106 Chương 3: Thành tựu, hạn chế, bài học và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới ..... Tuy nhi
Trang 1******
TRẦN THỊ KIM OANH
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIAI ĐOẠN
1996 - 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ SỬ HỌC
Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2015
Trang 2******
TRẦN THỊ KIM OANH
ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIAI ĐOẠN
Trang 3TỈNH QUẢNG NGÃI
TỶ LỆ 1:150.000
Trang 4TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 5A Phần mở đầu
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm của đề tài 7
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 10
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 10
7 Kết cấu của luận văn 11
B Nội dung Chương 1: Quan điểm chủ trương phát triển KCN của Đảng trong thời kỳ CNH, HĐH và thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1996
1.1 Lý luận chung về KCN 12
1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1996 19
1.3 Những điều kiện cơ bản cho việc xây dựng và phát triển các KCN ở tỉnh Quảng Ngãi 23
1.3.1 Về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý 23
1.3.2 Về đặc điểm lịch sử, dân cư - xã hội 24
1.3.3 Về giao thông 27
1.3.4 Về nguồn nhân lực 29
1.3.5 Về tài nguyên thiên nhiên 33
1.3.6 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 35
Trang 6thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH 43
Chương 2: Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong việc xây dựng và phát triển các KCN giai đoạn 1996 - 2012 54
2.1 Quan điểm, chủ trương phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 1996 – 2012 54
2.2 Quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 1996 đến năm 2012 64
2.2.1 Lãnh đạo công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng các KCN 64
2.2.2 Lãnh đạo quá trình quy hoạch, xây dựng và phát triển hạ tầng KCN … 67
2.2.3 Lãnh đạo công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 77
2.2.4 Lãnh đạo quá trình thực hiện tổ chức quản lý và đẩy mạnh cải cách hành chính 81
2.2.5 Lãnh đạo quá trình hình thành những cơ chế, chính sách hỗ trợ và thu hút vốn đầu tư 84
2.3 Kết quả quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1996 - 2012) 93
2.3.1 Tình hình thu hút đầu tư của các KCN tỉnh Quảng Ngãi 93
2.3.2 Tình hình hoạt động của các nhà đầu tư tại các KCN 99
2.3.3 Tình hình môi trường trong và ngoài các KCN 106
Chương 3: Thành tựu, hạn chế, bài học và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới 111
Trang 73.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 118 3.2 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh sau 16
năm lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN 126 3.3 Một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng
và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới 130
C Kết luận 142
D Tài liệu tham khảo
E Phụ lục
Trang 8vi toàn quốc, nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành một quốc gia công nghiệp vào năm
2020 Thực hiện chủ trương đó, trong suốt thời gian qua Đảng và Nhà nước đã định
hình ba vùng kinh tế trọng điểm Bắc -Trung - Nam, để phát triển các ngành công
nghiệp có thế mạnh của cả nước, của từng vùng
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là một trong những vùng kinh tế năng động nhất cả nước, đảm bảo được vai trò hạt nhân tăng trưởng thúc đẩy kinh tế khu vực miền Trung và Tây Nguyên
Nói đến kinh tế miền Trung không thể không nhắc đến sự chuyển mình và vươn lên mạnh mẽ của tỉnh Quảng Ngãi Sau khi tái lập vào năm 1989, Quảng Ngãi
là một tỉnh thuần nông nghèo khó, với tiềm năng chủ yếu là đất đai, tài nguyên thiên
nhiên và nguồn lao động Cùng với những khó khăn chung của cả nước, kinh tế-xã
hội của tỉnh lâm vào khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt Trước năm 1996, ngành công nghiệp của tỉnh vô cùng nhỏ bé, ngoài nhà máy đường, hầu như công nghiệp của tỉnh còn rất manh mún và nhỏ lẻ Cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật để phát triển công nghiệp còn hết sức nghèo nàn và lạc hậu, nhiều năm liền tỉ trọng công nghiệp
trong cơ cấu kinh tế của tỉnh chưa vượt qua con số 10-15% Điều đó có nghĩa là
điểm xuất phát về chỉ số phát triển công nghiệp của tỉnh là rất thấp Tuy nhiên, với những chủ trương chỉ đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và triển khai lãnh đạo hiệu quả của Đảng bộ tỉnh, từ năm 1996 đến nay, kinh tế Quảng Ngãi đã bắt đầu khởi sắc, từ một tỉnh thuần nông, Quảng Ngãi giờ đã là địa bàn của ba KCN và một KKT mang tầm cỡ quốc gia, Quảng Ngãi trở thành một trong 10 địa phương có đóng góp cho ngân sách cao nhất nước
Trang 9Cho đến năm 2012, các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đi vào hoạt động hơn 16 năm, đây không phải là khoảng thời gian quá dài nhưng cũng đủ để khẳng định tính đúng đắn trong chủ trương xây dựng và chỉ đạo phát triển các KCN của tỉnh Đồng thời đây cũng là khoảng thời gian cần thiết để Đảng nhìn nhận, đánh giá lại những yếu kém và tồn tại, khuyết điểm và hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện đường lối chỉ đạo của mình, cũng như rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định chính sách phát triển trong giai đoạn tiếp theo
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN, thông qua các quan điểm, chính sách, chủ trương để làm rõ hơn sự năng động, sáng tạo, tự chủ, và sự vận dụng linh hoạt vào điều kiện thực tế của lãnh đạo Đảng bộ tỉnh là điều cần thiết Từ đó, đưa ra những giải pháp, kiến nghị, ý kiến tham khảo cho sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình quản
lý các KCN Đây là lý do tôi quyết định chọn đề tài: Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh
đạo xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1996 - 2012 làm
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu về KCN là một chủ đề rộng, được các nhà nghiên cứu, các học giả đặc biệt chú ý quan tâm dưới mọi góc độ, từ vấn đề an sinh xã hội đến những tác
động kinh tế - văn hóa - xã hội của các KCN trên cả nước Nhìn chung các công
trình nghiên cứu, các tác phẩm có những cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về các KCN
Dưới góc độ nghiên cứu các KCN trong cả nước:
Lê Văn Học (2006), Vụ quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Thành tựu và những bài học kinh nghiệm qua 15 năm xây dựng và phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam, Hà Nội
Trần Ngọc Hưng (2005), “Thành tựu và vai trò các KCN, KCX Việt Nam
trong phát triển kinh tế - xã hội năm 2005”, Tạp chí KCN Việt Nam, số 64 (100),
tr.14 - 17
Trang 10Trần Ngọc Hiên (2006), “Nâng cao tầm nhìn phát triển KCN ở nước ta trong
giai đoạn mới”, Tạp chí KCN Việt Nam, số 68 (104), tr.29 - 32
Ngô Thế Bắc (2000), “KCX, KCN Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu
kinh tế, số 265
Nguyễn Chơn Trung - Trương Giang Long (2004), Phát triển các KCN, KCX
trong quá trình CNH, HĐH Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Phan Tiến Ngọc (2006), “Vai trò của KCN, KCX với phát triển kinh tế Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 10 (341), Hà Nội
Các tác giả nêu cao vai trò của sự phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam, bởi
nó phục vụ đắc lực cho quá trình CNH, HĐH đất nước, đồng thời đó cũng là nơi thu hút vốn đầu tư ở trong và ngoài nước thúc đẩy và chuyển dịch cơ cấu ngành nghề địa phương, qua đó tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động và nâng cao tay nghề hướng đến người công nhân hiện đại Tuy nhiên, cũng có những tồn tại trong phát triển các KCN, KCX ở nước ta, được tác giả nêu ra: việc phân bổ giữa các vùng chưa hợp lý, giá thuê đất và quá trình đền bù giải phóng mặt bằng còn nhũng nhiễu, gây ra sự ganh đua, cạnh tranh giữa các địa phương nhằm thu hút vốn đầu tư, từ đó tạo nên những bất cập trong việc cơ cấu đầu tư, làm suy giảm sức hút
từ nước ngoài, lực lượng lao động chưa có điều kiện để tiếp nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới,… Đây cũng là những vấn đề chung của các KCN, KCX trên cả nước
Lê Thu Hoa (2007), “Phát triển các KCN tập trung trên địa bàn Hà Nội và vấn
đề việc làm cho các lao động có đất bị thu hồi”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 9
(352), Hà Nội Tác giả đánh giá và nhìn nhận xuyên suốt tác động của sự phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội đối với người dân bị thu hồi đất, qua đó tác giả đã nêu
ra những yếu kém, hạn chế trong quá trình hình thành và phát triển các KCN và đề
ra một số kiến nghị
Nguyễn Tấn Phát (2007), “Đình công: vấn đề lý luận và thực tiễn ở các KCX,
KCN Tp.HCM”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Số 11 (354), Hà Nội Tác giả đưa ra
những nguyên nhân cơ bản dẫn đến đình công ở các KCX, KCN ở Tp.HCM và tác
Trang 11động của nó đến sự phát triển chung của nền kinh tế công nghiệp Bài nghiên cứu cũng đưa ra những hướng giải quyết nhằm hạn chế sự đình công của công nhân trên địa bàn Tp.HCM hiện nay nói riêng và các KCX, KCN nói chung trên cả nước Nguyễn Trọng Xuân (2006), “Cơ cấu kinh tế khu vực II của vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Số 5 (336), Hà Nội Tác giả có sự
phân tích, so sánh cơ cấu kinh tế của vùng đối với cả nước và từng địa phương trong khu vực II, trong đó có các tỉnh: Tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bình
Phước, Long An, Tây Ninh và Bà Rịa - Vũng Tàu Tác giả nhận định: sự phát triển
khu vực II của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có sự phân hóa khá rõ nét và không đồng đều
Đỗ Minh Tứ (2009), Đảng bộ tỉnh Bình Dương lãnh đạo phát triển công nghiệp
giai đoạn 1997 - 2007, luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại Học Quốc Gia
Tp.HCM, Trường ĐHKHXH&NV Tp.HCM Tác giả đã nêu ra những lợi thế của Bình Dương trong việc phát triển công nghiệp từ 1997 đến 2007 và sự lãnh đạo của Đảng bộ thực hiện quá trình CNH của tỉnh Từ đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị và bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện
Huỳnh Đức Thiện (2005), Quá trình hình thành và phát triển các KCN ở tỉnh
Bình Dương (1993 - 2003), Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử - Trường ĐH
KHXH&NV Tp.HCM
Lê Thị Thanh Phương (2011), Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo xây
dựng và phát triển các KCN (1991 - 2010), Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử -
Trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM Tác giả đưa luận điểm những lợi thế, tiềm năng
phát triển các KCN của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, và thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế nói chung và kinh tế các KCN nói riêng, và qua đó tác giả cũng đã nêu ra những bài học kinh nghiệm, cũng như
những kiến nghị giúp cho Đảng bộ Bà Rịa -Vũng Tàu phát triển các KCN bền vững
hơn nữa
Trang 12Đặng Thanh Thúy (2006), Sự hình thành và phát triển các KCX - KCN ở
Tp.HCM (1991 - 2004), Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử - Trường ĐH
KHXH&NV Tp.HCM
Lê Quảng Tuấn (2014), Đảng bộ tỉnh Bình Phước lãnh đạo xây dựng và phát
triển các KCN (1997 - 2012), Luận văn Thạc sỹ khoa học Lịch sử - Trường ĐH
KHXH&NV Tp.HCM Tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu, sưu tầm, tập hợp các tài liệu có giá trị về các điều kiện phát triển KCN ở tỉnh Bình Phước, qua đó đi sâu khai thác các đường lối, chính sách của Đảng bộ tỉnh Bình Phước trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN giai đoạn 1997 đến năm 2012, từ đó phân tích, đánh giá tổng quan về những mặt đạt được, những hạn chế, yếu kém và đề ra các kiến nghị giúp Đảng bộ tỉnh Bình Phước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu xây dựng các KCN, liên kết và phát triển tương xứng với các KCN trong Vùng kinh
tế trọng điểm miền Nam
Vũ Đại Thắng - Vụ trưởng Vụ Quản lý các KKT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(2012), “Định hướng và giải pháp phát triển các KCN miền Trung”, Tạp chí KCN
Việt Nam, Số ra ngày 11/09/2012
Quảng Ngãi là một tỉnh thuần nông, công nghiệp mới chỉ thực sự hình thành
và phát triển trong những năm gần đây, và các KCN, KKT của tỉnh cũng chỉ mới được biết đến từ khi có KKT Dung Quất Nên không có nhiều công trình, luận văn, luận án nghiên cứu chuyên sâu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với việc hình thành và phát triển các KCN trên địa bàn Hầu như, những công trình nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở các bài báo, bản báo cáo, bài viết của các nhà kinh tế học về tiềm năng, triển vọng và tác động đến môi trường sinh thái của các KCN, hoặc là có đối tượng nghiên cứu là KKT Dung Quất Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về các KCN ở tỉnh Quảng Ngãi như:
Phạm Thị Hồng (2011),Vai trò của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đối với quá
trình hình thành và phát triển KCN Dung Quất 1996- 2006, Luận văn thạc sỹ khoa
học Lịch sử - Trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM Chủ yếu chỉ tập trung vào sự lãnh
Trang 13đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình hình thành và phát triển KCN Dung Quất trong 10 năm từ khi thành lập cho đến năm 2006
Võ Kim Chi (2001), Tìm hiểu tác động của KCN Dung Quất đến môi trường
tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn thạc sỹ - Trường ĐH
KHXH&NV Tp.HCM Công trình này tập trung nghiên cứu những điều kiện tự nhiên và những tác động ảnh hưởng về môi trường sinh thái trên điạ bàn tỉnh Quảng Ngãi từ khi xây dựng KCN Dung Quất Đồng thời đưa ra những giải pháp để bảo
vệ, sử dụng hợp lý và tái tạo nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh nhà
Lê Văn Phương (2010), Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo quá trình CNH,
HĐH giai đoạn 1996 - 2010, Luận văn thạc sỹ - Trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM
Luận văn nhấn mạnh đến vai trò của Đảng trong quá trình CNH, HĐH trong đó quan tâm nhiều đến vai trò của các KCN và KKT trong tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế tỉnh nhà
Ngoài ra, một số công trình có đối tượng nghiên cứu là KKT Dung Quất, ở góc độ tổng quan về vị trí và tiềm lực phát triển kinh tế của Dung Quất, như:
- Cao Minh - Phạm Nhớ - Phan Văn Yên đồng chủ biên, Dung Quất tiến vào
thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006
- Cao Minh - Võ Thành Tân đồng chủ biênNhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất
của tổ quốc Việt Nam, Nxb Lao động, 2009
- Quảng Ngãi tiềm năng và triển vọng trước thềm thế kỷ XXI Ấn phẩm của
UBND tỉnh Quảng Ngãi, 2000
- Phạm Hữu Tuân chủ biên, Dung Quất: Trung tâm công nghiệp, thương mại,
dịch vụ lớn của miền Trung và Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005
- Phạm Hữu Tôn chủ biên, Dung Quất - Quá trình thành và phát triển, Nxb
Sở Khoa học công nghệ và môi trường Quảng Ngãi, 2006
Bên cạnh đó, còn một số bài viết về các KCN, KKT của tỉnh Quảng Ngãi được đăng tải trên các tờ báo, như: Thanh niên, Tuổi trẻ, Người lao động, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Đông Nam Á, Tạp chí KCN Việt Nam,…
Trang 14Nhìn chung, các công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu quá trình xây dựng KCN, CCN ở Việt Nam phong phú và phản ánh nhiều góc độ khác nhau Các công trình đã khẳng định yêu cầu khách quan và tính cấp thiết phải xây dựng mô hình kinh tế KCN, KCX, CCN ở Việt Nam và đã phản ánh khá rõ nét thực trạng cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng, phát triển KCN, KCX, CCN ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới tập trung nghiên cứu những vấn đề chung trên phạm vi tổng thể cả nước, hoặc trên một địa bàn, một vùng, một tỉnh khác Đến nay, ở tỉnh Quảng Ngãi chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị về vấn đề xây dựng và phát triển các KCN trong quá trình CNH, HĐH
3 Mục đích và nhiệm của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu làm rõ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Quảng Ngãi về việc xây dựng và phát triển các KCN giai đoạn 1996 đến 2012, thông qua các nghị quyết, chỉ thị, hội nghị triển khai Từ đó, xác định những thành tựu đạt được và những hạn chế cần khắc phục, cũng như những vấn đề mới nảy sinh
trong công tác lãnh đạo việc xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh
- Làm sáng tỏ việc xây dựng và vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng bộ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 15- Nghiên cứu, tập hợp, sắp xếp hệ thống những chủ trương đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng về vấn đề phát triển KCN trên phạm vi cả nước
- Tập hợp và xử lý các nguồn tài liệu liên quan đến việc xây dựng và phát triển các KCN ở tỉnh Quảng Ngãi
- Làm rõ những lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh để Đảng và Nhà nước quyết định xây dựng các KCN tại đây
- Trình bày một cách hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng cũng như thực tế việc vận dụng quan điểm đường lối của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong việc hình thành và phát triển KCN vào hoàn cảnh cụ thể của tỉnh nhà
- Phân tích tác động của các KCN đối với tình hình phát triển kinh tế xã hội địa phương và đối với những khu vực lân cận
- Đánh giá thành tựu và hạn chế trong đường lối lãnh đạo của Đảng nói chung
và trong việc vận dụng đường lối của Đảng bộ tỉnh nói riêng Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để phát triển các KCN trong giai đoạn tiếp theo
- Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp nhằm phát huy những tích cực đồng thời khắc phục những hạn chế từ chủ trương đường lối thiếu đồng bộ nhằm phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi một cách nhanh chóng và bền vững trong thời gian sắp tới
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
4.1 Cơ sở lý luận
Cũng như các đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội khác, đề tài
“Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo xây dựng và phát triển KCN trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1996 -2012”lấy phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Với tinh thần đó, đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phép biện chứng duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan và khoa học Đặt đối tượng nghiên cứu trong tính đa chiều, nhiều phương diện, trong mối liên hệ ràng buộc, chi phối nhau
Trang 16Phương pháp luận sử học Mác - Lênin được vận dụng để làm rõ, phân tích sâu
các chủ trương, đường lối, chính sách và quan điểm của Đảng trong vấn đề xây dựng và phát triển các KCN
4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Hai phương pháp cơ bản của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp logic được vận dụng với vai trò chủ đạo trong quá trình nghiên cứu và trình bày nội dung luận văn Ngoài ra, phương pháp so sánh cũng được sử dụng nhằm đối chiếu giữa các sự kiện lịch sử, tìm ra sự khác biệt để có cái nhìn sâu rộng hơn về nội dung nghiên cứu của đề tài
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thực địa, phương pháp phỏng vấn sâu Tác giả đã trực tiếp đến địa bàn nơi các KCN đóng chân để tìm hiểu, quan sát thực tế phát triển của các KCN Đồng thời, thực hiện một số bài phỏng vấn, trao đổi ngắn với người dân sống quanh KCN, công nhân làm việc trong các DN KCN, cũng như lãnh đạo BQL các KCN về các vấn đề liên quan như: môi trường xung quanh KCN, đời sống và chính sách đãi ngộ của DN đối với công nhân, cũng như quá trình triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của BQL các KCN
4.3 Nguồn tài liệu
- Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XI: có liên quan đến vấn đề hình thành phát triển KCN, KCX, vùng kinh tế trọng điểm, KKT…
- Các nghị quyết hội nghị Trung ương có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu qua các kỳ Đại hội
- Các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ XV, XVI, XVII, XVIII
- Các báo cáo tình hình phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh ủy, các sở ban ngành
có liên quan trong việc chỉ đạo hình thành, phát triển KCN
- Báo cáo thường niên của BQL các KCN về quá trình phát triển của các DN
- Kế thừa và sử dụng số liệu, nhận xét, đánh giá của một số công trình nghiên cứu khoa học có liên quan trước đây
Trang 175 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu:
- Những chủ trương, chính sách của Đảng trong việc xây dựng và phát triển KCN
- Những chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong việc thực hiện chỉ đạo của Đảng cũng như những quan điểm mới, sáng tạo của Đảng bộ tỉnh trong việc hình thành phát triển KCN phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của tỉnh nhà
- Toàn bộ hoạt động, quá trình hình thành và phát triển của các KCN ở Quảng Ngãi và những vấn đề liên quan
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Về thời gian: 16 năm - từ 1996 - 2012 (Năm 1996 - Đại hội Đảng toàn quốc
lần VIII, quyết định đẩy mạnh CNH HĐH đất nước và cũng là năm Quảng Ngãi bắt
đầu hình thành KCN đầu tiên)
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Ý nghĩa khoa học:
- Khẳng định và làm rõ tính đúng đắn của những quan điểm chỉ đạo của Đảng
- Bổ sung thêm một số quan điểm mới phù hợp với hoàn cảnh cụ thể để góp phần hoàn thiện chủ trương chỉ đạo của Đảng trong giai đoạn mới
Ý nghĩa thực tiễn:
- Giúp Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi có cái nhìn tổng quát và mới mẽ hơn về thực trạng và những tác động to lớn của các KCN của tỉnh Quảng Ngãi đối với sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, kinh tế khu vực và kinh tế cả nước
- Đề tài cung cấp những luận điểm, luận cứ làm cơ sở cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong phát triển KCN
- Những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm được tác giả rút ra có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh lân cận trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN quy mô lớn
Trang 18- Làm tư liệu giảng dạy việc vận dụng đường lối của Đảng trong quá trình thực hiện CNH, HĐH
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Quan điểm, chủ trương phát triển KCN của Đảng trong thời kỳ CNH, HĐH và thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi trước năm
1996
Chương 2: Quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong việc xây
dựng và phát triển các KCN giai đoạn 1996 - 2012
Chương 3: Thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo xây dựng và phát triển các KCN của Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới
Trang 19B NỘI DUNG Chương 1 QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KCN CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ CNH, HĐH VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI TRƯỚC NĂM 1996
1.1 Lý luận chung về KCN
Nền công nghiệp đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, từ những năm 60 của thế kỷ XVIII Trải qua hàng thế kỷ, sức sản xuất công nghiệp ngày càng lớn và sản sinh ra các nước công nghiệp phát triển: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật,… Ở Việt Nam, hơn 80 năm Pháp thuộc và trường kỳ hai cuộc kháng chiến, nền công nghiệp đã có những điều kiện phát triển Sau năm 1956, tuy đất nước bị chia cắt tạm thời và giao tranh khốc liệt, sản xuất kinh tế vẫn được duy trì, công nghiệp bước đầu được xây dựng
Ở miền Bắc công nghiệp chia thành hai hạng: A và B A là công nghiệp nặng như điện lực, luyện kim, hóa chất, và khoáng sản B là công nghiệp nhẹ dùng sản xuất các mặt hàng tiêu dùng Ở miền Nam, khi xây dựng cơ sở hạ tầng tập trung cho các cơ sở sản xuất công nghiệp ở tỉnh Biên Hòa năm 1963, người ta gọi là khu
kỹ nghệ
Ở Việt Nam, khái niệm kỹ nghệ và công nghiệp là như nhau, khu kỹ nghệ
được coi là từ cũ chỉ KCN Ta có thể hiểu KCN: “Khoảng đất có giới hạn trong đó
bao gồm toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng và chuyển biến các nguyên liệu gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm”[78;294] Trên thế giới, các khu kỹ nghệ đã xuất hiện
khá lâu, vào cuối thế kỷ XIX, với sức mạnh của nền công nghiệp cơ khí, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và các tập đoàn tư bản nhà nước
Khu kỹ nghệ (tiếng Anh: Industrial Estares ra đời năm 1896 tại Manchester với tên gọi là Trafford Park Estates Limited)
Ở Hoa Kỳ, khu kỹ nghệ đầu tiên là Clearing Industrial District tại Chicago vào năm 1899
Trang 20Người Mỹ dùng “Industrial Parks - công viên kỹ nghệ”, “Industrial Districts - quận kỹ nghệ” hay “Industrial tract - dãy kỹ nghệ”, “Industrial estates - khu kỹ
nghệ” Thuật ngữ “Industrial Estates” của người Anh được sử dụng phổ biến hơn, một “Industrial Zone” là những vùng đất trong đó dành cho kỹ nghệ thường thuộc quyền quản lý của một cơ quan trong thành phố, trong khi “Industrial Estates” bao gồm nhiều “Industrial Zone”
Theo tác giả William Bredo trong tác phẩm “Industrial Estatess”, khu kỹ nghệ
là một khoảng đất được phân chia và khai triển theo kế hoạch dự trù từ trước nhằm mang lại lợi ích cho một tập thể xí nghiệp kỹ nghệ, kế hoạch phải cung ứng đầy đủ
về đường sá, giao thông, điện, nước và các thiết yếu xã hội khác Bredo phân loại các khu kỹ nghệ theo mức độ như sau:
Industrial Tract: khu đất được quy hoạch đã được cung cấp điện, đường và các
cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhưng chưa có cơ sở xí nghiệp nào được xây dựng
Industrial Subdivision: khu đất được xây dựng dành cho các cơ sở sản xuất, xí nghiệp nhưng chưa có tiện nghi hay dịch vụ đặc biệt
Fully Packaged: là khu đất được xây dựng cho những cơ sở sản xuất lớn với đầy đủ những cơ sở hạ tầng, máy móc và những trang thiết bị cần thiết cho quá trình sản xuất
Cũng có cách phân loại khu kỹ nghệ hay KCN theo mối liên hệ giữa các cơ sở sản xuất trong khu:
Khu kỹ nghệ ngang: là nơi tập trung các xí nghiệp nhẹ, mỗi cơ sở sản xuất một cách riêng lẻ và không liên quan gì với nhau
Khu kỹ nghệ dọc (complexes Industrielles): khu vực dành cho ngành công nghiệp nặng, nơi các công ty, xí nghiệp, cơ sở sản xuất có sự liên đới lẫn nhau, tạo thành một chuỗi từ trên xuống theo mức độ xây dựng nên sản phẩm cuối cùng
Để phù hợp hơn với giai đoạn hiện nay và cách dùng từ ngữ để chỉ nơi sản xuất của các công ty, xí nghiệp, tập đoàn là KCN Việc nghiên cứu và làm rõ nội hàm khái niệm KCN là hết sức cần thiết Dưới đây là một số khái niệm, định nghĩa,
Trang 21cũng như sự quản lý của Đảng và Nhà nước về KCN, KCX được thống nhất trên cả nước, như sau:
Trên thế giới, KCN được hiểu là khu tập trung các DN chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ công nghiệp phục vụ cho hoạt động sản xuất trong KCN
Ở nước ta, theo quy chế KCN, KCX, Nghị định 36/CP ban hành ngày 24/4/1997 của chính phủ:
KCN: là khu tập trung các DN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có DN chế xuất
Như vậy, có thể hiểu KCN là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có điều kiện thuận lợi về các yếu tố tự nhiên, về kết cấu hạ tầng xã hội,… để thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài ) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lí các DN công nghiệp và các DN dịch vụ nhằm đạt kết quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh
Sản phẩm của KCN đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của thị trường nội địa So với hàng nhập khẩu, hàng ở KCN có nhiều lợi thế về chi phí vận tải, thuế (được ưu đãi thuế) thủ tục nhập khẩu,… Nếu trong KCN có các DN chế xuất thì nhà đầu tư nước sở tại còn phải xem xét cả khả năng xuất khẩu
KCN là một hình thức tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng kết cấu hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý Do đó, việc phân bố KCN phải bảo đảm những điều kiện sau:
Trang 22Có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, hiệu quả có đất để mở rộng
và nếu có thể liên kết hình thành các CCN Quy mô KCN và quy mô DN phải phù hợp với công nghệ gắn kết với kết cấu hạ tầng
Thủ tục đơn giản, nhanh chóng đủ hấp dẫn các nhà đầu tư, quản lý và điều hành nhanh nhạy ít đầu mối
Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận lợi, có cự ly vận tải thích hợp
“1 KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
2 KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản
xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với KCN quy định tại Nghị định này
KCN, KCX được gọi chung là KCN, trừ trường hợp quy định cụ thể
3 KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và
kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
Trang 23KKT được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, KCX, KCN, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính
và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng KKT
4 KKT cửa khẩu là KKT hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu
quốc tế hoặc cửa khẩu chính và được thành lập theo các điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
KKT, KKT cửa khẩu được gọi chung là KKT, trừ trường hợp quy định cụ thể[29;2]
Việc phát triển các KCN phải tuân theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt Trường hợp muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu mức độ khả thi của dự án khi thành lập KCN và trình duyệt theo quy định hiện hành KCN chưa có trong quy hoạch tổng thể thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan trên cơ sở đề nghị của UBND tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định hình thành KCN mới
BQL các KCN cấp tỉnh: là cơ quan quản lý trực tiếp các KCN, KCX trong phạm vi địa lý hành chính của một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc BQL các KCN trên địa bàn liên tỉnh hoặc BQL một KCN do Thủ tướng Chính phủ quyết định
Trong Nghị định 36/CP của Chính phủ đã quy định rõ chức năng, quyền hạn của BQL các KCN và các công ty kinh doanh hạ tầng; các khó khăn mà BQL các KCN nêu trong đề án về cơ cấu tổ chức, điều hành đều có thể giải quyết được và có
đủ cơ sở để giải quyết theo đúng thẩm quyền, quan hệ giữa các công ty hạ tầng và nhà đầu tư trong KCN được ràng buộc bởi hợp đồng kinh tế, việc giải quyết các vướng mắc của các bên được thực hiện theo thỏa thuận được nêu trong hợp đồng Việc xúc tiến, chào mời các nhà đầu tư vào KCN là trách nhiệm chung của BQL các KCN và công ty hạ tầng, nhưng BQL các KCN vẫn là chủ yếu và phải tạo
Trang 24mọi điều kiện có thể về thủ tục hành chính cho nhà đầu tư thuận lợi phát triển các KCN
Đổi mới tiếp nhận và cấp giấy phép đầu tư: Nghị định 36/CP của Chính phủ
đã quy định rõ chức năng của BQLcác KCN là một đầu mối duy nhất để tiếp nhận
và cấp giấy phép đầu tư (trong phạm vi được ủy quyền), không cần sự phối hợp với các sở ban ngành, ngược lại các sở ngành cũng không có quyền can thiệp vào quá trình cấp giấy phép của BQL các KCN, khi có những vấn đề vượt quá thẩm quyền thì phải có ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh hoặc các Bộ quản lý ngành
Theo Nghị định 36/CP, BQL các KCN phối hợp đồng bộ với các công ty kinh doanh hạ tầng, với Sở Kế hoạch và Đầu tư để thực hiện tốt nhiệm vụ xúc tiến đầu tư
và tham mưu cho Sở, Ban ngành và UBND có chương trình và hoạch định chính sách cụ thể
Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế
Thu vút vốn đầu tư nước ngoài: KCN là nơi tập trung những ưu đãi về hành chính, cơ chế quản lý, tài chính thuế quan, nên đã trở thành môi trường hấp dẫn với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Ở nước ta, KCN đóng vai trò tích cực vào việc
thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn FDI
Tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến: cùng với thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc tiếp thu công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nhà đầu tư được thực hiện khá tốt thông qua các KCN Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thế giới và thị trường nội địa, các nhà đầu tư thường xuyên đưa
vào các KCN các công nghệ thuộc loại tiên tiến và hiện đại nhất
Bảng phân loại trình độ công nghệ các DN KCN
Thành phần
kinh tế
Trình độ công nghệ so với cùng loại trên thế giới
Hiện đại Trung bình Lạc hậu
Trang 25Từ bảng trên cho thấy vai trò quan trọng của các DN có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN trong việc tiếp thu công nghệ mới và hiện đại Qua quá trình làm việc của các kỹ sư, chuyên gia, công nhân nước ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm về sản xuất, tổ chức quản lý, điều hành sản xuất một cách có hệ thống của các nhà đầu
tư nước ngoài Bên cạnh đó, lao động trong KCN không phải là cố định mà họ có thể chu chuyển theo sơ đồ: lao động chưa lành nghề → vào KCN một thời gian → lao động lành nghề → rời khỏi KCN Như vậy, với quy trình này các DN trong
KCN đã góp phần vào việc đào tạo một nguồn nhân lực đáng kể
Tạo công ăn việc làm cho người lao động, xây dựng các xí nghiệp sản xuất cũng như dịch vụ hỗ trợ bên ngoài KCN đã giải quyết được một số lượng lao động rất lớn Thực tế số lao động thất nghiệp ở các đại phương có KCN giảm đáng kể, nguồn thu nhập của người lao động cũng được ổn định và tăng lên rõ rệt
Sự tác động của KCN đối với sự phát triển kinh tế trong nước Sự phát triển KCN tạo ra sự phát triển ngược trở lại đối với sự phát triển kinh tế trong nước thông qua việc sử dụng nguyên liệu trong nước, thực hiện lắp ráp và chế biến tại KCN Đặc biệt ở nông thôn, các KCN tác động trực tiếp đến sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp
Sự cần thiết phải xây dựng KCN ở Việt Nam: Đối với Việt Nam xây dựng và phát triển các KCN là yêu cầu chung trong chiến lược phát triển kinh tế của nước ta Tận dụng cơ hội giao lưu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới, Việt Nam đẩy mạnh xây dựng và phát triển các KCN để tranh thủ vốn, kỹ thuật và công nghệ mới
từ các nước tiên tiến, đồng thời tận dụng tối đa thế mạnh về nguồn lao động, tài nguyên thiên nhiên phong phú và thị trường rộng lớn, để khắc phục tất cả những yếu kém về kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội trong nước, đưa kinh tế đất nước ngày càng đi vào ổn định
Điều kiện để xây dựng KCN ở Việt Nam
So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, lợi thế xây dựng KCN ở Việt Nam rất rõ ràng Đó là nguồn lao động dồi dào, tay nghề tương đối, khả năng tiếp thu nhanh chóng khoa học công nghệ, giá nhân công rẻ, chỉ khoảng bằng 1/5 đến
Trang 261/10 so với giá nhân công các nước khác trong khu vực Ngoài ra, Việt Nam còn nằm trong khu vực kinh tế được đánh giá là năng động nhất thế giới, có hệ thống giao thông quốc tế
Các lợi thế nêu trên nếu kết hợp với nguồn vốn, trình độ công nghệ cao và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới thì sẽ được phát huy và khai thác triệt để, tạo nên các loại sản phẩm là dịch vụ đặc sắc với chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu và đòi hỏi của thị trường trong và ngoài nước
Tóm lại, KCN là một mô hình đã xuất hiện từ rất lâu ở các nước tiên tiến Ở Việt Nam, vào khoảng những năm 80 thì vẫn còn quá xa lạ và mới mẻ Trên cơ sở đánh giá lại tiềm năng và lợi thế của đất nước, kết hợp với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự thành công của nhiều mô hình KCN trên thế giới Việt Nam có đầy đủ điều kiện cần thiết để xây dựng KCN Muốn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, thì xây dựng, phát triển các KCN tập trung trở thành yêu cầu tất yếu và cần thiết trong giai đoạn mới
Nhìn chung, tỉnh Quảng Ngãi có những tiềm năng, lợi thế hết sức to lớn để xây dựng và phát triển các KCN, phù hợp với tiến trình CNH, HĐH đất nước, trong
đó có những tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, vị trí của tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có những tuyến đường giao thông huyết mạch, cơ cấu dân
số trẻ Đây là những điều kiện tiên quyết để Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi xác định xây
dựng và phát triển các KCN giai đoạn 1996 - 2012, góp sức cùng cả nước đưa tỷ
trọng công nghiệp trong GDP năm sau cao hơn năm trước, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Mặt khác, tỉnh vẫn có những khó khăn, hạn chế lớn về điều kiện kinh tế và tiềm lực cạnh tranh với các tỉnh bạn trong quá trình thu hút đầu tư vào các KCN
1.2 Thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1996
So với nhiều nơi trong nước, nhất là với các trung tâm lớn, thì công nghiệp ở Quảng Ngãi là ngành sinh sau đẻ muộn Trước năm 1996, trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước là Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ Các thế lực thù địch ra sức chống phá cách mạng, một bộ phận cán bộ và nhân dân lo lắng, một số người
Trang 27dao động hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội Quan hệ kinh tế giữa nước ta với thị trường truyền thống bị đảo lộn, trong khi đó Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận Bộ máy tổ chức và cán bộ của tỉnh chưa được kiện toàn Điểm xuất phát rất thấp, cơ sở
vật chất kinh tế - xã hội nhỏ bé và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém và xuống cấp
nghiêm trọng, sản xuất chậm phát triển, thiên tai liên tiếp, đời sống nhân dân khó khăn gay gắt
Trước năm 1975, với sự phát triển của nông nghiệp, ngành nghề nông thôn, trên đất Quảng Ngãi đã hình thành những điều kiện về nguyên liệu, vị trí, nhân lực cho sản xuất công nghiệp Dưới thời chính quyền Sài Gòn, năm 1962, tại Quảng Ngãi đã tiến hành xây dựng nhà máy đường, có thể coi đây là một trong những cơ
sở đầu tiên của ngành công nghiệp Quảng Ngãi Trong giai đoạn này, cũng đã có một vài cơ sở công nghiệp như nhà máy điện, nhà máy nước, nhưng các đơn vị này chỉ thuần túy tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu quản lý của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ, chưa tạo ra các sản phẩm phục vụ tiêu dùng dân cư, chưa mang tính sản
phẩm hàng hóa rộng khắp Ở vùng giải phóng miền Tây Quảng Ngãi, Ban Kinh tế -
Tài chính của Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã xây dựng nhiều cơ sở sản xuất để dệt vải, màn, may mặc, làm giấy,… phục vụ chiến đấu Đồng thời, vào những năm 1974,
1975 có vài cơ sở sản xuất thuộc Trung ương được hình thành và hoạt động phục vụ kháng chiến, đóng trên địa bàn tỉnh, như sản xuất và chế biến gỗ để phục vụ xây dựng cầu đường Trường Sơn
Tuy nhiên, phải đến sau năm 1975, ngành công nghiệp mới thực sự được hình thành ở quê hương Quảng Ngãi Từ sau ngày Quảng Ngãi được hoàn toàn giải
phóng (24/3/1975), CN - TTCN Quảng Ngãi có điều kiện để phát triển Tháng
9/1975, Uỷ ban nhân dân cách mạng Quảng Ngãi có quyết định thành lập Xí nghiệp Mộc Quảng Ngãi; Phân xưởng cơ khí An Ngãi với nhiệm vụ ban đầu là sản xuất, sửa chữa các thiết bị, đồ dùng quân giới Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, xưởng cơ khí An Ngãi được chuyển về hoạt động tại địa điểm số 6 đường Nguyễn Thụy, thị xã Quảng Ngãi Năm 1976, Nhà máy cơ khí An Ngãi chính thức được thành lập
Trang 28Đó là những cơ sở ban đầu của công nghiệp Quảng Ngãi Các cơ sở này có vai trò nhất định trong nền kinh tế của tỉnh, tuy nhiên trong cơ chế kinh tế bao cấp xơ cứng, đã không có sự tiến bộ nào đáng kể về mặt kỹ thuật
Từ sau khi thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa hội nhập (1986), nhất là từ sau ngày tỉnh Quảng Ngãi được tái lập (1989), nền kinh tế của tỉnh từng bước ổn định và có sự tăng trưởng Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng
năm 6,8% (thời kỳ 1986 - 1990 là 2,3%), trong đó giá trị sản lượng công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 12,9% (thời kỳ 1986 - 1990 là 0,2%) là một bước tăng
trưởng đáng kể và xấp xỉ bằng mức tăng bình quân chung của cả nước
Chương trình phát triển CN, TTCN đạt được một số thành quả đáng kể Công nghiệp trên địa bàn đã có bước phát triển nhanh, chủ yếu là công nghiệp do Trung ương quản lý Tốc độ phát triển bình quân trong 5 năm là 12,9% Giá trị sản lượng công nghiệp năm 1995 tăng 1,83 lần so với năm 1990 (Nghị quyết Đại hội XIV tăng 1,5 - 1,8 lần), năm 1996 là 16,35% Một số sản phẩm mới như bia, bánh kẹo, nước khoáng, nước ngọt, máy bơm nước, đá xuất khẩu, vật liệu xây dựng,… được thị trường trong và ngoài tỉnh chấp nhận
Tuy nhiên, sản xuất CN - TTCN còn nhiều mặt yếu kém, chưa vững chắc;
công nghiệp chế biến còn rất yếu, chưa phát huy vai trò thúc đẩy nông nghiệp phát triển Nhiều DN nhà nước thuộc địa phương quản lý đình đốn, hoạt động cầm chừng, kém hiệu quả, TTCN phát triển chậm, nhất là ở nông thôn
Nhìn chung, những năm qua, nhất là từ sau khi tái lập tỉnh, bên cạnh việc tập trung chỉ đạo phát triển nông nghiệp, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng Tỉnh đã từng bước chú trọng đầu tư phát triển các ngành CN, TTCN Cùng với sự phát triển của các DN nhà nước, công nghiệp trọng yếu của Trung
ương, các ngành công nghiệp địa phương như chế biến nông - lâm - thủy sản, hàng
tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng cũng phát triển với tốc độ tương đối nhanh và
ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Đáp ứng tương đối
tốt các nhu cầu về sản xuất và hàng tiêu dùng của nhân dân, góp phần đáng kể cho xuất khẩu và ngân sách địa phương Từng bước làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Trang 29tỉnh theo hướng tích cực Từ khi thực hiện luật DN và những chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài của Chính phủ và của tỉnh thì quy mô, số lượng, năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của các DN trong tỉnh tăng lên đáng kể
Tóm lại, giá trị sản xuất ngành CN - TTCN giai đoạn 1975 - 1996 có bước
tăng trưởng tương đối khá, tác động tích cực đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này so với tiềm năng và lợi thế của tỉnh vẫn chưa tương xứng, tốc độ phát triển ngành công nghiệp của tỉnh so với bình quân chung của cả nước còn thấp và thiếu vững chắc Quy mô các ngành công nghiệp và
DN còn nhỏ bé, trình độ công nghệ và thiết bị còn lạc hậu, sức cạnh tranh của sản phẩm yếu, kết cấu hạ tầng còn hạn chế, thiếu đồng bộ Năng lực quản lý điều hành
của phần lớn cán bộ quản lý trong các ngành CN - TTCN chưa theo kịp yêu cầu Các ngành CN - TTCN địa phương chưa được quan tâm đúng mức Việc quy hoạch
và phát triển công nghiệp cũng chưa thật sự hợp lý và còn chồng chéo
Nguyên nhân của những tồn tại trên có thể nói, thứ nhất là do một thời gian dài các cấp ủy và chính quyền chưa thật sự quan tâm đúng mức đến vai trò và vị trí của ngành công nghiệp Thứ hai là do các chủ trương về phát triển công nghiệp chưa được tổ chức thực hiện một cách nhất quán, đồng bộ và mạnh mẽ Thứ ba là trong chỉ đạo điều hành còn phiến diện, chỉ chú trọng vào giải quyết những công việc cụ thể của công nghiệp quốc doanh Các cơ chế chính sách khuyến khích, hỗ
trợ, ưu đãi các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất CN - TTCN tuy được ban hành
nhưng khi tổ chức thực hiện gặp một số ách tắc, phiền hà Tư tưởng trông chờ vào
sự hình thành và phát triển của KCN Dung Quất còn lớn nên thiếu chủ động trong
phát triển CN - TTCN ở địa phương
Trang 301.3 Những điều kiện cơ bản cho việc xây dựng và phát triển các KCN ở tỉnh Quảng Ngãi
1.3.1 Về điều kiện tự nhiên và vị trí địa lý
Vị trí địa lý: Tỉnh Quảng Ngãi được tái lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1989 Là
một tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 14o32’ - 15o25’ vĩ Bắc,
108o06’ - 109o04’ kinh Đông; phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam giáp tỉnh Bình Định; phía tây, tây bắc giáp tỉnh Quảng Nam và tỉnh Kon Tum; phía tây nam giáp tỉnh Gia Lai; phía đông giáp biển Đông Có đường bờ biển dài gần 130km với
5 cửa biển chính là Sa Cần, Sa Kỳ, cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh Tỉnh Quảng Ngãi
có diện tích tự nhiên 5.131,5km2[43;32], bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước Bao gồm 14 huyện, thành phố, trong đó có 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo
Địa hình: Cũng giống như các tỉnh ven biển miền trung khác, với đặc điểm
núi lấn sát biển, địa hình Quảng Ngãi có dạng đẳng thước và được chia thành bốn vùng rõ rệt: vùng rừng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và vùng bãi cát ven biển
Khí hậu: Việt Nam nói chung, Quảng Ngãi nói riêng nằm ở trung tâm khu vực
"Châu Á gió mùa", là nơi chịu ảnh hưởng luân phiên của nhiều luồng không khí có nguồn gốc khác nhau tràn tới Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, nên nhiệt độ cao và ít biến động, nhiệt độ trung bình năm trên 25OC Lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm Tổng lượng bức xạ lớn thuận lợi cho việc phơi sấy; sử
dụng năng lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản, làm
muối và sản xuất điện năng (năng lượng gió)
Đất đai: Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất thuộc hệ thống phân loại
của FAO - UNESCO và theo kết quả tổng kiểm kê đất đai năm 2002, Quảng Ngãi
có tổng diện tích 513.688,14 ha Trong đó, 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị đất và
Trang 3168 đơn vị đất phụ Đất nông nghiệp có 101.535,39 ha (chiếm 19,76% tổng diện tích
tự nhiên của tỉnh); đất lâm nghiệp 150.456,72 ha (chiếm 29,28%); đất chuyên dùng 21.720,45 ha (4,22%); đất ở đô thị 970,11 ha (0,18%); đất ở nông thôn 5.879,45 ha (1,14%) còn lại là đất chưa sử dụng có 233.126,10 ha (chiếm 45,38%) Đây là nguồn đất dồi dào để Tỉnh ủy Quảng Ngãi có định hướng xây dựng và hình thành các KCN trong tương lai
1.3.2 Về đặc điểm lịch sử, dân cư - xã hội
Lược sử: Các di tích khảo cổ học đã chứng minh Quảng Ngãi là mảnh đất có
con người sinh tụ từ rất sớm, ở đây đã có sự hiện diện của một nền văn minh từ thời thượng cổ Nơi đây là cái nôi của nền văn minh văn hóa Sa Huỳnh, có niên đại cách
đây 2500 - 3000 năm với những di chỉ hết sức phong phú ở Sa Huỳnh, Thạnh Đức,
Lý Sơn
Năm 1402 Vua Champa là Ba Đích Lại (Jaya Shinhavarman V - Bố Để)
nhường đất Chiêm Động (nay là phần lớn tỉnh Quảng Nam) và Cổ Lũy Động (tương đương tỉnh Quảng Ngãi) cho nhà Hồ Nhà Hồ thiết lập các Châu Thăng, Hoa (Chiêm Động), Tư, Nghĩa (Cổ Lũy Động) thuộc lộ Thăng Hoa; phong Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa; Chế Ma Nô Đà Nan (người Chăm) làm
Cổ Lũy huyện thượng hầu, trấn giữ châu Tư, châu Nghĩa Sau đó nhà Hồ làm mất ngôi, Chămpa thu lại vùng đất cũ
Năm 1471 quân Đại Việt lấy lại vùng đất này, đến tháng 6 âm lịch, thiết lập đạo thừa tuyên Quảng Nam (nay là các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và thành phố Đà Nẵng), gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhân Phủ Tư Nghĩa nay là tỉnh Quảng Ngãi
Năm 1602 khi là trấn thủ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, Nguyễn Hoàng đã đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa thành phủ Quảng Nghĩa/Ngãi (tên gọi Quảng Ngãi/Nghĩa) xuất hiện từ đây
Trang 32Năm 1776, nhà Tây Sơn đổi phủ Quảng Nghĩa thành phủ Hòa Nghĩa
Năm 1803, nhà Nguyễn đổi phủ Hòa Nghĩa lại thành tên cũ là Quảng Nghĩa
Năm 1807, xã Cù Mông (sau đổi thành Chánh Mông rồi Chánh Lộ) được chọn làm nơi xây dựng tỉnh Quảng Ngãi
Năm 1819, ông Trương Đăng Quế đỗ Hương tiến (cử nhân), khai khoa cho sĩ
tử Quảng Ngãi thời phong kiến
Năm 1832, tỉnh Quảng Ngãi chính thức được thành lập, lúc bấy giờ cả nước
có 30 tỉnh và 1 phủ (kinh đô Thừa Thiên)
Năm 1858, Pháp xâm lược Việt Nam, với hai hiệp ước Quý Mùi và Giáp Thân, Quảng Ngãi đã trở thành thuộc địa của pháp
Năm 1901, Pháp xây dựng Bưu điện Quảng Ngãi (tên dân gian Nhà Dây Thép)
Cách mạng thánh Tám thành công ở Quảng Ngãi vào ngày 16/08/1945 Sau đó cùng với cả nước, Quảng Ngãi bước vào đấu tranh xây dựng và bảo vệ chính quyền, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
Tháng 5 năm 1965 chính quyền cách mạng quyết định thành lập đơn vị thị xã Quảng Ngãi, gồm vùng nội thị, xã Nghĩa Điền và xã Nghĩa Lộ
Ngày 20 tháng 9 năm 1975, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết
số 245/NQ_TW về việc bãi bỏ cấp khu, hợp nhất các tỉnh Theo đó tỉnh Nghĩa Bình được thành lập trên cơ sở sát nhập 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định
Ngày 1 tháng 7 năm 1989, Nghĩa Bình chính thức tách ra làm 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định
Trang 33Dân cư - xã hội : Quảng Ngãi từng có các lớp cư dân cổ sinh sống: cư dân Sa
Huỳnh, cư dân Champa, kế đó là cư dân Việt (Kinh) chiếm vị trí chủ đạo Người Kinh hiện diện ở Quảng Ngãi bắt đầu chủ yếu từ thế kỷ XV trở đi, đa số là những
nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Thanh - Nghệ di cư vào khẩn hoang đất
đai, lập thành làng mạc
Dưới thời chúa Nguyễn, có một số người Hoa từ các vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam (Trung Quốc) đến sinh sống ở Thu Xà, các cửa biển Sa Cần, Sa Huỳnh và một số điểm ở trung du Người Hoa đóng vai trò tương đối quan trọng trong sự phát triển kinh tế của vùng đất Quảng Ngãi thời bấy giờ thông qua hoạt động buôn bán thịnh đạt ở Thu Xà Nhưng trải qua các cuộc chiến tranh, người Hoa phần đã phiêu tán đi nơi khác, phần hòa nhập vào cộng đồng người Việt, không còn các cộng đồng làng xã đặc thù
Dưới thời Pháp thuộc, cho đến hết năm 1975, có một số người Pháp, Mỹ, Ấn
Độ, Chà Và (Java) đến sống ở Quảng Ngãi, nhưng chủ yếu là chuyển cư tạm thời, hoặc không thành cộng đồng riêng Do vậy, ở vùng đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi, ngoài dân tộc Việt là đáng kể nhất, không có cộng đồng nào khác
Ở miền núi, về dân tộc có sự ổn định hơn Miền núi Quảng Ngãi có các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống; họ là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau và với người Việt ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn Từ sau năm 1975, có một ít người các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc vào, song chỉ là đơn lẻ và hòa nhập vào các cộng đồng địa phương Do vậy, nói đến dân cư, dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi cũng chỉ đề cập chủ yếu đến các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong và Kinh
Đến năm 2005, dân tộc Kinh chiếm 88,8%, Hrê 8,58%, Cor 1,8%, Ca Dong 0,7%; số người thuộc 13 dân tộc thiểu số khác chỉ chiếm 0,12% dân số Do vậy, nếu tính về dân tộc thì ở Quảng Ngãi có đến 17 dân tộc, nhưng thực chất cũng chỉ có 4 dân tộc có số lượng cư dân đáng kể Nhìn chung, khối cộng đồng dân cư Quảng
Trang 34Ngãi phát triển theo tiến trình của lịch sử, cùng đoàn kết, chung sức chung lòng
trong công cuộc chống phong kiến - đế quốc, dựng xây quê hương giàu đẹp
Trải qua quá trình hình thành và phát triển Tính đến ngày 1.4.2009, dân số
Quảng Ngãi là 1.216.773 người Hiện có hơn 15 dân tộc cư trú trên địa bàn tỉnh,
chủ yếu là dân tộc Kinh, nhưng tỷ trọng dân tộc Kinh đã giảm liên tục, các dân tộc Hrê, Cor, Xơ đăng, Hoa, Mường, Tày,… có tỷ trọng ngày càng tăng
DÂN SỐ TỈNH QUẢNG NGÃI
Trang 351.3.3 Về giao thông
Ngay từ những đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã rất chú trọng xây dựng và hoàn thiện dần các hệ thống giao thông trong tỉnh, đáp ứng sự đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân Tiếp tục nâng cấp và mở rộng mạng lưới giao thông bằng nhiều phương thức tạo vốn thích hợp, phấn đấu đến năm
2000 hầu hết các tuyến đường ô tô chính nối liền giữa 3 vùng đều được nâng cấp, củng cố, đảm bảo ô tô có thể đến các xã, kể cả trong mùa mưa[65;52] Đây là quyết tâm của Đảng bộ tỉnh nhằm cải thiện hệ thống giao thông trong tỉnh, hướng đến việc định hình các KCN nằm trên những tuyến đường huyết mạch, có vị trí thuận lợi trong trung chuyển hàng hóa, tạo cơ sở tiền đề để thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh trong tương lai
Các hệ thống giao thông trong tỉnh, gồm có:
Đường bộ:
Quốc lộ 1A đoạn chạy qua tỉnh dài 98km Quốc lộ 24A nối liền Quốc lộ 1A (đoạn qua Thạch Trụ, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) với KonTum dài 69km
và Quốc lộ 24B dài 18km
Đường Đông Trường Sơn đi qua 02 xã Sơn Mùa và Sơn Bua, huyện Sơn Tây
với tổng chiều dài 13 km
Tỉnh lộ Gồm 18 tuyến với tổng chiều dài 520,5km
Đường ven biển Dung Quất - Sa Huỳnh đi qua các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh,
Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ và thành phố Quảng Ngãi, với chiều dài khoảng 117
Km Đây là tuyến đường góp phần quan trọng khơi dậy tiềm năng vừa phát triển
kinh tế - xã hội dọc vùng ven biển, nâng cao đời sống người dân, vừa gắn với củng
cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh ở khu vực này
Đường nội bộ KKT Dung Quất: có tổng chiều dài trên 60km Cho đến năm
2012, việc đầu tư xây dựng hoàn thiện các tuyến đường vẫn đang triển khai thực hiện và các tuyến đường đã quy hoạch Xây dựng đường Dung Quất nối với đường
Hồ Chí Minh
Trang 36Đường Sắt có tuyến đường sắt Bắc - Nam: chạy suốt chiều dài tỉnh, góp phần
thúc đẩy việc vận chuyển, giao thương hàng hóa các KCN tỉnh Quảng Ngãi với hai đầu đất nước
Đường hàng không có sân bay Chu Lai (Tỉnh Quảng Nam) cách Thành phố
Quảng Ngãi 35km, cách KKT Dung Quất 04km về hướng Bắc
Hệ thống cảng biển
Cảng biển nước sâu Dung Quất: với lợi thế kín gió, cách tuyến hàng hải quốc
tế 90km, tuyến nội hải 30km và độ sâu từ 10-19m, cảng Dung Quất đã được thiết kế
với hệ thống cảng đa chức năng gồm:khu cảng dầu khí, cảng tổng hợp,khu cảng chuyên dùng, khu cảng thương mại
Cảng Dung Quất được đầu tư xây dựng để bảo đảm khối lượng hàng hóa thông qua khoảng 20 triệu tấn/năm vào năm 2010 và khoảng 34 triệu tấn/năm vào năm 2020 Hiện nay đang vận hành bến tổng hợp cho tàu 1,5 vạn DWT
Ngoài ra, với bờ biển dài 144 km, Quảng Ngãi có nhiều cửa biển, cảng biển nhỏ như: Sa Kỳ, Sa Cần, Bình Châu, Mỹ Á,… có tiềm năng về giao thông đường thủy, thương mại và du lịch
Giao thông nội tỉnh Quảng Ngãi đã và đang ngày càng được hoàn thiện hơn, đảm bảo việc đi lại, vận chuyển hàng hóa được thông suốt Cùng đó chất lượng đường ổn định, cho phép các xe có tải trọng lớn đi giao thương Đây là yếu tố rất quan trọng thúc đẩy chuyển tiếp hàng hóa, sản phẩm ra vào các KCN Với hệ thống giao thông xuyên suốt và đầy đủ các loại hình vận chuyển, các KCN của tỉnh như được tiếp thêm cánh vươn ra biển lớn, mang những sản phẩm có xuất xứ Quảng Ngãi ra với thị trường trong nước và quốc tế
1.3.4 Về nguồn nhân lực
Đất nước thống nhất, chính quyền cách mạng ở Quảng Ngãi thời kỳ này đã bắt tay vào việc củng cố, phát triển nhân lực để khôi phục và phát triển quê hương trước mắt và lâu dài Nhân lực tại chỗ, kể cả nhân lực ở vùng mới giải phóng, nhân viên
Trang 37chính quyền cũ được chọn lọc, sử dụng, cùng với số cán bộ tập kết từ miền Bắc trở
về, tất cả được tập trung cho việc phục vụ nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh,
đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục - đào tạo Nhiều trường
học phổ thông và dạy nghề đã mọc lên ở khắp các thành thị và nông thôn, tạo điều kiện cho mọi người được học hành, cũng là để nâng cao chất lượng nhân lực cho xã
hội Thời gian 1975 - 1989, nhân lực ở địa hạt tỉnh Quảng Ngãi phát triển trong điều
kiện hòa bình, có nhiều thuận lợi, nhưng cũng có những khó khăn lớn, đó là đời sống của nhân dân còn thấp, các cơ sở giáo dục đào tạo còn tạm bợ Về cơ bản, nhân lực tỉnh Quảng Ngãi thời gian này mang đặc thù của thời bao cấp và có sự tác động của việc nhập tỉnh Nghĩa Bình
Năm 1976, tỉnh Nghĩa Bình có 31.700 người lao động trong khu vực Nhà nước do địa phương quản lý; đến năm 1980 có 48.800 người; và đến năm 1986 tăng lên 64.300 người Vào năm 1986, tỉnh Nghĩa Bình có 52 xí nghiệp quốc doanh, công ty hợp doanh, trong đó có 45 xí nghiệp do địa phương quản lý Số cơ sở sản xuất TTCN năm 1986 có 1.820 cơ sở, trong đó có 176 hợp tác xã chuyên nghiệp;
514 tổ sản xuất chuyên nghiệp; 1.073 hợp tác xã kiêm cơ sở sản xuất Giá trị tổng sản lượng công nghiệp năm 1986 (tính theo giá cố định năm 1982) đạt gần 2 tỷ đồng Một số lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế như thương nghiệp, giao thông, bưu điện,… được thực hiện theo chế độ kế hoạch hóa tập trung, sản xuất theo chỉ tiêu của cấp trên nên cũng không có sự năng động và lâm vào tình trạng trì trệ
Năm 1986, dân số tỉnh Nghĩa Bình có 2.401.200 người, dân số ở vùng nông thôn chiếm tới 86,7%, vùng thành thị chỉ có 13,3% Người có nghĩa vụ lao động là 606.400 người Toàn tỉnh có 426 hợp tác xã nông nghiệp với 319.900 hộ xã viên, chiếm 92,4% số hộ nông dân trong toàn tỉnh Cũng vào thời gian này, quy mô bình quân một hợp tác xã nông nghiệp có 3.658 nhân khẩu, trong đó có 1.149 người lao động, diện tích canh tác bình quân của một hợp tác xã là 307ha
Để giải quyết việc làm cho người nông dân, tỉnh Nghĩa Bình đã thực hiện việc
tổ chức cho nhân dân ở các xã vùng đồng bằng đi các khu kinh tế mới Những năm
Trang 381976 - 1986, Quảng Ngãi đã chuyển trên 6.000 hộ với gần 25.000 lao động di dân
đến các vùng kinh tế mới ở Bảo Lộc, Cát Tiên (Lâm Đồng) và một số tỉnh Tây Nguyên khác
Quảng Ngãi tái lập tỉnh trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới, cơ chế thị trường đã dần dần thâm nhập vào cuộc sống và tạo nên một luồng sinh khí mới trong xã hội Tỉnh tiếp tục chú trọng đến việc đào tạo, sử dụng, nâng cao chất lượng của nhân lực Trong quá trình phát triển 15 năm từ 1989 đến 2005, chất lượng nhân lực luôn
là vấn đề đặt ra, luôn có sự nâng cao, nhưng đồng thời cũng bộc lộ những nhược điểm của nó
Sau khi tái lập tỉnh, cùng với việc củng cố lại hệ thống bộ máy quản lý nhà
nước, Quảng Ngãi đã tập trung vào việc phát triển kinh tế - xã hội Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XIV nhiệm kỳ 1991 - 1995 đã đề ra 9 chương trình kinh tế
trọng điểm, 9 chương trình kinh tế của Quảng Ngãi đã bước đầu tạo đà cho việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động
Các chương trình phát triển mía đường, chương trình phát triển miền núi - trung du, chương trình thủy sản, chương trình phát triển CN, TTCN đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong việc giải quyết việc làm và chuyển đổi cơ cấu nguồn nhân lực Đến năm 1995, ở các huyện miền núi đã được đầu tư 29 dự án, trong đó
có 15 dự án định canh, định cư với gần 15.000 hộ (96.000 nhân khẩu) Hàng chục công trình giao thông và cơ sở hạ tầng, công trình công cộng và phúc lợi xã hội được đầu tư ở các huyện miền núi
Tuy nhiên do điểm xuất phát thấp nên Quảng Ngãi vẫn là một trong những tỉnh nghèo trong cả nước Vì vậy để tiếp tục giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu
nguồn nhân lực, Quảng Ngãi tiếp tục triển khai thực hiện 8 chương trình kinh tế - xã
hội từ năm 1996 đến năm 2000
Trang 39Đến năm 2001, Quảng Ngãi có hơn 543.000 lao động (lao động nữ chiếm 50,47%), trong đó lao động ở khu vực thành thị chiếm 11,06%, còn lại là lao động ở nông thôn (88,94%) Xét cơ cấu lao động theo trình độ học vấn thì lao động chưa biết chữ chiếm 6,23%, lao động chưa tốt nghiệp cấp I chiếm 22,9%, lao động đã tốt nghiệp cấp I và cấp II chiếm 61,22%, chỉ có 9,96% lao động đã tốt nghiệp cấp III Trong tổng số lao động của năm 2001 có 13,5% lao động đã qua đào tạo: lao động
có trình độ sơ cấp, học nghề ngắn hạn là 3,16%, công nhân kỹ thuật có bằng và không bằng 53,54%, Trung học chuyên nghiệp 23,01%, Cao đẳng và Đại học trở lên chiếm 20,29%
Đến năm 2005, dân số Quảng Ngãi có 1.285.728 người (tăng 137.262 người
so với năm 1995), trong đó số người sinh sống ở thành thị là 184.621 người và số người sinh sống ở nông thôn là 1.101.107 người (năm 1995 chỉ có 133.120 người sống ở thành thị) Số người trong độ tuổi lao động là 694.792 người, trong đó có 354.702 lao động nữ Nếu chia theo khu vực cư trú thì số người trong độ tuổi lao động ở khu vực đồng bằng là 584.872 người, các huyện miền núi 99.136 người và
huyện hải đảo 10.784 người Trong tổng số lực lượng lao động có 5,61% chưa tốt
nghiệp Tiểu học, 10,42% tốt nghiệp Tiểu học, 19,62% tốt nghiệp Trung học cơ sở
và 64,35% tốt nghiệp Trung học phổ thông Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 20%; lao động đã qua sơ cấp, dạy nghề là 3,75%, công nhân kỹ thuật có bằng và không bằng chiếm 54,42%, lao động đã qua Trung học chuyên nghiệp chiếm 22,3%, Cao đẳng và Đại học trở lên chiếm 19,53% Nếu tính theo cơ cấu sử dụng lao động theo trình độ chuyên môn tại thời điểm năm 2005, tỉnh Quảng Ngãi có tỷ
lệ: 1 kỹ sư (Cử nhân) - 1,1 Trung học chuyên nghiệp - 2,6 công nhân kỹ thuật Trong khi đó tỷ lệ này của cả nước là 1 - 1,31 - 4,8, còn trong khối ASEAN tỷ lệ này là 1 - 4 - 10 Đặc biệt khi KCN Dung Quất (nay là KKT Dung Quất) được xây
dựng, số nhân công lao động có nhu cầu việc làm rất nhiều, có nhiều người đã qua đào tạo, nhưng vẫn không được tuyển dụng Có nhiều người dân Quảng Ngãi có trình độ chuyên môn cao đã tìm đến các thành phố lớn mà không về quê vì chưa có nơi phát huy hết trí lực của họ
Trang 40Năm 2012, dân số tỉnh Quảng Ngãi là 1,2 triệu dân, trong đó hơn 50% dân số trong độ tuổi lao động
Hầu hết số lao động chưa qua đào tạo nghề Hiện tại tỉnh Quảng Ngãi có 3 trường Đại học cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng, trong đó có 2 trường đào tạo nghề hệ trung cấp là trường Đại học Phạm Văn Đồng và Đại học Công nghiệp; ngoài ra còn có trường Cao đẳng nghề Dung Quất và các trung tâm dạy nghề của một số huyện, thành phố trong tỉnh với quy mô và khả năng đào tạo cung cấp nguồn
lao động có tay nghề với khoảng 6000 - 7000 học sinh, đào tạo và cung ứng lao
động miễn phí cho các DN theo yêu cầu Bậc đào tạo: hệ Trung cấp nghề tương đương bậc 3/7 theo tiêu chuẩn Việt Nam Nếu nguồn lao động tại chỗ không đủ đáp ứng, nhà đầu tư được tuyển dụng lao động tại các địa phương lân cận hoặc trong cả nước Các cơ sở kinh tế quốc doanh, tư doanh và cá nhân ngày càng nhận thức rõ rằng nhân lực là vấn đề mấu chốt của sự phát triển, nên đã có những động thái nhất định để nâng cao chất lượng nhân lực của mình Vấn đề chất lượng và sử dụng tối
ưu nguồn nhân lực sẽ vẫn đặt ra và có tác động rất lớn đến sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi trong tương lai
1.3.5 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Do đặc điểm cấu tạo về địa chất phong phú, địa hình, địa mạo đa dạng, cho nên đất đai ở Quảng Ngãi rất phong phú và đa dạng về loại hình và phân bố Cụ thể,
theo phân loại của FAO-UNESCO, kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất tỉnh
Quảng Ngãi (1998), do trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội thực hiện, đã phân ra
9 nhóm đất chính, 25 đơn vị đất, 68 đơn vị đất phụ Theo đó, là một vùng đất ven biển miền trung, đất đai ở Quảng Ngãi không màu mỡ như những vùng đồng bằng khác, mà mang đặc trưng chủ yếu là khô cằn, thiếu dinh dưỡng, cát nhiều, giữ nước kém Nên tuyệt đại bộ phận đất đai ở đây phù hợp cho trồng các cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi trồng thủy hải sản, nhằm cung cấp nguyên nhiên liệu cho các nhà