1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp biện chứng hồ chí minh trong đường lối cách mạng việt nam giai đoạn 1945 1954

153 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn, tác giả nêu ra hai hướng nghiên cứu có liên quan đến đề tài đang thực hiện: Hướng thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ THU BA

PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH

TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945-1954

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

TRẦN THỊ THU BA

PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH

TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 1945-1954

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60220301

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS, TS VŨ VĂN GẦU

TP HỒ CHÍ MINH - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng được công bố lần nào Nếu có sự gian đối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng 9 năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 13

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 14 6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 14

7 Kết cấu của luận văn 14

Chương 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH 15

1 1 CƠ SỞ HÌ N H T HÀN H P HƯ ƠNG PHÁP BIỆ N C HỨN G

HỒ C HÍ M IN H 15

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh 15

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh 33

1.2 NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH 48

1.2.1 Nội dung phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh 48

1.2.2 Đặc điểm phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh 57

Kết luận chương 1 63

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954 66

2.1 ĐẶC ĐIỂM CÁCH MẠNG VÀ ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954 66

Trang 5

2.1.1 Đặc điểm cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 66

2.1.2 Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 72

2.2 NHỮNG BIỂU HIỆN PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH TRONG ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954 77

2.2.1 Biện chứng trong toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến với phương châm lâu dài và dựa vào sức mình là chính 78

2.2.2 Biện chứng giữa hậu phương và tiền tuyến 93

2.2.3 Biện chứng trong đường lối đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao 104

2.3 Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY 119

Kết luận chương 2 131

KẾT LUẬN 135

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cho đến nay, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh Trước các nhiệm vụ lịch sử, Đảng ta kịp thời xác định đúng đắn, xây dựng đường lối, chiến lược, sách lược một cách sáng tạo đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Cho nên, có thể khẳng định rằng, đường lối cách mạng là yếu tố quan trọng quyết định

sự thắng lợi của cuộc cách mạng, một đường lối cách mạng đúng đắn kết hợp với việc thực hiện triệt để những phương pháp tối ưu sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng thành công và ngược lại một đường lối cách mạng chưa xác định chính xác những vấn đề chính của cách mạng thì sẽ dẫn tới một cuộc cách mạng không đạt kết quả như mong đợi

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam Người đã nêu lên một tấm gương sáng trong việc tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trên tinh thần độc lập, tự chủ

và sáng tạo Vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/02/1995 của Bộ Chính trị khẳng định: “Việc Đại hội VII khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động là một bước phát triển hết sức quan trọng cho hành động nhận thức và tư duy

lý luận của Đảng ta” [25, tr.219], đó là một khẳng định mang tầm chiến lược, định hướng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, bởi “Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là học thuyết cách mạng và khoa học, là vũ khí tinh thần của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc ta” [25, tr.219] Nghiên cứu, vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 7

không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn hệ thống lý luận của Người mà còn giải quyết thắng lợi những vấn đề đặt ra trong cách mạng nói chung, sự nghiệp phát triển đất nước nói riêng Vì lẽ đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lớn lao, nhất là trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình hiện nay

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến vô cùng to lớn đối với cách mạng Việt Nam Điển hình là việc hoạch định đường lối cách mạng cho dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn 1945-1954, đây là giai đoạn mà Người trực tiếp lãnh đạo và đưa cách mạng giành được thắng lợi Nhìn một cách tổng quát thì đường lối cách mạng thời kỳ này là thực hiện chủ trương kháng chiến, kiến quốc Nhờ vào đường lối ấy mà “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là sự thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới” [85, tr.12] Thắng lợi của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã làm sáng tỏ một chân lí của thời đại ngày nay là một dân tộc nhỏ nhưng biết đoàn kết chặt chẽ, kiên quyết chiến đấu theo đường lối cách mạng đúng đắn thì có khả năng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, dù chúng có đội quân nhà nghề, thiện chiến được trang bị vũ khí hiện đại

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta Vì thế, việc nghiên cứu, giữ gìn và bảo vệ tư tưởng của Người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng Đúng như cố thủ tưởng Phạm Văn Đồng đã nhắc nhở:

“Chúng ta phải nghiên cứu phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, để vận dụng một cách sáng tạo và có phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong

Trang 8

mọi hoàn cảnh của cách mạng Đây là lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh phải đặc biệt coi trọng, phải dày công tìm tòi, nghiên cứu, tiến tới xác định nội dung và những quan điểm, những luận điểm chủ yếu của nó” [27, tr.31] Các nhà khoa học khi nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh đều thống nhất cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh được xây dựng trên nền tảng triết lí sống, tư tưởng nhân văn, nhân đạo cao cả và một phương pháp luận khoa học, cách mạng Tuy nhiên, cho đến nay còn nhiều ý kiến khác nhau về cách đặt vấn đề và khái quát nội dung của phương pháp luận Hồ Chí Minh

Mặc dù, Hồ Chí Minh không viết một tác phẩm riêng biệt hay bài chuyên luận nào về phép biện chứng Song, phương pháp biện chứng là phương pháp cơ bản nhất trong lý luận và trong toàn bộ quá trình hoạt động lãnh đạo cách mạng của Người Phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh là sự

kế thừa tinh hoa trí tuệ của nhân loại được vận dụng sáng tạo dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi vẻ vang Tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta và trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc Việt Nam

Nước ta hiện đang trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế,

có những điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước nhưng bên cạnh đó cũng có không ít những hệ lụy, đặc biệt là âm mưu “diễn biến hòa bình” diễn ra vô cùng phức tạp Trong khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta gặp không ít những khó khăn, bất cập, yếu kém trong cách quản lí cũng như trong cách xử lí tình huống, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và uy tín chế độ, đi kèm với điều đó thì vấn đề bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam đang trở nên hết sức cấp thiết, đặc biệt là vấn đề Biển đảo và biên giới đã ảnh hướng lớn

Trang 9

đến đời sống người dân hiện nay

Trước những biến đổi sâu sắc của thời đại và yêu cầu phát triển đất nước, tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh đem lại chìa khóa cho sự tiến bộ và phát triển bền vững cho nước ta Tiếp tục soi sáng công cuộc xây dựng, bảo

vệ và phát triển đất nước trong thời đại mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực, như: xác định đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xác định rõ bạn thù; phát huy nội lực kết hợp chủ động với hội nhập quốc tế; xây dựng Đảng và Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh

Đồng thời, với mục đích làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh mà đặc biệt trong đó có vấn đề phương pháp biện chứng trở thành tư duy chuẩn trong khi hoạch định chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước tình hình mới hiện nay, thì ngoài việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta cần học tập ở Người phương pháp nhận thức

Trang 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một lĩnh vực rộng lớn và phong phú Chẳng hạn: tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải phóng dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự; tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao; tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức; tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức và xây dựng con người mới, Các lĩnh vực ấy đã được nhiều tác giả dày công nghiên cứu và công bố nhiều công trình có giá trị lý luận và thực tiễn Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn, tác giả nêu ra hai hướng nghiên cứu có liên quan đến đề tài đang thực hiện:

Hướng thứ nhất, nghiên cứu về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng

Trong Mấy vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, in trong

“Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh”, tập 2 viết năm 1996 do Viện Hồ Chí

Minh xuất bản, Giáo sư Trần Văn Giàu có nhận định “phương pháp tư tưởng tổng quát của Cụ Hồ, dĩ nhiên là duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử Nhưng về phương pháp tư tưởng có cái gì đặc sắc của Cụ Hồ không?

Có thể nào nói đến phương pháp tư tưởng Hồ Chí Minh khi mà Cụ chưa hề nói đến phương pháp luận? Cụ chưa hề nói đến phương pháp luận, nhưng trong hoạt động chính trị, văn hóa của Cụ, người nghiên cứu dường như trong thấy một lề lối có thể gọi là phương pháp luận, phương pháp tư tưởng” [32, tr.50] Điều này đã gợi mở cho hướng nghiên cứu về phương pháp luận Hồ Chí Minh ở những công trình sau này

Tác phẩm Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh gồm 256 trang do

Giáo sư Đặng Xuân Kỳ chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1997 Tác phẩm đã đề cập đến phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh

Trang 11

như là một hệ thống toàn diện, nêu lên sáu nội dung như sau: 1 Lấy xuất phát

từ thực tế hiện thực Việt Nam làm điểm xuất phát, lấy cải tạo, biến đổi hiện thực Việt Nam làm mục tiêu cho mọi hoạt động cách mạng; 2 Tập hợp, huy động lực lượng toàn dân tham gia vào sự nghiệp cách mạng; 3 Dĩ bất biến, ứng vạn biến; 4 Nắm vững thời cơ, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thời, thế và lực ; 5 Biết thắng từng bước ; 6 Kết hợp các phương pháp, Sáu phương pháp ấy cho thấy “những phương pháp chung là những nguyên tắc có ý nghĩa phương pháp luận định hướng cho mọi hoạt động cách mạng, những cách thức để thực hiện đường lối cách mạng, được đặt trong

kết luận: phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người đã để lại cho dân tộc ta và toàn thể nhân loại Được hình thành từ những ngày đầu bôn ba tìm đường cứu nước và phát triển trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi của Người Hệ thống phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh đã trở thành phương pháp cách mạng Việt Nam, phong cách của Người là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách cán bộ cách mạng, bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau

Năm 1997, Phó Giáo sư Song Thành đề cập “Một số vấn đề phương

pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội như sau: Một là, xuất phát từ thực tiễn dân tộc (đất nước,

lịch sử, con người Việt Nam), lấy mục tiêu độc lập dân tộc, tự do của nhân loại, hạnh phúc của đồng bào làm chuẩn mực của hành vi, thước đo của hoạt

động, tiêu chuẩn của chân lí; Hai là, thống nhất hữu cơ giữa lý luận và thực

tiễn Học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là nắm lấy tinh thần và phương pháp của nó để xử lí độc lập, sáng tạo mọi quan hệ với con người và công việc;

Ba là, thấu hiểu quy luật khách quan để hành động đúng đắn và thành công

Trang 12

Kiên trì trong nguyên tắc kết hợp với mềm dẻo, linh hoạt trong phương

pháp; Bốn là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cứu nước và xây

dựng chủ nghĩa xã hội là do nhân dân tự làm lấy dưới sự lãnh đạo của Đảng;

Năm là, cán bộ là vốn quý của Đảng của cách mạng, cán bộ tốt quyết định

tất cả, muốn vậy phải rèn luyện cán bộ

Như phân tích trong tác phẩm của mình, tác giả đã xem xét phương pháp luận Hồ Chí Minh như là một chuẩn mực trong khi giải quyết các vấn

đề cách mạng Việt Nam

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Thành Duy trong tác phẩm Cơ sở khoa học và

nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

viết năm 1998, đã nêu lên ba nội dung của phương pháp luận Hồ Chí Minh

Một là, hạt nhân biện chứng của phương pháp tư tưởng tìm sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong tư tưởng Hồ Chí Minh ;

Hai là, hạt nhân biện chứng của phương pháp tư tưởng kết hợp giữa

lý luận và thực tiễn, coi hiệu quả trong hoạt động thực tiễn là thước đo của

lý luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh ;

Ba là, hạt nhân biện chứng trong phương pháp “tư tưởng” giải quyết các mối quan hệ có liên quan đến quyền con người và vì sự phát triển của con người

Tác giả còn cho rằng: “Hồ Chí Minh đã tạo nên một gạch nối trong việc vận dụng sáng tạo cả hạt nhân biện chứng trong tư duy triết học phương Đông và phương Tây, trong hạt nhân biện chứng chưa hoàn toàn duy vật của phương Đông với hạt nhân biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin Chính đó là cơ sở lý luận để hình thành một phương pháp luận riêng, phương pháp luận Hồ Chí Minh” [15, tr.30]

Nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh còn có công trình của Giáo sư,

Tiến sĩ Lê Hữu Nghĩa (chủ biên) trong tác phẩm Tư tưởng triết học Hồ Chí

Trang 13

Minh, Nxb Lao động, Hà Nội, 2000 Giáo sư cho rằng: “Nét đặc trưng trong

tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng duy vật Phương pháp này đã được Người vận dụng tài tình trong lý luận và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, nhất là nghệ thuật dùng quy luật mâu thuẫn” và “ở đây không chỉ có quy luật mâu thuẫn, mà có thể nói, toàn bộ các nguyên lí quy luật và phạm trù của phép biện chứng mácxít đã được Hồ Chí Minh vận dụng thành phương pháp cách mạng và phong cách công tác” [88, tr.35;37]

Cũng trong tác phẩm này, Tiến sĩ Trần Phúc Thăng còn đề cập đến phương pháp biện chứng trong lý luận và nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh và cho rằng: “phương pháp biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn những tư tưởng biện chứng trong triết học mácxít với triết học phương Đông và phương Tây cổ truyền và hiện đại cũng như các trào lưu triết học khác Nghệ thuật nổi bật nhất trong phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh là nghệ thuật phân tích và giải quyết mâu thuẫn, là sự thể hiện nhất quán các quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm kế thừa” [88, tr.82-83]

Như một công trình chuyên khảo, tác phẩm Tư tưởng biện chứng Hồ

Chí Minh gồm 356 trang của Tiến sĩ Nguyễn Đức Đạt, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội xuất bản năm 2005 đã đi sâu phân tích một số nội dung cơ bản của quan điểm biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên suốt là quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử - cụ thể và quan điểm phát triển Tác phẩm tập trung phân tích cơ sở hình thành tư tưởng biện chứng và nội dung biện chứng của Hồ Chí Minh

Tác giả cũng khẳng định, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam trong quá trình xác định đúng đắn con đường cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa

xã hội Với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong quá trình lãnh

Trang 14

đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước hơn 20 năm qua, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm biện chứng

Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế vận động và phát triển của lịch sử để đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử cả về hoạt động thực tiễn và nhận thức lý luận

Trong cuốn “Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản

Chính trị - Hành chính, Hà Nội xuất bản năm 2011, Giáo sư Hoàng Chí Bảo

đã trình bày tổng quan những nghiên cứu về phương pháp Hồ Chí Minh; những vấn đề đặt ra từ lý luận đến thực tiễn; vận dụng phương pháp Hồ Chí Minh để tìm hiểu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh; cảm nhận về triết lí phát triển xã hội của Hồ Chí Minh; từ “dân” đến “dân chủ” và “dân vận” trong tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; văn hóa Hồ Chí Minh và

sự rèn luyện nhân cách văn hóa của thanh niên; đạo đức Hồ Chí Minh - một kiểu mẫu về sự nhất quán giữa tư tưởng và hành động; thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử quang vinh của dân tộc Việt Nam; tư tưởng và phương pháp chính trị Hồ Chí Minh

Trong công trình của mình Giáo sư Hoàng Chí Bảo nhận định phương pháp Hồ Chí Minh là phương pháp ở tầm tư tưởng, lý luận, thể hiện sự nhuần nhuyễn giữa lý luận với thực tiễn trong các lĩnh vực hoạt động của Người Lý luận hóa thực tiễn gắn liền với thực tiễn hóa lý luận Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện một trình độ tư tưởng mà còn là một năng lực và bản lĩnh sáng tạo văn hóa, với tầm nhìn rộng lớn, dự báo sáng suốt và ứng xử linh hoạt, tinh tế “Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ là khoa học mà còn là nghệ thuật, ở đó, trí tuệ đi liền với đạo đức, thuyết phục, cảm hóa con người bằng sự chân thành và giản dị, bằng tình cảm đầy lòng nhân ái, vị tha, thấm đượm sâu sắc chất nhân văn của tính người và tình người (nhân tính)” [04, tr 13]

Trang 15

Hướng thứ hai, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh qua quá trình chỉ đạo và thực hành đường lối cách mạng Việt Nam

Cùng các công trình nêu trên, một số tác giả đã có những công trình nghiên cứu làm sáng tỏ sự nghiệp lãnh đạo cách mạng sáng suốt và đúng đắn của Hồ Chí Minh nhằm đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Trong đó đáng chú ý là những công trình:

Trong tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng

Việt Nam, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chủ biên, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội xuất bản năm 1997 Cuốn sách gồm Lời mở đầu, ba phần, mười chương, đã trình bày một cách có căn cứ khoa học, toàn diện về những vấn đề lý luận cơ bản, cấp bách về tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ và có những đóng góp mới về quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Trong tác phẩm, tác giả nhận định: “Có một phương pháp luận Hồ Chí Minh Đó là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được Người quán triệt, vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tiếp thu tinh hoa triết học thế giới, nhất là triết học phương Đông và thực tiễ n xem xét giải quyết những vấn đề cách mạng của Việt Nam” [30, tr.271]

Tác giả Nguyễn Minh Đức viết tác phẩm Hồ Chí Minh với cuộc

kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) do Nxb Đại học sư phạm,

Hà Nội xuất bản năm 2004 Tác giả đã nghiên cứu toàn bộ quá trình lãnh – chỉ đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 của Hồ Chí Minh; từ việc hình thành đường lối cho đến thực hành cách mạng Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, vững từng bước đi đến thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Trang 16

Tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề cơ bản của cách

mạng Việt Nam do Tiến sĩ Phạm Hồng Chương viết và được Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2003 Tác phẩm gồm 329 trang là tập hợp những bài viết và chuyên luận khoa học, được sắp xếp theo chủ đề: về con đường và mục tiêu; về Đảng; về mặt trận; về chính trị, về kinh tế; về ngoại giao, về quốc tế

Tác giả Nguyễn Bá Linh với công trình nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí

Minh về giải phóng dân tộc, con đường dẫn đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2004 đã đi sâu vào nghiên

cứu việc vận dụng tư tưởng giải phóng dân tộc vào thực tiễn cách mạng, giành những thắng lợi to lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Yên với tác phẩm Hồ Chí Minh với chiến

lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải phóng dân tộc do Nxb.Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2008 phát hành Tác giả trình bày 3 nội dung chính: phân tích và chứng minh quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa phong trào giải phóng dân tộc và phong trào cách mạng vô sản quốc tế; kết hợp đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc

tế nhằm thực hiện mục tiêu độc lập, tự do cho nhân dân Việt Nam; những quan điểm cơ bản và giá trị thực tiễn của chiến lược đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh Khi phân tích những nội dung trên, tác giả chỉ ra rằng từ việc hoạt động thực tiễn và kết hợp với việc học tập lý luận, Hồ Chí Minh đã nhận thức và vận dụng sáng tạo, phù hợp cho cách mạng Việt Nam

Tác phẩm Tư tưởng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh những năm

20 của thế kỷ XX của Tiến sĩ Phạm Quốc Thành do Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2007 Nội dung chủ yếu của tác phẩm được thể hiện qua việc phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình hình thành, hoàn chỉnh và vận dụng đúng đắn, phát triển một cách sáng tạo

Trang 17

lý luận về cách mạng thuộc địa của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện

cụ thể của Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ XX Các quan điểm cách mạng sáng tạo của Hồ Chí Minh được hiện thực hóa trong xã hội Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, đồng thời nêu bật những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới hiện nay

Tác phẩm Hồ Chí Minh nhà tư tưởng thiên tài của Giáo Sư Trần

Nhâm, do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2011 Tác phẩm tập trung phân tích một cách toàn diện một số vấn đề lý luận, trong đó nêu lên quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, là tổng hợp những quan điểm chiến lược

có ý nghĩa chỉ đạo lớn về chính trị và lý luận, về nhận thức và hành động Cuốn sách mở rộng việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trên các vấn đề chiến lược và sách lược cách mạng, xác định rõ thiên tài chỉ đạo chiến lược

và nghệ thuật chỉ đạo sách lược của Hồ Chí Minh và của Đảng ta

Ngoài ra còn có nhiều bài báo, bài viết đã được đăng trên các báo, tạp

chí chuyên ngành liên quan đến mảng đề tài này như: Con đường Hồ Chí

Minh đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, một phương pháp tiếp cận của Giáo sư

Đặng Xuân Kỳ đăng trên Tạp chí Lịch sử đảng, số 01 năm 1993; Tư tưởng

Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận của Tiến sĩ Lương Gia Ban đăng

trên Tạp chí Triết học số 01, 2004; Sự thống nhất giữa đấu tranh giai cấp và

xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ở Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Văn Thế đăng trên tạp chí Triết học, số 04, 2008

Đã đề cập ít nhiều đến phương pháp luận, phong cách và cách tiếp cận phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh

Những công trình nghiên cứu trên đã gợi mở một số vấn đề tư tưởng

Hồ Chí Minh như: thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, về mối quan hệ giai

Trang 18

cấp và dân tộc, nghệ thuật quân sự, cách làm việc biện chứng, hoạt động chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng, Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh thực hiện trong hoạt động cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 Với lí do đó, tác giả đã đi vào nghiên cứu và mong muốn góp phần lí giải được nguồn gốc, quá trình hình thành và phương pháp biện chứng trong hoạt động lãnh đạo cách mạng của

Hồ Chí Minh Từ đó rút ra một số ý nghĩa nhất định trong tư duy đổi mới ở nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn

Một là, luận văn làm sáng tỏ cơ sở hình thành, nội dung và đặc điểm

chủ yếu của phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh

Hai là, những biểu hiện cụ thể của phương pháp biện chứng Hồ Chí

Minh trong đường lối cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 Từ đó rút

ra ý nghĩa phương pháp đối với cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình hiện nay

Nhiệm vụ của luận văn

Một là, làm rõ cơ sở hình thành, nội dung và đặc điểm phương pháp

biện chứng Hồ Chí Minh;

Hai là, phân tích một số phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh trong

đường lối cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954 và rút ra ý nghĩa phương pháp luận

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu về phương

pháp biện chứng của Hồ Chí Minh

Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn không tìm hiểu toàn

bộ phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh, mà chỉ tập trung làm rõ

Trang 19

phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh thể hiện trong đường lối cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về phương pháp nghiên cứu, luận văn được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Trong đó, khai thác nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp thống kê và một số phương pháp nghiên cứu khác

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Về mặt khoa học, luận văn trình bày một cách có hệ thống phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh, góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn cơ sở hình thành, nội dung, đặc điểm phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh cũng như phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh thể hiện trong đường lối cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945-1954

Về mặt thực tiễn, ý nghĩa phương pháp luận và bài học được rút ra từ phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh sẽ góp phần vào việc hoạch định những chủ trương, những biện pháp nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học tập một số nội dung về tư duy biện chứng, nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh cho các ngành

xã hội và nhân văn, cũng như làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 20

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH, NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM PHƯƠNG PHÁP

BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH

1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG HỒ CHÍ MINH

Bất kỳ một học thuyết, một tư tưởng vĩ đại nào ra đời cũng đều có

nguồn gốc hình thành của nó Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh

nói chung, phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh nói riêng, chúng ta không

thể không gắn liền với việc nghiên cứu những điều kiện lịch sử - xã hội, tiền

đề lý luận đã ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tư tưởng của Người

1.1.1 Điều kiện lịch sử - xã hội hình thành phương pháp biện

chứng Hồ Chí Minh

Tình hình thế giới và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội

Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Tình hình thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây

chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai

đoạn đế quốc chủ nghĩa) Để mở rộng thị trường, chủ nghĩa tư bản tiến hành

xâm lược thuộc địa, phần lớn là ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ

Latinh Chúng biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm,

hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư

bản của các nước đế quốc Do vậy, chỉ chín nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ,

Tây Ban Nha, Ý, Nhật Bản, Bỉ, Bồ Đào Nha, Hà Lan) [76, tr.277] đã chi

phối toàn bộ tình hình thế giới

Về kinh tế, chủ nghĩa tư bản tạo ra lực lượng sản xuất lớn, làm cho

diện mạo của đời sống xã hội thay đổi, nền kinh tế hàng hóa phát triển

mạnh, đặt ra nhu cầu bức thiết “các nước tư bản phải mở rộng thị trường

Trang 21

bằng cách thực hiện xâm lược và áp dụng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào các dân tộc phương Đông” [09, tr.1257-1258] Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới các cuộc khủng hoảng kinh tế vào những năm 1900-1903, sau đó tổng khủng hoảng và chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ Những biến đổi này đã tác động sâu sắc đến tất cả các mặt của đời sống như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, của các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam

Về chính trị, giai cấp tư sản thực hiện cuộc cách mạng xã hội lật đổ

chế độ phong kiến, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ tư sản, tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ; từ quân quyền sang pháp quyền

Sau thất bại của công xã Pari năm 1871, phong trào công nhân tiếp tục được củng cố, tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh mới chống chủ nghĩa tư bản Dưới sự phát triển ngày càng sâu rộng của chủ nghĩa Mác, phong trào công nhân ngày càng trở nên mạnh mẽ, nhiều tổ chức đảng vô sản, đảng xã hội theo xu hướng tiến bộ cách mạng của giai cấp công nhân xuất hiện tại Đức, Pháp, Mỹ, Anh Với cương vị là người lãnh đạo phong trào công nhân chống lại chủ nghĩa tư bản, Ph.Ăngghen đã có những cống hiến vĩ đại cho Quốc tế II, đặc biệt là về mặt tư tưởng Tuy nhiên, đến năm

1895 thì Ph.Ăngghen mất, Quốc tế II bị các phần tử cơ hội lũng đoạn và dần mất vai trò lịch sử

Đến năm 1914, hệ thống chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, “các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật chiếm một

Trang 22

Chúng đẩy mạnh đầu tư khai thác thuộc địa, xuất khẩu tư bản, đem lại lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản Các nước thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng của giai cấp công nhân, đặc biệt là ở các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân, khiến cho sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt

Phong trào cách mạng thế giới phát triển thành cao trào mới do ảnh hưởng trực tiếp của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 Trước tình hình đó, tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, đã đẩy lùi các trào lưu tư tưởng cải lương, cơ hội và sôvanh trong Quốc tế II trước đó, đồng thời đưa phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tiếp tục được củng cố

và phát triển Cho nên, nền dân chủ tư sản cũng như phong trào cách mạng

vô sản ở các nước tư bản đã ảnh hưởng rất lớn đến các nước phong kiến, đặc biệt là làm cho tư tưởng chính trị chuyển hướng sang dân chủ tư sản

Về văn hóa, khoa học, kĩ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì đây

là thời kỳ nở rộ của nhiều thành tựu khoa học, kĩ thuật ở các nước tư bản phát triển, làm thay đổi cơ bản nền sản xuất và cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, đánh dấu bước tiến mới của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn này, đồng thời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho con người nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, hiểu biết tự nhiên, xã hội sâu sắc hơn Và nhờ đó, mặt tư tưởng được củng cố thêm về thế giới quan duy vật, tạo điều kiện cho việc tiếp thu các trào lưu tư tưởng tiến bộ trên thế giới

Trang 23

Trong quá trình xâm lược của mình, các nước chủ nghĩa tư bản đã buộc các nước phương Đông sớm chuyển sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, điều này đã để lại cho các dân tộc thuộc địa những hệ quả tiêu cực lẫn tích cực, trong đó hệ quả tiêu cực là chủ yếu Đó là “một nền kinh tế què quặt, trì trệ, chậm phát triển, lệ thuộc vào các nước tư bản; nền kinh tế thuộc địa biến đổi theo xu hướng phá hoại, bóp chết một số ngành thủ công nghiệp truyền thống có giá trị; phá vỡ mối quan hệ tương hỗ giữa các vùng, miền, xé nhỏ nền kinh tế của các dân tộc thuộc địa; nền văn hóa mang tính

nô lệ, lai căng, phức tạp, nền y tế, giáo dục thấp kém, đời sống nhân dân khổ cực với cảnh một cổ hai tròng áp bức” [09, tr.1259-1260] Tuy nhiên, các cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản cũng để lại cho các dân tộc thuộc địa những hệ quả tích cực nằm ngoài mong muốn, như: phá vỡ các quan hệ sản xuất cũ, mở mang ngành nghề mới, xóa bỏ tình trạng bế quan tỏa cảng của chế độ phong kiến, tiếp thu được nhiều tư tưởng tiến bộ trên thế giới, Những thay đổi của phương thức sản xuất và những hệ quả ấy đã góp phần làm chuyển biến tư tưởng, làm thức tỉnh các dân tộc phương Đông chuyển mình theo xu thế thời đại

Trước những chuyển biến của lịch sử, để chống lại sự xâm lược của các nước chủ nghĩa tư bản, bảo vệ độc lập, buộc các dân tộc bị áp bức phải đứng lên đấu tranh, từ đó hình thành nên phong trào giải phóng dân tộc Mặc

dù, phong trào giải phóng dân tộc diễn ra ở những thời điểm khác nhau, ở các dân tộc khác nhau, có hình thức và phương pháp cách mạng khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến nhiệm vụ là chống thực dân, giành độc lập dân tộc

Ở dân tộc các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, phong trào

đấu tranh giải phóng dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hai hình thức: một là, đấu

tranh vũ trang, bao gồm lực lượng của cả triều trình phong kiến, sĩ phu, nhân dân, diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên và các nước Đông Nam Á;

Trang 24

hai là, phương pháp đấu tranh hòa bình bằng các cuộc cải cách xã hội, bất

hợp tác với thực dân, diễn ra chủ yếu ở Ấn Độ thời kỳ đầu

Đến những năm 1920, phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc châu Á, châu Phi đã mang tính dân tộc rõ nét, có tính chất đa dạng, phong phú do chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử riêng biệt của từng dân tộc, nhưng nhìn chung phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX được thể hiện ở ba khuynh hướng chính như sau: một là, phong trào giải

phóng dân tộc mang ý thức hệ phong kiến như Triều Tiên, Miến Điện,

Campuchia; hai là, phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản

mà đứng đầu lãnh đạo là tầng lớp sĩ phu yêu nước, tiêu biểu như Khang Hữu

Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc; ba là, phong trào giải phóng dân tộc

theo ý thức hệ tư sản và do giai cấp tư sản lãnh đạo, như Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc, Nêru ở Ấn Độ Mặc dù chưa có cuộc cách mạng nào thành công triệt để nhưng nó cũng đem đến kết quả nhất định trong việc cải cách

xã hội và trở thành sức mạnh tinh thần cổ vũ mạnh mẽ cho các phong trào giải phóng dân tộc sau này

Cho đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi, nhà nước công nông đầu tiên ra đời, đánh đấu sự thành công của phong trào giải phóng dân tộc chuyển sang con đường cách mạng mới – cách mạng vô sản Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc bị áp bức đã “mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống

đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” [86, tr.562], nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đặc biệt là khi

Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa năm 1920

Trang 25

của V.I.Lênin được truyền bá rộng rãi, cũng như sự trải nghiệm của phong trào giải phóng dân tộc theo ngọn cờ cách mạng vô sản đã ảnh hưởng mạnh

mẽ đến các dân tộc, làm cho các khuynh hướng nêu trên có những chuyển biến nhất định, đó là một số dân tộc dần chuyển sang cách mạng vô sản, trong

Kể từ khi triều đình nhà Nguyễn kí Hiệp ước Patơnốt (06/6/1884) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp, bọn tư bản thực dân thi hành chính sách khai thác thuộc địa, độc quyền kinh tế, chuyên chế về chính trị, biến Việt Nam vốn là nước phong kiến thành nước thuộc địa, nửa phong kiến Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để phục hồi nền kinh tế và vị thế chính trị trên trường quốc tế, thực dân Pháp một mặt thúc đẩy nhanh nền sản xuất trong nước, mặt khác đẩy mạnh khai thác thuộc địa dẫn đến những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam

Về điều kiện kinh tế, sau khi thực dân Pháp bình định xong Việt Nam,

chúng tiến hành khai thác thuộc địa, duy trì phương thức sản xuất phong kiến dưới quyền điều khiển và khống chế của tư bản thực dân, đồng thời kết hợp với việc thiết lập một cách hạn chế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Biểu hiện rõ nhất của chính sách này là chế độ thuế khóa nặng nề và vô lí Hồ Chí Minh chua xót viết: “Từ năm 1890 đến năm 1896, thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm 1896 đến năm 1898 lại tăng lên gấp rưỡi Làng nào bị tăng thuế cũng cắn răng mà chịu; hỏi còn biết kêu vào đâu?” [77, tr.74], đã vậy mà

“thuế má không những nặng oằn lưng, mà còn luôn luôn thay đổi [77, tr.75]

Trang 26

Ngoài ra, để thuận lợi cho việc bóc lột, thực dân Pháp còn thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế, làm cho Việt Nam phải phụ thuộc vào kinh tế

“chính quốc” và không phát triển toàn diện được Nhân dân Việt Nam bị bần cùng hóa; nông dân, thợ thủ công phá sản, tư sản bản xứ bị chèn ép buộc phải phá sản Hồ Chí Minh nhận xét: “Chính sách phản động nhất của đế quốc Pháp là độc quyền kinh tế, độc quyền thương nghiệp, độc quyền cho vay và kìm hãm nền kinh tế Việt Nam trong tình trạng lạc hậu Do chính sách độc quyền đó, 50% nông dân Việt Nam không có ruộng” [77, tr.24] Như vậy, chính sách kinh tế thực dân bảo thủ và phản động đã làm thay đổi

cơ bản tình hình kinh tế Việt Nam, chẳng hạn:

Nông nghiệp chủ yếu là đồn điền, trồng lúa, cao su, cà phê, chè, với

trình độ sản xuất thấp kém, chưa tạo được nền tảng cho sự phát triển kinh tế

quốc dân vững vàng; công nghiệp thì có sự khởi sắc hơn trước khi các

ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp nhẹ và chế biến quặng được hình thành và phát triển, điều đó đã tạo nên sự phân hóa trong xã hội, đồng thời “làm thay đổi tư duy, nếp nghĩ, phong cách làm việc của người lao động, các quan hệ sản xuất kinh tế - xã hội” [09, tr 1277], sự phát triển về công nghiệp đã tác động rất lớn đến ý thức, tư tưởng của người Việt Nam;

tiểu thủ công nghiệp là ngành kinh tế phụ như dệt vải, đan lát, chế biến nông

sản, chế biến hải sản, nghề mộc, sửa chửa nhỏ, ngày càng phát triển rộng rãi nhưng nhìn chung vẫn nằm trong khuôn khổ phương thức sản xuất phong

kiến lạc hậu; giao thông vận tải thời kỳ này được chú trọng bởi đây là điều

kiện để giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng với các vùng trong nước và nước

ngoài; đối với thương nghiệp, thực dân Pháp đã xóa bỏ chính sách “bế quan

tỏa cảng” do nhà Nguyễn đặt ra, đây là điều kiện tốt cho nước ta giao lưu bên ngoài, tiếp cận với các nền văn minh trên thế giới

Nhìn chung, nền kinh tế của ta lúc bấy giờ là sự đan xen tồn tại của

Trang 27

các yếu tố của nền kinh tế truyền thống mang tính chất phong kiến với các yếu tố của nền kinh tế phụ thuộc mang tính chất tư bản chủ nghĩa

Về chính trị - xã hội, cơ cấu tổ chức, bộ máy cai trị của thực dân,

phong kiến ở nước ta đã có những thay đổi lớn so với trước đó Thực dân Pháp áp đặt chính sách chuyên chế cai trị thực dân điển hình, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn và không cho dân ta một chút tự do, dân chủ nào Không những thế, thực dân Pháp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy chính quyền, đồng thời tạo nên một cơ sở xã hội làm chỗ dựa cho hệ thống cai trị thuộc địa Chúng còn thực hiện âm mưu thâm độc “chia để trị”, chia nước ta ra làm ba kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và “dùng người Việt trị người Việt” hòng làm suy yếu lực lượng đoàn kết của dân tộc ta Hồ Chí Minh đã lên án âm mưu “chia để trị” của thực dân Pháp, Người viết: “Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi cái châm ngôn “chia để trị” của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một tiếng nói, đã bị chia năm sẻ bảy” [77, tr.116] Chúng lập ra xứ Đông Dương thuộc Pháp nhằm xóa tên ba nước Việt Nam, Lào, Cao Miên (ngày này là Campuchia) ra khỏi bản đồ thế giới Chính âm mưu của kẻ địch

đã tác động rất lớn đến đời sống tinh thần của người Việt, đặc biệt là đối với các nhà tư tưởng

Để chứng tỏ uy quyền, đàn áp cách mạng, trong quá trình cai trị, thực dân Pháp sử dụng công cụ bạo lực như cảnh sát, nhà tù, quân đội, tòa án, sẵn sàng đàn áp mọi sự phản kháng của nhân dân mặc dù đó là những phản kháng hòa bình nhất Thực trạng đó đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại thực dân xâm lược

Trong cơ cấu giai cấp và vai trò của các giai cấp trong xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có sự phân hóa, biến đổi theo sự tác

Trang 28

động của nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến Trong đó, “giai cấp địa chủ phong kiến là giai cấp giữ vai trò thống trị trong xã hội phong kiến nhưng đến độ thuộc địa, nửa phong kiến thì mất vai trò thống trị” [09, tr.1280]; giai cấp nông dân thì trở thành lực lượng cơ bản, hùng hậu của cách mạng; giai cấp tư sản thì không đủ lực lượng và sức mạnh để nắm ngọn cờ lý luận lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; giai cấp công nhân thì “có thể là 2% trong dân số, không được học hành, không được tổ chức Do vậy, họ không

có một lực lượng chính trị nào” [76, tr.204], sau này, giai cấp công nhân được tổ chức thành lực lượng cách mạng nắm lấy ngọn cờ tư tưởng và trở thành giai cấp lãnh đạo một cách tự giác, gánh vác sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; riêng “tầng lớp tiểu tư sản hình thành đầu thế kỷ XX, chủ yếu ở các vùng đô thị, chiếm khoảng 8-10% dân số, chỉ

là bộ phận nhỏ bé trong xã hội” [09, tr.1281] nên đây chỉ là một bộ phận nhỏ

có khả năng đóng góp tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc chứ không thể giữ vai trò chủ đạo

Về văn hóa, giáo dục, khoa học – kĩ thuật, thực dân Pháp thực hiện

chính sách văn hóa, giáo dục thực dân, văn hóa nô lệ, gây tâm lí tự ti, vong bản Chúng dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản mọi ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ tiến bộ trên thế giới du nhập vào Việt Nam, trong khi lại khuyến khích và phát triển tôn giáo, mê tín dị đoan, đem văn hóa phản động, trụy

lạc, đồi phong bại tục nhồi sọ nhân dân ta Đối với giáo dục, chúng thực

hành chính sách ngu dân triệt để dễ bề thống trị, ““làm cho u mê để thống trị”, đó là phương pháp mà nhà cầm quyền ở các nước thuộc địa của chúng

ta ưa dùng nhất” [77, tr.99] Ban đầu, thực dân Pháp vẫn duy trì nền học vấn Nho gia, mặt khác mở các trường dạy tiếng Pháp và văn hóa Pháp sau đó lại chủ trương cải cách mạnh mẽ về văn hóa, giáo dục phù hợp với cuộc khai thác thuộc địa Tuy nhiên, những tri thức của nền giáo dục đó đã ảnh hưởng

Trang 29

tích cực ngoài ý muốn của thực dân, bởi đây là cơ hội để bộ phận trí thức tiến độ tiếp thu những tri thức khoa học phương Tây, góp phần nâng cao

trình độ nhận thức, tạo địa bàn cho tiếp thu tư tưởng dân chủ tiến bộ Văn

hóa lúc này đã có sự du nhập của nền văn minh phương Tây Chữ quốc ngữ

được truyền bá rộng rãi và được đưa vào trường học để giảng dạy, ngoài ra

đã có sự xuất hiện các tờ báo, cơ sở in ấn, các nhà xuất bản mà qua đó “đã tích cực công khai truyền bá những tư tưởng tiến bộ, tư tưởng dân chủ tư sản, tư tưởng mácxít, đồng thời phản đối chính sách bóc lột của chủ nghĩa

thực dân và phong kiến” [09, tr.1283] Đối với khoa học – kĩ thuật thì thực

dân Pháp đã cho xây dựng các cơ sở nghiên cứu như: Túc mễ cục, Viện hải dương học, thành lập Hội đồng nghiên cứu khoa học, nhằm nghiên cứu, tìm hiểu tài nguyên, của cải nước ta, phục vụ khai thác thuộc địa Còn trình

độ kĩ thuật trong nền kinh tế chỉ ở mức rất thấp so với sự phát triển chung của thế giới và các nước tiên tiến trong khu vực Tuy nhiên, với những thay đổi đó, phần nào đã đưa luồng không khí khoa học phương Tây vào nước ta, giúp cho tầng lớp trí thức có thêm những hiểu biết mới

Về hệ tư tưởng, trước khi thực dân Pháp xâm lược, hệ tư tưởng Việt

Nam là hệ tư tưởng phong kiến thuần nhất, đó là tam giáo Nho – Đạo – Phật đồng hành với truyền thống văn hóa dân tộc Mặc dù có những thăng trầm trong lịch sử nhưng so với Phật giáo và Đạo giáo thì Nho giáo chính thức tồn tại với tư cách là hệ tư tưởng thống nhất bởi luôn có sự cải biến để thích ứng, phù hợp với truyền thống văn hóa và nhu cầu phát triển dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, sau khi thực dân Pháp xâm lược thì hệ tư tưởng Việt Nam đã có sự biến đổi đáng kể “về mặt nào đó, khi Nho giáo mất vai trò lịch sử, để tìm sự hỗ trợ cho việc giành lại độc lập dân tộc, một số nhà Nho yêu nước, tiến bộ đã tìm vũ khí tinh thần trong Phật giáo, Đạo giáo” [09, tr.1284] Như vậy, bên cạnh việc thay đổi về nội dung theo khuynh hướng

Trang 30

thiết thực hơn, tiến bộ hơn nhằm phù hợp với tình hình thời đại của Nho giáo thì tư tưởng Phật giáo gần như đã trở thành hệ tư tưởng chính thống của dân tộc, ảnh hưởng đến tư tưởng chính trị của một số nhà yêu nước, tạo nên những phong trào đấu tranh, phong trào khởi nghĩa mang tính chất tôn

giáo vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Bên cạnh sự áp đặt ách thống trị của thực dân và sự tăng cường bóc lột của chế độ phong kiến thì các phong trào yêu nước và phong trào cách mạng lần lượt ra đời nhằm giải quyết hai mâu thuẫn của dân tộc, đó là thực dân Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc; giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến nhằm giải phóng giai cấp Tiêu biểu là các phong trào: Phong trào Cần Vương (1885-1896) dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước đã phát triển rầm rộ trong cả nước, kéo dài gần 20 năm cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892), các cuộc khởi nghĩa ở các huyện thuộc tỉnh Hưng Yên; khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892); khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895); khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo (1885-1913); các phong trào Đông Du (1905-1908), hoạt động của những nhà yêu nước trong Duy Tân hội (1905), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1907), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), Quang phục hội (1912), nhưng tất cả đều bị dìm trong máu lửa, bởi các phong trào yêu nước trong giai đoạn này không có đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn Hồ Chí Minh viết: “Trong suốt gần một thế kỷ thống trị của thực dân Pháp Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam không ngừng phát triển, kẻ trước ngã, người sau đứng dậy Nhưng tất cả những cuộc khởi nghĩa yêu nước

ấy đã bị dìm trong máu Những đám mây đen lại bao phủ đất nước Việt Nam” [84, tr.322] Mặc dù các cuộc khởi nghĩa đi đến thất bại nhưng phản ánh tinh thần nồng nàn yêu nước của dân tộc Việt Nam, mỗi khi có quân xâm lăng, dân tộc Việt Nam không chịu khuất phục, đứng lên để giành độc lập dân tộc

Trang 31

Trước sự thất bại của các phong trào yêu nước, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước Cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ,

bế tắc như Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Từ ngày bị đế quốc Pháp xâm chiếm, nước ta là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra” [85 tr.03]

Gần ba mươi năm với hai lần khai thác thuộc địa (lần thứ nhất: 1897 – 1914; lần thứ hai: 1918 – 1929) với quy mô lớn của thực dân Pháp cùng các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống Pháp trong thời gian này, đã để lại cho lịch sử những bài học quý giá trong đó là bài học về con đường cứu nước Chứng kiến nỗi đau của dân tộc do thực dân xâm lược gây ra và từ thực tiễn cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức của thực dân Pháp Người đã tích cực tham gia các hoạt động, đấu tranh không ngừng nghỉ trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân bị áp bức các nước châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ, từ đó tạo điều kiện cho sự phát triển cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

Thực tiễn hoạt động cách mạng và nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh

Không có cái gì ra đời từ hư vô, mà phải có quá trình hình thành, phát triển mới hoàn thiện Đúng như C.Mác từng nói: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình,

mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những

tư tưởng triết học” [60, tr.156] Chính trong hoàn cảnh ấy, điều kiện ấy, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và hoàn thiện

Xuất thân trong một gia đình nhà nho – quan lại nhỏ thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - nơi giàu truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm,

Hồ Chí Minh đã nhận được sự giáo dục về lòng nhân ái, nếp sống đạo lí của

Trang 32

gia đình cũng như ý chí kiên cường, tinh thần tự chủ trước mọi tình huống

Từ thuở thiếu niên, Hồ Chí Minh đã sớm chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, cùng cực của đồng bào mình, thêm vào đó là những thất bại đau đớn của các bậc tiền bối trong hành trình cứu nước, giải phóng dân tộc Cả dân tộc lâm vào sự bế tắc, khủng hoảng về con đường cứu nước, khát vọng của nhân dân ta là độc lập, tự do, dân chủ thế nhưng nó đang bị chà đạp bởi sự thống trị tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, thực dân Chính trong hoàn cảnh đó, xuất phát từ tình cảm yêu thương đồng bào, quê hương, gia đình, đã dẫn tới hình thành trong Hồ Chí Minh ý thức cứu nước, mong giải thoát nhân dân khỏi ách nô lệ, áp bức của bọn thực dân, phong kiến

Năm 1905, khi phong trào Đông Du bắt đầu hoạt động sôi nổi, cụ Phan Bội Châu muốn đưa Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh và một số thanh niên ưu tú sang Nhật Nhưng Người không đi, sự khước từ ấy không phải là chối từ một sự ưu ái, mà chính là từ chối một con đường cứu nước biết trước không đưa đến thành công

Đến năm 1906, Hồ Chí Minh cùng cha vào Huế, qua thực tế đấu tranh của quần chúng, Người nhận ra sự bế tắc của con đường cứu nước kiểu phong kiến, cũng tại đây Người bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản và

có ý định hướng ra nước ngoài, tìm con đường cứu nước khác với con đường của những người đi trước

Trong khi nhiều người đang ngoảnh nhìn về phương Đông với sự ngưỡng mộ “người anh cả da vàng” Nhật Bản - một đế quốc mới ở châu Á

đã chiến thắng nước Nga Sa hoàng năm 1905, hay ngưỡng mộ bác Tôn Dật Tiên với chủ nghĩa Tam dân nổi tiếng và cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc thì Hồ Chí Minh chọn sang phương Tây, để xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào Sau này khi trả lời nhà báo, nhà thơ Nga ÔXip Mandenstan năm 1923, Hồ Chí Minh cho biết: “Vào trạc

Trang 33

tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Tự do - Bình đẳng - Bác

ái Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp Người Pháp

đã nói thế và từ thuở ấy, tôi muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy” và ước nguyện “Tôi muốn

đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào mình” [70, tr.40-41] Sự khác biệt ấy của Người đã thể hiện tư duy độc lập, tính tự chủ cao so với các thế hệ trước đó

Ngày 05 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành trong công việc là người phụ bếp chính thức lên đường sang Pháp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville với hai bàn tay trắng và khát vọng cháy bỏng “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [108, tr.52]

Trong hành trình, Người đặt chân tới nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và đã tận mắt chứng kiến cuộc sống cực khổ, bị chà đạp của nhân dân lao động, còn bọn thực dân thì ở đâu cũng gian ác như nhau Người viết “Đến Đaca, bể nổi sóng dữ Tàu không thể vào bờ Cũng không thể thả canô xuống vì sóng rất to Để liên lạc với tàu, bọn Pháp trên

bờ bắt những người da đen phải bơi ra chiếc tàu Một, hai, ba, bốn người

da đen nhảy xuống nước Người này đến người kia, họ bị sóng biển cuốn đi… Đối với bọn thực dân tính mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không đáng một xu” [108, tr.23] Với những gì tận mắt chứng kiến – sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân và cuộc sống cơ cực, bị áp bức của những người lao động Người đi đến kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai loại người: loại người bóc lột và người bị bóc lột” [76, tr.266], ở đâu nhân dân cũng mong muốn thoát khỏi ách áp bức, bóc lột; đều có khát vọng được giải phóng

Theo hành trình của tàu, ngày 06 tháng 7 năm 1911, Nguyễn Tất

Trang 34

Thành đặt chân lên bến cảng Marseilles của nước Pháp, sau khi đã ghé nhiều cảng trước đó Những ngày đầu tiên trên đất Pháp, Người chứng kiến ở Pháp cũng có những người nghèo như Việt Nam

Năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo chuyến tàu sang Mỹ Tại đây, Người có dịp tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ năm

1776 với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử

Ở Mỹ hơn một năm, Nguyễn Tất Thành vừa làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ và cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc của những người da đen Người thấy rằng, nước

Mỹ giàu sang và lộng lẫy nhưng cũng đầy ắp sự bất công của tệ phân biệt chủng tộc Bên cạnh cuộc sống xa hoa của bọn tư bản là cuộc sống bần hàn,

cơ cực của người lao động Bên cạnh những tòa nhà chọc trời, xe hơi bóng lộn, các công ty tài chính, công nghiệp, vô số hộp đêm, tiệm nhảy,… còn có khu lao động Harlem của những người da đen thất nghiệp và đói rét, đó là minh chứng nói lên cái “thực chất” của những Mỹ từ tự do, bình đẳng, bác

ái Theo Người, tự do, bình đẳng, bác ái chỉ là những châm ngôn lí tưởng

“trang điểm” cho cái bề ngoài vốn dĩ đã mục nát của chủ nghĩa tư bản thực dân mà thôi Bình đẳng gì mà “cùng làm một việc trong cùng một xưởng, người thợ da trắng vẫn được trả lương hậu hơn nhiều so với bạn đồng nghiệp khác màu da” [76, tr.75], bình đẳng gì mà “Người sĩ quan bản xứ phải chào

và tuân lệnh sĩ quan da trắng [76, tr.76] Đấy là cái sự thật trần trụi: Người da màu luôn chỉ là kẻ tanh hôi, bẩn thỉu trong mắt người da trắng

Cuối năm 1913, Người từ Mỹ sang Anh – một nước tư bản có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới, nơi được mệnh danh “mặt trời không bao giờ lặn” Tại đây, Người tham gia Đảng Xã hội Anh – một đảng cánh tả, tuyên

bố đi theo con đường xã hội chủ nghĩa Từ đây, người thanh niên Nguyễn Tất Thành gia nhập vào hàng ngũ giai cấp vô sản - ít nhất về mặt tư tưởng

Trang 35

cũng “khai quang điểm nhãn” cho một nhân sinh quan mới, nhân sinh quan của giai cấp công nhân hiện đại

Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp Năm 1919, Người tham gia Đảng Xã hội Pháp, Đảng của giai cấp công nhân thuộc Quốc tế III lúc bấy giờ Tại đây, Nguyễn Tất Thành không chỉ học tập, nghiên cứu

mà còn đấu tranh không mệt mỏi cho nền độc lập của dân tộc và phong trào cách mạng thế giới Trong thời gian hoạt động tích cực trong phong trào công nhân Pháp, Nguyễn Tất Thành đã nghe tiếng vang của cuộc cách mạng tháng Mười Nga (1917) Người viết: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất, nói chung là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin” [80, tr.280] Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã ảnh hưởng tích cực đến xu hướng hoạt động của Người Do đó, khi mới đặt chân tới Mátxcơva, Người

đã bắt tay ngay vào hoạt động cách mạng Trong khoảng thời gian này, Người viết thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, viết bài cho báo L’Hunmanite, báo La Vie Ouvrie, báo Le Paria nhằm vạch trần tội ác của bọn thực dân ở Đông Dương, Trung Quốc, Ấn Độ và các thuộc địa châu Phi, luôn nhắc nhở Đảng Cộng sản các nước tư bản phải luôn chú

ý đến vấn đề thuộc địa Cùng lúc đó, Người tham gia Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân (tháng 10/1923), Quốc tế III, Đại học quốc tế V Chính những hoạt động cách mạng này đã đánh dấu sự trưởng thành trong lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh

Tháng 7 năm 1920, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đọc được Sơ thảo

lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin đăng

trên báo Nhân đạo Người nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao Tôi vui mừng đến phát khóc

Trang 36

lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo quốc tế III” [71, tr.83] Thông qua việc nghiên cứu Luận cương của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường giải phóng dân tộc cho cách mạng Việt Nam – đó là đi theo cách mạng vô sản

Đến năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Quảng Châu, Trung Quốc Ở đây, Người vừa làm nhiệm vụ của một cán bộ Quốc tế Cộng sản vừa làm nhiệm vụ của một nhà cách mạng Việt Nam Với việc xây dựng lực lượng cho cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên; mở các lớp huấn luyện chính trị, đào tạo lớp thanh niên lãnh đạo cách mạng; cho xuất bản tờ báo Thanh niên Đến tháng 5/1927, Người rời Quảng Châu để sang Liên Xô Hành động của Người không chỉ xây dựng cho lực lượng cách mạng Việt Nam mà Người còn giúp

đỡ phong trào cách mạng Trung Quốc và các nước trong khu vực với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng Nguyễn Ái Quốc đã tích cực vận động xây dựng Hội nông dân Trung Quốc, tham dự Đại hội lần thứ nhất của nông dân tỉnh Quảng Đông, sát cánh chiến đấu với giai cấp công nhân Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc và giai cấp tư sản

Với 30 năm bôn ba hải ngoại, từ khi ra đi tìm đường cứu nước đến khi

về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1911-1941), Hồ Chí Minh

đã trực tiếp quan sát, nghiên cứu và nhận ra rằng, cội nguồn mọi đau khổ của nhân loại là ở sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân đế quốc Điều này đã chứng tỏ sự trưởng thành về mặt tư tưởng của Hồ Chí Minh bởi đây

là “một thời kỳ đã cung cấp cho cách mạng Việt Nam nhiều kinh nghiệm quý báu để Nguyễn Ái Quốc nâng lên thành lý luận dắt dẫn cách mạng Việt Nam giành được chính quyền và giữ vững chính quyền” [26, tr.76], đánh

Trang 37

dấu thời kỳ hoạt động đầy sôi động, đầy khí thế hào hùng, đầy gian khổ và sáng tạo của Hồ Chí Minh cũng như là cơ sở vững chắc cho tư duy biện chứng của Người trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam và trong các mối quan hệ quốc tế

Đúng như V.I.Lênin đã nói: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [49, tr.473] Sự xuất hiện của các lãnh

tụ, của các cá nhân xuất sắc trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc – đó là một yếu tố khách quan Khi lịch sử cần đến những nhân vật xuất sắc, lịch sử

sẽ tạo ra và những người đó sẽ xuất hiện Đó là một tất yếu lịch sử Chúng ta thừa nhận rằng, vào thế kỷ XX đã có hàng ngàn người Việt Nam sang Pháp

và cũng có nhiều người Việt Nam tham gia vào Đảng Xã hội Pháp, thế nhưng trong số đó, người đầu tiên và duy nhất “Hồ Chí Minh là trở thành người cộng sản Đây cũng là một người dân xứ thuộc địa tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp” [44, tr.32] Cũng như thế, giữa thực tiễn phong phú

và sinh động, giữa rất nhiều học thuyết, tư tưởng, quan điểm chính trị khác nhau, giữa vô vàn khó khăn và phức tạp mà Hồ Chí Minh đã tìm đến được với một học thuyết “chân chính nhất, chắc phát nhất” [77, tr.268], đó là chủ nghĩa Lênin Quyết định này chính là nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh

Như vậy, với tư chất thông minh, tài năng kiệt xuất, phương pháp tư duy độc lập và vốn kiến thức phong phú lại được thâm nhập thực tiễn đấu tranh cách mạng của Việt Nam và nhân dân thế giới, nên Hồ Chí Minh đã xây dựng cho mình phương pháp biện chứng duy vật sống động và vô cùng cần thiết cho cách mạng Việt Nam

Trang 38

1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh

Để phục vụ sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh đã học tập lý luận, nghiên cứu lý luận, đem lý luận áp dụng vào thực tiễn Vì vậy không thể thiếu được cơ sở lý luận của việc hình thành những quan điểm biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng biện chứng của dân tộc,

tư tưởng biện chứng phương Đông và phương Tây, mà chủ yếu là biện chứng duy vật mácxít

Những yếu tố biện chứng trong truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước

Truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái cố kết dân tộc đã được hun đúc từ hàng ngàn năm của ông cha qua các cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất, sáng tạo, thông minh,

tự lực tự cường, trong chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập của dân tộc và bảo tồn nền văn hiến đất nước Trong đó, một số tư tưởng biện chứng đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh

Một là, tư tưởng đoàn kết, gắn bó cộng đồng

Trong quá trình chống giặc ngoại xâm, các thế hệ trước đã để lại bài học kinh nghiệm về vai trò của dân, “chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”,

“dân như nước”, “dân là gốc của nước, gốc vững thì nước yên”, “Nước” và

“Dân” thống nhất biện chứng với nhau, Dân – Nước, Nước – Dân là không thể tách rời Không có lòng yêu nước trừu tượng, nói yêu nước thì phải nói đến bản lĩnh vượt qua được quyền lợi ích kỷ của bản thân, của gia đình, dám

xả thân vì cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho hạnh phúc nhân dân, trong đó có gia đình mình và chính bản thân mình Truyền thống yêu thương, đùm bọc, “lá lành đùm lá rách”, “nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” dẫn đến tư tưởng đoàn kết: đồng lòng, đồng sức, đồng tâm Đoàn kết là tư tưởng lớn của dân tộc và

Trang 39

cũng là quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh Một đất nước có nhiều dân tộc, nhiều giai cấp, nhiều tôn giáo, tất nhiên có khác biệt, có đối lập dẫn đến đấu tranh nhưng đấu tranh và đoàn kết là thống nhất biện chứng với nhau Đoàn kết trong đấu tranh và đấu tranh trong thống nhất, đấu tranh trong nội bộ nhân dân khác với đấu tranh chống kẻ thù xâm lược

Hồ Chí Minh khẳng định “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó

là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh

mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước ” [81, tr.171] đó là sự kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, đồng thời Người nhấn mạnh phải phát huy truyền thống ấy trong giai đoạn cách mạng mới “phải giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến” [81, tr.172] Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư duy biện chứng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Hai là, tư tưởng kết hợp dựng nước và giữ nước

Đất nước ta từ khi dựng nước đã phải luôn đối đầu với các thế lực xâm lăng Trong quá trình ấy, đã hình thành biện chứng thống nhất giữa dựng nước và giữ nước, Hồ Chí Minh nhắc nhớ: “Chúng ta có quyền tự hào

vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo,

Lê Lợi, Quang Trung, Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng” [81, tr.171-172]

và Người nói “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” [116, tr 472] Dựng nước và giữ nước phải đi đôi với nhau, gắn kết với nhau và đã được Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển

Trang 40

Tiếp nối tư tưởng đó, trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ dựng nước và giữ nước luôn song hành với nhau, chẳng hạn trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Người chủ trương thực hiện đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chặn đánh làm chậm tốc độ tiến công của kẻ thù ở phía Nam, vừa xây dựng tiềm lực, chuẩn bị hậu phương kháng chiến và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở phía Bắc đất nước, Mục tiêu chiến lược của cách mạng lúc này là phải diệt cho được cả ba loại giặc là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, hướng đến xây dựng xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Vận dụng thành công bài học kết hợp dựng và giữ nước trong lịch sử, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, tinh thần tự lực tự cường đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của quốc

tế đã đánh thắng thực dân xâm lược, giải phóng Tổ quốc

Ba là, tư tưởng kết hợp giữa kiên định mục tiêu của cuộc kháng chiến với linh hoạt trong việc vận dụng các hình thức và phương pháp tiến hành chiến tranh giữ nước

Trong lịch sử dân tộc, các cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của các anh hùng dân tộc, đã để lại cho hậu thế nhiều tư tưởng quân sự mang tính biện chứng sâu sắc: biện chứng lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh, “lấy trí nhân thay cường bạo”, giặc tiến ta lui, giặc dừng ta đánh; giặc cuồng bạo như lửa, ta mềm dẻo như nước; lạt mềm buộc chặt, , Nghiên cứu sâu sắc các tư tưởng đó, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển thành các quan điểm: “Thiên biến vạn hóa”, tức khẳng định đặc tính của hiện thực là không ngừng vận động, biến đổi và yêu cầu khi nhận thức, cũng như hoạt động thực tiễn của con người phải không ngừng biến đổi, uyển chuyển, linh hoạt; “tùy cơ ứng biến”, nghĩa là chúng ta phải xuất phát từ việc nghiên cứu và nhận định đúng về bản chất,

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1963), Biện chứng của tự nhiên, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của" tự "nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1963
2. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
3. Báo nhân dân (2013), Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam (trích các bài viết, bài nói chuyện của Bác Hồ đăng trên báo Nhân Dân), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam (trích các bài viết, bài nói chuyện của Bác Hồ đăng trên báo Nhân Dân)
Tác giả: Báo nhân dân
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
4. Hoàng Chí Bảo (2011), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Lý luận chính trị
Năm: 2011
5. Nguyễn Khánh Bật (chủ biên – 2010), Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
6. Trường Chinh (1991), Chủ Tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ Tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Thông tin lý luận
Năm: 1991
7. Trường Chinh (1959), Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1959
8. Trường Chinh, Lê Duẩn (1998), Tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Trường Chinh, Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1998
9. Doãn Chính (2012), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Đông
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật Hà Nội
Năm: 2012
10. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991)
Tác giả: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
11. Phan Thanh Diễn (2005), Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Phan Thanh Diễn
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
12. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
13. Lê Duẩn (1981), Mấy vấn đề cơ bản trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cơ bản trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1981
14. Văn Tiến Dũng (1990), Đi theo con đường của Bác, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi theo con đường của Bác
Tác giả: Văn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1990
15. Thành Duy (1998), cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1998
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghệ thuật lãnh đạo cách mạng, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật lãnh đạo cách mạng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2012
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp, tập 1
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu lần IX, Nxb. Sự thật – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu lần IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật – Hà Nội
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w