Nhưng kể từ khi thành lập Quận năm 1997, cùng với sự phát triển nhanh chóng của Thành phố và thực hiện cuộc vận động Vì người nghèo cũng như chính sách xóa đói giảm nghèo, Đảng bộ và nh
Trang 1PHẠM MẠNH TRÁNG
ĐẢNG BỘ QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 1997-2011
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 2PHẠM MẠNH TRÁNG
ĐẢNG BỘ QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 1997-2011
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60 – 22 – 56 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM NGỌC TRÂM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 31 CP: Chính phủ
2 GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm nội địa
3 HDI: Human Development Index - Chỉ số phát triển con người
4 IMF: International Monetary Fund - Quỹ Tiền tệ Quốc tế
5 Quỹ 71: Quỹ Quốc gia về việc làm (Quỹ 71)
6 Quỹ 140: Quỹ xóa đói giảm nghèo
7 Quỹ 157: Quỹ hỗ trợ học sinh, sinh viên
8 Quỹ 156: Quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất
bị thu hồi
9 Quỹ CEP: Quỹ trợ vốn tự tạo việc làm cho người lao động nghèo
10 UBND: Ủy ban nhân dân
11 UN: United Nation – Liên Hiệp quốc
12 WBG: World Bank Group - Ngân hàng Thế giới
Trang 4đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2011” do tôi nghiên
cứu Các số liệu, dẫn chứng của đề tài có nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng
Nếu không đúng, tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
Trang 5Trước tiên, tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Phạm Ngọc Trâm – người hướng dẫn khoa học Thầy đã vô cùng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Thầy đã giúp tôi học hỏi rất nhiều điều, cũng như truyền đạt những kinh nghiệm quý báu của Thầy để tôi trưởng thành hơn trên con đường học tập, nghiên cứu khoa học trong thời gian tới
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý Thầy, Cô đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập của lớp Cao học Lịch sử Đảng 2010-2012 (Đợt 2)
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa Lịch sử, Phòng Sau Đại học, các Khoa, Phòng liên quan, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện cho chúng tôi học tập, hoàn thành chương trình cao học và bảo vệ luận văn thạc sỹ
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng bản thân có kiến thức còn hạn chế, chưa
có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học nên luận văn còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô, các bạn học viên để luận văn hoàn thiện hơn
Trang 614 GDP: Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm nội địa
15 HDI: Human Development Index - Chỉ số phát triển con người
16 IMF: International Monetary Fund - Quỹ Tiền tệ Quốc tế
17 Quỹ 71: Quỹ Quốc gia về việc làm (Quỹ 71)
18 Quỹ 140: Quỹ xóa đói giảm nghèo
19 Quỹ 157: Quỹ hỗ trợ học sinh, sinh viên
20 Quỹ 156: Quỹ hỗ trợ đào tạo và giải quyết việc làm cho người có đất
bị thu hồi
21 Quỹ CEP: Quỹ trợ vốn tự tạo việc làm cho người lao động nghèo
22 UBND: Ủy ban nhân dân
23 UN: United Nation – Liên Hiệp quốc
24 WBG: World Bank Group - Ngân hàng Thế giới
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÉO Ở QUẬN 9 8
1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định đói nghèo 8
1.1.1 Quan niệm của thế giới 8
1.1.2 Quan niệm về đói nghèo của Việt Nam 15
1.2 Quan điểm mác-xít về đói nghèo và chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 21
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đói nghèo 21
1.2.2 Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam từ đổi mới đến nay… 26 Chương 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG BỘ QUẬN 9 (1997-2011) 39
2.1 Đặc điểm tình hình quận 9 39
2.1.1 Tổng quan 39
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội quận 9 41
2.1.3 Thực trạng đói nghèo ở quận 9 44
2.1.4 Đặc điểm hộ nghèo ở quận 9 45
2.2 Đảng bộ quận 9 lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo (1997-2008) 52
2.2.1 Chính sách xóa đói giảm nghèo của thành phố và quận 9 52
2.2.2 Công tác lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận (1997-2008) 57
2.3 Đảng bộ quận 9 lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo (2009-2011) 81
2.3.1 Chính sách xóa đói giảm nghèo của thành phố và quận 9 81
2.3.2 Công tác lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận (2009-2011) 84
Trang 83.1 Nhận xét, đánh giá quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói
giảm nghèo của Đảng bộ quận 9 (1997-2011) 88
3.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân 88
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 99
3.2 Bài học kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ quận 9 104
3.3 Những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận 9 trong thời gian tới 107
3.3.1 Đặc điểm tình hình và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới 107
3.3.2 Những đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn quận 9 109
PHẦN KẾT LUẬN 113
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHẦN PHỤ LỤC 125
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng nói: “…Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước tôi được hoàn toàn độc lập, dân tôi được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành ” [51; 161] Tư tưởng
đó của Người cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng:
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [22; 70] Để xây dựng xã hội đó, Đảng và Nhà nước phấn đấu thực hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách khác nhau, trong đó, xóa đói giảm nghèo là một chính sách quan trọng vì mục tiêu
an sinh xã hội, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Đại hội VIII của Đảng, năm 1996, lần đầu tiên xác định xóa đói giảm nghèo
là một chương trình quan trọng, một mục tiêu lớn trong chính sách của Đảng Đại hội nêu rõ: “Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả” [23; 115]
Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, mục tiêu xóa đói giảm nghèo được Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện đạt nhiều kết quả to lớn Đến nay, đất nước ta được đánh giá là hoàn thành tốt tiến độ và vượt các mục tiêu thiên niên kỷ đặt ra về xóa đói giảm nghèo Những thành quả của xóa đói giảm nghèo đã tạo nên bộ mặt tốt đẹp cho xã hội, xây dựng lòng tin và nâng cao quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày nay, xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu trong chính sách xã hội được Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với mục tiêu tăng trưởng kinh tế: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực,
Trang 10địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh
tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội” [25; 101] Cho nên, xóa đói giảm nghèo luôn là một yêu cầu quan trọng mà các địa phương phải chú trọng giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị năng động nhất của cả nước Thành phố luôn đi đầu trong thực hiện nhiều chủ trương quan trọng của Đảng, trong đó có công tác xóa đói giảm nghèo Thành phố là địa phương đầu tiên đề ra chính sách
xóa đói giảm nghèo vào năm 1992 Trong quá trình phát triển, Thành phố cũng là địa phương sáng tạo với những hình thức tổ chức, những cuộc vận động rộng lớn vì người nghèo Ngày 9-4-2001, Thành phố phát động cuộc vận động Vì người nghèo trên địa bàn toàn Thành phố, mở đầu cho phong trào vận động Vì người nghèo trong
cả nước [98] Từ đó, mô hình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn Thành phố đã chính thức được nhân rộng ra cả nước Cuộc vận động đã xuất hiện nhiều tấm lòng hảo tâm, nhiều tấm gương vượt khó, tập thể điển hình, cá nhân tiêu biểu hưởng ứng tích cực cuộc vận động Chính tinh thần sẻ chia, yêu thương, đùm bọc nhau đã làm cho chương trình có sức lan tỏa mạnh mẽ và thành công vượt bậc, làm cho biết bao mái nhà, hoàn cảnh, số phận đã được thay đổi, vươn lên
Là một địa bàn ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh, đầu những năm
1990, trong các quận, huyện của Thành phố, địa bàn Quận 9 có số hộ nghèo cao nhất Nhưng kể từ khi thành lập Quận (năm 1997), cùng với sự phát triển nhanh
chóng của Thành phố và thực hiện cuộc vận động Vì người nghèo cũng như chính
sách xóa đói giảm nghèo, Đảng bộ và nhân dân Quận 9 đã đưa kinh tế - xã hội của Quận phát triển không ngừng, cùng với đó là những thành tích xóa đói giảm nghèo
to lớn – năm 2011 chỉ còn 5,03% Thành quả đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Quận 9 trong lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, trong đó
có chính sách xóa đói giảm nghèo
Trang 11Tuy nhiên, công tác xóa đói giảm nghèo đối với Việt Nam nói chung, đối với Quận 9 nói riêng vẫn đang là một trong những vấn đề nóng bỏng, mang tính thời sự sâu sắc vì công tác xóa đói giảm nghèo chưa mang tính bền vững, hiện tượng tái nghèo khá phổ biến Đồng thời, từ năm 2011 một chuẩn nghèo mới được
áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 đã làm cho tỷ lệ nghèo tăng lên Tình hình đó tiếp tục đặt ra những thách thức lớn cho công tác xóa đói giảm nghèo đối với Quận 9, đòi hỏi Đảng và chính quyền địa phương phải thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo mang tính khoa học hơn và tổ chức triển khai một cách quyết liệt hơn
Xuất phát từ những lý do trên, đồng thời để hoàn thành chương trình cao
học, tôi chọn đề tài: “Đảng bộ Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2011” để làm luận văn tốt nghiệp
của mình Luận văn đã đánh giá quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong thời gian qua tại Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm góp phần thực hiện chính sách này tốt hơn trong thời gian tới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Do đó, từ khi đất nước đổi mới (năm 1986) đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, trong đó nổi bật là những công trình sau:
Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, do PGS TS Nguyễn Thị Cành chủ biên, Nxb Lao động - Xã hội,
năm 2001 Công trình nghiên cứu một cách tổng quan về thực trạng mức sống dân
cư, phân hóa giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam Tác phẩm giúp cho chúng tôi nhận thức rõ hơn mức sống và tình hình phân hóa giàu nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh
Ngô Văn Lệ (2003), Thực trạng kinh tế - xã hội và những giải pháp xóa đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Trang 12Chí Minh Công trình này nghiên cứu thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của người Khmer tỉnh Sóc Trăng, làm rõ những tích cực, hạn chế và những nguyên nhân của tình trạng đói nghèo Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp góp phần xóa đói giảm nghèo cho người Khmer tỉnh Sóc Trăng
Một số vấn đề cấp bách trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long của PGS TS Võ Văn Sen chủ
biên, năm 2010 Tác phẩm phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long, trong đó làm rõ tình hình đói nghèo Công trình đã đưa
ra nhiều giải pháp góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách của người Khmer ở Đồng bằng Sông Cửu Long
Thực trạng đói nghèo và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên của tác giả Bùi Minh Đạo - NXB Khoa học Xã hội,
năm 2005 Đề tài làm rõ về thực trạng và nguyên nhân đói nghèo của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm và giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số khu vực này Cũng nghiên cứu về đề tài xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tác giả Hà Quế Lâm cũng
có công trình Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp - NXB CTQG,2002 Công trình này được tác giả nghiên cứu ở
không gian rộng hơn, đó là thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trên cả nước
Tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua cũng có hàng loạt luân văn nghiên cứu về đề tài xóa đói giảm
nghèo Tiêu biểu như: Đảng bộ thành phố Cần Thơ lãnh đạo và thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (1996-2006) của Nguyễn Thị Tú Trinh; Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Nhà Bè từ năm 1997 đến 2008 của Phạm Văn Phương; Xóa đói giảm nghèo ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang hiện nay của Phạm Thanh Hải; Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số (1997-2010)
Trang 13của Bùi Viết Trung; Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo (2001-2010) của Nguyễn Thị Túy
Những công trình nghiên cứu trên đây đã giúp cho chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng đói nghèo và quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo của nhiều Đảng bộ, hệ thống chính trị ở nhiều địa phương Tuy nhiên, những công trình trên đều nghiên cứu ở lĩnh vực vĩ mô hoặc nghiên cứu ở những lĩnh vực nhất định, địa bàn cụ thể Nghiên cứu về quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, thành phố
Hồ Chí Minh chưa có một công trình nào trực tiếp bàn đến một cách toàn diện và có
hệ thống
Với thực tế trên, luận văn được triển khai trên cơ sở kế thừa, học hỏi những
lý luận chung, những thành quả và kinh nghiệm nghiên cứu của các công trình đã công bố, từ đó phát triển một hướng đi khá độc lập cho mình là đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2011
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích của luận văn:
+ Làm rõ quá trình Đảng bộ Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1997-2011
+ Chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của quá trình đó góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới
- Nhiệm vụ của luận văn:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, tình hình có liên quan đến việc lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9 thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14+ Làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1997-2011
+ Làm rõ những kết quả đạt được, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo thực hiện chính sách này trên địa bàn Quận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: sự lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu việc lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1997-2011 (kể từ khi quận 9 được thành lập cho đến nay) Cạnh đó, để đánh giá đúng quá trình lãnh đạo của Đảng bộ quận 9 trong thực hiện chính sách này, luận văn có sự so sánh với kết quả đạt được trong thời gian trước năm 1997
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, Đảng bộ Quận 9 trong lĩnh vực kinh tế và xóa đói giảm nghèo
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp lịch
sử, logíc, thống kê, phỏng vấn, chuyên gia, phân tích và tổng hợp, so sánh để làm rõ hơn những vấn đề mà đề tài đặt ra Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn tiến hành khảo sát thực địa, điều tra xã hội học để có cái nhìn thực tiễn hơn cho
đề tài
Trang 156 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương
Chương 1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2 Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1997-2011
Chương 3 Nhận xét, đánh giá và những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh (1997-2011)
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở QUẬN 9 1.1 Khái niệm và tiêu chí xác định đói nghèo
1.1.1 Quan niệm của thế giới
để xác định? Các nhà nghiên cứu đều cho rằng, nghèo đói là tình trạng một nhóm người trong xã hội không có khả năng được hưởng một “cái gì đó” Nhưng cái gì đó được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Những người theo trường phái phúc lợi xã hội [40; 11] thì xem “cái gì đó”
là mức phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo cho cuộc sống tối thiểu theo tiêu chuẩn của xã hội Đây là cách hiểu cơ bản nhất Quan niệm này toát lên ba vấn đề:
Một là, mức phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo cho cuộc sống kinh tế tối thiểu
Trang 17Hai là, mức phúc lợi đó do mỗi tiêu chuẩn xã hội quy định Tiêu chuẩn này thay đổi theo từng quốc gia, từng địa phương khác nhau
Ba là, mức phúc lợi theo tiêu chuẩn xã hội cũng phụ thuộc vào từng thời kỳ nhất định Trong mỗi giai đoạn, khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì tiêu chuẩn
đó cũng thay đổi
Ở đây, phúc lợi kinh tế là một khái niệm mang tính trừu tượng cao nên thường được đồng nhất với một khái niệm khác cụ thể hơn là mức sống Do vậy, tăng thu nhập là cách giải quyết tình trạng đói nghèo của xã hội Tức là, công việc xóa đói giảm nghèo là phải tạo ra việc làm, tăng năng suất,… để tạo ra thu nhập cho người dân Đây cũng là một cách hiểu nhưng chưa bao quát đầy đủ Bởi vì trong xã hội, bao giờ cũng có một nhóm dân cư có mức sống thấp hơn các nhóm dân cư khác, kể cả các nước phát triển Ngay cả trong cùng một nhóm nghèo cũng có sự phân chia khác nhau, có nhóm có cuộc sống vô cùng cơ cực, không đủ ăn, không có điện, nước để sinh hoạt,… Do vậy, cách hiểu này chỉ đưa ra cách đánh giá đói nghèo tương đối Hơn nữa, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, các chính sách tăng trưởng kinh tế,… làm cho thu nhập xã hội tăng lên, kể cả nhóm nghèo trong xã hội, nhưng bộ phận nghèo nhất vẫn còn một khoảng cách thu nhập khá xa, nhất là đối với nhóm giàu có Chính khoảng cách này đã tạo ra sự bất bình đẳng của xã hội Do
đó, nhận thức vấn đề nghèo đói chỉ dựa vào tiêu chí phúc lợi kinh tế thì chỉ giới hạn trong việc tìm kiếm một chuẩn nghèo chung mà không đánh giá đầy đủ tình trạng nghèo đói như nguồn gốc nảy sinh nghèo đói xuất phát từ cơ chế của nền kinh tế, những quyền lợi cơ bản trong xã hội mà họ không được hưởng,… Từ đó, việc giải quyết vấn đề đói nghèo chỉ đi vào bề ngoài như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thậm chí mang tính cứu tế, từ thiện mà thiếu đi những biện pháp giúp người nghèo vươn lên, khắc phục căn nguyên tình trạng đói nghèo
Quan niệm về đói nghèo theo nghĩa rộng hơn, những người theo phái nhu cầu cơ bản [40 ;12]xem xét đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận
Trang 18tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương trong những giai đoạn nhất định Quan niệm này toát lên ba vấn đề:
Một là, căn cứ để xem xét nghèo đói là nhu cầu cơ bản của con người như
ăn, mặc, ở, đi lại, giáo dục, y tế, giao thông công cộng,…
Hai là, về không gian, nhu cầu cơ bản đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia, địa phương khác nhau Nhu cầu cơ bản theo tiêu chuẩn xã hội sẽ khác nhau giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển và kém phát triển, giữa vùng đô thị với vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo
Ba là, về thời gian, nhu cầu cơ bản phụ thuộc vào từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội nhất định Trong mỗi giai đoạn khác nhau đó, khi kinh tế - xã hội có
sự thay đổi, tiêu chuẩn về nhu cầu cơ bản sẽ thay đổi theo, hay chuẩn nghèo sẽ tăng lên
Trường phái này được khởi đầu bằng quan niệm về đói nghèo của nhà kinh
tế người Anh Seebohm Rowntree từ những năm 1900 Qua cách đánh giá theo trường phái này, hiện tượng đói nghèo được xem xét tương đối bao quát và đầy đủ hơn Từ đó, chính sách xóa đói giảm nghèo không chỉ là việc tăng thu nhập mà phải
là tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nữa như là chính sách về giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp… để đưa người nghèo vượt lên chính mình, khắc phục được căn nguyên của nó
Quan niệm này được thể hiện một cách rõ ràng nhất qua định nghĩa về đói nghèo tại Hội nghị của Ủy ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương
(ESCAP) vào năm 1993 như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của các địa phương” [60; 24] Đây là định nghĩa định hướng cho việc nhìn nhận về vấn
đề đói nghèo cũng như đưa ra chính sách xóa đói giảm nghèo của các quốc gia
Trang 19Hiện nay, quan niệm về đói nghèo còn được hiểu theo năng lực của con
người Đây là quan niệm của trường phái năng lực [40; 13] Trường phái này được
khởi đầu bởi nhà kinh tế học người Mỹ gốc Ấn Độ, Amartya Sen, từ những năm 80 của thế kỷ XX Theo quan niệm của trường phái này, nhu cầu cơ bản là những điều kiện thiết yếu Tuy nhiên, những nhu cầu đó cũng tùy thuộc vào tuổi tác, giới tính,… và nhiều đặc điểm cá nhân khác Và khi những yếu tố đó thay đổi thì nhu cầu cơ bản của con người cũng biến đổi theo Do đó, trường phái này chú trọng đến năng lực của con người có thể đảm bảo được cuộc sống của chính họ Tức là chính sách xóa đói giảm nghèo phải đi từ giải quyết những nhu cầu cơ bản như dinh dưỡng, ở, sinh hoạt, giáo dục,… đến những nhu cầu cao hơn như sự dân chủ tham gia vào các công việc xã hội, để giúp con người có đủ năng lực thực hiện những quyền, nghĩa vụ của họ Từ đó, con người tự mình thoát khỏi tình trạng đói nghèo, vươn lên trong cuộc sống
Quan niệm về đói nghèo của trường phái năng lực hiện được nhiều tổ chức quốc tế như World Bank, Liên Hợp quốc, thống nhất và sử dụng các tiêu chí đó để đánh giá về tình trạng đói nghèo Như vậy, quan niệm về đói nghèo trên thế giới hiện nay được xác định trên những khía cạnh cơ bản:
Thứ nhất là về thu nhập Đây là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá về tình
trạng đói nghèo
Thứ hai là hưởng thụ các nhu cầu về giáo dục và y tế
Thứ ba là sự tham gia vào đời sống chính trị - xã hội
* Các thước đo xác định đói nghèo trên thế giới
Để xác định tình trạng đói nghèo, trên thế giới hiện nay cũng đưa ra các thước đo như sau:
Thước đo về thu nhập [3 ; 48] để xác định nghèo là mức thu nhập hay tiêu
dùng của một người thấp hơn mức tối thiểu cần thiết để đáp ứng những nhu cầu cơ bản Tương ứng với thước đo về thu nhập là “chuẩn nghèo” hay “đường giới hạn
Trang 20nghèo khổ” để xác định mức thu nhập hay tiêu dùng tối thiểu Chuẩn nghèo hay đường giới hạn nghèo khổ này phụ thuộc vào không gian, thời gian nhất định Do
đó, mỗi quốc gia tự xác định chuẩn nghèo theo trình độ phát triển, chuẩn mực và giá trị của xã hội mình Đánh giá theo thước đo thu nhập, nghèo được chia thành hai dạng:
Nghèo tuyệt đối được xem là nghèo đói thực sự Robert McNamara, nguyên
giám đốc Ngân hàng Thế giới (World Bank), đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta Trên thế giới, chuẩn nghèo đã được WB đưa ra để xác định nghèo tuyệt đối là 1 USD và 2 USD mỗi ngày mỗi người tính theo ngang giá sức mua năm 1993 Ngưỡng thu nhập 1 USD/ngày/người thường được sử dụng cho các nước kém phát triển như ở châu Á, châu Phi; ngưỡng thu nhập 2 USD/ngày/người được dùng cho các nước phát triển ở mức độ trung bình như Đông Á, châu Mỹ Latinh
Nghèo tương đối dùng để chỉ bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới mức
thu nhập tối thiểu của xã hội, như bằng 40% hay 60% thu nhập tối thiểu của một nước Tuy nhiên, việc xác định nghèo tương đối không đánh giá được thực trạng mức sống của con người do mức thu nhập tăng lên hay giảm đi thì tỷ lệ người nghèo cũng không thay đổi
Chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HPI) của UN đưa ra để
đo lường mức sống của một nước [3; 48] HDI đánh giá mức sống của một nước trên nhiều tiêu chí khác nhau: Thu nhập, học vấn, suy dinh dưỡng trẻ em, tỷ lệ sống của trẻ sơ sinh, tuổi thọ, dịch vụ y tế, tỷ lệ người dùng nước sạch,… HPI có hai cách tính:
Trang 21HPI cho các nước đang phát triển (HPI-1): Dùng để đo lường tình trạng
nghèo cùng cực theo ba khía cạnh của chỉ số phát triển con người HDI là sống thọ
và sống khỏe mạnh, kiến thức và mức sống khá
HPI cho một số nước OECD chọn lọc (HPI – 2): dùng để đo lường tình
trạng nghèo cùng cực theo ba khía cạnh của HDI là tuổi thọ và sức khỏe, kiến thức
và mức sống, đồng thời cũng đo lường tình trạng không có quyền lực trong xã hội
Như vậy, chỉ số nghèo con người HPI do UN đưa ra cho thấy quan niệm về nghèo đói của thế giới có sự mở rộng về các tiêu chí chứ không chỉ đánh giá về mức thu nhập UN cũng cho rằng đối với các nước phát triển, chỉ số nghèo con người HPI phản ánh tốt hơn mức độ nghèo cùng cực trong xã hội so với chỉ số phát triển con người là HDI
Thước đo về sự bất bình đẳng là các thước đo đánh giá về sự bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập [3; 49] Đây là một tiêu chí quan trọng để đánh giá tình trạng giàu nghèo và giải quyết nguồn gốc của nó Hiện nay, các nhà nghiên cứu đói nghèo trên thế giới dùng một số chỉ số phổ biến sau:
Chỉ số Gini được thể hiện ở dạng phần trăm của hệ số Gini, tức là bằng hệ
số Gini nhân với 100 Chỉ số Gini chỉ ra sự bất bình đẳng trong thu nhập, cụ thể chỉ
số Gini bằng 100% thể hiện bất bình đẳng tuyệt đối và 0% thể hiện bình đẳng tuyệt đối Tuy nhiên, hạn chế của chỉ số này là không phân rã được, nghĩa là chỉ số Gini tổng thể không bằng tổng Gini của các nhóm trong tổng thể đó
Chỉ số Theil (do nhà toán thống kê Henry Theil xây dựng) là chỉ số dùng để
thống kê đo lường sự bất bình đẳng về kinh tế Ưu điểm của chỉ số Theil là phân rã được Tức là tổng bình quân về bất bình đẳng trong một tổng thể sẽ bằng tổng sự bất bình đẳng về thu nhập của các nhóm trong tổng thể đó Hay có thể nói, nếu nghiên cứu trong một nước thì một nhóm sẽ “đóng góp” vào lượng bất bình đẳng của cả nước
Trang 22Tỷ số giữa thu nhập tiêu dùng của 20% dân số giàu nhất và 20% dân số nghèo nhất là chỉ số dùng để chỉ sự bất bình đẳng trong thu nhập tiêu dùng của
nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất của một quốc gia Cách tính là lấy
tỷ số của thu nhập/ tiêu dùng trên đầu người của nhóm 20% người có thu nhập cao nhất và thu nhập/ tiêu dùng trên đầu người của nhóm 20% người có thu nhập thấp nhất của một quốc gia
Thước đo này mô tả sự bất bình đẳng của hai nhóm người giàu nhất và nghèo nhất của quốc gia Tuy nhiên, chỉ số có hạn chế là không đánh giá 60% dân
số còn lại của quốc gia để có cách nhìn tổng thể
Tỷ số thu nhập/ tiêu dùng của x% người nghèo nhất là chỉ số đánh giá tình
trạng thu nhập của 20% số người có thu nhập thấp nhất của một quốc gia Chỉ số này có ưu điểm là luôn đánh giá được tình trạng của số người thu nhập thấp nhất trong xã hội bất kể có sự thay đổi của chính sách, tăng trưởng về thu nhập Hơn nữa, chỉ số này còn giúp đánh giả khả năng thực sự của nhóm người nghèo nhất trong quốc gia trước điều kiện sinh hoạt hàng ngày như chế độ sinh dưỡng, nước sạch, y tế, giáo dục,… Do đó, những biện pháp hỗ trợ về dịch vụ xã hội, cơ sở vật chất cho họ có thể mang lại nhiều hữu ích bên cạnh việc tăng thu nhập
Như vậy, cùng với sự phát triển kinh tế và xã hội, quan niệm về đói nghèo trên thế giới ngày càng được hiểu rộng hơn Đói nghèo vượt xa cách hiểu chỉ là về thu nhập mà còn được đánh giá tổng quát hơn ở sự tiếp cận các nhu cầu y tế, giáo dục,… và rộng hơn nữa là về sự tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Cùng với cách hiểu ngày càng rộng hơn, các thước đo về đói nghèo cũng được đưa ra với cách đánh giá tương ứng theo từng quan niệm Những quan niệm đó góp phần định hướng cho xây dựng xã hội, từ giải quyết vấn đề thu nhập cho đến thực hiện các chính sách về giáo dục, y tế,… và hướng tới xây dựng một xã hội thật sự dân chủ cho mọi người
Trang 231.1.2 Quan niệm về đói nghèo của Việt Nam
Đói nghèo
Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá phong phú Cùng với sự hội nhập quốc tế, quan niệm này của Việt Nam cũng dần thống nhất với quan niệm của thế giới Ở thời kỳ đầu, đói nghèo được hiểu thành hai khái niệm là đói và nghèo, từ đó cũng chia ra người đói và người nghèo, hộ đói và hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo [40; 15]
Đói là tình trạng con người không đủ lương thực, không đủ năng lượng tối
thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống hàng ngày
Nghèo là tình trạng của người dân có mức thu nhập thấp đáp ứng không đủ
hoặc vừa đủ nhu cầu ăn mà không thể đáp ứng được các nhu cầu khác (ở, mặc, đi lại, học tập, y tế,…) Khái niệm nghèo đồng nghĩa với nghèo khổ, nghèo túng, túng thiếu về mặt kinh tế
Đói và nghèo là hai khía cạnh nói lên cuộc sống cùng cực của con người
Từ vấn đề đói nghèo, con người không có điều kiện phát triển bình thường về thể lực, trí tuệ, sức khỏe, ít có khả năng tiếp cận với giáo dục, y tế,… Biểu hiện cụ thể
là người dân không đủ ăn, phải ăn thất thường dẫn đến thiếu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết; không đủ quần áo để mặc, trẻ em không được đi học, không
có điều kiện chữa bệnh, người thấp bé, hay bệnh tật, tuổi thọ thấp,… và hơn nữa là không có điều kiện tích lũy của cải, xây dựng nhà cửa, phát triển sản xuất, hưởng thụ văn hóa, nắm bắt các quy định pháp luật,…
Từ khái niệm đói và nghèo, Việt Nam đưa ra các khái niệm tương ứng là hộ đói và hộ nghèo Cạnh đó, những địa phương có điều kiện tự nhiên khó khăn, có vị trí về an ninh quốc phòng, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, có nguồn lực hạn chế cần tập trung ưu tiên hỗ trợ giải quyết đói nghèo, nên Nhà nước đã dùng các thuật ngữ xã nghèo, huyện nghèo, vùng nghèo
Trang 24Chuẩn đói nghèo quốc gia
Đảng chủ trương xóa đói giảm nghèo từ rất sớm Tuy nhiên, do trước và đầu thời kỳ đổi mới, nhân dân đa số đều nghèo nên Nhà nước chưa xác định chuẩn nghèo Đến năm 1993, Tổng cục Thống kê đã kết hợp với Ngân hàng thế giới sử
dụng tiêu chí mức chi tiêu tối thiểu/người/ngày tính ra đơn vị Kcalo để xác định
người dân thuộc diện nghèo, cụ thể mức tối thiểu là 2.100 Kcalo/người/ngày Nhưng đây không phải là tiêu chí phổ biến để xác định đói nghèo của Chính phủ Việt Nam Tiêu chí để Chính phủ và các địa phương xác định vấn đề đói nghèo của
Việt Nam được sử dụng là chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra [Dẫn theo 86; 26] Chuẩn nghèo này được xác định là mức thu nhập/người/tháng, được xác định bằng tiền hoặc quy thành khối lượng lương thực
Tiêu chí này không phải là bắt buộc với toàn quốc mà tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mỗi địa phương có thể đưa ra chuẩn nghèo cao hơn phù hợp với địa phương mình Nhưng chuẩn nghèo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
là mức tối thiểu chung nhất để xác định người nghèo
Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa ra các chuẩn nghèo khác nhau Cụ thể:
Giai đoạn 1993-1995: Hộ đói và hộ nghèo, xác định theo vùng thành thị và
nông thôn nên có hai chuẩn: Chuẩn đói và chuẩn nghèo, ở thành thị và nông thôn
Giai đoạn 1995-1997: vấn đề đói nghèo được xác định thành hộ đói, hộ
nghèo và phân theo từng vùng là nông thôn miền núi và hải đảo, nông thôn đồng bằng và trung du; thành thị Cụ thể:
Trang 25- Chuẩn hộ đói (hộ đói): Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 13kg/người/tháng
- Chuẩn hộ nghèo (hộ nghèo) được xác định theo vùng (xem bảng 1), cụ thể như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 15kg/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng và trung du: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 20kg/người/tháng
+ Vùng thành thị: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 25kg/người/tháng
Giai đoạn 1997-2000: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã xác định
chuẩn đói nghèo theo hộ đói, hộ nghèo và theo ba vùng: Nông thôn miền núi và hải đảo; nông thôn đồng bằng và trung du; thành thị [7] Cụ thể như sau:
- Chuẩn hộ đói (hộ đói): Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 13kg/người/tháng hoặc thu nhập dưới 45.000 đồng/người/tháng (giá năm 1997), áp dụng cho cả nước
- Chuẩn hộ nghèo (hộ nghèo) được xác định theo vùng (xem bảng 2), cụ thể như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 15kg/người/tháng hoặc thu nhập dưới 55.000 đồng/người/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng và trung du: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 20kg/người/tháng hoặc thu nhập dưới 70.000 đồng/người/tháng
+ Vùng thành thị: Mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo dưới 25kg/người/tháng hoặc thu nhập dưới 90.000 đồng/người/tháng
Trang 26Giai đoạn 2001-2005: Quy định chuẩn hộ nghèo theo mức thu nhập bình
quân đầu người trong hộ theo từng vùng [4], cụ thể như sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000 đồng/tháng, dưới 960.000 đồng/năm;
- Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 100.000 đồng/tháng, dưới 1.200.000 đồng/năm;
- Vùng thành thị: dưới 150.000 đồng/tháng, dưới 1.800.000 đồng/năm
Giai đoạn 2006-2010: chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 [74], cụ thể:
- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
Giai đoạn 2011-2015: Chính phủ đưa ra hai chuẩn là chuẩn hộ nghèo và
chuẩn hộ cận nghèo để thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách an sinh
xã hội và các chính sách kinh tế, xã hội khác góp phần cho người nghèo, người dễ
bị tổn thương khi gặp những biến cố góp phần đảm bảo phát triển bền vững Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau [77]:
- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Trang 27- Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Như vậy, chuẩn nghèo của Việt Nam đã được xác định từ sớm và có sự điều chỉnh qua các thời kỳ khác nhau (xem bảng 3) Qua các giai đoạn, chuẩn nghèo được xác định rất thấp, chủ yếu là mức thu nhập đáp ứng lương thực, thực phẩm của người dân là chủ yếu Điều đó cũng phù hợp với đặc điểm nước ta là một nước nông nghiệp, chậm phát triển Chuẩn nghèo cũng được chia ra theo vùng thành thị và nông thôn Đây là cơ sở để Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư, giải quyết vấn đề đói nghèo, nhất là ở khu vực miền núi, hải đảo có điều kiện vật chất thấp, có vị trí quan trọng về an ninh quốc gia
Chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và kết quả thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, các tỉnh, thành phố có thể nâng chuẩn hộ nghèo cao hoặc thấp hơn so với chuẩn nghèo quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị có kinh tế
- xã hội phát triển nhanh nhất cả nước Thu nhập bình quân đầu người cao và chi phí sinh hoạt cũng cao hơn các địa phương Cho nên, căn cứ vào chuẩn nghèo quốc gia và tình hình kinh tế - xã hội, mức thu nhập thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành chuẩn nghèo như sau (xem Bảng 4):
- Đầu tháng 2 năm 1992: Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo và bước đầu triển khai ở các huyện ngoại thành
và các phường có nông nghiệp của 4 quận: Quận 8, Bình Thạnh, Gò Vấp và Tân Bình Chuẩn nghèo được xác định là mức thu nhập bình quân đầu người dưới 520.000 đồng/năm tương đương với 156 kg gạo (40.000 đồng/tháng, tương đương
13 kg gạo)
- Tháng 10 năm 1992: Thành phố Hồ Chí Minh sơ kết Chương trình xóa đói giảm nghèo và điều chỉnh chuẩn nghèo mới phân loại riêng ra cho ngoại thành và nội thành nhằm phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mức thu nhập của
Trang 28từng khu vực Cụ thể, mức thu nhập bình quân hàng năm của hộ nghèo đói ở nội thành là 1.000.000 đồng/người/năm và ngoại thành là 700.000 đồng/người/năm
- Năm 1995: để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Hồ Chí Minh điều chỉnh chuẩn nghèo mới là 1.500.000 đồng/người/năm ở nội thành và 1.000.000 đồng/người/năm ở ngoại thành
- Năm 1997, thành phố Hồ Chí Minh đã Tổng kết năm năm thực hiện Chương trình xóa đói giảm nghèo và đã đề ra chuẩn nghèo giai đoạn 1 (1997 – 2003): Các quận nội thành (Quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Phú Nhuận,
Gò Vấp và Tân Bình) là 3.000.000 đồng/người/năm hoặc 250.000 đồng/người/tháng; các huyện ngoại thành và quận mới (Quận 2, 7, 9, 12, Thủ Đức, huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè và Cần Giờ) là 2.500.000 đồng/người/năm hoặc 200.000 đồng/người/tháng
- Giai đoạn 2 (2004 – 2008): Thành phố đề ra chuẩn nghèo chung cả quận nội thành và ngoại thành có mức thu nhập trung bình 4.000.000 đồng/người/năm Đến năm 2006, thành phố Hồ Chí Minh đã điều chỉnh nâng chuẩn nghèo lên 6.000.000 đồng/người/năm
- Giai đoạn 3 (2009 – 2015): Kết thúc Chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2 sớm hai năm, Thành phố đã điều chỉnh chuẩn nghèo lên 12 triệu đồng/người/năm
Như vậy, để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội địa phương và đặc điểm sống của dân cư nội thành và ngoại thành, thành phố Hồ Chí Minh đã 7 lần điều chỉnh chuẩn nghèo làm cơ sở để thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng
và Nhà nước
*
Đói và nghèo là hai khía cạnh nói lên cuộc sống cùng cực của con người
Từ vấn đề đói nghèo, con người không có điều kiện phát triển bình thường về thể lực, trí tuệ, sức khỏe, ít có khả năng tiếp cận với giáo dục, y tế,… Điểm chung lớn
Trang 29nhất giữa Việt Nam với nhiều quan niệm phổ biến trên thế giới chính là nhận thức
về nguồn gốc nảy sinh nghèo đói, phương cách giải quyết vấn đề đói nghèo phải là tổng hợp từ nhiều yếu tố: Giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cứu tế, từ thiện; thực hiện tốt chính sách về giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp… để đưa người nghèo vượt lên chính mình
Để thực hiện có hiệu quả công cuộc xái đói giảm nghèo, từ những năm
1990 Việt Nam, cũng như ở thành phố Hồ Chí Minh đã sớm xác định chuẩn nghèo Việc xác định này phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội địa phương và đặc điểm sống của cộng đồng dân cư thành phố, làm cơ sở để thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước
1.2 Quan điểm mác-xít về đói nghèo và chủ trương, chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về đói nghèo
Nghèo đói không phải là hiện tượng của riêng một chế độ xã hội nào, từ công xã nguyên thủy cho đến các chế độ xã hội đương đại Nghèo đói xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, do sự phát triển chậm chạp của trình độ sản xuất, lũ lụt, thiên tai Trong xã hội đương đại, ngay cả ở những nước rất phát triển, trình độ khoa học công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao nhưng vấn đề đói nghèo vẫn xảy ra Do đó, chúng ta cần phải làm rõ cơ sở khoa học của hiện tượng này
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trong thời kỳ thế giới đã chuyển sang giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản Đây là hệ thống lý luận xuất phát từ điều kiện kinh
tế - xã hội của các nước chủ nghĩa tư bản Mặc dù, hệ thống lý luận này không đi vào luận giải về vấn đề đói nghèo như một vấn đề riêng biệt mà luận giải hiện tượng này gắn liền với sự áp bức giai cấp, hậu quả của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
Trang 30C Mác và Ph Ăngghen luận giải chế độ áp bức, bóc lột giai cấp đã dẫn đến hiện tượng đói nghèo trong xã hội tư bản chủ nghĩa Trong quá trình tích lũy tư bản, nông dân bị cưỡng đoạt ruộng đất, mất hết tư liệu sản xuất nên họ bị thất nghiệp, phải đi bán sức lao động của mình trong các nhà máy, xí nghiệp Trong nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa, xuất phát từ địa vị của công nhân trong quan hệ sản xuất là người làm thuê, nên người công nhân chỉ được trả lương theo giá cả sức lao động để đảm bảo duy trì “cuộc sống tối thiểu” của bản thân và gia đình của mình Còn nếu như
có biến động gì của nền kinh tế, hay sự thua lỗ của nhà tư bản, thì công nhân còn phải gánh chịu giảm sút lương bổng, thậm chí là thất nghiệp C Mác chỉ rõ: Khi nhà
tư bản được lợi, người công nhân không nhất thiết cũng được lợi, còn khi nhà tư bản bị lỗ thì người công nhân nhất định phải bị thiệt cùng với nhà tư bản Hơn nữa, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự cạnh tranh gay gắt của các nhà tư bản, sự khủng hoảng kinh tế có thể dẫn đến sự phá sản của một số nhà tư bản làm cho số lượng việc làm giảm đi, tiền công sụt giảm; bên cạnh đó là số lượng công nhân ngày càng tăng, đe dọa đến chỗ làm của họ, có thể dẫn đến thất nghiệp Những điều
đó đe dọa cuộc sống của người công nhân, kể cả người thân của mình C Mác luận
giải trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844 rằng: “Ngay cả trong trạng thái xã
hội có lợi nhất cho công nhân, hậu quả tất yếu đối với công nhân cũng là tình trạng lao động cật lực, tình trạng bị chết yểu, tình trạng bị hạ xuống đóng vai một cái máy, một nô lệ của tư bản mà sự tích lũy của nó là cái nguy hiểm cho công nhân, tình trạng có một cuộc cạnh tranh mới, tình trạng một bộ phận công nhân không tránh khỏi cảnh chết đói hoặc đi ăn xin” [15; 77]
Như vậy, trong xã hội tư bản chủ nghĩa tồn tại một nghịch lý phổ biến rằng,
sự gia tăng của cải ở nhà tư bản lại dẫn đến sự bần cùng và đói nghèo của công nhân Hay nói một cách cụ thể hơn, sự bần cùng của người lao động bắt đầu từ chính sự vật lộn đến kiệt sức vì miếng ăn, vì tồn tại thân xác Người công nhân bị bần cùng hóa ngay cả khi anh ta tạo ra sự giàu có bằng lao động của mình “Nói cách khác, sự cùng khổ bắt nguồn từ bản chất của chính lao động hiện tại” [15; 81]
Trang 31Thứ hai, sự đói nghèo trong xã hội có nguồn gốc từ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Chế độ sở hữu đó quyết định sản phẩm lao động thuộc về ai và do đó quyết định chế độ phân phối trong chủ nghĩa tư bản Nhà tư bản nắm giữ tư liệu sản xuất nên sản phẩm làm ra, lợi nhuận thu được nằm trong tay họ, do họ quyết định Những người lao động làm thuê chỉ được trả một mức lương theo giá cả sức lao động đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu của mình, thậm chí còn bị sa thải bất cứ lúc nào Nên sự bần cùng, nghèo nàn tập trung về phía
họ, về đa số những người lao động Để xóa bỏ sự bất công này cần phải xóa bỏ nguồn gốc phát sinh ra chúng là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Để làm được điều đó, cần phải làm cuộc cách mạng vô sản lật đổ chính quyền của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản và dùng chính quyền đó để làm tiếp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa cộng sản C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo nhân dân lao động tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng này, thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa bằng xã hội xã hội chủ nghĩa
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc, V.I Lênin cũng bàn đến vấn đề đói nghèo ở các nước thuộc địa dưới chế độ áp bức, bóc lột của các nước chủ nghĩa đế quốc Chính sách sách khai thác, bóc lột thuộc địa bằng các loại thuế nặng nề, bóc lột sức lao động, vơ vét tài nguyên thiên nhiên,… làm cho nhân dân các nước thuộc địa cùng cực, nghèo đói hơn
Như vậy, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin không xem xét riêng biệt nghèo đói là một vấn đề riêng của xã hội mà phân tích vấn đề này là hậu quả của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, từ sự áp bức, bóc lột giai cấp Tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm mục đích mưu cầu cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân, xóa bỏ nghèo đói, xóa bỏ tình trạng áp bức bóc lột
Trang 32Quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, giành độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, Hồ Chí Minh xem giải quyết vấn đề đói nghèo là mục tiêu cần phải giải quyết ngay gắn liền với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Người nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [51; 152] và “chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do, nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động thoát khỏi nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no
và được sống một đời hạnh phúc” [52;12] Như vậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội không phải là khẩu hiệu suông, không phải là những giá trị quá xa vời mà đó
là một xã hội mới với những giá trị rất thực tế, gần gũi với mọi người dân, trước hết
về kinh tế là được “ăn no, mặc đủ” Do đó, những tư tưởng chỉ đạo của Người trong các giai đoạn cách mạng là phải hướng tới cho người dân có một cuộc sống đủ ăn,
đủ mặc và ngày càng giàu thêm; mục tiêu này được thực hiện bằng những biện pháp trước mắt và lâu dài
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định nước ta phải chống ba loại giặc là giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Đói, dốt và ngoại xâm đều là giặc và trong ba loại giặc này, giặc đói phải được tiêu diệt đầu tiên để nhân dân thực sự được hưởng và cảm nhận được giá trị của nền độc lập, của chế độ mới Để đối phó với nạn đói do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại, ngày 3-9-1945, ngay sau khi Tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 việc
cấp bách cần làm ngay với nhiệm vụ đầu tiên là “phát động ngay một chiến dịch
tăng gia sản xuất để chống đói” Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong giai đoạn vừa giành được chính quyền là kháng chiến và kiến quốc với phương hướng về kinh tế là “cải thiện đời sống nhân dân”, và xác định biện pháp về kinh tế để giải quyết ngay nạn
Trang 33đói, cải thiện đời sống nhân dân Người “kêu gọi lòng yêu nước thương nòi của các giới đồng bào, lập quỹ cứu tế, lập kho thóc cứu tế, tổ chức “bữa cháo cầm hơi” động viên thanh niên nam, nữ tổ chức thành các đoàn “cứu đói”, và các “đội quân trừ giặc đói” để giồng giọt khai khẩn, lấy lương cho dân nghèo, hay quyên cho các quỹ cứu tế, tổ chức việc tiếp tế, mua gạo nhà giàu bán cho nhà nghèo theo giá hạ, chở gạo chỗ thừa sang chỗ thiếu, v.v ” [19; 52] Những phương hướng và biện pháp về kinh tế này vừa mang tính khẩn trương để diệt ngay “giặc đói” trước mắt, vừa mang tính định hướng lâu dài khi nạn đói xảy ra, cũng như trong phát triển kinh
tế
Trong xây dựng chế độ xã hội mới, theo Hồ Chí Minh, xóa đói, giảm nghèo
và nâng cao đời sống nhân dân là mục tiêu của mọi đường lối, chính sách Người nói: “Tất cả đường lối, phương châm, chính sách của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống nhân dân” [53; 380] Có nghĩa là trong phát triển kinh tế, mục tiêu là làm cho nhân dân có đủ cái ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh, giải trí,… tức là lo
cho mỗi người dân đều được ấm no, hạnh phúc Mục tiêu này vừa là thước đo tính
đúng đắn, ý nghĩa, giá trị của mỗi đường lối, chính sách của Đảng, các biện pháp thực hiện của Nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng chủ nghĩa xã hội là “làm cho dân giàu, nước mạnh Dân có giàu thì nước mới mạnh” Vì vậy, chính sách phát triển kinh tế là “làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm” [52; 65] Cho nên, chính sách phát triển kinh tế đều hướng đến mục tiêu bình đẳng cho mọi người, làm cho mỗi người đều có điều kiện phát huy khả năng, đủ ăn và khá giả hơn Dĩ nhiên, trong xã hội, ở mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước có những khả năng khác nhau và năng lực của từng cá nhân cũng khác, nên có bộ phận giàu lên trước, có bộ phận còn nghèo khó nhưng cuộc sống ai cũng được cải thiện, nâng cao từng bước, đó là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Chủ tịch
Hồ Chí Minh chỉ ra trong chính sách của Đảng và Nhà nước là: “Lo toan và bảo đảm những điều kiện sống cho mọi người trong xã hội, bất kể thành phần, vị trí, hoàn cảnh Đối với người nghèo, lo cơm ăn, áo mặc, học hành Đối với người hữu
Trang 34sản, lo làm sao giúp đỡ họ có thể đem tài năng và những phương tiện để phát triển sản xuất, góp phần kiến quốc” [62; 278] Đó cũng là định hướng cho chính sách về kinh tế và chính sách về xã hội
Tóm lại, xuất phát từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Hồ Chí Minh bàn về đói nghèo và xem đây là mục tiêu cần giải quyết gắn liền với bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Có giải quyết được nghèo đói mới làm cho nhân dân được hưởng giá trị của nền độc lập, của chế
độ mới và có niềm tin, sức mạnh để góp phần vào sự nghiệp chung của cả nước Giải quyết đói nghèo phải được giải quyết bằng những biện pháp thiết thực trước mắt và cả chính sách lâu dài Đây là mục tiêu và là thước đo của đường lối, chính sách phát triển kinh tế Và cuối cùng, giải quyết đói nghèo là một vấn đề quan trọng trong chính sách kinh tế và chính sách xã hội
1.2.2 Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam từ đổi mới đến nay 1.2.2.1 Thời kỳ trước đổi mới
Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo kiến thiết đất nước trong bối cảnh nhân dân đang phải gánh chịu nạn đói nặng nề do phát xít Nhật để lại Ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách
cần làm ngay với nhiệm vụ đầu tiên là “phát động ngay một chiến dịch tăng gia sản
xuất để chống đói” Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ (1954-1975), toàn thể dân tộc đều chung sức thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc Đời sống nhân dân còn thấp nhưng đều chung sức vì nhiệm vụ chung
Sau năm 1975, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Ở giai đoạn 1975-1986, đất nước còn khó khăn, đời sống nhân dân còn nghèo khổ, mục đích trước mắt là đảm bảo ăn, mặc, ở, đi lại,… cho toàn dân
Trang 351.2.2.2 Những chủ trương của Đảng về xóa đói giám nghèo từ đổi mới đến nay
Bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng năm 1986, đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, cuộc khủng hoảng kinh tế được giải quyết, đời sống nhân dân bắt đầu khá hơn thì trong xã hội, một bộ phận dân cư đã khá giả hơn nhưng rất nhiều người dân còn nghèo khổ,tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng vẫn xảy ra Nên Đại hội VII của Đảng năm 1991 đã bắt đầu đưa ra những quan điểm về xóa đói giảm nghèo: “bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” [22; 73], Đại
hội cũng khẳng định: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội,… Lấy phân phối theo lao động làm hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi
đôi với giảm số người nghèo Quan điểm của Đảng về giải quyết tình trạng nghèo đói cho nhân dân đã làm cơ sở cho các địa phương xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo
Năm 1992, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tiên xây dựng
chương trình xóa đói giảm nghèo với tên gọi Chương trình phấn đấu thu hẹp và từng bước xóa hộ nghèo đói Từ đó, chương trình xóa đói giảm nghèo đã được nhân
rộng ra ở các địa phương trong cả nước Tuy nhiên, giai đoạn này, nội dung của các chương trình xóa đói giảm nghèo chủ yếu là trích tiền trong ngân sách địa phương
để cứu trợ cho các gia đình đói nghèo, vận động sự tự nguyện của những người hảo tâm để cứu đói, hỗ trợ vốn cho người nghèo chứ chưa hình thành một chính sách lớn Nhưng những hoạt động thực tiễn đó đã tạo cơ sở cho Đảng ban hành một chính sách về xóa đói giảm nghèo
Ngày 10 tháng 6 năm 1993, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã đề ra chủ trương về xóa đói giảm nghèo: “Trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn Hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp dân, nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong nước và quốc tế Phấn đấu tăng số hộ
Trang 36giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo” [18] Chủ trương Hội nghị Đại hội Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (tháng 1-1994): “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo Coi một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển Đồng thời, có chính sách ưu đãi hợp lý về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo điều kiện cho người nghèo có thể tự mình vươn lên làm đủ sống và phấn đấu trở thành khá giả” [20;223] Như vậy, quan điểm của Đảng về xóa đói giảm nghèo đã hình thành như một chủ trương quan trọng qua các Hội nghị của Đảng khóa VII Các biện pháp để xóa đói giảm nghèo được đề cập cụ thể
Trên cơ sở đường lối, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996) đã đưa xóa đói giảm nghèo thành một nội dung quan trọng của chính sách xã hội Đại hội đưa ra quan điểm: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo Thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư” [23;114]và chỉ đạo:
“Thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả
Tổ chức tốt đời sống xã hội trên từng địa bàn để trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp vẫn tạo được một cuộc sống khá hơn cho nhân dân
Mở rộng diện các xã có điện, có đường, có trường học, có trạm y tế, có nước sạch…” [23; 115] Đại hội đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo thành một chương trình quan trọng trong giai đoạn 1996-2000 với mục tiêu: “Giảm tỉ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000, bình quân giảm 300 nghìn hộ/năm Trong 2 - 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xoá về cơ bản nạn đói kinh niên” [23; 221]và những cơ chế chính sách cụ thể cho người nghèo và xã nghèo Đến đây, xóa đói giảm nghèo đã trở
Trang 37thành một mục tiêu quốc gia, một chương trình quan trọng trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng
Lãnh đạo thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, ngày 29-11-1997, Bộ
Chính trị đề ra Chỉ thị số 23/BCT-TW về Lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo đã quán triệt trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức xoá đói,
giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược ổn định, phát triển kinh tế
- xã hội; thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa; kế tục và phát huy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Chỉ thị đã có sự chỉ đạo cụ thể một số vấn đề về chính sách, việc triển khai tổ chức thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo do Đại hội VIII của Đảng đề ra
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) tiếp tục khẳng định quyết tâm xóa đói giảm nghèo: “Thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo Tiếp tục tăng nguồn vốn xóa đói, giảm nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất, kinh doanh Có chính sách trợ giá nông sản, phát triển việc làm và nghề phụ nhằm tăng thu nhập của các hộ nông dân Thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống mọi thành viên cộng đồng, bao gồm bảo hiểm xã hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh tế, cứu trợ xã hội những người gặp rủi ro, bất hạnh” [24; 106] Đại hội IX đã xác định mục tiêu cụ thể về xóa đói, giảm nghèo trong nhiệm kỳ là xóa hộ đói, giảm hộ nghèo và đưa ra nhiều định hướng cụ thể để thực hiện mục tiêu đó
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4-2006) đã đánh giá kết quả xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 2001-2005 là to lớn, kết hợp tốt nguồn lực của Nhà nước và nhân dân Tuy nhiên, kết quả chưa được vững chắc, nguy cơ tái nghèo lớn Đại hội chủ trương: “Tạo điều kiện và cơ hội tiếp cận bình đẳng các nguồn lực phát triển, hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát đói nghèo vững chắc
Trang 38ở các vùng nghèo và các bộ phận dân cư nghèo Khắc phục tư tưởng bao cấp, ỷ lại” [25; 101]
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (tháng 1-2011) đã đưa chủ trương xóa đói, giảm nghèo trở thành một nội dung của chính sách an sinh xã hội và chủ trương: “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xóa đói, giảm nghèo bền vững, tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo” [26; 229]
1.2.2.3 Những chính sách của Chính phủ về xóa đói giám nghèo từ đổi mới đến nay
Thực hiện những chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là chủ trương của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6-1996) đưa xóa đói giảm nghèo thành một nội dung quan trọng của chính sách xã hội; xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo; với mục tiêu: “Giảm tỉ lệ nghèo đói trong tổng số hộ của cả nước từ 20 - 25% hiện nay xuống còn khoảng 10% vào năm 2000” [23; 89] xác định xóa đói giảm nghèo là mục tiêu quốc gia, một chương trình quan trọng trong lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Từ sau Đại hội VIII (năm 1996) trên cơ sở chủ trương của Đảng về xóa đói giảm nghèo, Chính phủ xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình xóa đói
giảm nghèo Tháng 7 - 1998, Chính phủ xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1998 – 2000 [71] Chương trình này nằm trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với mục tiêu giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% vào năm 2000 Để thực hiện chương trình này Chính phủ triển khai thực hiện với 9 dự án:
1 Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (không kể nước sạch nông thôn) và sắp xếp lại dân cư;
Trang 398 Dự án định canh, định cư, di dân, kinh tế mới;
9 Dự án hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn Như vậy, đây là chương trình quốc gia đầu tiên về xóa đói giảm nghèo với những dự án cụ thể cho người nghèo trên khắp cả nước Các dự án của Chương trình đã thể hiện những chính sách hỗ trợ người nghèo cả trước mắt (vốn, y tế, giáo dục) và lâu dài (xây dựng kết cấu hạ tầng, hướng dẫn làm ăn, đào tạo ngành nghề, đào tạo đội ngũ cán bộ,…)
Để tiến hành hiệu quả công cuộc xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng nhưng kém phát triển, đồng thời, giúp đồng bào các dân tộc thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, hòa nhập vào sự
phát triển chung của cả nước, tháng 7-1998, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa [72] Về sau do sự tác động rộng lớn, chương trình này có tên gọi chung là Chương trình 135
Chương trình 135 được thực hiện trong hai giai đoạn 1998-2000 và
2000-2005 Chương trình tập trung thực hiện các chính sách chủ yếu là chính sách đất đai, chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách thuế
Trang 40Như vậy, trong giai đoạn 1998-2000, Chính phủ đã ban hành hai Chương trình lớn (thường được gọi tắt là Chương trình 133 và Chương trình 135) với những mục tiêu, nhiệm vụ và sự phân công cụ thể để tập trung thực hiện quyết liệt chủ trương xóa đói giảm nghèo của Đảng Những Chương trình này thể hiện tinh thần quyết tâm cao và biện pháp cụ thể rõ ràng nhằm nâng cao đời sống nhân dân
Năm 2001, trên cơ sở kết thúc ba năm thực hiện Chương trình 133, Chính phủ đã đánh giá tổng kết thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và xây dựng Chương trình xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 Chương trình xóa đói giảm
nghèo giai đoạn này nằm trong Chương trình mục tiêu Quốc gia Xóa đói giảm nghèo và Việc làm giai đoạn 2001 – 2005 [73] Mục tiêu cụ thể của chương trình
xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 là giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí mới) xuống dưới 10%, bình quân mỗi năm giảm 1,5-2% (khoảng 28 vạn đến 30 vạn hộ/năm); không để tái đói kinh niên; các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh, điện, nước sinh hoạt, chợ)
Để thực hiện mục tiêu trên, Chính phủ đã ban hành các chính sách hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo [73], bao gồm: hỗ trợ về y tế, về giáo dục, chính sách an sinh xã hội, miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, trợ giúp đối tượng nghèo về nhà ở, công cụ lao động và đất sản xuất Đồng thời, Chính phủ cũng triển khai một số dự án hỗ trợ trực tiếp xóa đói giảm nghèo như: Dự án tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh; Dự án hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Dự án xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc thù (bãi ngang ven biển, vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng ATK, vùng sâu đồng bằng sông Cửu Long); Các dự án xóa đói giảm nghèo cho các xã nghèo (có 25% hộ nghèo trở lên và chưa đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu) không thuộc Chương trình 135: Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các
xã nghèo (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh, điện, nước sinh hoạt, chợ); Dự án hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề các xã nghèo; Dự án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo và cán bộ các xã nghèo; Dự án