừa quan điểm trên của Wolff, Kant cho rằng, tính tất yếu và tính phổ quát thực sự là dấu hiệu chắc chắn cho tri thức tiên nghiệm Và, siêu hình học muốn đứng vững cũng phải dựa trên hai yếu tố trên Tính phổ quát và tất yếu của siêu hình học sẽ
Trang 25được hình thành khi xác định được cơ sở của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm Vấn đề mà Kant theo đuổi là phải làm thế nào có thể có được loại phán đoán đặc biệt này
Sự đối lập giữa tri thức hậu nghiệm và tri thức tiên nghiệm không phải do Kant nêu ra lần đầu, mà chính là từ chủ nghĩa duy lý Descartes và Leibniz Các đại biểu của khuynh hướng duy lý cổ điển xuất phát từ việc thừa nhận chân lý phổ biến và tất yếu, khác về nguyên tắc với chân lý ngẫu nhiên, hình thành bằng con đường hậu nghiệm Kế thừa chủ nghĩa duy lý, Kant cũng phân biệt rất rõ ràng giữa tri thức tiên nghiệm và tri thức hậu nghiệm Nhưng, nếu các nhà duy
lý xem nội dung của chân lý và tri thức là sẵn có trong trí tuệ, bẩm sinh, thì theo Kant, chỉ có những mô thức, hay phương thức tổ chức tri thức (điều kiện) mới được xem là tiên nghiệm Mô thức tiên nghiệm này bổ sung cho nội dung hậu nghiệm, đem đến cho tri thức khoa học tính phổ biến và tất yếu
Bên cạnh chủ nghĩa duy lý, “lôgic học siêu nghiệm” của Kant cũng chịu
ảnh hưởng bởi chủ nghĩa kinh nghiệm (Francis Bacon (1561 - 1626), Thomas Hobbes (1588 -1679), John Locke (1632 – 1704), David Hume (1711 - 1776)
…) Các nhà triết học thuộc trường phái này chú trọng đến vai trò của các khoa học thực nghiệm, nhấn manh phương pháp quy nạp Khuynh hướng này không đồng ý với phép phân tích của chủ nghĩa duy lý, theo các nhà triết học kinh nghiệm, phương pháp đó không căn cứ vào các dữ kiện cảm tính dẫn đến kết quả đưa ra hoàn toàn trống rỗng Chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng, cần thay việc
dự đoán bằng lý giải, thay diễn dịch tam đoạn luận bằng quy nạp Đối với chủ nghĩa kinh nghiệm, toàn bộ tri thức đều dựa trên kinh nghiệm và có được nhờ kinh nghiệm Đồng thời, họ cố gắng lập luận cho tính phổ quát và tất yếu của tri thức không phải bắt nguồn từ bản thân giác tính mà là từ kinh nghiệm
Kế thừa chủ nghĩa duy nghiệm, Kant cho rằng, kinh nghiệm là nền tảng quan trọng cho tri thức khoa học Nhờ vào năng lực cảm giác, kinh nghiệm được mang lại cho ta Chính kinh nghiệm là chất liệu không thể thiếu cho quá trình tổng hợp và khái quát hóa tri thức khoa học Theo Kant, quá trình nhận thức là
Trang 26sự thống nhất giữa ba cấp độ: cảm tính, giác tính và lý tính Trong đó, Kant luôn yêu cầu giác tính phải luôn tuân thủ các nguyên tắc của kinh nghiệm Nếu giác tính vượt ra khỏi ranh giới kinh nghiệm, tri thức chỉ trở thành những suy tưởng
vô căn cứ Chính vì vậy, Kant luôn phân biệt rạch ròi giữa nhận thức và suy tưởng [36, 300]
Chính nhờ làm quen với tác phẩm “Kinh nghiệm về lý trí con người” của Locke mà Kant xây dựng các vấn đề về nhận thức thành một phạm trù triết học độc lập Kant tiếp thu ở Bacon, Hobbes, Locke cách nhìn mới về thế giới hiện thực khách quan, cách thức sử dụng các chất liệu của tự nhiên vào việc khái quát hóa, rút ra từ đó các nguyên tắc xác lập hệ thống tri thức
Nhà triết học thuộc chủ nghĩa kinh nghiệm ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình hình thành triết học Kant là Hume, người đã đánh thức Kant khỏi “cơn ngái ngủ giáo điều”, và đem đến cho Kant một cách nhìn có phê phán đối với khả năng của kinh nghiệm, cũng như các năng lực của tri thức nói chung Kế thừa quan điểm của Hume, Kant cho rằng kinh nghiệm là một nguồn gốc quan trọng của tri thức, cùng với giác tính, kinh nghiệm sẽ tạo nên giá trị khoa học cho nhận thức Dựa trên kết quả nghiên cứu của Hume, Kant khẳng định nguyên tắc nhân quả giữ vai trò quan trọng trong việc đánh giá những chuyển biến của đối tượng Với cách hiểu mới về nguyên tắc nhân quả, Hume đã mở ra cho Kant con đường đi tới phương pháp tiên nghiệm
Kant nhận thấy rằng, khi áp dụng lý luận nhận thức vào nghiên cứu những đối tượng truyền thống của siêu hình học (vũ trụ, linh hồn, Thượng đế) chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm thể hiện rõ tính cực đoan của mình Chẳng hạn, chủ nghĩa duy lý cho rằng, Thượng đế là đối tượng mà con người hoàn toàn có thể nhận thức được dựa trên năng lực của lý tính Bằng cách phân tích các khái niệm, chủ nghĩa duy lý đã đưa ra các luận điểm nhằm chứng minh
sự tồn tại của Thượng đế, cũng như là các đặc tính của hữu thể tối cao này Trái lại với quan điểm trên, chủ nghĩa kinh nghiệm cho rằng, Thượng đế hay các đối tượng truyền thống của siêu hình học không thể tồn tại Nguyên nhân là do ta
Trang 27không có tri giác và kinh nghiệm về chúng, do đó không thể có thực thể nào như vậy, cũng không thể đưa ra đặc điểm nào về Thượng đế hay linh hồn
Với Kant, nghiên cứu về những đối tượng truyền thống của siêu hình học theo cách giải quyết của hai trường phái duy lý và kinh nghiệm đều không hợp
lý Kant không phủ nhận Thượng đế, nhưng muốn đặt vấn đề theo cách hiểu khác Theo Kant, việc chứng minh cho sự tồn tại hay không tồn tại của Thượng
đế đều mang tính “giáo điều”, “không khả thi” và phải chuyển chúng từ lĩnh vực
lý tính tư biện sang lý tính thực hành Chỉ trong lĩnh vực của đạo đức, Thượng
đế mới có lý do để tồn tại Cách giải quyết trên của Kant đã tạo nên một kiểu mẫu suy tư hoàn toàn mới về vấn đề Thượng đế
Bên cạnh những tiền đề lý luận trên, quan điểm triết học của Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778) đã có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng của Kant
Chính những tư tưởng của Rousseau về lịch sử phát triển xã hội, về tự do, về sự tha hóa bản chất tự nhiên của con người, sự cần thiết phục hồi những giá trị đã tác động đến Kant, giúp ông chuyển từ nghiên cứu khoa học tự nhiên sang nghiên cứu con người và xã hội loài người
Kế thừa quan điểm nhân văn của Rousseau, Kant xem việc xóa bỏ thói hư tật xấu của mỗi con người là trách nhiệm của mọi công dân trong xã hội Cũng như Rousseau, Kant nhận thấy cần phải loại bỏ áp bức và bất công, khẳng định giá trị cao quý, giá trị tự thân của con người, đưa con người lên vị trí xứng đáng
cần có trong quan hệ với thế giới xung quanh
Ngoài ra, vấn đề tôn giáo mà Rousseau đề cập cũng đã tác động nhất định đến Kant Không giống như những nhà khai sáng khác, Rousseau khẳng định sự cần thiết của tôn giáo, nhưng ông cố gắng bác bỏ những luận chứng mang tính
giáo điều của thần học Trong phần thứ tư của tác phẩm Emile hay là về giáo dục (1762), Rousseau đã cổ vũ cho một tín ngưỡng tự nhiên, đặt tôn giáo trên sự
sáng suốt của trí năng Rousseau kêu gọi con người phải nghe theo những tình cảm tự nhiên hơn là những lời thuyết giảng của giáo hội Ông thể hiện sự hồ nghi quyền lực của giáo hội và bác bỏ lại sự giáo điều Trên tinh thần của
Trang 28Rousseau, Kant đã cứu vớt tôn giáo khỏi lý trí, nhưng đồng thời cũng cứu khoa
học khỏi hoài nghi chủ nghĩa Trong phần “Phép biện chứng siêu nghiệm”,
Kant chỉ ra rằng, các luận chứng của thần học là hoàn toàn vô căn cứ, bởi chúng chỉ là những suy luận không dựa trên bất cứ bằng chứng thuyết phục nào Theo
đó, Kant cho rằng, vấn đề Thượng đế là vấn đề của “lý tính thực hành”, được xây dựng trên cơ sở niềm tin của mỗi người Đối với Kant, niềm tin tôn giáo chân chính là niềm tin cứu rỗi linh hồn; nó gắn liền với bản chất lý tính của con người
Ảnh hưởng của phong trào khai sáng thế kỷ XVII – XVIII, Kant cũng đề cập
đến vai trò của khai sáng đối với con người Trong hoàn cảnh khó khăn của nước Đức, khai sáng giữ vai trò quan trọng Trong phong trào khai sáng, các chủ
đề về “luật tự nhiên”, “quyền tự nhiên” của con người trở thành những khái niệm chủ đạo Đồng thời, kêu gọi con người khước từ những thế lực cũ đang chế ngự xã hội đương thời Tuyên ngôn của Kant là: “Sapere aude! Hãy có can đảm
tự sử dụng trí tuệ của chính mình! Đó là câu phương châm của khai sáng”
[36,2] Nhân danh lý tính và con người, Kant đòi hỏi phải tạo nên sự chuyển đổi
ý thức con người cũng như những thay đổi định chế và cơ chế sau sự tan rã của
xã hội Âu châu cổ điển cùng những ý niệm về giá trị của nó trên các lãnh vực kinh tế và thương mại, luật pháp và quốc gia, nghệ thuật và khoa học cũng như trên lãnh vực đạo đức và tôn giáo Để khắc phục những trì trệ, giáo điều trong thời đại mình; Kant cho rằng công việc khai sáng phải lấy con người làm trung tâm
Tuy nhiên, theo Kant, công việc khai sáng trong thế kỷ XVII – XVIII vẫn còn chưa triệt để Để thực hiện nhiệm vụ này một cách trọn vẹn, Kant yêu cầu phải nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước tới nay, trên tinh thần phê phán các quan niệm về con người, về lý tính, về khả năng nhận thức của con người, về hành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh phúc của con người
Tóm lại, “lôgic học siêu nghiệm” của Kant chịu ảnh hưởng của Plato, Aristotle, cùng với việc kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa kinh
Trang 29nghiệm trên cơ sở triết học duy tâm tiên nghiệm Ngoài ra, triết học nhân văn của Rousseau và phong trào khai sáng cận đại đã thôi thúc Kant chuyển từ
nghiên cứu tự nhiên sang nghiên cứu về con người Bằng tư duy độc lập, Kant
kế thừa, cải biến các trào lưu triết học trước đó, xây dựng cho mình một con đường riêng Ngoài tiền đề lý luận, “lôgic học siêu nghiệm” của Kant còn kế thừa những thành tựu của khoa học tự nhiên
Những thành tựu của khoa học tự nhiên đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự
ra đời triết học Kant nói chung và tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” nói riêng, giúp ông định hướng con đường riêng của mình Thành tựu của khoa học
tự nhiên, đặc biệt là toán học, vật lý và thiên văn, đã tác động đến tư tưởng biện chứng của Kant trong triết học tự nhiên, nhận thức luận trong đó có “lôgic học siêu nghiệm” Đồng thời, Kant kế thừa những tính chất quan trọng của khoa học
tự nhiên trong việc xây dựng siêu hình học trở thành một khoa học
Khoa học tự nhiên thế kỷ XVI – XVII đã có nhiều thành tựu quan trọng Năm 1543 tại Ba Lan, Copernic (1473 - 1543) đã tạo nên bước ngoặc quan trọng
về sự hình thành của vũ trụ, đánh đổ quan điểm duy tâm siêu hình về nguồn gốc
vũ trụ Với ba định luật về chuyển động của các thiên thể, Kepler (1571 - 1630) chỉ ra các quy luật cơ bản của sự vận hành vũ trụ Công trình của Galileo (1564 - 1642) đã bác bỏ thuyết địa tâm của các nhà thần học, thiết lập thuyết nhật tâm với những bằng chứng khoa học xác đáng Tất cả những công trình đó đã tạo nên những bước đột phá quan trọng trong khoa học tự nhiên, đặc biệt là thiên văn học Chính những thành tựu của khoa học tự nhiên đã tác động mạnh mẻ đến tư duy của Kant, đặc biệt là tư tưởng biện chứng của ông
Kế thừa thành tựu của khoa học tự nhiên, Kant là người khẳng định giá trị của tư duy biện chứng, phá vỡ phương pháp tư duy siêu hình khi đề cập đến thế giới vật chất, cả vô cơ lẫn hữu cơ Ăngghen cho rằng: “ông đã phá vỡ một cách hết sức khoa học đến mức là hiện nay phần lớn những lý lẽ của ông dùng để chứng minh vẫn còn giá trị” [11, 86] Kant đã khẳng định sự ngự trị của các quy luật nhân quả phổ biến trong giới tự nhiên, cũng như vạch rõ ranh giới giữa ý
Trang 30chí tự do của con người và những quy luật của tự nhiên Đây là một trong những vấn đề chủ yếu trong triết học Kant thu hút sự chú ý mạnh mẽ của những nhà triết học sau này Có thể khẳng định, nghiên cứu những thành tựu của khoa học
tự nhiên mang ý nghĩa quan trọng đối với tư tưởng triết học của Kant nói chung
và “lôgic hoc siêu nghiệm” nói riêng Ảnh hưởng từ khoa học tự nhiên, Kant chủ động đả phá phương pháp siêu hình, thiết lập nền tảng cho phép biện chứng
Từ đó, tiến hành xây dựng một siêu hình học mới dưới góc độ “Phê phán”
Bên cạnh đó, Kant đã kế thừa những tính chất của khoa học tự nhiên trong việc xây dựng siêu hình học như một khoa học Theo Kant, khoa tự nhiên có những đặc điểm quan trọng đảm bảo cho nó có được bước đi vững chắc, không ngừng mở rộng trong quá trình nghiên cứu Các phán đoán và kết quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên luôn mang tính tất yếu và tính phổ quát Theo Kant,
sỡ dĩ khoa học tự nhiên đạt được thành công như vậy bởi vì: Thứ nhất, đối với
các nhà khoa học tư nhiên, chỉ những hiện tượng phù hợp với lý tính mới có giá
trị tất yếu [36, 42] Thứ hai, khoa học tự nhiên xác định rõ phạm vi của mình,
chỉ nghiên cứu các đối tượng khi chúng được thể hiện thông qua trực quan [36,
87] Thứ ba, khoa học tự nhiên luôn chứa đựng những phán đoán tổng hợp tiên
nghiệm [36, 94]
Kant đánh giá rất cao sự thành công của khoa học tự nhiên Kant cho rằng, siêu hình học trước ông đã không có được bước đi vững chắc bởi vì chưa có được phương pháp nghiên cứu phù hợp Qua đó, ông kêu gọi siêu hình học noi gương theo cách làm của khoa học tự nhiên, thực hiện một cuộc cách mạng hoàn toàn trong siêu hình học [36, 49] Theo đó, siêu hình học phải tiến hành một
“cuộc cách mạng trong phương thức tư duy”, mà nội dung chính là các đối tượng phải hướng tới năng lực nhận thức của con người Đối với Kant, những gì phù hợp với cảm tính và giác tính mới được xem là đối tượng của nhận thức Đồng thời, phán đoán tổng hợp tiên nghiệm được Kant xem là yếu tố cơ bản cho một nhận thức khoa học Chính “cuộc cách mạng trong nhận thức” mà Kant đặt
Trang 31ra đã tạo nên bước chuyển mạnh mẻ trong lịch sử nhận thức, đánh dấu một giai đoạn mới của siêu hình học
Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên thế kỷ XVII –XVIII
đã ảnh hưởng đến Kant khi xây dựng tư tưởng biện chứng Đồng thời, khoa học
tự nhiên còn tác động đến “cuộc cách mạng trong phương thức tư duy” mà Kant tiến hành nhằm chấm dứt tình trạng bế tắc của siêu hình học
C.Mác đã từng khẳng định: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại của mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quí giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [6,
156] Tư tưởng triết học của Kant trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
cũng vậy, nó gắn liền với những diễn biến mạnh mẽ của thời đại lịch sử, của bức tranh lý luận và khoa học tự nhiên Chịu tác động của điều kiện kinh tế xã hội Đức thế kỷ XVII – XVIII, với hai đặc trưng là chia cắt về chính trị và lạc hậu về kinh tế, Kant đã luôn trăn trở về một xã hội tốt đẹp, về một “nền hòa bình vĩnh cửu” Điều này tác động sâu sắc đến tư tưởng của Kant về tư do, chiến tranh, hòa bình, đạo đức, tôn giáo… Bên cạnh đó, cuộc tranh luận giữa chủ nghĩa duy
lý và chủ nghĩa kinh nghiệm đã có ảnh hưởng rất lớn đến quan điểm của Kant về nguồn gốc chân lý và phương pháp tư duy khoa học Ngoài ra, phong trào khai sáng, triết học nhân văn của Rousseau tác động mạnh mẻ đến việc chuyển hướng nghiên cứu từ tự nhiên sang con người của Kant Khoa học tự nhiên là tiền đề quan trọng giúp Kant có cái nhìn biện chứng về thế giới, đánh dấu sự kết thúc của phương thức tư duy siêu hình Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng giúp Kant xây dựng một siêu hình học mang tính khoa học
1.2 Mục đích của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
Xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội, ảnh hưởng khoa học tự nhiên và tiền
đề lý luận, tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant đã ra đời nhằm giải quyết sự bế tắc của siêu hình học Kant nhận thấy rằng, siêu hình học đã trải qua nhiều giai đoạn với những chuyển biến lớn, nhưng chưa thể trở thành một khoa
Trang 32học thật sự Mục đích của Kant là xây dựng một môn siêu hình học như một
khoa học Để đạt được mục đích này, Kant cố gắng giải quyết ba vấn đề: Thế nào là tri thức khoa học? Làm thế nào để có loại tri thức khoa học đó? Và làm thế nào siêu hình học có thể có như một khoa học?
Siêu hình học là môn học có lịch sử lâu dài, nghiên cứu về nền tảng tối hậu của mọi tồn tại, trong đó bao gồm cả thế giới, tư duy và nhận thức Kant tiến hành phân biệt ba hình thức của siêu hình học Theo nghĩa rộng nhất, đó là toàn
bộ triết học thuần túy trong thể thống nhất, có hệ thống Thứ hai, siêu hình học được xem là “sự phê phán”, chuyên nghiên cứu về lý tính của mọi nhận thức thuần túy tiên nghiệm [36, 1177] Và theo nghĩa hẹp, siêu hình học chính là lý tính tư biện [36, 1178] Xét về chức năng hay cách sử dụng của lý tính, Kant lại chia làm hai loại siêu hình học Nếu sử dụng lý tính một cách tư biện Kant gọi là
“siêu hình học về tự nhiên” Nếu sử dụng lý tính theo nghĩa thực hành, thì đây được xem như là “siêu hình học về đức lý” Siêu hình học về tự nhiên nghiên
cứu mọi nguyên tắc thuần túy của các khái niệm, hay chính là toàn bộ nhận thức
lý thuyết Siêu hình học về đức lý nghiên cứu các nguyên tắc của mọi hành vi một cách tiên nghiệm [36, 1177] Đối với Kant, siêu hình học về đức lý hay đạo đức học có vị trí đặc biệt quan trọng và nó được xem như là mục đích tối hậu của toàn bộ vận mệnh con người [36, 1174]
Trong Sơ luận về bất kỳ môn siêu hình học nào trong tương lai muốn có thể xuất hiện như một khoa hoc (Prolegomena to Any Future Metaphysics that will
be able to come forward as Science) (1783) đã khẳng định mục đích của ông
như sau: “Mục đích của tôi là thuyết phục tất cả những ai nghĩ siêu hình học là môn học đáng học, để họ thấy tuyệt đối cần thiết phải dừng lại chốc lát để coi tất
cả những gì đã làm như thể là chưa làm và đặt câu hỏi sơ khởi đầu tiên: Có thể
có cái gọi là siêu hình học không?” [81, 1] Trong lời tựa cho lần xuất bản đầu tiên năm 1781, Kant cho rằng, tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy, không phải
phê phán các tác phẩm hay tư tưởng siêu hình trước Kant Mục đích chính là quyết định sự tồn tại của siêu hình học như một khoa học [36, 9]
Trang 33Theo Kant, siêu hình học có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống, vì nó giải quyết những khát vọng cao cả nhất của con người Chính vì vậy, siêu hình học đã được mệnh danh là “Nữ hoàng của mọi khoa học” [36, 5] Mặc
dù đây là môn học thiết thực, nhưng trong lịch sử phát triển của mình, siêu hình học không thể có được những bước đi vững chắc như một khoa học Kant viết:
“Siêu hình học đã phải bao lần quay ngược trở lại vì thấy rằng con đường sẽ không dẫn người ta đến nơi người ta muốn đến”, đó “chỉ là sự mò mẫm giữa những khái niệm suông mà thôi” [36, 43] Chính vì vậy, mục đích của Kant là trả lời cho câu hỏi: “làm thế nào siêu hình học có thể có được như một khoa học?” [36,102]
Như vậy, “Phê phán lý tính thuần túy” không nhằm mục đích ủng hộ sự thống trị của bất kỳ trường phái nào, mà vì triển vọng của chính siêu hình học,
vì “một nền tảng vững chắc” của nó Để thực hiện được mục đích này, Kant cố
gắng xác định: Thế nào là tri thức khoa học? Và làm thế nào để có loại tri thức khoa học này?
Tiếp thu quan điểm của các nhà triết học duy lý, đặc biệt là Leibniz, Kant
cho rằng, một môn khoa học thực sự phải có hai đặc tính là phổ quát và tất yếu
Theo đó, một tri thức khoa học phải là sự xác tín, không có chỗ cho sự ngẫu nhiên, do vậy đã là khoa học phải tất yếu Đồng thời, khoa học không cho phép
có trường hợp ngoại lệ, do đó phải phổ quát Chỉ khi tồn tại hai đặc tính trên, tri thức khoa học mới thật sự trở nên vững chắc và đáng tin cậy Tuy nhiên, làm sao
để siêu hình học có được tính phổ quát và tính tất yếu?
Kant cho rằng, để có tính phổ quát và tính tất yếu – đặc trưng của tri thức
khoa học – siêu hình học phải được xây dựng trên nền tảng của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm Đây là loại phán đoán đặc biệt, được xây dựng từ mô thức tiên
nghiệm cùng các dữ kiện của kinh nghiệm Nó vừa giúp mở rộng tri thức, lại vừa mang tính phổ quát và tất yếu Việc xây dựng thành công phán đoán tổng hợp tiên nghiệm là vấn đề then chốt, quyết định tính khoa học của siêu hình học
Trang 34Kant khẳng định, sự đứng vững hay sụp đổ của Siêu hình học là dựa trên việc giải quyết vấn đề này [36, 99]
Để xây dựng thành công phán đoán tổng hợp tiên nghiệm, Kant xác định cơ
sở của loại phán đoán đặc biệt này nằm ở chính những điều kiện chủ quan của kinh nghiệm Phán đoán tổng hợp tiên nghiệm chỉ có thể tìm thấy trong những điều kiện chủ quan nhưng mang giá trị khách quan đối với các đối tượng của kinh nghiệm Từ đó, Kant xây dựng hệ thống các mô thức của cảm năng và giác tính Không gian và thời gian là mô thức trực quan tiên nghiệm của cảm năng Giác tính được hình thành trên cơ sở các phạm trù tiên nghiệm, được hiểu như là
mô thức tiên nghiệm của giác tính Siêu hình học muốn trở thành một khoa học thật sự phải được thiết lập trên cơ sở các mô thức tiên nghiệm của cảm tính và giác tính
Tóm lại, mục đích của tác phẩm”Phê phán lý tính thuần túy” - mà trong đó
“lôgic học siêu nghiệm” là một phần quan trọng - nhằm xây dựng siêu hình học trở thành một khoa học thực sự, tức là nó phải mang tính phổ quát và tất yếu Để thực hiện thành công mục đích trên, công cuộc phê phán cố gắng xác lập phán đoán tổng hợp tiên nghiệm cho siêu hình học Cơ sở của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm nằm ở các mô thức chủ quan của con người Việc xác định cấu trúc của phán đoán tổng hợp tiên nghiệm là một thành công của Kant, giúp ông bác
bỏ tính “độc đoán”, “giáo điều” của chủ nghĩa duy lý lẫn chủ nghĩa kinh nghiệm Đồng thời, khẳng định giá trị khoa học của siêu hình học, chấm dứt tình trạng bế tắc trong triết học thế kỷ XVII –XVIII
1.3 Kết cấu của tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
Tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” gồm hai phần chính “Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức” và “Học thuyết siêu nghiệm về phương pháp” Phần đầu có khoảng 700 trang, phần sau khoảng 100 trang, mỗi phần có một mục đích, vai trò và vị trí khác nhau
Trong phần “Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức”,
Kant muốn tìm kiếm, chứng minh và kiểm tra giá trị của những yếu tố trong
Trang 35nhận thức siêu nghiệm, đặt nền tảng cho việc xây dựng “tòa nhà” siêu nghiệm
của ông Trong phần này, Kant đề cập đến hai nội dung cơ bản đó là “cảm năng học siêu nghiệm” và “lôgic học siêu nghiệm” Trong khi “cảm năng học siêu nghiệm” tìm hiểu các hình thức tiên nghiệm của trực quan cảm tính (không gian – thời gian), thì “lôgic học siêu nghiệm” có nhiệm vụ nghiên cứu về nguồn gốc,
giới hạn và giá trị của tri thức thuần túy (lý luận) xét theo khả năng vận dụng một cách tiên nghiệm vào các đối tượng Hai vấn đề chính trong “lôgic học siêu
nghiệm” được Kant trình bày và phân tích là: “Phép phân tích siêu nghiệm” -
khảo sát năng lực giác tính nhằm tìm hiểu các hình thức, hay “khuôn mẫu”, quy
tắc của tư duy Và “Phép biện chứng siêu nghiệm” - khảo sát năng lực lý tính
nhằm trình bày những tổng hợp có tính chất tuyệt đối của tri thức, đưa ra những nguyên lý phổ quát - tức những nguyên lý siêu hình học hướng dẫn giác tính
“Cảm năng học siêu nghiệm” là phần đầu tiên trong “Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức”, được Kant phân tích thành hai
chương nhằm nghiên cứu về cấp độ nhận thức cảm tính Theo đó, nhận thức cảm tính được hiểu như là sự thống nhất giữa trực quan thuần túy (không gian – thời
gian) với năng lực cảm nhận Trực quan thuần túy – không gian và thời gian –
được Kant hiểu như mô thức của nhận thức cảm tính Chúng ta chỉ có thể đạt được đối tượng thông qua trực quan, nếu không có trực quan sẽ không có tri
thức về đối tượng Bản chất của trực quan là cảm năng Nhưng cảm năng và trực quan không đồng nhất với nhau Cảm năng được hình thành nhờ các cảm giác hậu nghiệm (a posteriori) và các trực quan tiên nghiệm (a priori) Cảm năng là
khả năng thu nhận biểu tượng và phương thức để đối tượng có thể tác động lên con người Nhờ cảm năng mà các đối tượng được đem đến cho ta, và cũng nhờ
đó mà có trực quan Nói cách khác, cảm năng là khả năng tiếp nhận trực quan thông qua sự tác động của đối tượng lên các giác quan con người Con người tiếp nhận sự tác động của đối tượng bên ngoài lên cảm năng gọi là cảm giác, còn đối tượng được xác định bởi trực quan kinh nghiệm thì gọi là hiện tượng
Trang 36Cảm năng bao gồm hai mô thức thuần túy của trực quan cảm tính như là cơ
sở của nhận thức: không gian, Kant gọi là “giác quan bên ngoài” và thời gian là
“giác quan bên trong” Chúng là những hình thức tiên nghiệm, vì bất cứ quan niệm nào của ta về sự vật đều giả thiết sự vật đó nằm trong không gian và diễn biến theo trình tự thời gian, mà không cần đến kinh nghiệm Người ta có thể tưởng tượng về một vũ trụ không có gì, nhưng không thể tưởng tượng không có không gian; người ta có thể nghĩ rằng không có gì xảy ra, nhưng không thể nghĩ rằng không có thời gian Sở dĩ những quan niệm như thế cố hữu nơi con người không phải vì những lý do siêu nhiên nào, mà đơn giản vì chúng, dù muốn hay không muốn, đã tạo nên đường mòn trong trí não con người với tính cách chủ thể có ý thức, có lý tính
“Lôgic học siêu nghiệm” là phần thứ hai của “Học thuyết siêu nghiệm về các yếu tố cơ bản của nhận thức” trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”
“Lôgic học siêu nghiệm” là một nỗ lực của Kant nhằm xây dựng một loại lôgic
mới, vượt khỏi phạm vi của lôgic học hình thức Trong phần này, Kant trình bày
và phân tích sự khác nhau giữa lôgic học truyền thống và “lôgic học siêu
nghiệm” Kant cho rằng, “lôgic siêu nghiệm” là một hệ thống các khái niệm đầy
đủ, chính xác; đồng thời, các khái niệm này có quan hệ với đối tượng một cách tiên nghiệm chứ không phải tách rời khỏi nội dung của đối tượng như lôgic phổ biến Chính vì vậy, lôgic siêu nghiệm “có nhiệm vụ xác định nguồn gốc, phạm
vi và tính giá trị khách quan của nhận thức tiên nghiệm” và “nó chỉ nghiên cứu các quy luật của giác tính và lý tính trong chừng mực môn học này quan hệ với đối tượng một cách tiên nghiệm” [36, 206] Như vậy, nhiệm vụ chính của “lôgic siêu nghiệm” là: xác định cơ sở tiên nghiệm cho quá trình nhận thức (cấp độ nhận thức giác tính); đồng thời, chỉ ra được sự ràng buộc giữa các khả năng nhận thức tiên nghiệm (giác tính và lý tính) với trực quan cảm tính Ngoài ra,
“lôgic học siêu nghiệm” cũng nhằm mục đích xác định phạm vi, giới hạn của siêu hình học Với nhiệm vu trên, “lôgic siêu nghiệm” được chia làm hai phần:
“Phép phân tích siêu nghiệm” và “Phép biện chứng siêu nghiệm”
Trang 37“Phép phân tích siêu nghiệm” là nội dung đầu tiên của “lôgic học siêu nghiệm”, được Kant chia làm hai phần “Phép phân tích về các khái niệm” và
“Phép phân tích về các nguyên tắc” Mục đích chính của “Phép phân tích siêu nghiệm” là trình bày các yếu tố nhận thức của năng lực giác tính, trả lời cho câu
hỏi: làm sao có thể có Khoa học tự nhiên thuần túy? Trong phần này, Kant đã chứng minh rằng, các phán đoán của khoa học tự nhiên về mối liên hệ phổ biến
và tất yếu được thiết lập theo tương quan các phạm trù của tư duy Những phạm trù này (chia thành bốn nhóm) vừa là khuôn mẫu tạo nên các phán đoán, vừa là
sự thể hiện khả năng tổng hợp của giác tính
Để tránh cho lý tính trở thành một trò chơi đầy tính phiêu lưu với những pha vượt rào nguy hiểm, Kant cho rằng, phải tạo ra một ranh giới cho lý tính,
nhằm xác định phạm vi hoạt động của lý tính, đó chính là “Phép biện chứng siêu nghiệm” Đây là nội dung thứ hai của “lôgic học siêu nghiệm, được Kant chia làm hai phần chính là “Về các khái niệm của lý tính thuần túy” và “Về các suy luận có tính biện chứng của lý tính thuần túy” “Phép biện chứng siêu nghiệm”
có nhiệm vụ: “Phát hiện ảo tưởng sai lầm trong các yêu sách thiếu cơ sở của chúng cũng như nhằm hạ thấp các tham vọng muốn khám phá và mở rộng nhận thức – mà hai năng lực trên tưởng lầm rằng có thể đạt được chỉ bằng các nguyên tắc siêu nghiệm – xuống thành việc kiểm tra các phán đoán của giác tính thuần túy và bảo vệ nó trước những ảo tưởng ngụy biện” [36, 213]
Phần hai của “lôgic học siêu nghiệm” - “Phép biện chứng siêu nghiệm” - nhằm trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào có thể có Siêu hình học? Kant cho rằng,
trong việc thiết lập các nguyên lý phổ quát về thế giới, về Thượng đế, và sự tự
do nhờ sự giúp đỡ của các ý niệm, lý tính đã đưa ra những khẳng định vượt quá phạm vi của kinh nghiệm Chính ở điểm cao nhất này của tâm hồn xuất hiện hàng loạt các mâu thuẫn, mà một trong số đó là sự hiện diện thường xuyên những phán đoán đối lập nhau, không thể đi đến những kết luận có tính chất dung hòa Kant gọi đó là những nghịch lý (antinomia), những mệnh đề triết học đối lập nhau về cùng một đối tượng, nhưng cả hai đều được chứng minh, chẳng
Trang 38hạn “Thế giới có khởi điểm trong thời gian và được giới hạn trong không gian”
và “Thế giới không có khởi điểm trong thời gian và không có giới hạn trong không gian, nó vô hạn cả trong thời gian và không gian” Theo Kant, những phán đoán đối lập này đã làm sáng tỏ hai điểm: những “nghịch lý”, “tương phản” của lý tính tạo nên sự phân cực đầy bi kịch trong lịch sử tư duy và khả năng của nhận thức con người Vấn đề khả năng và giới hạn của nhận thức được Kant cô đọng trong quan niệm về “vật tự nó” và “hiện tượng” Chính ở đây, tồn tại một vài yếu tố bất khả tri, nhưng điểm chính mà Kant muốn đặt ra là “tính hiện thực” của nhận thức mà thôi
Trong phần dẫn nhập của “lôgic học siêu nghiệm” là “Ý niệm về một môn lôgic học siêu nghiệm”, Kant cho rằng ông không có ý định bác bỏ những thành
tựu của “lôgíc học hình thức” Thay vào đó, Kant đã kế thừa có tính phê phán những gì mà các triết gia trước ông để lại, điều này có thể nhận ra trong nội dung phong phú của “lôgic học siêu nghiệm” “Tính thống nhất” thể hiện ở
“lôgíc học phổ biến” không bị bài trừ mà đã được Kant phát triển thành “sự tổng hợp” trong “lôgic học siêu nghiệm” Các phán đoán của “lôgíc học phổ biến”, được trừu tượng hóa khỏi mọi nội dung [của nhận thức], là “những chức năng mang lại tính thống nhất” [36, 230]; khi được chuyển thành “lôgíc học siêu nghiệm”, chúng biểu thị sự tổng hợp “cái đa tạp của cảm năng tiên nghiệm” [36, 238] trong chủ thể nhận thức Chính nhờ sự tổng hợp siêu nghiệm được rút ra từ những chức năng lôgíc của “lôgíc học hình thức”, đã góp phần hình thành nên bảng các phạm trù, hay “danh mục của tất cả các khái niệm thuần túy có tính nguyên thủy để làm công việc tổng hợp mà giác tính chứa đựng trong nó một cách tiên nghiệm” [36, 242] Với những sự tổng hợp này, Kant muốn tạo nên
“lôgic học siêu nghiệm” trong sự tương quan với “lôgíc học hình thức” dựa trên những hình thức của phán đoán và suy luận Đồng thời, “lôgic học siêu nghiệm” cũng có những ràng buộc nhất định với nhận thức luận thời cận đại bắt nguồn từ cái cogito [cái “Tôi tư duy”] của Descartes Điều này thể hiện qua các khái niệm như “tự-ý thức” hay “thông giác siêu nghiệm” mà Kant đã xây dựng với những
Trang 39khía cạnh mới
Sở dĩ “lôgic học siêu nghiệm” cần được tiến hành nghiên cứu riêng biệt vì phần này có chức năng và vị trí đặc trưng riêng của nó Nếu chỉ dừng lại ở trực quan cảm tính trong phần “cảm năng học siêu nghiệm” thì nhận thức chỉ là những mảng rời rạc, không thống nhất Để nhận thức có thể hình thành, cần phải
hệ thống hóa các dữ kiện của trực quan, đây là công việc của “lôgic học siêu nghiệm” Thông qua cấp độ nhận thức giác tính, nhận thức được hình thành dựa trên nền tảng của sự thống nhất giữa phạm trù và các dữ kiện của trực quan Cấp
độ nhận thức lý tính, Kant chỉ ra tham vọng của con người muốn nhận thức cái tuyệt đối, vô điều kiện, tách rời kinh nghiệm Vì vậy, đòi hỏi siêu hình học phải xác định được đâu là giới hạn và đâu là ảo tưởng trong quá trình nhận thức Chính vì các vấn đề mang tính riêng biệt của hai cấp độ nhận thức (giác tính và
lý tính), cần phải tiến hành phân tích “lôgic siêu nghiệm” trong tính độc lập tương đối của nó Đồng thời, qua đó có thể thấy được tương quan của nó với
“cảm năng học siêu nghiệm”
Phần còn lại trong tác phẩm này là “Học thuyết siêu nghiệm về phương pháp”, có nhiệm vụ xác định “các điều kiện hình thức cho hệ thống hoàn chỉnh
của lý tính thuần túy” [36, 1059]
Phần này được Kant chia làm bốn chương, mỗi chương giữ một vai trò nhất định Chương “Kỷ luật học của lý tính thuần túy” là chương đầu tiên, trình bày những phương pháp mà lý tính không được sử dụng nhằm tránh sai lầm, ảo tưởng Theo Kant, lý tính muốn có được những bước đi vững chắc phải phục tùng những “kỷ luật của tư duy”, phải từ bỏ phê phán giáo điều của lý tính tư biện Đồng thời, chỉ được sử dụng tạm thời phương pháp phân tích “tranh biện”
và “hoài nghi” khi muốn chứng minh điều gì Phương pháp “Phê phán” là con đường đúng đắn duy nhất mà lý tính có thể sử dụng, dựa trên các phạm trù của cảm năng và giác tính
Chương hai “Bộ chuẩn tắc của lý tính thuần túy” chiếm một vị trí quan
Trang 40trọng, trình bày toàn bộ các nguyên tắc tiên nghiệm của các năng lực nhận thức Theo Kant, trong lĩnh vực nhận thức, lý tính thuần túy tư biện không thể có được bất cứ nguyên tắc tiên nghiệm nào, mà chỉ có thể có “Bộ chuẩn tắc” dành cho giác tính Để xây dựng “Bộ chuẩn tắc” cho lý tính thuần túy, Kant cho rằng chỉ có thể xem xét lý tính thuần túy trong lĩnh vực thực hành Hai chương còn lại của phần “Phương pháp học siêu nghiệm” là “Kiến trúc học” và “Lịch sử của
lý tính thuần túy”, trình bày những gì mà lý tính đã và có thể làm để xây dựng hoàn chỉnh hệ thống lý tính thuần túy theo mục đích của “Bộ chuẩn tắc”
Việc khái quát hóa hệ thống vấn đề nhận thức trong tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant là hết sức quan trọng, làm cho nội dung của tác phẩm trở nên rõ ràng hơn Với kết cấu và nội dung đầy tham vọng như vậy, tác phẩm xứng đáng là danh tác đặt nền móng cho triết học hiện đại, là công trình ấp ủ cả đời của một triết gia vĩ đại
và chia cắt về chính trị Có thể khái quát bức tranh toàn cảnh của xã hội Đức
đương thời thật u ám, đen tối Trước thực tại xã hội đương thời, tầng lớp trí thức Đức đã xuất hiện tình trạng bi quan, bất mãn và bất lực Mong muốn của Kant là làm sao cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn Để đạt được mục đích cao đẹp đó, Kant cho rằng, trước hết và trên hết phải hướng đến con người Toàn bộ hệ thống triết học của Kant là triết học vì con người Triết học Kant không còn là triết học tự nhiên mà đề cao ý nghĩa và bổn phận làm người của nhân loài Chỉ trong hướng đi này, ta mới thấy rõ ý nghĩa thực sự của bộ ba tác
phẩm Phê phán (Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực hành, Phê