1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng bộ công an thành phố hồ chí minh lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 2011

144 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong công tác đảm bảo ANTT đối với sự tồn tại và phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm lãnh đạo lực lượng CAN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LẠI THỊ HƯƠNG

ĐẢNG BỘ CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Lại Thị Hương

Trang 3

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

CAND: Công an nhân dân

ANTT: An ninh, trật tự

ANQG: An ninh quốc gia

TTATXH: Trật tự an toàn xã hội

TTATGT: Trật tự, an toàn giao thông

ANTQ: An ninh Tổ Quốc

UBND: Ủy ban nhân dân

XDLL: Xây dựng lực lượng

PCCC: Phòng cháy, chữa cháy

CBCS: Cán bộ, chiến sĩ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục đề tài 5

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và tình hình, đặc điểm liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh về công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 – 2011 6

1.1.Cơ sở lý luận về công tác đảm bảo trật tự an, toàn xã hội 6

1.2 Tình hình, đặc điểm liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011 19

Chương 2: Qúa trình lãnh đạo của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh trong công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội giai đoạn 2000 – 2011 25

2.1 Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 - 2005 25

2.2 Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội giai đoạn 2006 - 2011 52

Chương 3: Nhận xét chung và một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011 86

3.1 Nhận xét chung về sự lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011 86

3.2 Một số bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011 108

KẾT LUẬN 116

Danh mục tài liệu tham khảo 121

Phụ lục 132

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định

“xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam” Giữ gìn TTATXH, bảo vệ vững chắc những thành quả của cách mạng, phục vục đắc lực cho công cuộc đổi mới là một nhiệm vụ trọng yếu trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Đảm bảo TTATXH có vai trò to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương cũng như trên phạm vi cả nước Đây cũng là vấn đề có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng, liên quan đến sự tồn vong, an nguy, thịnh vượng của một quốc gia Nhận thức rõ được tầm quan trọng trong công tác đảm bảo ANTT đối với sự tồn tại

và phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm lãnh đạo lực lượng CAND nhằm thực hiện tốt công tác giữ gìn ANTT, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Xuất phát từ quan điểm, đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cũng như căn cứ vào tình hình thực tiễn về ANTT trên địa bàn TP HCM, trong những năm qua, Đảng bộ Công an TP HCM luôn quan tâm, chỉ đạo sâu sát các đơn vị trực tiếp chiến đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ, giữ gìn TTATXH, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của thành phố nói riêng, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, năng động, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của cả nước Trong những năm qua, cùng với cả nước, TP HCM đã đạt được thành tựu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên tất cả các lĩnh vực Về kinh tế, TP HCM chiếm 21,3 % tổng sản phẩm và 29,38 % tổng thu ngân sách của cả nước [74] Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, TP HCM đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất so với sự phát triển chung của đất nước

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, TP HCM đang phải đối mặt với những vấn đề lớn của một thành phố trẻ, sôi động như dân số tăng quá nhanh, vấn đề ô nhiễm môi

Trang 6

trường, ùn tắc giao thông, tệ nạn xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ Vì vậy, công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố trong thời kỳ mới

Nhận thức sâu sắc công tác đảm bảo TTATXH trên địa bàn TP HCM có ý nghĩa then chốt, trong những năm qua Đảng bộ Công an TP HCM đã lãnh đạo các mặt công tác đảm bảo TTATXH với nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đảm bảo sự ổn định về TTATXH của thành phố và bước đầu gặt hái được nhiều thành quả, được Chính Phủ, Bộ Công an, UBND TP HCM đánh giá cao Việc nghiên cứu các chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an TP HCM nhằm bảo đảm TTATXH giai đoạn này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, vì đây là giai đoạn chuyển tiếp kết thúc năm cuối thế kỷ XX, bước sang 10 năm xây dựng và bảo vệ thành phố trong thế kỷ XXI, giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP HCM khóa VII, VIII, IX và thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an TP HCM khóa VIII, IX, X Tổng kết, đánh giá việc thực hiện công tác đảm bảo TTATXH trong giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM là góp phần tổng kết thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an TP HCM phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Với góc độ là người nghiên cứu khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tôi chọn

đề tài “Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự,

an toàn xã hội giai đoạn 2000 – 2011” để làm luận văn thạc sỹ, nhằm nghiên cứu sự lãnh

đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảo TTATXH, rút ra được những nhận định, đánh giá về công tác giữ gìn TTATXH trên địa bàn thành phố Kết quả nghiên cứu này vừa rèn luyện, nâng cao trình độ lý luận, kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân, đồng thời góp phần xây dựng lịch sử truyền thống Công an TP HCM

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Về lịch sử nghiên cứu trên lĩnh vực bảo vệ ANTT của lực lượng Công an TP HCM

đã có một số công trình như:

- Công an thành phố Hồ Chí Minh (2005), Biên niên sự kiện lịch sử 1986 – 2000,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 7

- Nguyễn Thị Thớn (2005), Lực lượng Công an thành phố Hồ Chí Minh trong công

cuộc xây dựng và bảo vệ thành phố (1975 - 1985), Luận văn thạc sĩ sử học, Trường Đại

học KHXH & NV thành phố Hồ Chí Minh

- Đinh Huy Liêm (2004) “Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác an

ninh trật tự ở thành phố Hồ Chí Minh”, đề tài cấp Bộ, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

- Trịnh Chí Hồ (2006), Hoạt động bảo vệ an ninh trật tự của Công an Thủ Đức

thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới (thời kỳ 1986 – 2000), Luận văn thạc sĩ

sử học, Trường Đại học KHXH & NV TP Hồ Chí Minh

- Lê Anh Tuấn (2009), “Tội phạm hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh - Nguyên nhân

, điều kiện và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh”, đề tài khoa học cấp bộ

- Đinh Huy Liêm (2009) “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của

công an phường, xã, thị trấn ở thành phố Hồ Chí Minh”, đề tài cấp Bộ, Trường Đại học

Cảnh sát nhân dân

- Nguyễn Thị Bích Hiển (2003), Đấu tranh chống tội phạm hình sự do người nước

ngoài thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của lực lượng CSND-Công an thành phố Hồ Chí Minh, đề tài cấp cơ sở

- Nguyễn Mạnh An (2006), Điều tra các vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra ở các

tỉnh, thành phố phía Nam, đề tài cấp Bộ

- Trần Đức Trung (2006), Tội phạm chống người thi hành công vụ đối với cán bộ

chiến sỹ CAND trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đề tài cấp cơ sở

- Đoàn Văn Chón (2007), Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phòng chống tội phạm

nhằm đảm bảo TTATXH ở thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính

công, Học viện Hành chính Quốc gia, 2007

- Trần Quang Thông (2003), Đặc điểm tội phạm cướp tài sản hoạt động trên địa bàn

thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông Nam bộ - Giải pháp phòng chống, đề tài

khoa học cấp Bộ TC-2000-T32B-088, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

- Thạc sỹ Trương Văn Thuận (2005), Ma túy trong thanh thiếu niên tại thành phố Hồ

Chí Minh – Thực trạng, giải pháp phòng chống, đề tài khoa học cấp Bộ

BC-2001-008-008

Trang 8

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã thể hiện được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác bảo vệ ANTT trên phạm vi cả nước Một số công trình đã đề cập tới công tác giữ gìn ANTT trên địa bàn TP HCM nhưng chưa đi sâu vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác giữ gìn TTATXH từ năm 2000 đến năm 2011 Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát và đầy đủ về sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảoTTATXH giai đoạn từ năm 2000 đến 2011 Chính vì vậy, đề tài muốn đi sâu, làm rõ

về sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác bảo đảm TTATXH trên địa bàn thành phố giai đoạn 2000 – 2011

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở phân tích sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảo TTATXH giai đoạn 2000 – 2011, đề tài sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá và một số bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công tác đảm bảo TTATXH của Đảng bộ Công an TP HCM giai đoạn 2000 – 2011, góp phần cho sự lãnh đạo, chỉ đạo về công tác đảm bảo TTATXH của Đảng bộ Công an TP HCM tốt hơn ở những giai đoạn sau

Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhấ t: Trình bày một số vấn đề về lý luận và tình hình đặc điểm liên quan đến sự

lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảo TTATXH giai đoạn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM về công tác đảm bảo TTATXH giai đoạn 2000 – 2011 Đảng bộ Công an TP HCM bao gồm

Trang 9

Ban Chấp hành Đảng bộ Công an TP HCM, các cấp ủy Đảng, chi bộ Đảng cơ sở trực thuộc Đảng bộ Công an TP HCM

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảo TTATXH giai đoạn 2000 – 2011, qua đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và những bài học kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Công an TP HCM Để TTATXH được đảm bảo, trước hết công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được thực hiện tốt, đồng thời phải XDLL Công an TP HCM ngày càng chính quy, tinh nhuệ, có đủ bản lĩnh chính trị và năng lực công tác, bên cạnh đó

cơ sở vật chất, phương tiện, kỹ thuật phục vụ cho công tác và chiến đấu phải được đảm bảo, đáp ứng được nhu cầu công tác thường xuyên và đột xuất của Công an TP HCM Do

đó, đề tài đi vào nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM đối với các mặt công tác nghiệp vụ TTATXH, công tác XDLL và công tác hậu cần, kỹ thuật từ năm 2000 – 2011

5 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, các Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Công an về công tác đảm bảo ANTT

Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp Logic

Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an TP HCM trong công tác đảm bảo trật

tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 – 2011

Chương 3: Nhận xét chung và một số bài học kinh nghiệm rút ra từ quá trình lãnh đạo công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội của Đảng bộ Công an TP HCM giai đoạn

2000 – 2011

Trang 10

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC

ĐẢM BẢO TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2000 – 2011

1.1 Cơ sở lý luận về công tác đảm bảo trật tự an toàn, xã hội

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội

- Thuật ngữ trật tự, an toàn xã hội

Thuật ngữ TTATXH được sử dụng chính thức trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV và trong Hiến pháp năm 1992 Khái niệm TTATXH được Từ điển bách khoa CAND đề cập một cách cụ thể như sau: “TTATXH là trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định” [12, tr.1182 – 1183]

TTATXH bao gồm nhiều nội dung tạo nên một trạng thái xã hội bình yên, có trật tự,

có kỷ cương, bao gồm: An ninh xã hội được đảm bảo, công tác phòng chống tội phạm đạt hiệu quả cao, hạn chế tới mức thấp nhất tội phạm hình sự; trật tự an toàn giao thông, hoạt động giao thông được thông suốt, an toàn, trật tự và tai nạn giao thông được hạn chế tới mức thấp nhất; trật tự công cộng; phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn

ma túy, mại dâm, mê tín, dị đoan; Bảo vệ môi trường

- Giữ gìn trật tự an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh

chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về TTATXH” (khoản 2, Điều 3 Luật CAND) Đấu tranh giữ gìn TTATXH bao gồm: Chống tội phạm; giữ gìn trật tự nơi cộng cộng; bảo đảm trật tự an toàn giao thông; phòng ngừa tai nạn; bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường [12, tr 1183]

Đảm bảo TTATXH là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó lực lượng CAND giữ vai trò nòng cốt và có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, đảm bảo trật tự an toàn giao thông, tham gia phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường

- Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ Luật Hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm

Trang 11

độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật

tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Tội phạm được quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 [12, tr 1153]

- Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều

chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông, vận tải công cộng mà mọi người tham gia giao thông phải tuân theo, nhờ đó đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông gây thiệt hại về người và tài sản Trật tự an toàn giao thông là một mặt của TTATXH [12, tr 1182]

- Trật tự công cộng là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi

các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi cộng cộng mà mọi người phải tuân theo Trật tự công cộng là một mặt của TTATXH và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người Chương XIX Bộ luật Hình sự quy định các tội xâm phạm trật tự công cộng [12, tr 1183]

- Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội có tính phổ biến, lan truyền, biểu hiện bằng

những hành vi lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống cộng đồng Tệ nạn xã hội bao gồm: mại dâm, nghiện ma túy, cờ bạc, mê tín

dị đoan…Tệ nạn xã hội là cơ sở của tìng trạng phạm tội, là một trong những nguồn gốc phát sinh tội phạm Phòng chống tệ nạn xã hội là nhiệm vụ của toàn xã hội, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục bằng những biện pháp đồng bộ, thích hợp, triệt để [12, tr

1063 - 1064]

- Bảo vệ môi trường là tập hợp những biện pháp giữ cho môi trường trong sạch, sử

dụng hoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu…), bảo đảm sự cân bằng sinh thái…nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người…Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy

Trang 12

định các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, doanh nghiệp, tổ chức, các đơn vị vũ trang và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ, cải tạo môi trường sống [12, tr 71 - 72]

1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về những vấn đề liên quan đến công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội

1.1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảm bảo trật tự, an toàn xã hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ANTT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người, bao gồm những quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản để xây dựng và bảo vệ nền ANTT của đất nước, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về tổ chức và sử dụng lực lượng cách mạng của nhà nước vô sản vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát tuy những giá trị truyền thống trong đấu tranh dựng nước, giữ nước của dân tộc và tiếp thu những kinh nghiệm quý báu về đấu tranh bảo vệ ANTT của nhân dân tiến bộ trên thế giới

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đảm bảo TTATXH được thể hiện chủ yếu trên một số phương diện sau:

- Thứ nhất: Về phương thức, biện pháp tổ chức xây dựng nền an ninh, trật tự

Thấy được vai trò của công tác giữ gìn ANTT với việc giữ vững thành quả của cuộc cách mạng nên ngay khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, cùng với việc thiết lập chính quyền cách mạng, Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức thành lập Ngành Công an nhân dân ngày 19 tháng 8 năm 1945 Vừa mới ra đời, nhà nước non trẻ đã phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn thách thức tưởng chừng khó có thể vượt qua, đặc biệt là thù trong, giặc ngoài đang đe dọa trực tiếp tới sự sống còn của chế độ Trong khi các thế lực đế quốc, thực dân, phản động đang tìm mọi cách để tiêu diệt chính quyền cách mạng thì lực lượng chuyên trách bảo vệ chính quyền lại rất non trẻ, trong điều kiện đó, luận điểm “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” được Chủ tịch

Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh và đòi hỏi vận dụng phát huy triệt để trên lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị và TTATXH Trong chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ban hành ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã khẳng định nhiệm vụ cơ bản của cách

Trang 13

mạng Việt Nam là “củng cố chính quyền nhân dân…bài trừ nội phản,…” Chỉ thị cũng phản ánh rõ một vấn đề cơ bản là phải dựa vào nhân dân, phát huy sức mạnh của toàn dân

để giữ vững ANTT, gắn nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ với chống thù trong, giặc ngoài Khẳng định vai trò quyết định của quần chúng trong công tác đảm bảo ANTT, Hồ Chủ tịch đã nói: “Phải biết dựa vào dân, không được xa rời dân, nếu không thế sẽ thất bại Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn” [75, tr 299]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức, biện pháp xây dựng nền ANTT luôn nhất quán với nguyên tắc hết sức quan trọng để tổ chức thực hiện quyền lực xã hội dưới chế độ

ta, là Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm Chủ Người chỉ rõ: “Công tác Công an phải gắn chặt với đường lối, chính sách của Đảng, nếu thoát ly đường lối chính trị của Đảng thì khéo mấy cũng không có kết quả” [75 tr 177]

Về phương pháp tổ chức nền ANTT, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ cho chúng ta phương pháp đúng đắn nhất là phải bắt đầu từ quần chúng và trở lại nơi quần chúng Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, phương pháp tổ chức nền ANTT của Người được vận dụng sinh động trong các công cuộc kháng chiến như phong trào “3 không”, “Ngũ gia liên bảo”, phong trào “3 xây, 3 chống” Những cách thức, biện pháp đó đòi hỏi phải gắn

bó với nhân dân, sâu sát với quần chúng, phải được dân yêu, dân mến, “phải thực sự dân chủ với nhân dân, phải đi đúng đường lối quần chúng thì nhân dân mới tin yêu, giúp công

an và công an mới thành công được” [76, tr 231 - 232] Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh vai trò của công tác tổ chức cán bộ Theo Người, công tác tổ chức không phải để dựng lên bộ máy quan liêu, mà thông qua những bộ máy, những tổ chức quần chúng để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn ANTT Bác coi công tác cán bộ là cái gốc của mọi vấn đề và để giải quyết mọi công việc Người nói: Dùng người như dùng gỗ, người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy gỗ mà dùng được [131]

- Thứ hai: Về vấn đề xác định các lực lượng cơ bản trên mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Người thấy rõ vai trò to lớn, quyết định của

Trang 14

quần chúng nhân dân đối với nền ANTT Người cho rằng bảo vệ ANTT là trách nhiệm của toàn dân nhưng phải phân định rõ đâu là chỗ dựa chính và ai có thể là lực lượng cơ bản trong nền ANTT “cố nhiên dân chúng không nhất loạt như nhau Trong dân chúng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau Có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu” [76, tr 519] Điều đó nhắc nhở chúng ta cần có cách tiếp cận hợp lý đối với các tầng lớp cư dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, phải thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, truyền thống, tình cảm cũng như thái độ khác nhau của họ đối với các vấn

đề về ANTT Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai mặt rất căn bản trong giữ gìn ANTT là vừa phải giữ vững nguyên tắc, đồng thời phải khoan hồng và độ lượng, Bác dặn: “Năm ngón tay có ngón ngắn, ngón dài nhưng tất cả đều hợp lại nơi bàn tay Trong hàng triệu con người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ, ta phải nhận rằng ta là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng

có ít hay nhiều lòng ái quốc Đối với đồng bào lạc lối lầm đường ta phải lấy tình thân ái cảm hóa họ” [76, tr 519]

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định lực lượng nòng cốt trong nền ANTT là CAND và Quân đội nhân dân, phải xây dựng và củng cố hai lực lượng này ngày càng chính quy, tinh nhuệ để đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ ANTT Người chỉ rõ: “Giữ gìn trật

tự an ninh trước hết là việc của công an, bộ đội, cảnh sát” [44, tr.1369] Đồng thời, Người cũng phân định rõ nhiệm vụ cụ thể của mỗi lực lượng: “Nhân dân ta có hai lực lượng Một

là Quân đội để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống địch phá hoạt [44, tr.139]

- Thứ ba: Về xác định kẻ thù và chiến lược, sách lược đấu tranh bảo vệ an ninh, trật tự

Vấn đề phân biệt bạn và thù là một điểm nổi bật trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực tiễn cách mạng Việt Nam trong thời điểm ngàn cân treo sợi tóc đã chứng minh cho điều này Trong cuộc đấu tranh bảo vệ ANTT, phải xác định đúng đối tượng để đấu tranh, phải biết phân hóa sâu sắc kẻ thù, biết tập hợp lực lượng cách mạng, lôi kéo được những lực lượng đang chao đảo ngả nghiêng mà kẻ thù có thể lợi dụng không chỉ trên phương diện quan hệ đối ngoại mà còn trên cả các vấn đề đối nội cực kỳ quan trọng

Trang 15

Bác nói: chuyên chính với những kẻ chống lại dân chủ nhân dân Trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhất là giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến tháng 12 năm 1946, Đảng và Nhà nước ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng hiệu quả luận điểm này để xác định kẻ thù chiến lược cần tập trung mũi nhọn đấu tranh, vừa đề ra sách lược đấu tranh phù hợp với từng loại kẻ thù, tránh cùng một lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, vừa có tác dụng tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân để đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng Trong thời

kỳ hiện nay, chủ nghĩa đến quốc và bọn phản động quốc tế đang thực hiện diễn biến hòa bình để phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản dưới nhiều chiêu bài, phương thức thủ đoạn khác nhau Vì vậy,

để giữ vững ANQG, TTATXH buộc chúng ta phải thấm nhuần quan điểm này, phải phân biệt đâu là kẻ thù chính để xây dựng đối sách, tập trung lực lượng đấu tranh, trấn áp làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của bọn chúng Phải biết vận dụng quần chúng, lãnh đạo quần chúng trong đấu tranh với các thế lực thù địch, nhất là với bọn phản động đội lốt tôn giáo, dân tộc Quan điểm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta định hướng trong việc chọn lựa những phương pháp đấu tranh hợp lý trong công tác bảo vệ ANTT

Thứ tư: Về xây dựng lực lượng Công an nhân dân - lực lượng chuyên trách, nòng cốt trên mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự

Để xây dựng lực lượng CAND trở thành lực lượng chuyên trách, nòng cốt trong công tác bảo vệ ANTT, ngày 21 tháng 2 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc Lệnh số 23/SL về việc thành lập Công an vụ và quy định rõ chức năng và nhiệm vụ của lực lượng CAND Để xây dựng lực lượng CAND thực sự là công cụ sắc bén của Đảng, trong thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc công an Khu 12 ngày 11/3/1948, Bác đã chỉ ra những phẩm chất đạo đức và tư cách người CAND:

“Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính

Đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ

Đối với chính phủ phải tuyệt đối trung thành

Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép

Trang 16

Đối với công việc phải tận tụy

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”

Sáu điều Bác Hồ dạy CAND là tổng kết sâu sắc, là chiến lược cho việc xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại Lực lượng CAND giữ vai trò xung kích, nòng cốt trong đấu tranh bảo vệ ANTT là một quan điểm chỉ đạo nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người đề cập rất nhiều lần trong các bài viết, bài nói của Người với lực CAND

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng CAND phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động nghiệp vụ của Công an phải tuân thủ pháp luật và phục tùng yêu cầu chính trị Người dạy lực lượng CAND phải gắn bó mật thiết với nhân dân, biết tổ chức tuyên truyền, giáo dục nhân dân, biết tổ chức quần chúng nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh Tổ quốc Lực lượng CAND muốn được dân hợp tác, giúp đỡ phải làm cho dân tin, muốn vậy lực lượng CAND phải trong sạch, vững mạnh, từng chiến sĩ công an phải thực hiện “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” Nội bộ Công an phải đoàn kết, thống nhất, cấp trên phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới và cấp dưới phải phục tùng mệnh lệnh của cấp trên, mỗi cán bộ chiến sỹ công an phải thường xuyên đoàn kết, giúp đỡ nhau, ham học và say mê công tác theo chỉ dẫn của người: “Đối với đồng sự phải thân ái giúp đỡ, đối với công việc phải tận tụy”

Đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh nói gộp lại, đó

là tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách, tất cả trở thành con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử trong mọi tình huống Điều đó có nghĩa rằng, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về ANTT là nghiên cứu một hệ thống quan điểm, tư tưởng, đường lối, chính sách, phương châm, biện pháp…rất sâu sắc và sinh động được kiểm nghiệm ở thực tiễn đấu tranh cách mạng bảo vệ ANTT của Đảng và nhân dân ta Đồng thời, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi nghiên cứu về cả tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phong cách con người Hồ Chí Minh, biểu hiện trong mọi cử chỉ và hành động, lời nói và việc làm, ứng xử của người trong mọi tình huống có ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ nền ANTT của đất nước

Trang 17

1.1.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đảm bảo trật tự,

an toàn xã hội

Bảo vệ ANQG giữ gìn TTATXH là hoạt động đặc biệt quan trọng mà mọi Nhà nước đều tiến hành một cách nghiêm túc, chặt chẽ vì nó có liên hệ đến sự tồn vong của chế độ,

sự bền vững của quốc gia, sự an toàn của nền kinh tế, và sự bình ổn của toàn xã hội Gần

70 năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tổ chức chỉ đạo công tác bảo vệ ANQG

và giữ gìn TTATXH, tạo tiền đề cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác giữ gìn TTATXH được dựa trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác đảm bảo ANQG, giữ gìn TTATXH trong giai đoạn hiện nay được thể hiện chủ yếu trong các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết 09/1998/NQ-CP ngày 31tháng 7 năm 1998 của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Nghị quyết số 40/NQ-TW ngày 08 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Công an trong tình hình mới, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân năm 2005 và thực tiễn công tác bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH ở nước ta trong thời gian qua

Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XI chỉ rõ: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững ANQG và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt”… “Quân đội nhân dân và CAND tiếp tục được củng cố, xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, thực sự là lực lượng tin cậy của Đảng Nhà nước và nhân dân; làm tốt vai trò tham mưu, chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các hoạt động chính trị, các loại tội phạm hình sự, nhất là tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, tội phạm ma túy, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, sử dụng vũ khí nóng, chống người thi hành công vụ;

Trang 18

tham gia tích cực có hiệu quả vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống và khắc phục thiên tai [58, tr.45, 156]

Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH thể hiện ở những điểm

cơ bản sau:

Một là: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là đường nét chủ đạo xuyên suốt và nhất quán trong di sản tư tưởng lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã rút ra bài học là: Gương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội Đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam

từ khi có Đảng, là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam

Vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH được thể hiện như sau: Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cần phải cảnh giác, đập tan mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch và bọn phản động; đảm bảo sự độc lập về chính trị, kiên định đường lối đổi mới và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, không giao động, giáo điều; bảo vệ an ninh kinh tế góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, không lệ thuộc trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ tự cường, thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa, gắn kinh tế nước ta với quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa kinh tế; bảo vệ an ninh văn hóa tư tưởng chính là thực hiện mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đất nước độc lập tự chủ, nền kinh

tế ngày càng phát triển là cơ sở vững chắc và tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành công tác bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH

Hai là: Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Gắn liền nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và đối ngoại, gắn việc ổn định phát triển kinh tế xã hội với thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm nền tảng giữ vững ổn định chính trị, củng cố

an ninh, quốc phòng, lấy ổn định chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng làm điều kiện để giữ vững ổn định và phát triển kinh tế xã hội, lấy củng cố bên trong phát huy nội lực làm

Trang 19

nền tảng đi đôi với việc nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế Kết hợp kinh tế với an ninh, quốc phòng trong các chiến lược quy hoạch tổng thể cũng như kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội theo ngành, theo vùng lãnh thổ Đây là quan điểm chỉ đạo bao chùm, quan trọng trong công tác bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH, quan điểm này quy định các mối quan

hệ trong quá trình thực hiện nhiện vụ bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH

Thực tiễn đã chứng minh là sự ổn định và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội làm nền tảng vững chắc của an ninh, trật tự và ngược lại, an ninh, trật tự vững chắc đất nước mới có điều kiện để ổn định phát triển về mọi mặt Vì vậy, Đảng ta chỉ rõ: “Kết hợp kinh

tế - xã hội với quốc phòng, an ninh theo phương châm phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng để bảo vệ Tổ quốc; ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh vững mạnh là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện tốt đường lối ngoại giao, tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ mọi cơ hội củng cố hòa bình, ổn định để đẩy mạnh phát triển kinh tế -

xã hội và giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là vùng biển, đảo Sự kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh phải được thực hiện ngay trên từng địa bàn lãnh thổ, từ công tác quy hoạch, xây dựng kế hoạch và hình thành các dự án đầu tư phát triển Xây dựng tỉnh, huyện thành khu vực phòng thủ vững chắc” [58, tr 227-228]

Ba là: Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với mở rộng quan hệ đối ngoại Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ đối ngoại với nhiệm vụ an ninh, quốc phòng

Kết hợp an ninh, quân sự với ngoại giao cả thời bình cũng như thời chiến là truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, khi mà những lợi ích của các quốc gia, khu vực đan xen vào nhau, tác động và phụ thuộc lẫn nhau thì hơn bao giờ hết hoạt động ngoại giao càng phải được đẩy mạnh để tranh thủ được những lợi thế và hạn chế được đến mức thấp nhất các nguy cơ, thách thức, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại hội VI của Đảng mở ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế và những đại hội sau cũng đều khẳng định đường lối đó Hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh góp phần giữ vững môi trường hòa bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, giải quyết được một số vấn đề về lãnh thổ, vùng

Trang 20

chồng lấn trên biển với một số quốc gia, chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn thế giới; tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế và khu vực tại Việt Nam Trong tình hình

và điều kiện mới, nhiệm vụ đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong những năm qua là: Giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm độc lập và chủ quyền quốc gia; góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Đảng và Nhà nước ta yêu cầu việc mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế phải đảm bảo nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không cho phép bất cứ sự can thiệp nào vào công việc nội bộ của nước ta; không để các đối tượng thù địch lợi dụng việc mở rộng quan hệ đối ngoại để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” Mặt khác không vì yêu cầu, nhiệm vụ đảm bảo an ninh, quốc phòng mà hạn chế quan

hệ đối ngoại, bỏ lỡ thời cơ hội nhập quốc tế để tranh thủ nguồn vốn, công nghệ, kinh nghiệm tiên tiến phục vụ các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước

Bốn là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại trong bảo

vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH Kết hợp chặt chẽ giữa thế trận an ninh nhân dân với thế trận quốc phòng toàn dân

Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là quan điểm cơ bản được quán triệt trong toàn bộ các văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI của Đảng Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo

vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự,

an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch…” [58, tr 233]

Nghị quyết 40-NQ/TW ngày 8 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác Công an trong tình hình mới đã chỉ rõ: “Trong những năm

Trang 21

qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn dân, sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và xây dựng lực lượng Công an nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng Đã củng cố và tăng cường thêm một bước thế trận an ninh nhân dân kết hợp với thế trận quốc phòng toàn dân ở các địa bàn trọng điểm; bảo đảm an ninh, trật tự trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội; ngăn chặn, dập tắt các vụ gây rối, gây bạo loạn chính trị, không để bên ngoài lấy cớ can thiệp; phát hiện và làm thất bại nhiều âm mưu và hoạt động phá hoại của bọn gián điệp và phản động lưu vong từ bên ngoài xâm nhập nội địa ta; đấu tranh ngăn chặn âm mưu và hoạt động của bọn phản động và số đối tượng cơ hội chính trị không để hình thành tổ chức dưới mọi hình thức Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm được triển khai đồng bộ, có tác dụng phòng ngừa và ngăn chặn sự gia tăng tội phạm”

Suốt thời gian qua, Đảng luôn nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Đây là một bài học kinh nghiệm lịch sử mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đảng đã đặt cách mạng Việt Nam trong xu thế chung của thời đại, kết hợp lợi ích dân tộc với lợi ích chung của nhân dân các nước; chăm lo giáo dục chủ nghĩa yêu nước chân chính, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đồng thời tiến hành đoàn kết, hợp tác quốc tế trên

cơ sở đường lối độc lập tự chủ, nâng cao ý chí tự lực, tự cường

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị thì phải đặt sự nghiệp bảo

vệ ANQG, giữ gìn TTATXH dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cấp ủy Đảng phải đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH và xây dựng lực lượng CAND Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phối hợp với lực lượng CAND trong công tác bảo

vệ ANQG, giữ gìn TTATXH Phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, các loại tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH Kết hợp chặt chẽ thế

Trang 22

trận an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân để tạo ra sức mạnh to lớn của xã hội trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH

Năm là: Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH, đấu tranh chống diễn biến hòa bình là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành; đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và sự quản

lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân có vai trò đặc biệt quan trọng

Bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, của toàn quân

và toàn dân Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn có chính sách để động viên nhân dân tích cực tham gia vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH

Từ khi Việt Nam tiến hành mở cửa thực hiện hợp tác quốc tế, bên cạnh những thời

cơ thuận lợi ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đảm bảo ANTT Hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đang thực hiện “diễn biến hòa bình” với nhiều phương thức, thủ đoạn, phá hoại ta trên tất cả các lĩnh vực nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa

bỏ chế chủ nghĩa xã hội ở nước ta, làm cho Việt Nam chuyển hóa theo chế độ tư bản chủ nghĩa và từng bước lệ thuộc vào chúng Chính vì vậy, để bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, chống diễn biến hòa bình cần phải xác định rõ đây là nhiệm vụ trong yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp ban ngành từ trung ương đến địa phương và công tác bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng thì mới có thể giành được thắng lợi Phải nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước về đảm bảo ANQG, giữ gìn TTATXH trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước trong đó cần xây dựng lực lượng Công an nhân dân nhân dân chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại để thực hiện vai trò nòng cốt, xung kích trong công tác này

Trang 23

1.2 Tình hình, đặc điểm liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 – 2011

1.2.1 Đặc điểm vị trí địa lý

Thành phố Hồ Chí Minh có 24 quận, huyện với tổng diện tích là 2.095.239 km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang Trên địa bàn thành phố có nhiều tuyến giao thông quan trọng như:

Quốc lộ 1A (nối các tỉnh miền Bắc, miền Trung với các tỉnh thành phía Tây Nam bộ), Quốc lộ 13 (nối các tỉnh Tây Nguyên)

Thành phố Hồ Chí Minh có tuyến đường sắt đi qua với 32 km nằm trên địa phận thành phố với 3 ga, trong đó ga Sài Gòn là đầu mối cuối cùng ở phía Nam

Tuyến đường biển, đường sông và đường thủy nội địa có 87 tuyến sông, 284 kênh, rạch, có tổng chiều dài trên 1.700 km (trong đó có 25 km bờ biển Đông trên địa phận huyện Cần Giờ), nối liền với hệ thống các sông: Đồng Nai, Vàm Cỏ Đông, Sài Gòn, Nhà

Bè, Soài Rạp, Đồng Tranh, Cần Guộc, Bến Lức – Chợ Đệm, những tuyến đường này tạo

sự thông thương của thành phố với cả nước và quốc tế

Bên cạnh đó, TP HCM còn có những đầu mối giao thông rất quan trọng như: Cảng Sài Gòn, sân bay Tây Sơn Nhất, ga xe lửa Sài Gòn, bến xe Miền Đông, bến xe Miền Tây, bến xe Tây Ninh…

Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường

xá nhỏ khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc

Có thể nói với đặc điểm địa lý và giao thông thuận lợi, TP HCM là một địa bàn lý tưởng để bọn tội phạm từ nước ngoài và các tỉnh đến ẩn náu, cấu kết với đối tượng tội phạm tại thành phố hoạt động phạm pháp hình sự, sau khi gây án, nhiều trường hợp bỏ trốn ra nước ngoài dễ dàng hoặc lẩn trốn về các tỉnh, thành phố khác để trốn tránh sự truy xét của lực lượng Công an

1.2.2 Đặc điểm dân cư

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có số lượng dân cư cao nhất

cả nước, với tổng số nhân khẩu cư trú tại thành phố tính đến hết năm 2009 là 1.475.321 hộ

Trang 24

với 7.321.755 nhân khẩu Trong đó: có hộ khẩu thường trú là: 1.213.755 hộ với 5.321.158 nhân khẩu; đăng ký tạm trú dài hạn và tạm trú ngắn hạn là: 259.396 hộ với 1.992.143 nhân khẩu Người nước ngoài: 1.431 hộ với 4.640 nhân khẩu; Học sinh, sinh viên: 112.348 nhân khẩu, 5.237 nhân khẩu tập thể, 5.058.698 nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên; với mật độ dân cư khá đông so với mật độ chung của cả nước (khoảng 2.483 người/km2) Ngoài ra thành phố còn trên 100.000 nhân khẩu thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, người nước ngoài có thân phận ngoại giao…hàng ngày có trên 500.000 nhân khẩu là người từ các tỉnh, thành phố khác, từ nước ngoài đến tạm trú vãng lai (thăm viếng, du lịch, chữa bệnh, làm

ăn buôn bán…), hiện TP HCM có 1.445 khu phố, 425 ấp, với 19.402 tổ dân phố, 5.438 tổ nhân dân, 79.662 nhóm hộ [122, tr 10]

Cùng với dân nhập cư từ các tỉnh đến thành phố để lao động và học tập thì có một số đối tượng tội phạm từ các tỉnh khác đến thành phố để lẩn trốn hoạt động phạm pháp

1.2.3 Tình hình kinh tế - xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của nước ta, đồng thời là địa phương đi đầu trong việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế Thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất và dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Các cơ sở kinh tế quốc doanh, dân doanh, các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào thành phố đã tạo được mối quan hệ kinh tế rộng rãi không chỉ với các nước trong khu vực ASEAN, mà còn trực tiếp với các trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới Thành phố Hồ Chí Minh đi đầu trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại Cùng với quá trình phát triển, tại các địa bàn giáp ranh với các địa phương khác như Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Tây Ninh trở nên sôi động hơn về hoạt động kinh tế, tăng lên về mật độ dân cư, về nhu cầu cuộc sống sinh hoạt,

do đó công tác quản lý TTATXH đặt ra những yêu cầu mới

Về thương mại, dịch vụ, TP HCM là trung tâm xuất nhập khẩu lớn nhất cả nước Kim ngạch xuất khẩu của TP HCM ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước Cơ sở vật chất ngành thương mại được tăng cường với khoảng 400 chợ bán lẻ, 101 siêu thị, 28 trung tâm thương mại, 4 chợ đầu mối [122, tr 12] Khu vực dịch vụ tăng trưởng vượt kế hoạch, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản

Trang 25

xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Hoạt động du lịch của TP HCM phát triển mạnh, lượng khách du lịch đến thành phố trong 6 tháng đầu năm 2010 đạt hàng triệu lượt người/năm Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hành lớn nhất của Việt Nam về số lượng ngân hàng cũng như doanh số quan hệ tài chính - tín dụng, doanh thu của hệ thống ngân hàng tại thành phố chiếm khoảng 1/3 tổng doanh thu toàn quốc Tốc độ tăng trưởng kinh tế của TP HCM thời kỳ 2001 - 2005 tăng bình quân 11%/năm, sang giai đoạn 2006 - 2010 tăng 11,2%/năm, bằng 1,2 lần tốc độ tăng trưởng chung của

vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và hơn 1,5 lần tốc độ tăng trưởng chung của cả nước

[130] Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, mức sống của người dân TP HCM cũng ngày càng được cải thiện và nâng cao Thu nhập bình quân/ người/ tháng trên địa TP HCM năm 2010 đạt 2.581.600/người/tháng, cao gấp 3 lần năm 2000 và cao hơn gấp 3 lần mức bình quân của cả nước [129] Mặt khác, TP HCM cũng là địa phương đi đầu trong cả nước về giải quyết chính sách xã hội với hàng loạt cuộc vận động như: “Xóa đói giảm nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương” và thực hiện xã hội hóa trên các lĩnh vực y tế, văn hóa Đó cũng là điều kiện cho các tổ chức tôn giáo, tổ chức từ thiện xã hội, tổ chức phi chính phủ có thêm địa bàn và đối tác để hoạt động

Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng khẳng định vai trò trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao Công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực đã phát triển theo chiều hướng ngày càng càng gia tăng, số lượng đào tạo năm sau thường cao hơn năm trước, loại hình đào tạo cũng đa dạng, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư Số lượng trường cao đẳng và đại học trên địa bàn TP HCM tăng nhanh theo đà phát triển kinh tế Từ năm 1995, thành phố đã đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ và phổ cập tiểu học; 100% số xã có trường tiểu học và 80% số xã có trường trung học cơ sở [122, tr 13] Trình độ dân trí của người dân thành phố ngày càng được nâng cao Năm 2002, Sở giáo dục TP HCM đã đón nhận cờ lưu niệm

và Quyết định công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở do Bộ giáo dục và đào tạo trao tặng, trở thành địa phương đầu tiên trong cả nước đạt chuẩn này Số giáo viên

và sinh viên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật của thành phố ngày càng chiếm tỷ lệ cao, điều này chứng tỏ TP HCM là một trung tâm giáo dục đào

Trang 26

tạo chất lượng cao của cả nước, thu hút được một số lượng lớn sinh viên từ mọi miền đất nước về học mỗi năm

Nghị quyết 01-NQ/TW ngày 14 tháng 9 năm 1982 của Bộ Chính trị đã khẳng định

TP HCM là một trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội, nhân dân lao động TP HCM vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống cách mạng kiên cường, đồng thời lại rất năng động và giàu sáng tạo trong sản xuất kinh doanh… Để lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội TP HCM trong tình hình mới, ngày 18tháng 11 năm

2002 Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 20-NQ/TW Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển

TP HCM đến năm 2010 Để thực hiện phương hướng và mục tiêu của Nghị quyết NQ/TW, Đảng bộ TP HCM xác định nhiệm vụ hàng đầu cần chỉ đạo thực hiện tốt là: Bảo đảm sự vững vàng về chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị,

20-xã hội thành phố trong mọi tình huống, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định khu vực và cả nước…

Mặc dù có những thuận lợi như trên, nhưng trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, TP HCM vẫn phải đối mặt với những khó khăn, nhất là lực lượng lao động tại chỗ không thể đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động, kể cả lao động phổ thông cho các khu chế xuất, khu công nghiệp và các ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hàng năm một số lượng lớn lao động từ nhiều nơi trong cả nước đến làm việc, sinh sống cùng một số lượng lớn học sinh, sinh viêm đến học tập làm cho công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội của TP HCM luôn đứng trước những áp lực lớn với rất nhiều những khó khăn

Cùng với quá trình phát triển và hội nhập, bọn tội phạm đã lợi dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để gây án như: lừa đảo trên mạng, gửi thư điện tử, điện thoại đến ngân hàng, đặt chất nổ vào khách sạn đe dọa, cưỡng đoạt tài sản, sử dụng thẻ tín dụng giả

để lừa đảo, hoạt động cờ bạc, môi giới mại dâm trên mạng Với sự phát triển dịch vụ du lịch, tội phạm nước ngoài cũng trà trộn đến TP HCM để hoạt động Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi tập trung nhiều tài sản, đời sống nhân dân được nâng cao, nhưng ý thức

tự bảo vệ tài sản còn hạn chế, đây là “mảnh đất màu mỡ” để tội phạm các tỉnh, thành phố khác đến hoạt động gây án chiếm đoạt tài sản Đồng thời, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra

Trang 27

sâu sắc, tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm 4,3%, tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thành phố vẫn ở mức cao (chiếm 6,82%) [122, tr 14] Sự du nhập của văn hóa phẩm đồi trụy, bạo lực, trò chơi trực tuyến (game online), lối sống tự do, vô tổ chức…đã ảnh hưởng tiêu cực đến một bộ phận dân cư, nhất là thanh thiếu niên; tạo ở họ lối sống thực dụng, đồi trụy, bạo lực, chạy theo lợi ích vật chất, hưởng thụ, lười lao động và sẵn sàng thực hiện hành vi phạm tội để thỏa mãn mục đích của bản thân

Như vậy, với vị trí địa lý thuận lợi, TP HCM là trung tâm của khu vực phía Nam trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội, thu hút một lượng lớn người dân từ các tỉnh, thành trong cả nước thậm chí cả người nước ngoài vào học tập, làm ăn, sinh sống, tham quan du lịch Bên cạnh những thuận lợi cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp về ANTT

Số lượng người đến tạm trú, lưu trú hàng năm cao với số lượng cơ sở cho thuê lưu trú lớn

và sự sơ hở trong quản lý nhà cho thuê nên nhiều đối tượng đã lợi dụng để chứa chấp gái mại dâm, móc nối với cơ sở dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà trọ… tổ chức hoạt động mại dâm, cờ bạc gây mất TTATXH Trong 10 khu công nghiệp và 02 khu chế xuất đang hoạt động, mỗi năm có hàng chục vạn công nhân từ các tỉnh, thành phố khác trong cả nước đến làm việc đã gây không ít khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu của Công an địa phương Theo báo cáo của Công an cơ sở tại khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất

“có hàng trăm ngàn công nhân lao động, trong đó có khoảng 25% đến 30% không đăng ký tạm trú hoặc đăng ký nơi này nhưng ở nơi khác, trong đó có cả những đối tượng truy nã, đối tượng sưu tra từ các địa phương bỏ trốn đến địa bàn khu chế xuất, khu công nghiệp để hoạt động” [102, tr 15]) Trong số những người đến làm ăn, tham quan du lịch…có những đối tượng đã lợi dụng để trà trộn vào địa bàn ẩn náu và gây án đã gây ra những khó khăn nhất định cho công tác quản lý tình hình TTATXH Hàng năm, qua các đợt kiểm tra tạm trú, tạm vắng, lưu trú, đã phát hiện hàng ngàn trường hợp vi phạm việc tạm trú, lưu trú, trong đó có nhiều đối tượng là người nước ngoài, đối tượng có lệnh truy nã đỏ của Cảnh sát quốc tế, đối tượng truy nã từ các tỉnh khác đến, đối tượng phạm tội đặc biệt nghiêm trọng lẩn trốn trong các cơ sở cho thuê lưu trú Mặt khác, trên địa bàn thành phố, đặc biệt

là những khu vực thu hút đông khách du lịch luôn tiềm ẩn những nguy cơ cao về tình

Trang 28

trạng cướp, cướp giật, bảo kê sòng bài, vũ trường, trộm cắp tài sản của khách tham quan,

du lịch, nhất là những nơi có nhiều người nước ngoài đến tham quan, nghỉ dưỡng

Do tốc độ tăng dân số nhanh, công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém, hệ thống đường xá nhỏ khiến TP HCM luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc giao thông Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng chưa kịp quy hoạch nâng cấp tổng thể, ý thức bảo vệ môi trường của một số người dân lại kém, hiện trạng nước thải không được xử

lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến, nhiều cơ sở sản xuất, bệnh viện và cơ

sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải đang là một thực trạng đáng báo động tại TP HCM

Tóm lại, đặc điểm vị trí địa lý, dân cư đã tạo điều kiện thuận lợi để TP HCM phát triển kinh tế - văn hóa xã hội và trở thành một thành phố lớn, dẫn đầu cả nước trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, đặc điểm vị trí địa lý, dân cư và tình hình kinh tế - xã hội của TP HCM cũng gây nên những khó khăn cho công tác đảm bảo TTATXH, liên quan tới diễn biến, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố thời gian qua Để thực hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo công tác đảm bảo TTATXH trên địa bàn, Đảng bộ Công an TP HCM phải căn

cứ vào những đặc điểm, tình hình liên quan bên trên, dựa vào quan điểm của Đảng, của Nhà nước, các Nghị quyết, Chỉ thị, Chương trình, kế hoạch của cấp trên về lĩnh vực bảo

vệ ANTT để xác định nhiệm vụ, chỉ tiêu và đề ra biện pháp lãnh đạo các mặt công tác đảm bảo TTATXH cho thật hiệu quả

Trang 29

CHƯƠNG 2 QÚA TRÌNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ CÔNG AN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2000 - 2011 2.1 Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác đảm bảo trật

tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 - 2005

2.1.1 Đặc điểm tình hình trật tự, an toàn xã hội liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2005

Trong những năm từ 1996 đến năm 2000, TP HCM là địa phương có số vụ phạm tội hình sự hàng năm cao nhất cả nước Bình quân hàng năm trên địa bàn TP HCM xảy ra hơn 13.000 vụ phạm pháp hình sự (chiếm hơn 17 % số vụ phạm pháp hình sự của cả nước), riêng năm 1995 là năm có số vụ xảy ra cao nhất với 14.905 vụ [124, tr.1]; bình quân một ngày xảy ra gần 40 vụ phạm pháp hình sự và 1 giờ xảy ra gần 2 vụ, tính chất phức tạp: giết cướp, giết người, cướp giật, trộm cắp… có xu hướng tăng… “Đáng lo ngại

là tình hình tội phạm giết người xảy ra trên địa bàn thành phố mang tính chất xã hội đen, thanh toán lẫn nhau giữa các băng nhóm, đối tượng hình sự xảy ra ngày càng nghiêm trọng, phức tạp để tranh giành địa bàn, tranh giành lãnh vực phạm pháp nhằm thu lợi bất chính, các đối tượng đã dùng “luật riêng” để hành xử với nhau trong “thế giới ngầm” của chúng Nguy hiểm hơn, các băng nhóm tội phạm này đã hình thành và tồn tại trên địa bàn

TP HCM trong khoảng thời gian dài, hoạt động phạm tội bành trướng, mua chuộc cán bộ Nhà nước để che chắn hành vi của mình Chúng phạm nhiều tội từ cho vay nặng lãi, cờ bạc, buôn bán ma túy, cưỡng đoạt tài sản, đến cố ý gây thương tích và giết người”[34, tr 168]

Các loại tội phạm gây án giết người, cướp tiệm vàng, cướp xe, cướp tiền có vũ khí…hoạt động táo bạo, hung hãn, gây bức xúc, phẫn nộ trong dư luận xã hội, ảnh hưởng đến sự bình an của nhân dân và môi trường đầu tư, phát triển của thành phố Trong những năm tiếp theo, thực hiện tiến trình đổi mới, hội nhập cùng với những kết quả phát triển kinh tế xã hội của thành phố, tuy phạm pháp hình sự ngày càng được kéo giảm (bình quân 7.000 vụ/ năm) nhưng nhiều loại tội phạm mới phát sinh, phức tạp hơn, trong đó có tội phạm có tổ chức và tội phạm nguy hiểm vẫn chiếm tỷ lệ cao, gây thiệt hại về tính mạng và

Trang 30

tài sản nghiêm trọng hơn, hơn 20% người phạm pháp có tiền án, tiền sự, đáng chú ý là sự xuất hiện của các băng nhóm tội phạm là người nước ngoài vào thành phố hoạt động, thanh toán lẫn nhau, hình thành các đường dây tội phạm ma túy xuyên quốc gia hoạt động lừa đảo, tiêu thụ tiền giả, lạm dụng tình dục, buôn bán phụ nữ…[124, tr 1]

Tình hình tội phạm ma túy, tệ nạn mại dâm trên địa bàn TP HCM trong những năm

từ 1995 đến 1998 diễn ra hết sức phức tạp, gây ảnh hưởng lớn tới tình hình TTATXH của thành phố Năm 1999 Công an TP HCM phát hiện 2.004 vụ buôn bán và 2.000 vụ sử dụng ma túy…toàn thành phố có 404 tụ điểm phức tạp về mại dâm, 509 tụ điểm phức tạp

về ma túy, 16.939 người sử dụng ma túy và khoảng 10 đến 15 ngàn gái mại dâm, trong đó

có khoảng 54% là người của tỉnh khác [20, tr.7]

Tội phạm kinh tế trên địa bàn thành phố xảy ra trên mọi ngành, mọi lĩnh vực, được thực hiện có tổ chức với phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi, tính chất mức độ và hậu quả thiệt hại ngày càng nghiêm trọng Năm 1999 số vụ án tham nhũng bị phát hiện 163 vụ (tăng 32 vụ so với năm 1998) trong đó có 73 vụ tham nhũng, còn lại là trộm cắp, phát hiện 2.608 vụ buôn lậu, gian lận thương mại [20, tr.5]

Từ năm 1995 đến năm 2000 tình hình TTATXH trên địa bàn TP HCM được đảm bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội của thành phố Tuy nhiên, tình hình tội phạm hình sự, tội phạm kinh tế, tội phạm ma túy, tệ nạn xã hội, tai nạn vẫn còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định TTATXH, đòi hỏi Đảng bộ Công an TP HCM phải có những biện pháp chỉ đạo đúng đắn, kịp thời, linh hoạt

để đảm bảo sự ổn định về TTATXH trên địa bàn thành phố trong những giai đoạn tiếp theo

2.1.2 Chủ trương, giải pháp nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội của Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2000 - 2005

Để đảm bảo TTATXH trên địa bàn TP HCM, Đảng bộ Công an TP HCM luôn

quan tâm, lãnh đạo các mặt công tác: Công tác nghiệp vụ trật tự, an toàn xã hội (công tác

đấu tranh phòng, chống tội phạm; công tác quản lý nhà nước về trật tự xã hội, TTATGT, PCCC; phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; công tác tư pháp và cải cách thủ

Trang 31

tục hành chính); Công tác xây dựng XDLL (công tác chính trị tư tưởng; công tác Đảng và đoàn thể; công tác tổ chức cán bộ) và Công tác hậu cần, kỹ thuật (xây dựng, quản lý cơ sở

vật chất, trang bị vũ khí phương tiện…)

2.1.2.1 Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh quán triệt chủ trương của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trong công tác đảm bảo trật tự,

an toàn xã hội giai đoạn 2000 - 2005

Với đặc điểm tình hình TTATXH diễn biến phức tạp như trên, để đảm bảo sự ổn định trên địa bàn TP HCM, Đảng bộ Công an TP HCM đã thực hiện nghiêm túc Nghị quyết 09/1998/NQ-CP của Chính phủ về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Quyết định số 138/1998/QĐ-TTg của Chính phủ về Phê duyệt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; Nghị quyết về thực hiện 12 chương trình, công trình trọng điểm của thành phố, trong đó có Chương trình mục tiêu 3 giảm “giảm tội phạm, giảm tệ nạn ma tuý và tệ nạn mại dâm” của Thành uỷ và Hội đồng nhân dân TP HCM; Chỉ thị số 26-CT/TU của Thành ủy khóa VI về việc tăng cường công tác phòng chống tội phạm, ma túy, tệ nạn xã hội

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 09/CP của Chính phủ và Mục tiêu “3 giảm”, Thành ủy, UBND TP HCM đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm lãnh đạo công tác đảm bảo TTATXH trên địa bàn TP HCM và được Đảng bộ Công an TP HCM triển khai thực hiện nghiêm túc như:

Đảng bộ Công an TP HCM đã chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Quyết định số 3185/2000/QĐ-UB-NC về phê duyệt Chương trình phòng, chống tội phạm tại TP HCM trong 2 năm 2000 và 2001 trong toàn lực lượng Công an TP HCM, nhằm tạo sự chuyển biến về TTATXH và giữ vững kỷ cương pháp luật, phấn đấu đến cuối năm 2001 làm giảm một cách cơ bản các loại tội phạm (giảm 30% tội phạm chung và giảm 60% tội phạm nghiêm trọng như giết người, cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, hiếp dâm trẻ

em, các loại tội phạm về ma túy, hoạt động của các đối tượng phạm tội có vũ trang, bạo lực, côn đồ…), phục vụ có hiệu quả công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nâng cao

tỷ lệ điều tra, khám phá án chung lên 60% Tập trung lực lượng để điều tra các vụ án nghiêm trọng, phấn đấu nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá các vụ án giết người, cướp tài

Trang 32

sản (đặc biệt là các vụ án thủ phạm dùng vũ khí nguy hiểm, vũ khí nóng), những đối tượng đâm thuê, chém mướn, bảo kê, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, hiếp dâm…lên 90% Nâng cao tỷ lệ truy bắt những đối tượng có lệnh truy nã đang lẩn trốn (phấn đấu đạt trên 50%) và số đối tượng trốn thi hành án để ngăn chặn không cho tiếp tục phạm tội Cải tiến phương thức tuyên truyền pháp luật để mọi người dân đều hiểu biết và thực thi pháp luật một cách có hiệu quả, tham gia phòng, chống tội phạm Nâng cao hiệu lực điều hành, quản

lý của chính quyền các cấp từ thành phố xuống phường, xã, thị trấn trong công tác quản lý hành chính Nhà nước về TTATXH, phòng ngừa tệ nạn xã hội để ngăn chặn hoặc xóa bỏ những điều kiện làm phát sinh tội phạm

Năm 2001, Thành ủy, UBND TP HCM ban hành một số văn bản để tăng cường công tác đảm bảo TTATXH trên địa bàn thành phố như: Ngày 17 tháng 05 năm 2001, UBND TP HCM có Quyết định số 41/2001/QĐ-UB về Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu 3 giảm: Giảm tội phạm hình sự, tội phạm về ma túy, các hành vi về tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố; Chỉ thị số 17/2000/CT-UB ngày 2 tháng 7 năm 2001 về Chấn chỉnh công tác tổ chức và quản lý trong lĩnh vực hoạt động dịch vụ văn hóa – xã hội và đẩy mạnh phòng, chống các tệ nạn xã hội; Quyết định số 62/2001/QĐ-UB ngày 23 tháng 7 năm 2001 về việc ban hành kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu 3 giảm: Giảm ma túy, giảm mại dâm và giảm tội phạm hình sự trên địa bàn thành phố giai đoạn 2001 – 2005; Chỉ thị số 03-CT/TU ngày 27 tháng 9 năm 2001 về việc tập trung thực hiện chương trình mục tiêu giảm tội phạm trên địa bàn thành phố Với vị trí là lực lượng nòng cốt trong công tác đảm bảo TTATXH, Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo các đơn vị quán triệt nghiêm túc các văn bản trên và xây dựng kế hoạch, đẩy mạnh thực các biện pháp công tác nhằm giữ vững sự ổn định về trật tự xã hội, tạo điều kiện để thành phố phát triển kinh tế -

xã hội

Năm 2002, TP HCM đã có Chỉ thị số 15/2002/CT-UB ngày 12 tháng 6 năm 2002 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn mại dâm trên địa bàn thành phố Để thực hiện tốt Chỉ thị này, Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo tăng cường phối hợp giữa các đơn vị trong lực lượng Công an TP HCM với Sở Văn hóa thông tin và truyền thông, Sở Tư pháp, Sở Y tế, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

Trang 33

trong thành phố, các cơ quan báo, đài có kế hoạch đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác phòng, chống tệ nạn, đặc biệt là tệ nạn mại dâm Công tác tuyên truyền, phổ biến về tệ nạn mại dâm phải gắn liền với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa

ở khu dân cư”, “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Khu phố văn hóa - Ấp văn hóa”…tạo công luận từ tổ dân phố, khu phố, ấp, tổ nhân dân, cơ quan, đơn vị lên án mạnh mẽ những cá nhân, đơn vị vi phạm tệ nạn mại dâm, hoặc thiếu tinh thần, trách nhiệm, năng lực quản lý yếu kém để tệ nạn mại dâm tồn tại và phát triển; đồng thời kịp thời tuyên dương, khen thưởng và nhân rộng mô hình tập thể, cá nhân làm tốt công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm

Năm 2003, Đảng bộ Công an TP HCM đã quán triệt việc thực hiện Quyết định số 104/2003/QĐ-UB ngày 27 tháng 6 năm 2003 của UBND TP HCM về quản lý người lang thang, xin ăn, sinh sống nơi công cộng trên địa bàn thành phố; Chỉ thị số 13/ 2003/CT-UB ngày 11 tháng 7 năm 2003 của UBDN TP HCM về việc triển khai thực hiện các Quyết định của UBND TP HCM về việc quản lý người lang thang xin ăn, sinh sống nơi công cộng Việc Đảng bộ Công an TP HCM triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định này đã góp phần giải quyết một cách cơ bản thực trạng người lang thang xin ăn, sinh sống nơi công cộng lợi dụng sơ hở của người dân, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài đến thành phố để phạm tội (như móc túi, cướp giật…) gây mất trật tự và mỹ quan trên địa bàn TP HCM

Để giữ gìn trật tự, giao thông đô thị, Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo việc thực hiện Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường trên địa bàn thành phố Từ đó đã giải quyết hiệu quả một số vấn

đề bức bách về công tác quản lý nhà nước, tăng cường TTATXH, kỷ cương, trách nhiệm của Chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn trong việc quản lý trật tự trên địa bàn do mình phụ trách, xây dựng nếp sống văn minh đô thị

Năm 2004, UBND TP HCM có Quyết định số 114/2004/QĐ-UB ngày 23 tháng 4 năm 2004 về việc ban hành quy định quản lý và giúp đỡ người cai nghiện ma túy và người sau cai nghiện hồi gia nhằm xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, xây dựng khu

Trang 34

dân cư không còn tệ nạn ma túy cũng như giảm bớt các loại tội phạm hình sự do người nghiện thực hiện Đảng bộ Công an TP HCM đã chỉ đạo các đơn vị trong toàn lực lượng, nhất là các đơn vị ở cơ sở tiến hành nhiều biện pháp công tác để thực hiện có hiệu quả Quyết định này

Nhằm tạo một bước chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý con người, quản lý

vũ khí, vật liệu nổ, góp phần giảm bớt tình trạng tội phạm do người tạm trú gây nên trên địa bàn TP HCM cũng như các đối tượng phạm tội sử dụng vũ khí, vật liệu nổ để gây án, Đảng bộ Công an TP HCM đã quán triệt việc thực hiện Quyết định số 90/2005/QĐ-UB ngày 30 tháng 5 năm 2005 của UBND TP HCM Về quy chế quản lý cư trú và lao động của người tạm trú có thời hạn trên địa bàn TP HCM; Chỉ đạo số 4973/UBND-NC ngày 15 tháng 8 năm 2005 về việc vận động toàn dân phát hiện, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các biện pháp công tác quản lý nhà nước về TTATXH, đồng thời phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng và Quân sự của TP HCM trong việc phát động toàn dân phát hiện, giao nộp vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, góp phần quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm trên địa bàn thành phố

Đảng bộ Công an TP HCM đã thực hiện nghiêm túc chủ trương của Thành ủy UBND TP HCM về công tác đảm bảo TTATXH Từng cấp ủy, chi bộ Đảng trực thuộc dựa vào sự chỉ đạo của Đảng ủy Công an TP HCM, căn cứ vào đặc điểm tình hình, nhiệm

vụ của đơn vị mình mà chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo trên, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh khóa VII nhiệm kỳ 2000-2005 và Chương trình Quốc gia phòng, chống tội phạm của Chính phủ

2.1.2.2 Đảng bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo các mặt công tác đảm bảo trật tự, an toàn xã hội giai đoạn 2000 - 2005

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Đảng ủy Công an Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy, UBND TP HCM, giai đoạn 2000-2005, Đảng bộ Công an TP HCM đã đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo công tác đảm bảo TTATXH sát với diễn biến tình hình trên địa bàn và được thể hiện trong Nghị quyết của Đại hội đại

Trang 35

biểu Đảng bộ Công an TP HCM lần thứ VIII, Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác hàng năm và từ thực tiễn quá trình chỉ đạo thực hiện công tác đảm bảo TTATXH

Mục tiêu tổng quát của công tác đảm bảo an ninh, trật tự giai đoạn 2000-2005

được Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an TP HCM lần thứ VIII (nhiệm kỳ 2000-2005) xác định là:

Giữ vững sự ổn định chính trị, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và sẵn sàng đối phó

có hiệu quả với các tình hình xấu đột xuất Giữ gìn trật tự xã hội ngày càng tốt hơn trên cơ

sở phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, lấy phường, xã làm mục tiêu chỉ đạo kéo giảm tội phạm hình sự, ma túy, phòng chống các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế, xã hội của thành phố

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, chỉ huy và trang bị phương tiện hiện đại, ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác chiến đấu Tập trung bồi dưỡng đào tạo nâng cao kiến thức chung trình độ nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên Thường xuyên giáo dục phẩm chất chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, làm giảm tiêu cực, sai phạm trong cán

bộ, chiến sĩ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng trong Công an thành phố Trang bị ứng dụng khoa học kỹ thuật trên một số lĩnh vực cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác chiến đấu [34]

Chỉ tiêu, nhiệm vụ trên từng mặt công tác đảm bảo TTATXH giai đoạn 2005:

2000-Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm:

Đảng bộ Công an TP HCM xác định rõ lực lượng Công an TP HCM là nòng cốt trong việc thực hiện Chương trình của Thành ủy về phòng ngừa, đấu tranh kéo giảm các loại tội phạm, nhất là giết cướp, cướp của, cướp giật trên đường phố, trộm cắp, bọn tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” (bảo kê, đâm thuê, chém mướn, cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê…), buôn bán tàng trữ ma túy, tổ chức mại dâm, các tổ chức buôn lậu, gian lận thương mại và các vụ tham nhũng lớn Chỉ tiêu mà Đảng bộ Công an TP HCM đề ra là có

Trang 36

25% - 30% tổ dân phố và 15% - 20% phường, xã tự quản đạt loại khá; kéo giảm 15% số

vụ phạm pháp hình sự; có kế hoạch toàn diện chuyển hóa cơ bản 50% tụ điểm hình sự, ma túy, mại dâm ở các khu vực dân cư trên địa bàn mỗi quận, huyện; xóa hẳn các tụ điểm hình sự, ma túy, mại dâm ở các khu công cộng; nâng tỷ lệ khám phá án hình sự lên 50% - 60%, trong đó án giết người, cướp của đạt 80%, các loại án còn lại đạt 55% trở lên [21, tr.2]

Trong công tác giữ gìn trật tự giao thông, đô thị, PCCC:

Đảng bộ Công an TP HCM xác định: “Nâng cao ý thức chấp hành luật lệ giao thông trên đường phố; thực hiện đúng trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát giao thông, trật

tự trong việc giữ gìn trật tự giao thông đô thị theo quy định của pháp luật; chủ động phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất và giải quyết nhanh các trường hợp ùn tắc giao thông ở các trọng điểm thường xảy ra; làm giảm 10% tai nạn giao thông nghiêm trọng trên đường

bộ, đường thủy; không để tái diễn đua xe trái phép, có phương án giữ gìn tốt trật tự lề đường, trật tự đô thị trong toàn thành phố, tập trung vào các tuyến đường chính và khu vực trung tâm thành phố, trung tâm quận, huyện, làm giảm 80% các trường hợp lấn chiếm lòng, lề đường để kinh doanh trên các tuyến và khu vực trung tâm; kiềm chế tai nạn cháy,

nổ, làm giảm số vụ cháy nghiêm trọng và làm giảm thiệt hại do tai nạn cháy gây ra” [21,

tr 2]

Trong công tác tư pháp: Đảng bộ Công an TP HCM chủ trương: Thực hiện đúng

pháp luật trong công tác bắt, giam giữ, điều tra án, xử lý đối tượng, xử lý vi phạm hành chính và trong các mặt công tác khác của lực lượng Công an Phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng trinh sát và cơ quan điều tra để nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá án và truy bắt đối tượng phạm pháp bỏ trốn Nâng cao chất lượng điều tra án, đảm bảo thời hạn điều tra, hạn chế tối đa các trường hợp phải điều tra bổ sung Nâng tỷ lệ truy tố đối với các vụ án và đối tượng đã khởi tố, không bắt oan sai, giảm hẳn bắt giữ các đối tượng không truy tố được, không để đại bàng, đầu gấu đánh chết hoặc gây thương tích can phạm nhân ở nơi giam giữ, không để quá hạn giam giữ, tạm giam

Trang 37

Trong công tác xây dựng Đảng, XDLL: Đảng bộ Công an TP HCM xác định mục

tiêu là thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, phát huy vai trò lãnh đạo toàn diện của các Đảng bộ, Chi bộ, tích cực xây dựng các tổ chức, cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh Tăng cường cho các lực lượng trực tiếp chiến đấu, củng cố toàn diện cho công an quận, huyện, phường, xã Tập trung đào tạo, huấn luyện nâng cao chất lượng cán

bộ chiến sĩ về nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học Học tập và thực hiện nghiêm túc 6 điều Bác Hồ dạy CAND, tích cực phòng ngừa, đấu tranh làm giảm sai phạm, tiêu cực trong công an Phấn đấu 80% cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh, không có cơ sở Đảng yếu kém và có 98% đảng viên đủ tư cách Nâng tỷ lệ cán bộ, chỉ huy (từ cấp đội, phường trở lên) tốt nghiệp Đại học và đang học Đại học từ 31,5% lên 40%, tốt nghiệp cao cấp chính trị và đang học cao cấp chính trị từ 17,1% lên 23%, cán bộ có trình độ tin học trung cấp từ 1,7% lên 2,2% và cán bộ có trình độ ngoại ngữ bằng A trở lên từ 11% lên 18% Làm giảm sai phạm, tiêu cực trong công an xuống dưới 1,5% quân số, không để xảy ra vi phạm pháp luật phải bắt truy tố, sai phạm trong cán bộ chỉ huy (từ cấp đội, phường trở lên) giảm 50%, làm giảm hẳn tệ nhũng nhiễu, vòi vĩnh và làm tiền các cơ quan đơn vị và nhân dân [21, tr

2, 3]

Trong công tác hậu cần, kỹ thuật: Đảng bộ Công an TTP HCM xác định: ứng dụng

rộng rãi công nghệ thông tin để phục vụ công tác thông tin chỉ huy, quản lý người nước ngoài, Việt kiều, quản lý nhân hộ khẩu, quản lý đối tượng, tổng hợp và phân tích tình hình

về ANTT; đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt cho toàn lực lượng (ưu tiên cho lực lượng Cảnh sát giao thông trật tự) Xây dựng phòng xét nghiệm vi thể, phòng xét nghiệm độc chất, phòng ảnh để phục vụ cho công tác công an Hoàn thành việc lắp đặt đưa vào sử dụng hệ thống camera ở khu vực trung tâm thành phố và các tuyến trọng điểm [21, tr 3] Các mục tiêu, chỉ tiêu trên từng mặt công tác nhằm đảm bảo TTATXH được Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an TP HCM đưa ra là mục tiêu và chỉ tiêu để lực lượng Công an TP HCM phấn đấu thực hiện trong suốt giai đoạn 2000-2005 Căn cứ vào những mục tiêu, chỉ tiêu chung đó, đồng thời căn cứ vào kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, XDLL, hậu cần, kỹ thuật và đặc điểm tình hình trên địa bàn, Đảng bộ

Trang 38

Công an TP HCM đã xác định mục tiêu, chỉ tiêu của từng năm cho phù hợp Trên cơ sở

đó, các Đảng ủy, chi bộ Đảng trực thuộc triển khai thực hiện để lãnh đạo cho phù hợp với tình hình đặc điểm riêng của mỗi đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu chung của Đảng bộ Công an TP HCM nhiệm kỳ 2000-2005

Giải pháp chủ yếu trên các mặt công tác:

Để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra trong giai đoạn 2000-2005, Đảng bộ Công an TP HCM đề ra giải pháp chủ yếu trên các mặt công tác đảm bảo TTATXH như sau:

- Các giải pháp trong công tác nghiệp vụ về trật tự xã hội:

Giải pháp kéo giảm tội phạm và tệ nạn xã hội: Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo

các đơn vị trong lực lượng Công an TP HCM thực hiện nghiêm túc các Chương trình của Chính phủ, của Thành ủy về đấu tranh kéo giảm án hình sự, tệ nạn ma túy, mại dâm; chỉ đạo Công an TP HCM xây dựng và triển khai chương trình phòng ngừa và đấu tranh kéo giảm các loại tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội: Chương trình chống tội phạm, chống ma túy, mại dâm từ năm 2000-2005; Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm và Chương trình hành động phòng, chống ma túy giai đoạn 2001-2005 của Chính phủ; Chương trình chống mua bán phụ nữ, trẻ em của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình mục tiêu 3 giảm giai đoạn 2001-2005 của thành phố (tội phạm ma túy, hình sự, mại dâm) [22, tr 6]; Kế hoạch số 273 ngày 25 tháng 10 năm 2001 của Công an TP HCM về đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, tội phạm hoạt động theo kiểu xã hội đen; Kế hoạch số 184 ngày 4 tháng

11 năm 2003 về thực hiện đề án III “đấu tranh chống tội phạm có tổ chức, tội phạm hình

sự nguy hiểm và tội phạm có tính quốc tế” của Công an TP HCM; Kế hoạch 164 ngày 16 tháng 9 năm 2003 của Công an TP HCM về đấu tranh chống tội phạm ở khu vực trung tâm thành phố và các khu vực giáp ranh

Cùng với việc chỉ đạo triển khai thực hiện các Chương trình, kế hoạch trên, Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo sơ kết, tổng kết nhằm rút ra những kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở những năm tiếp theo: Sơ kết Kế hoạch

Trang 39

53 về đấu tranh chống tội phạm hình sự, mại dâm, ma túy năm 2002; tổng kết một số vụ

án hình sự lớn về tội phạm có tổ chức (nhất là các vụ án liên quan đến Năm Cam) để rút kinh nghiệm công tác phòng, chống tội phạm [23, tr 9]; sơ kết 3 năm công tác phòng chống tội phạm ma túy; tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 09 và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm Đảng bộ Công an TP HCM tham mưu cho UBND TP HCM có

kế hoạch thực hiện Chỉ thị 37/2004 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm giai đoạn 2005 – 2010

Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo các đơn vị tăng cường các biện pháp công tác nghiệp vụ để đấu tranh, trấn áp hiệu quả các loại tội phạm trên địa bàn, đảm bảo môi trường ổn định cho thành phố: Khẩn trương rà soát các đối tượng để có đối sách với từng đối tượng nhằm chủ động ngăn ngừa và xử lý khi đối tượng hoạt động “Đi sâu trinh sát, chủ động làm tan rã các băng nhóm tội phạm và tập trung truy xét các vụ việc xảy ra, truy bắt hết các đối tượng liên quan Các đơn vị phải quản lý chặt chẽ địa bàn, đối tượng, nếu

để đối tượng gây án mà không phát hiện xử lý kịp thời phải chịu trách nhiệm trước cấp trên” [22, tr 7] “Tăng cường công tác thông tin tội phạm và thông tin đối tượng hoạt động di động, đảm bảo mọi hoạt động của đối tượng từ các tỉnh đến thành phố và từ các địa bàn này sang địa bàn khác đều kịp thời thông tin cho nhau để chủ động đấu tranh ngăn chặn” [24 tr 10] Tăng cường công tác phòng ngừa xã hội, tiếp tục phối hợp với các ngành triển khai thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và đề xuất UBND các cấp có kế hoạch triển khai chương trình hành động của Chính phủ về phòng, chống ma túy, đồng thời đề xuất các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm giải quyết công

ăn, việc làm và những vấn đề phức tạp về mặt xã hội (người sống lang thang, trẻ em bụi đời, trẻ em thất học, thanh thiếu niên, hòa giải mâu thuẫn trong nhân dân…) Kết hợp công tác sưu tra quản lý đối tượng tại cơ sở để cập nhật hồ sơ, tài liệu, chủ động đề xuất xử lý theo các Nghị định 19, 20, 32, 33, 34 của Chính phủ Tập trung đánh mạnh vào các đường dây, tổ chức mua bán ma túy lớn, nhất là đường dây từ các tỉnh, các nước chuyển qua biên giới bằng đường không, đường thủy, đường bộ và số đối tượng buôn bán nhỏ lẻ ở các quận, huyện, phường, xã [25, tr 8] Triển khai thực hiện đề án sau cai nghiện của UBND

Trang 40

TP HCM Phối hợp chặt chẽ với công an Long An đấu tranh chống tội phạm giáp ranh ở

2 địa phương và phối hợp với công an Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai xây dựng kế hoạch thực hiện công tác này “Công an các quận, huyện, phường, xã cần kiểm tra, đánh giá tình hình tội phạm ở khu vực giáp ranh để chủ động phối hợp lực lượng đấu tranh, không bị chia cắt theo ranh giới hành chính” [23, tr 9] Tổng kết việc thực hiện kế hoạch phối hợp với Công an tỉnh Long An để thực hiện kế hoạch phối hợp với các tỉnh giáp ranh thực hiện đề án III Tổ chức thực hiện tốt quy chế phối hợp trao đổi thông tin với Công an

Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định rà soát, xác định lại các tuyến, địa bàn trọng điểm về hình sự, ma túy, mại dâm để phân cấp cho các Phòng Cảnh sát hình sự, Phòng Cảnh sát kinh tế, công an các quận, huyện, công an phường, xã chuyển hóa địa bàn Các đơn vị và cán bộ chiến sĩ được phân công phải chịu trách nhiệm trước cấp trên về tình hình phức tạp

ở địa bàn mình phụ trách

Để nâng cao tỷ lệ điều tra, khám phá án hình sự, Đảng bộ Công an TP HCM chỉ đạo lực lượng công an các quận, huyện căn cứ vào tình hình tội phạm hình sự và biên chế, năng lực của Công an các phường, đội nghiệp vụ để phân cấp, tăng cường biên chế điều tra viên ở công an quận, huyện; tăng cường thông tin tội phạm và thông tin đối tượng hoạt động di động, phối hợp chặt chẽ giữa Cảnh sát điều tra và công an phường xã trong việc truy xét các vụ án chưa rõ thủ phạm; xây dựng phương án bố trí lực lượng công an, dân phòng tuần tra khép kín các địa bàn Sơ kết rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng Cảnh sát xử lý nhanh các vụ việc về ANTT (qua điện thoại 113) để chủ động giải quyết, ngăn ngừa các vụ phạm pháp hình sự [21, tr 6]

Trong đấu tranh chống tội phạm kinh tế: Đảng bộ Công an TP HCM đề ra các biện

pháp: Xây dựng kế hoạch với giải pháp có tính khả thi để đấu tranh đánh mạnh vào loại tội phạm tham nhũng; chú trọng đấu tranh chống tham nhũng ở các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đất đai, xây dựng cơ bản, ký kết hợp đồng, xuất nhập khẩu, kinh tế đối ngoại,

cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, điện lực, bưu điện, giao thông vận tải và lĩnh vực kinh tế ngoài quốc doanh; tập trung đấu tranh với các tổ chức lợi dụng danh nghĩa của các doanh nghiệp để buôn lậu, kinh doanh trốn thuế lớn; đấu tranh chống sản xuất và kinh

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w