Về những công trình nghiên cứu mảng thơ văn này, có thể kể đến: - Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu 1943 đã có những nhận định về tình hình Nho và Phật ở thời đại này như sa
Trang 1-
NGUYỄN VĂN QUỐC
THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO VIỆT NAM THẾ KỶ XV – XVII VIẾT VỀ PHẬT GIÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VĂN QUỐC
THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO VIỆT NAM THẾ KỶ XV – XVII VIẾT VỀ PHẬT GIÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên ngành VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.01.21
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của quý thầy cô và các phòng ban, nay luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng, cho phép tôi được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc của mình đến:
- PGS.TS Nguyễn Công Lý, người thầy đã gợi ý, định hướng đề tài và ân cần hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
- Quý vị GS, PGS, TS của Khoa Văn học và Ngôn ngữ đã giảng dạy các chuyên
đề Cao học Văn học Việt Nam, khoá 2013 đợt 2
- Ban Giám hiệu và các Phòng, Ban chức năng của Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu
- Xin được cám ơn tất cả anh em bằng hữu đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập
Xin chân thành cám ơn tất cả
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015
Nguyễn Văn Quốc (Thích Minh Ấn)
Trang 41 Lý do chọn đề tài ………1
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… ……1
3 Lịch sử vấn đề ……….2
4 Phương pháp nghiên cứu ……… ……11
5 Đóng góp mới của đề tài ……… …….12
6 Cấu trúc của luận văn ……… ……12
Chương 1 XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XV-XVII VÀ THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO VIẾT VỀ PHẬT GIÁO ………14
1.1 Xã hội Đại Việt thế kỷ XV-XVII ……….14
1.1.1 Đặc trưng thời đại xã hội ………15
1.1.2 Tình hình Nho giáo ở Đại Việt thế kỷ XV-XVII ………21
1.1.3 Tình hình Phật giáo ở Đại Việt thế kỷ XV-XVII ………27
1.2 Cội nguồn của cảm hứng về Phật giáo trong thơ văn các nhà Nho thế kỷ XV-XVII ……… ……….35
1.3 Kiểu tác gia nhà Nho và d iện mạo thơ văn của các nhà Nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo ……… ……… 41
1.3.1 Kiểu tác gia nhà nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo ……… 41
13.2 Diện mạo thơ văn của các nhà Nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo……… 46
Tiểu kết chương 1 ……….47
Chương 2 THƠ VĂN VIẾT VỀ PHẬT GIÁO CỦA CÁC NHÀ NHO THẾ KỶ XV – XVII NHÌN TỪ ĐỀ TÀI VÀ NỘI DUNG ……… 49
2.1 Các dạng đề tài trong thơ văn của các nhà Nho thế kỷ XV–XVII viết về Phật giáo ……… 48
2.1.1 Đề tài về chùa chiền ……… 48
2.1.2 Đề tài về sư tăng ……… 49
2.1.3 Đề tài về kinh điển, giáo lý tư tưởng nhà Phật ……… 52
2.2 Tái hiện cảnh già lam và nếp sống nơi Thiền môn ……… 54
2.3 Thể hiện tư tưởng triết lý Phật – Thiền ……….62
Trang 5Tiểu kết chương 2 ……….81
Chương 3 THƠ VĂN VIẾT VỀ PHẬT GIÁO CỦA CÁC NHÀ NHO THẾ KỶ XV – XVII NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT ……….83
3.1.Thể loại tác phẩm ……….83
3.1.1 Các thể thơ ……… 83
3.1.2 Các thể biền văn ……….89
3.1.3 Các thể tản văn ……… 91
3.2 Văn tự và từ ngữ Phật giáo ………93
3.2.1 Chữ Hán ……….94
3.2.2 Chữ Nôm ………95
3.2.3 Sử dụng từ ngữ Phật giáo ……… 96
3.3 Nghệ thuật sử dụng các biện pháp so sánh và ẩn dụ và cách dùng đại từ nhân xưng ……… 99
3.3.1 Biện pháp so sánh ……… 99
3.3.2 Biện pháp ẩn dụ ………101
3.3.3 Cách dùng đại từ nhân xưng ……….103
3.4 Nghệ thuật sử dụng điển cố, điển tích ……… 104
3.4.1 Điển tích Phật giáo ……… 105
3.4.2 Điển tích Nho giáo ………110
3.5 Bút pháp và giọng điệu ……… 112
3.5.1 Bút pháp ………112
3.5.2 Giọng điệu ………125
Tiểu kết chương 3 ……… 129
Kết luận ……….130
Tài liệu tham khảo ………135
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Phật giáo là một bộ phận nằm trong cấu trúc tổng thể của văn học Việt Nam, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Trải qua hơn hai ngàn năm, Phật giáo đã luôn đồng hành cùng dân tộc, góp phần làm nên những chiến công oanh liệt, những chiến tích oai hùng và tạo nên những dấu ấn văn hoá tư tưởng đậm nét trong lịch sử dân tộc Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Phật giáo nói chung và văn học Phật giáo nói riêng đã đóng một vai trò không nhỏ, tạo nên những dấu ấn riêng với đỉnh cao
là Phật giáo và văn học Phật giáo thời Lý -Trần Từ đây mạch nguồn đã tuôn chảy và ảnh hưởng sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân Dù qua thời gian biến thiên, thăng trầm nhưng Phật giáo vẫn luôn tồn tại trong mạch sống của dân tộc Nếu Phật giáo ở thời Lý - Trần phát triển cực thịnh, được coi gần như là quốc giáo, thì ở thời Lê - Mạc - Nam Bắc phân tranh (thế kỷ XV-XVII), khi
mà Nho giáo thắng thế, có phần độc tôn, thì Phật giáo vẫn tồn tại trong tâm thức của mọi người, trong đó có tầng lớp nho sĩ Từ đó đã tạo nên cảm hứng cho các nhà nho để họ viết về chùa chiền, sư sãi , làm nên một mảng văn học của các nhà nho viết về Phật giáo
Tìm hiểu mảng thơ văn của các nhà nho viết về Phật giáo cũng là một cách để làm sáng tỏ thêm mạch nguồn văn hóa dân tộc, góp phần làm cho văn
học nước nhà thêm phong phú Đó là lý do người viết chọn đề tài Thơ văn của các nhà nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo để nghiên cứu
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đi sâu tìm hiểu thơ văn của các nhà
nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo Trên cơ sở đó chỉ ra nội dung tư tưởng
và đặc trưng nghệ thuật trong những sáng tác này
Trang 7Đối tượng và phạm vi nghiên cứu nghiên cứu là toàn bộ thơ văn của các nhà nho viết về Phật giáo trong văn học Việt Nam ở ba thế kỷ XV, XVI, XVII
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thơ văn của các nhà nho viết về Phật giáo ít được quan tâm nghiên cứu, hiện chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Không phải vì đề tài này không quan trọng, mà bởi vì trong bối cảnh nghiên cứu khi đề cập đến thơ văn của các nhà nho, nhiều nhà nghiên cứu thường chỉ đi vào các chủ đề mang tính thời sự của thời đại, cùng với tư tưởng học thuyết Nho gia Hiện còn rất nhiều sáng tác của các nhà nho thế kỷ XV-XVII và đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về giai đoạn văn học này nhưng chủ yếu đều tập trung vào các chủ đề chính như yêu nước, thương dân, yêu thiên nhiên, tự hào
về văn hoá văn hiến dân tộc, còn việc đi sâu và tập trung tìm hiểu về mảng văn học của các nhà nho viết về Phật giáo thì có thể nói chưa có thành tựu gì nhiều, nếu có, chỉ là những nét phác thảo, có tính gợi mở ban đầu Tuy vậy, có thể điểm lại tình hình sưu tầm, dịch thuật và nghiên cứu màng thơ văn này từ trước đến nay như sau:
Từ thế kỉ XIX trở về trước, về sưu tầm văn bản có bộ hợp tuyển của Lê
Quý Đôn với Toàn Việt thi lục, của Tồn Am Bùi Huy Bích với Hoàng Việt thi tuyển Hai bộ hợp tuyển này có chép thơ của các tác giả viết về chùa chiền,
Thiền Phật như: Lê Thánh Tông, Lê Hiển Tông, Nguyễn Trãi, Lê Thiếu Dĩnh,
Vũ Bang Thành, Trần Khản, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thì Trung, Nguyễn Bành, Nguyễn Trực, Vũ Lâm, Lê Quyến, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Nguyễn Xung Xác, Lê Ngạn Tuấn, Nguyễn Bảo, Thái Thuận, Vũ Quỳnh,
Hoàng Đức Lương, Nguyễn Húc, Nguyễn Bỉnh Khiêm
Về bình giảng và đánh giá mảng thơ văn này có thể kể đến nhận xét của
Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục quyển thứ IX Thiền dật (tu hành và ẩn
dật) đã diễn giải rất nhiều kinh điển Phật giáo Ông nói rõ về quá trình tu tập
Trang 8và công hạnh của thiền sư Hương Hải Đặc biệt là ông trích dẫn bài thơ “Ký Pháp Vân cổ Phật sự tích” của Lý Tử Tấn với lời bình “Đền thờ hậu Phật Pháp Vân, đảo vũ rất linh ứng, sự tích đã dẫn trong cuốn Lĩnh Nam chích quái Hồi đầu quốc triều, Lý Tử Tấn có làm bài thơ cổ phong, cũng là vịnh sử nay chép ra đây” [Kiến văn tiểu lục, trang 455]
Sang thế kỷ XX, việc sưu tầm, dịch thuật và giới thiệu thơ văn, trong đó
có chép thơ văn của các nhà nho viết về chùa chiền Thiền Phật, có thể kể như sau:
- Nguyễn Trãi toàn tập do Đào Duy Anh dịch, giới thiệu, Nxb Sử học Hà
Nội, tái bản 1976, chép thơ văn của Nguyễn Trãi, trong đó có 11 bài thơ chữ Hán và 13 bài thơ Nôm viết về chùa chiền Thiền Phật
- Thơ văn Lê Thánh Tông của Viện nghiên cứu Hán Nôm, Mai Xuân Hải
chủ biên, xuất bản năm 1986, trong đó có chép 04 bài thơ Nôm, 01 bài văn Nôm và 11 bài thơ chữ Hán viết về chùa chiền Thiền Phật
- Tổng tập văn học Việt Nam, các tập 4 và tập 5 (do Bùi Văn Nguyên chủ
biên), tập 6 và tập 7 (do Bùi Duy Tân chủ biên) đã chép thơ văn của các tác giả có viết về Phật giáo như: Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Lê Thiếu Dĩnh, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thì Trung, Trần Khản, Nguyễn Bành, Vũ Lâm,
Lê Thánh Tông, Lương Như Hộc, Vũ Lãm, Vương Sư Bá, Thái Thuận, Vũ Quỳnh, Lê Hiến Tông, Đặng Minh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Vũ Cẩn, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thực, Nguyễn Đăng, Trịnh Căn, Nguyễn Danh Nho
- Tinh tuyển văn học Việt Nam tập 4, Trần Thị Băng Thanh chủ biên, có
chép thơ viết về Phật giáo của các tác giả: Nguyễn Trãi, Lê Thiếu Dĩnh, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Thì Trung, Nguyễn Bành, Lê Thánh Tông, Vũ Quỳnh, Vương Sư Bá, Nguyễn Dữ, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Cẩn, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thực, Đào Duy Từ, Nguyễn Đăng, Trịnh Căn, Nguyễn
Trang 9Danh Nho
- Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam tập 2, Bùi Duy Tân chủ biên, có
chép thơ văn viết về Phật giáo của Đặng Minh Khiêm, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Thực, Đào Duy Từ, Trịnh Căn, Nguyễn Danh Nho
Về những công trình nghiên cứu mảng thơ văn này, có thể kể đến:
- Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) đã có những
nhận định về tình hình Nho và Phật ở thời đại này như sau:
“Về triết học, xưa ta chịu hai cái ảnh hưởng chính: một là của Phật học, hai là của Nho học 1) Phật học thì thịnh về đời Lý, Trần mà suy về đời Lê, Nguyễn Tuy trong thời kỳ toàn thịnh cũng có nhiều vị cao tăng hiểu rõ tôn chỉ của đức Phật và một ít tác phẩm giải thích về giáo lý (như Khóa hư lục của vua Trần Thái Tôn, Đoạn sách lục của sư Pháp Loa), nhưng không có vị nào xướng lên một lý thuyết hoặc một phép tu hành nào mới 2) Nho học, trong các đời, đều được triều đình tôn sùng
và sĩ phu ủng hộ Về đường tinh thần, luân lý, nho học đã có ảnh hưởng rất tốt và đã đào tạo nên những bậc hiếu tử trung thần, hiền nhân, quân
tử có đức độ, có phẩm hạnh, có công nghiệp với quốc gia, xã hội Nhưng
về đường tự tưởng học thuật, thì nho phái nước ta theo lối học “huấn hỗ” của Hán Nho và chỉ biết cái đạo học của Chu Trình đời Tống, chứ không biết đến cái học thuyết khác, nhờ cái “tâm học” của Vương Thủ Nhân đời Minh; phần nhiều chỉ chọn lối học khoa cử, vụ từ chương mà không trọng nghĩa lý; lại có cái thiên kiến rằng các điều của thánh hiền
đã nói trong kinh truyện là bất di bất dịch, không cần phải tra tầm suy xét thêm nữa Bởi thế nên cái học của ta có phần câu chấp, nệ cổ, thành
ra không tìm thấy cái đạo lý nào cao xa, không xướng lên cái học thuyết nào đặc biệt” [trang 213]
Trang 10- Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập 2, tủ sách Đại học Sư phạm,
Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1963, Bùi Văn Nguyên đã đánh giá tổng quan về văn học từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII Nói đến tình hình xã hội Việt Nam, tình hình và đặc điểm văn học, các tác gia và tác phẩm như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy
Từ Trong đó có một số thơ văn viết về chừa chiền Nhận định về tình hình phát triển văn học chữ Nôm, giáo trình viết: “Văn học chữ Nôm trong thời kỳ này, nói chung đều phản ánh tình trạng bế tắc, khủng hoảng của chế độ phong kiến Ở các truyện bằng chữ Hán cũng như ở các truyện Nôm, tính chất nhân đạo, tính chất nhân dân đã dần dần hiện ra càng ngày càng rõ” [trang 90]
- Công trình Thơ ca Việt Nam – “Hình thức và thể loại” của Bùi Văn Nguyên - Hà Minh Đức, trong chương 2 “Sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam”, có những nhận định về sư phát triển của hình thức thể loại trong thơ trung đại Việt Nam
“Nếu ở thế kỷ XV, xã hội nước ta được tương đối ổn định, thì đến thế kỷ thứ XVI về sau, cho đến thế kỷ thứ XVII, XVIII lại có nhiều cuộc bạo động nông dân và nhiều cuộc xung đột giữa các tập đoàn thống trị trong giai cấp phong kiến Trong tình hình đó, số lượng tác phẩm bằng chữ Hán so với đời Lê sơ có giảm đi, nhưng số lượng tác phẩm bằng quốc âm lại tăng lên rõ rệt Điều đó chứng tỏ rằng tiếng nói của dân tộc
và những tác phẩm viết bằng tiếng nói dân tộc, không phụ thuộc vào quy luật hưng vong của các triều đại phong kiến, mà chỉ theo quy luật tiến triển từ thấp lên cao, phù hợp với các phong trào nông dân chống phong kiến từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn” [trang 59]
- Giáo trình “Văn học Việt Nam từ thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII của
Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978, tập 2, có các mục viết về văn học
Trang 11Việt Nam thế kỉ XV: “Sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn hóa Đại Việt trong thế kỷ XV; Sự nghiệp sáng tác và trước thuật của thế kỷ thứ XV
có ý nghĩa rất tích cực đối với lịch sử văn hóa Đại Việt; Hai thời kỳ văn học của thế kỷ XV; Văn học nửa thứ hai thế kỷ thứ XV có tính chất quan phương; Những tác giả tiêu biểu và Lê Thánh Tông, Văn tự sự, truyện ký thế kỷ thứ XV” Về văn học thế kỷ XVI, XVII, giáo trình này viết về các tác giả Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Phùng Khắc Khoan, có nhắc đến một vài sáng tác của các tác giả này có ít nhiều thể hiện tư tưởng Phật giáo
- Công trình Văn học Việt Nam thế kỉ X – XIX: Những vấn đề lý luận và lịch sử do Trần Ngọc Vương chủ biên (2007), có những bài viết như: Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn; Lược khảo phú chữ Hán Việt Nam của Đinh Thanh Hiếu; Thể loại truyện kì ảo Việt Nam thời trung đại – quá trình nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm của Vũ Thanh; Loại hình tác giả trong văn học thời Lý - Trần của Đỗ Thu Hiền; Các cơ sở ngôn ngữ văn học tiếng Hán trong văn học chữ Hán trung đại Việt Nam của Phạm Văn Khoái, v.v
- Tuyển tập Bùi Duy Tân do Trần Nho Thìn giới thiệu và tuyển chọn (1999), gồm có nhiều bài viết: Một thế kỉ khảo cứu văn thơ Nôm Nguyễn Trãi;
Lê Thánh Tông một văn hào dân tộc; Hội Tao đàn – Quỳnh uyển cửu ca và vai trò của Lê Thánh Tông; Hồng Đức quốc âm thi tập – Một tác phẩm lớn của văn học tiếng Việt thế kỉ XV; Những năm ra hoạt động và về ở ẩn của Nguyễn Bỉnh Khiêm; Nguyễn Bỉnh Khiêm và “tấm lòng tiên ưu tới già chưa thôi”; Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan – Danh nhân – Thi sĩ – Văn chương – Nhân cách để đời; Truyện kỳ mạn lục – Một thành tựu của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán; Đào Duy Từ – Một sự nghiệp văn chương khiêm tốn; Vấn
đề thể loại trong văn học Việt Nam thời cổ; Văn học chữ Nôm: Tinh hoa – Sáng tạo của văn học cổ điển Việt Nam thời trung đại; Khái luận về văn học thế kỉ XVI (thời Lê – Mạc)
Trang 12Trong bài viết “Lễ Vu lan - Tiết Trung nguyên và hai bài văn tế cô hồn thời cổ”, Bùi Duy Tân đã phân tích và so sánh hai bài “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn” của Lê Thánh Tông và “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn
Du, đã chỉ ra rằng: với Lê Thánh Tông viết vì mục đích giáo huấn người đời mang màu sắc chính trị, thì ở Nguyễn Du đầy tính nhân đạo hơn
- Lê Mạnh Thát với “Toàn tập Minh Châu Hương Hải” (2000), có nhận
định về mối quan hệ Phật – Nho, việc các nhà nho ra làm quan rồi về cuối đời
lại quay về với Phật dù trước đây họ không mấy thiện cảm “Trương Hán Siêu
cuối cùng đã có quan hệ tốt với nhà chùa, đến nỗi Ngô Sĩ Liên phải tỏ ra bực tức Lê Thánh Tông ban Tứ thư Ngũ kinh cho phủ huyện học, nhưng vẫn coi chùa Trấn Quốc là đứng ở giữa trung tâm trời đất, làm bền vững kinh đô của đất nước mình” [trang 65]
- Công trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – Về tác gia và tác phẩm (2003), tuyển
tập những bài nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong đó có một số bài ít nhiều có bàn đến ảnh hưởng Phật giáo trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm như:
+ Trần Đình Hượu trong bài “Triết lý và thơ ở Nguyễn Bỉnh Khiêm” có
nhận xét “Tự tại là triết lý tự do cho cá nhân Đó vốn là một từ ngữ Phật giáo
Đề xướng lối sống tự do, tự tại là Hàn Dũ, người mở đầu phong trào Cổ văn, người đầu tiên được kể đến trong Bát đại gia, tám nhà văn lớn thời Đường Tống ở Trung Quốc Tư tưởng tự tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm như ta đã phân tích ở trên cũng là tư tưởng của Hàn Dũ của Tô Đông Pha và nhiều nhà nho khác từ gốc Phật được Lão - Trang hóa vì nằm trong hệ tư tưởng cầu thích chí chứ không cầu giải thoát” [trang 134- 135]
+ Bài“Tinh thần Phật học của Nguyễn Bỉnh Khiêm”, Minh Chi đã nhận
xét:
“Đó là cảnh sống nhàn của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhàn cả nơi thân và điều quý hóa hơn là nhàn ở trong tâm Tâm nhàn là tâm siêu
Trang 13thoát, không vương vấn thế tục lợi danh Đó là cái nhàn mà đạo Phật đề cao, cái nhàn sống giữa đời mà vẫn vui với đạo, cái nhàn của người đã đoạn tuyệt với tham, sân, si, cái nhàn của người đạo đức, sống trong sáng, con người mà vua Trần Nhân Tông, một nhà vua kiêm thiền sư đã
mô tả, trong bài phú Nôm Cư trần lạc đạo: “Muôn nghiệp lặng, an nhàn thế tính” [trang 165]
- Nguyễn Hữu Sơn với tập tiểu luận Văn học trung đại Việt Nam – Quan niệm con người và tiến trình phát triển (2005), có các bài: Khảo sát hình thức câu thơ lục ngôn trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; Lê Thánh Tông – đời và những dấu hiệu trữ tình; Đặc điểm văn học Việt Nam thế kỷ XVI – các bước tiếp nối và phát triển; Nguyễn Bỉnh Khiêm – cây đại thụ văn hóa dân tộc thế kỷ XVI; Hình thức câu thơ lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm Trong bài “Cảm quan Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi”, Nguyễn
Hữu Sơn đã chỉ ra dấu ấn Phật giáo trong thơ văn Nguyễn Trãi và đã lý giải
những bi kịch cuộc đời Nguyễn Trãi dưới nhãn quan Phật giáo Ông viết:
“Có thể khẳng định cảm quan Phật giáo là một phương diện tư tưởng quan trọng trong thơ văn và trong chính những phương thức ứng
xử nhân văn của Nguyễn Trãi Bằng sự chứng nghiệm trong trường đời
và sở học uyên thâm, Nguyễn Trãi đã có sự gặp gỡ những giá trị nhân bản căn cốt trong tư tưởng Phật giáo, thể hiện một cách hình dung về cuộc đời tương đồng với quan niệm của Phật giáo, từ đó thăng hoa thành những vần thơ đằm thắm nghĩa Đạo tình Đời” [trang 168]
- Đoàn Lê Giang với công trình nghiên cứu Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Việt Nam (Đề tài khoa học cấp Bộ, 2006), có nhận định về tư tưởng trong
thơ văn ở giai đoạn này rằng:
“Ở sơ kỳ trung đại ta còn thấy có tư tưởng văn học nguyên thủy gắn liền với Đạo thờ thần của người Việt, tư tưởng văn học Phật giáo,
Trang 14rồi sự khẳng định bước đầu của tư tưởng văn học Nho giáo Còn ở giai đoạn trung kỳ trung đại, tư tưởng văn học Nho giáo chi phối tất cả Ngay cả bộ phận thơ văn yêu nước, thì yêu nước cũng theo mô hình Nho giáo, một hình thức lịch sử điển hình của tư tưởng yêu nước trung đại Việt Nam Ý thức văn học của bộ phận này cũng mang đậm màu sắc Nho giáo Tư tưởng văn học Phật giáo và Lão Trang không tồn tại riêng, mà được đồng hóa vào tư tưởng văn học của nhà nho, để bổ sung cho những mặt mà tư tưởng văn học Nho giáo còn thiếu” [trang 50]
- Nguyễn Phạm Hùng với tập tiểu luận Văn học cổ Việt Nam – tìm tòi và suy ngẫm (2011), có những bài viết: Trở lại vấn đề xác định vị trí của thể thơ
“Thất ngôn xen lục ngôn” trong lịch sử văn học Việt Nam; Thể thơ “Thất ngôn xen lục ngôn”, sự sáng tạo thể loại đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam; Nhận thức lại thái độ thẩm mĩ của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập Đặc biệt là trong bài “Tìm hiểu tư tưởng Thiền trong các tác phẩm của Nguyễn Trãi”, ông viết:
“Những bài thơ mang cảm hứng Thiền của Nguyễn Trãi tuy rất ít
ỏi, nhưng chúng đã soi rọi khá sáng tỏ một góc sâu thẳm tâm hồn Nguyễn Trãi mà bấy lâu nay chúng ta chưa để ý đến Giữa một thế giới đầy đau buồn, cô đơn, giá lạnh và tăm tối, những vần thơ mang cảm hứng Thiền đã đem đến ít nhiều niềm vui, sự giao cảm, và hơi ấm tình người Mới hay, tinh thần Thiền học mới là cứu cánh, một bè mảng đưa con người vượt qua những năm tháng khó ngặt của cuộc đời Nguyễn Trãi không mong cầu một bờ bến yên vui nơi cửa Phật Nhưng cửa Phật
ít nhiều đem lại yên vui cho tâm hồn đa đoan của ông trong những tháng ngày đau khổ” [trang 499]
Xin được điểm qua một số bài đăng trên tạp chí có liên quan đến cảm hứng Thiền – Phật trong thơ Nguyễn Trãi như sau:
Trang 15- Nguyễn Công Lý với bài viết “Nguyễn Trãi: sự hội tụ tinh hoa văn hóa Thăng Long thời Lý – Trần” đăng trên Tạp chí Hán Nôm, đã có những đánh
giá sâu sắc về con người và tư tưởng Nguyễn Trãi
“Nguyễn Trãi là một nhà nho nhưng trong thơ của ông không chỉ nói tiếng nói của Nho gia mà còn có tư tưởng Phật và Lão – Trang Hình ảnh nhà quan thanh vắng giống như cảnh nhà chùa, và người chủ nhà
có tấm lòng trong veo sự đời, chẳng khác nào cái tâm thanh tịnh của nhà
sư (Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia - Mạn hứng 5) Lên chơi chùa trên núi mà lòng ngộ đạo Thiền, cái tâm đốn ngộ vô ngôn (Du sơn tự) Bạn cũ đến Côn Sơn thăm, thức trắng đêm tâm sự, hôm sau tiễn bạn về núi thì ông nghĩ rồi ta cũng theo đạo Thiền thượng thừa thôi (Tống tăng Đạo Khiêm quy Sơn) Đến Bảo Phúc đề thơ cho rằng chốn ấy thật đáng cho ta ẩn Lời kêu gọi về đi, sao không về trong Côn Sơn ca, mang cả tinh thần dung hợp tam giáo Ở đây, cái hành tàng của Nho gia có khi bị động, cứng nhắc, thì đã có cái nhập và xuất, xuất mà nhập uyển chuyển của Phật, của Đạo (Lão-Trang) bồi bổ thêm, bổ sung thêm cho tư tưởng của ông Cái u tịch của Phật cùng cái thanh khiết của Đạo đã hòa trộn, làm cho tư tưởng ông có sự hài hòa, thăng bằng, mềm dẻo Nguyễn Trãi
là người giữ vững sự thăng bằng ấy với một bản lĩnh siêu việt, phi thường: vững chắc mà thanh cao, yêu nước thương dân là trên hết Đây cũng chính là mẫu người, là tinh thần của hoàng đế - thiền sư Trần Thái Tông trong Thiền tông chỉ nam (hiện chỉ còn bài Tựa), trong Khóa hư lục mà Nguyễn Trãi đã tiếp thu và kế thừa”
- Bài viết “Nhà nho Việt với Phật giáo”, Nguyễn Hữu Sơn đã cho thấý sự
dung hợp giữa Nho - Phật - Lão trong quá trình hình thành và phát triển của văn hóa Việt, và khi đề cập đến các nhà nho từ thời Trần - Hồ ông có nhận định:
Trang 16“Từ thời Trần - Hồ xuất hiện tình trạng Nho giáo công kích Phật giáo và chuyển dần tới sự khẳng định vị thế của Nho giáo Trên thực tế, các nhà nho có sự phân hóa trong nhận thức về Phật giáo Điều này phụ thuộc trước hết vào thời đại và từng giai đoạn lịch sử cụ thể Bản thân trong cuộc đời mỗi nhà nho, khi hành đạo thường coi trọng Nho giáo nhưng đến cuối đời thường ngả sang Phật giáo Chiều hướng chung là nhà nho thường ngã về Phật giáo chứ không mấy khi nhà sư tìm sang Nho giáo”
- Luận văn Thạc sĩ của Huỳnh Quán Chi với đề tài “Hai mạch Nho - Thiền trong thơ ca Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du”, có lời kết “Hai mạch Nho - Thiền trong lịch sử văn học là một đặc điểm lớn của văn học trung đại Việt Nam Sự độc tôn, biến thế, của thơ Nho và sự tồn tại thầm lặng nhưng có khuynh hướng phục hưng của thơ Thiền là hai mạch quan trọng trong lịch sử văn học Nếu bỏ mảng thơ Thiền sẽ là thiếu sót
vì có nhiều bài, chính sự cộng hưởng giữa hai phái đã làm nên những tác phẩm có giá trị”
Những công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi hiểu thêm về văn học của một giai đoạn cụ thể, về tư tưởng của các nhà nho giai đoạn này, hiểu thêm về thời đại xã hội và ít nhiều giúp chúng tôi khi triển khai ý tưởng các chương, mục, tiểu mục của luận văn Nhưng xét đến cùng, với đề tài mà chúng tôi đang nghiên cứu thì có thể nói đây là một đề tài mới, từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu Đây cũng là một khó khăn cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này, bởi rất ít được kế thừa từ những gì đã
có trước đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành thực hiện luận văn, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 17- Phương pháp văn học sử: vì đây là đề tài về văn học sử nên chủ yếu dùng phương pháp này là chính Trong đó việc dùng phương pháp phân tích
và tổng hợp để tìm ra những nét tiêu biểu của các nhà nho khi viết về Phật giáo trong một giai đoạn lịch sử nhất định
- Phương pháp liên ngành: vì đề tài có liên quan đến tư tưởng Thiền Phật
- Phương pháp thống kê và phân loại tác phẩm để làm cứ liệu khi phân tích một cách rõ ràng và mạch lạc hơn
Những phương pháp nghiên cứu trên được luận văn sử dụng đan xen nhau khi trình bày vấn đề, nhằm giải quyết những yêu cầu nội dung mà dề tài đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những thành tựu đã có, luận này bước đầu nêu lên:
- Cội nguồn cảm hứng và diện mạo thơ văn của các nhà nho thế kỷ XVII viết về Phật giáo;
XV Đề tài và nội dung tư tưởng được thể hiện trong thơ văn của các nhà nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo;
- Các hình thức nghệ thuật được sử dụng trong thơ văn của các nhà nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu trình bày những yêu cầu chung có tính trường quy, phần trọng tâm luận văn được dàn dựng thành 3 chương
Chương 1 Xã hội Đại Việt thế kỷ XV-XVII và thơ văn của các nhà nho viết về Phật-Thiền
Chương này luận văn sẽ nghiên cứu xã hội Đại Việt với những đặc trưng
cơ bản của thời đại, nghiên cứu về Nho giáo và Phật giáo Nói về diện mạo
Trang 18văn học Phật giáo của thời kỳ này Với lực lượng đội ngũ là Nho gia, hệ thống thể loại gồm thơ, phú, truyện, dùng văn tự Hán Nôm và sử dụng từ ngữ Phật giáo để sáng tác Đề tài phản ánh được nhắc đến là chùa chiền, sư sãi, giáo lý nhà Phật
Chương 2 Thơ văn viết về Phật giáo của các nhà nho thế kỷ XV-XVII nhìn từ đề tài và nội dung
Chương này luận văn sẽ nghiên cứu các dạng đề tài trong thơ văn của các nhà nho viết về Phật giáo, tái hiện lại cảnh sinh hoạt nơi thiền môn; Về nội dung thơ văn, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu tư tưởng giáo lý Phật, sự phê phán của các nhà nho đối với nhà chùa…
Chương 3 Thơ văn viết về Phật giáo của các nhà nho thế kỷ XV-XVII nhìn từ hình thức nghệ thuật
Chương này luận văn sẽ tìm hiểu thể loại, ngôn ngữ, các biện pháp tu từ, điển cố, điển tích, bút pháp và giọng điệu các tác giả, nhằm làm nổi bật đặc trưng nghệ thuật trong thơ văn của các nhà nho viết về Phật giáo
Và cuối cùng là phần Kết luận, Tài liệu tham khảo
Trang 19Chương 1
XÃ HỘI ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XV-XVII
VÀ THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO VIẾT VỀ PHẬT GIÁO
1.1 Xã hội Đại Việt thế kỷ XV-XVII
Thời đại xã hội Đại Việt ở thế kỷ XV-XVII bắt đầu từ khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, lãnh đạo nhân dân chống giặc Minh xâm lược từ năm
1418 cho đến khi thắng lợi (1427), lên ngôi hoàng đế (1428), lập nên triều đại Hậu Lê sơ (1428-1527); tiếp theo là nhà Mạc (ở Thăng Long: 1527-1592; ở Cao Bằng: 1592-1677); nhà Lê trung hưng (ở Thanh Hoá 1533-1592; ở Thăng Long: 1592-1788), trong đó có sự tranh giành giữa Đàng Ngoài với Đàng Trong (Trịnh - Nguyễn phân tranh) ở giai đoạn đầu
Đất nước ta trong những thế kỷ này, thì chỉ có thế kỷ XV dưới sự trị vì của nhà Hậu Lê sơ (1428-1527) là ổn định rồi phát triển cực thịnh vào nửa cuối thế kỷ XV dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497) Từ đầu thế kỷ XVI trở đi, nhất là từ khi Lê Uy Mục (1505-1509), Lê Tương Dực (1510-1516) trị
vì thì xã hội Đại Việt bắt đầu khủng hoảng, lộn xộn, dẫn đến sự mất ngôi của nhà Lê Năm 1527, Mạc Đăng Dung, một đại thần triều Lê ép Lê Cung Hoàng (Hoàng đệ Xuân, 1522-1527) thoái vị, từ đó Mạc Đăng Dung lên ngôi lập ra nhà Mạc Năm 1533, tại Thanh Hoá, Nguyễn Kim - một đại thần của triều Lê
đã tìm con cháu của hoàng tộc là Lê Ninh để lập nên làm vua hiệu là Trang Tông (1533-1548), mở đầu vương triều nhà Lê trung hưng Từ đây, đất nước
bị chia cắt thành Nam Bắc triều Nam triều thuộc nhà Lê trung hưng cai quản
từ Thanh Hoá trở vào đến hết đạo Quảng Nam; Bắc triều thuộc nhà Mạc cai quản từ Ninh Bình trở ra Và cũng từ đây nội chiến Nam Bắc triều diễn ra liên miên làm cho sản xuất đình trệ, nhân dân khốn khổ lầm than Rồi từ năm
1558 ở Nam triều lại diễn ra một cục diện khác: Đàng Ngoài và Đàng Trong
Trang 20Đàng Ngoài do vua Lê chúa Trịnh cai trị từ bờ bắc sông Gianh ở Quảng Bình trở ra đến Thanh Hoá; còn Đàng Trong do chúa Nguyễn cai quản từ bờ nam sông Gianh trở vào Từ đây thêm một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn khác: Trịnh - Nguyễn phân tranh Và cuộc nội chiến này kéo dài đến gần hết nửa cuối thế kỷ XVIII
1.1.1 Đặc trưng thời đại xã hội
Xã hội Đại Việt thế kỷ XV – XVII có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là, thời đại phục hưng văn hoá lần thứ hai của dân tộc Đại Việt
Nếu ở thời đại Lý – Trần, sau hơn ngàn năm bị phong kiến phương Bắc
đô hộ, sau khi giành lại độc lập tự chủ, cha ông ta đã biết sưu tầm, ghi chép lại những di sản văn hoá truyền thống của dân tộc, đánh dấu thời đại phục hưng văn hoá lần thứ nhất, thì lần này, sau hai mươi mốt năm bị cai trị bởi giặc Minh với chính sách vơ vét kinh tế và đồng hoá văn hoá, nên sau khi toàn thắng, cha ông ta lại một lần nữa đã bỏ ra nhiều công sức để kiếm tìm nhằm bảo tồn văn hoá dân tộc Đây là lần thứ hai văn hoá dân tộc được phục hưng
Từ nửa cuối thế kỷ XIV, nhà Trần đã bộc lộ sự suy thoái toàn bộ Yêu cầu của xã hội lúc này là phải cải cách lại bộ máy quản lý nhà nước, nhằm vượt qua sự khủng hoảng của xã hội là một đòi hỏi khách quan Trong bối cảnh đó, năm 1400 sau khi Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, đã tiến hành rất nhiều biện pháp cải cách mạnh mẽ, đó là những cải cách về kinh tế và chính trị, đề cao vai trò Nho giáo, sử dụng đội ngũ trí thức không xuất thân từ tầng lớp quý tộc, nhằm hạn chế và chặn bớt thế lực cát cứ để tập trung vào quyền lực cho chính quyền nhà nước trung ương Những cải cách ấy do thiếu cơ sở vững chắc của xã hội, đã bị các thế lực quý tộc nhà Trần chống đối Nhà Minh dựa vào cớ “nhân họ Hồ chính sự phiền hà”đã dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, mang quân sang xâm lược nước ta Nhà Hồ do không cố kết được lòng dân nên cuối cùng cuộc kháng chiến chống xâm lược nhanh chóng bị thất bại
Trang 21Sau khi tiêu diệt nhà Hồ, giặc Minh đã thôn tính toàn bộ nước ta Đây là một cuộc xâm lược tàn bạo nhất trong lịch sử nước nhà Chúng vơ vét hết tài nguyên của cải, bắt nhân dân ta lao động khổ sai Chúng đã thực hiện chính sách đồng hoá văn hoá bằng cách đốt sạch, phá sạch hoặc tịch thu những di sản văn hoá của dân tộc, trong đó có An Nam tứ đại khí: tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và đỉnh vạc chùa Phổ Minh Giặc Minh đã ép nhân dân ta phải theo phong tục tập quán và văn hoá Hán
Về việc này, sắc dụ của Minh Thành Tổ gửi cho tướng Chu Năng ngày 8
tháng 7 năm Vĩnh Lạc có ghi: “Ta thường bảo các ngươi rằng ở An Nam có văn bản, văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ và các bia
xứ ấy lập ra, hễ thấy thì hủy ngay lập tức, một mảnh một chữ cũng không để còn” [dẫn lại: Lịch sử văn học Việt Nam thế kỷ XV-XVII, tập 2]
Trong giai đoạn nhà Minh độ hộ, đã có cuộc khởi nghĩa của hai vua Giản Định Đế (1407-1409), Trùng Quang Đế (1409-1413) của nhà Hậu Trần diễn
ra tại vùng Thanh Nghệ, với sự giúp sức của các bậc anh kiệt như Nguyễn Biểu, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, v.v tuy oanh liệt hào hùng nhưng cuối cùng cũng bị thất bại
Tiếp theo, năm 1418, người anh hùng áo vải Lê Lợi đã phất cờ tụ nghĩa ở Lam Sơn chống lại giặc Minh Sau mười năm gian khổ nằm gai nếm mật, ăn tuyết nằm sương, đến tháng Chạp năm Đinh Mùi (1427) thì cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi, Tổ quốc được độc lập, dân tộc được tự do, toàn bộ đám tù binh xâm lược được dân tộc ta tha mạng sống, tạo điều kiện cho chúng về phương Bắc an toàn
Sau khi chiến thắng giặc Minh, nhà Lê đã nhanh chóng phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, cho sưu tầm lại những di sản văn hóa truyền thống mà thời Lý – Trần đã dày công bảo tồn Đây là lần thứ hai dân tộc Đại Việt phục hưng lại tất cả những giá trị văn hoá mà bọn giặc phương Bắc đã tàn phá, hủy
Trang 22diệt
Bên cạnh phục hưng văn hoá - tư tưởng, các vị vua của nhà Hậu Lê sơ còn có những chính sách khoan dân, mở rộng việc học hành thi cử, chủ trương khuyến khích nông nghiệp, sửa sang hệ thống đê điều, khai khẩn đất hoang, thành lập phố thị chợ búa Kinh tế phát triển dẫn đến sự phát triển về văn hoá Nhờ thế mà xã hội Đại Việt thế kỷ XV phát triển về mọi mặt Đặc biệt là mấy mươi năm nửa cuối thế kỷ XV dưới triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497), đất nước Đại Việt hùng mạnh, có uy tín và vị thế lớn trong khu vực
Hai là, thời đại Nho học cực thịnh, độc tôn
Thế kỷ XV, nhất là nửa cuối thế kỷ này, Nho giáo phát triển mạnh mẽ, chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài chính trị Với tầm nhìn mới của các vua Lê Thái Tông (1433-1442), đặc biệt là Lê Thánh Tông (1460-1497) đã coi giáo dục là quốc sách, cải tiến thi cử nhằm chọn lựa nhân tài ra giúp nước Bản thân Lê Thánh Tông năm 1484 đã ban chiếu cho sưu tầm tên tuổi các sĩ tử đã thi đỗ đại khoa từ khoa thi Đại Bảo 1442 trở đi để khắc vào bia đá nhằm tôn vinh các danh sĩ và xiển dương sự nghiệp giáo dục, với quan niệm “Hiền tài quốc gia chi nguyên khí” (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia) như lời văn bia số 1 ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội do Thân Nhân Trung soạn thảo năm 1484 có ghi lại
Ngay từ cuối cuộc kháng chiến, lúc nghĩa quân kéo về Thăng Long (Đông Quan) bao vây quân giặc, Lê Lợi đã cho mở kỳ thi đầu tiên tại dinh Bồ
Đề (nay thuộc Gia Lâm) năm 1427 Khi đất nước được hoàn toàn độc lập, ở kinh đô thì triều đình cho sửa sang Quốc Tử Giám, ở các lộ phủ châu đều cho
mở trường học Các kinh sách Nho gia được cho in ấn rộng rãi, việc thi cử do
đó cũng đi vào quy củ Nhà nước khuyến khích toàn dân đi học, đã có lệ xướng danh, khen thưởng, ban áo mão, vinh quy bái tổ bắt đầu từ năm 1439
Trang 23Từ năm 1484 thì đã cho khắc tên những người đỗ đại khoa vào bia Tiến sĩ mà
ở trên có đề cập
Chính vua Lê Thánh Tông đã đưa Nho giáo lên đến điểm cực thịnh của
nó Đây là giai đoạn chính trị xã hội ổn định, kinh tế phát triển, thời tiết thuận hoà, mùa màng bội thu, nhân dân sống trong cảnh thái bình ấm no Dân giàu thì nước mạnh
Việc nhà Lê hình thành hệ thống tư tưởng nhất quán bằng cách xiển dương Nho học là một việc làm đúng đắn nhằm để xây dựng và bảo vệ nhà nước phong kiến, bởi Nho giáo đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trường học Nho giáo được xây dựng từ trung ương đến địa phương Nhiều kỳ thi được tổ chức để lựa chọn nhân tài phục vụ đất nước Nho giáo đã chi phối tất
cả các lĩnh vực xã hội và đã trở thành quốc giáo trong thời đại này
“Chỉ tính riêng trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông 1497) đã cho tổ chức 26 khoa thi Hội và thi Đình gồm chính khoa và ân khoa, đã lấy đỗ Tiến sĩ 989 người, trong đó có 18 người đạt học vị Trạng nguyên Nếu so sánh với cả vương triều nhà Lê (Lê sơ và Lê trung hưng),
(1460-từ khoa thi đầu tiên của vương triều này là khoa Nhâm Tuất 1442 đời Lê Thái Tông đến khoa Đinh Mùi 1787 đời Lê Chiêu Thống, trải qua 345 năm, triều đình đã tổ chức 94 khoa thi Hội và thi Đình, lấy đỗ Tiến sĩ
1732 người; cộng với 4 khoa Chế khoa và Ân khoa thi đỗ 30 người; tổng cộng là 1762 Tiến sĩ, trừ 05 người thi đỗ hai lần, còn lại 1757 người, trong đó có 26 người đỗ Trạng nguyên Trong khi đó, từ những năm 30 thế kỷ XVI, dưới triều nhà Mạc ở Thăng Long (1527-1592), trong 65 năm cường thịnh, dù phải đối phó với nhà Lê trung hưng (Nam triều) nhưng triều đại này vẫn coi trọng giáo dục, thường xuyên tổ chức thi cử
để lựa chọn nhân tài, đã tổ chức được 22 đại khoa, lấy đỗ 468 Tiến sĩ, trong đó có 12 người đạt học vị Trạng nguyên” [theo thống kê của
Trang 24Nguyễn Công Lý trong Giáo dục – Khoa cử và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb ĐHQG Tp HCM, 2011]
Những thống kê như trên đủ để chứng tỏ rằng nhờ các triều đại chú trọng Nho học và phát triển giáo dục mà nhân tài xuất hiện nhiều, góp phần vào sự nghiệp ‘kinh bang tế thế’ cùng tạo nên bước phát triển của văn hoá - văn học nước nhà
Ba là, thời đại nội chiến dai dẳng giữa Lê - Mạc rồi Trịnh - Nguyễn phân tranh
Cuối thời Lê sơ, tức trên 20 năm đầu thế kỷ XVI, nội tình chính trị của triều đại này bất ổn, vua thì vô đạo hoang dâm, hưởng lạc như Uy Mục (1505-1509), Tương Dực (1510-1516) đã làm cho triều đại suy thoái Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lập nên một triều đại mới Sau đó, năm
1533, một vị công thần nhà Lê là Nguyễn Kim đã phò tá Lê Ninh, con vua Lê Chiêu Tông (1516-1522) lên ngôi ở Thanh Hoá, lấy hiệu là Lê Trang Tông (1533-1548) Từ đây, hai triều đại cùng chia nhau cai quan một đất nước mà ở trên luận văn có dịp nói qua Sử sách gọi đó là thời Nam Bắc triều Chiến tranh Lê – Mạc diễn ra liên miên, gay gắt, mãi đến năm 1592 mới tạm chấm dứt, khi nhà Lê trung hưng chiếm lại Thăng Long, đánh đuổi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng Nhà Mạc suy tàn đã tồn tại ở Cao Bằng đến 85 năm (1592-1677) là nhờ có sự bảo bọc của ‘Thiên triều’ phương Bắc, trên cơ sở triều đình phương Bắc đã thương lượng với nhà Lê trung hưng
Riêng ở Nam triều của nhà Lê trung hưng thì từ sau năm 1558 lại diễn ra một cục diện mới: Đàng Trong và Đàng Ngoài Nguyễn Kim là người có công trong việc khôi phục nhà Lê, thành lập vương triều Lê trung hưng, nhưng sau khi ông mất thì quyền lực lại rơi vào tay người con rể của ông là Trịnh Kiểm Hai người con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng chống lại Trịnh Kiểm để giành lại quyền lực Nguyễn Uông bị anh rể sát hại
Trang 25Để lánh nạn và mưu việc lớn, Nguyễn Hoàng tìm cách xin vua Lê và Thái sư Trịnh Kiểm cho vào trấn nhậm vùng đất Thuận Hoá là vùng đất phên giậu ở phía Nam Từ đây, Nguyễn Hoàng rồi các chúa Nguyễn tiếp theo đã thành lập cát cứ riêng, mở cõi phương Nam Cả hai thế lực Trịnh và Nguyễn đều cùng tôn phò vua Lê Chế độ lưỡng đầu chế (trên vua dưới chúa) cùng chia nhau chấp chính bắt đầu có từ đây Cũng từ sự kiện lịch sử này, đất nước một lần nữa bị chia cắt, lấy sông Gianh làm giới tuyến (nay thuộc tỉnh Quảng Bình) Cuộc chiến tranh dai dẳng giữa Đàng Ngoài (chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn) kéo dài từ nửa cuối thế kỷ XVI sang cả thế kỷ XVII, rồi đến nửa đầu thế kỷ XVIII mới tạm thời hoà hoãn Sử sách gọi đây là giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh hoặc Nam – Bắc phân tranh
Bốn là, thời đại kinh tế hàng hóa phương Tây xâm nhập vào nước ta với sự chi phối của đồng tiền
Thế kỷ XVI, nhà Mạc tuy trọng về nông nghiệp, đồng thời có chú ý đến thương nghiệp, các ngành nghề thủ công mỹ nghệ phát triển, chợ búa được lập ra nhiều nơi Đồ thủ công như gốm sứ nhà Mạc đã bán ra thị trường Đông Nam Á: Thái Lan, Inđônêxia, Philippin Lúc này, các tàu buôn của phương Tây cũng qua lại các thương cảng để trao đổi hàng hóa, mở ra thị trường lớn trao đổi trong và ngoài nước Trong đó có thuyền buôn của Bồ Đào Nha và
Hà Lan mở đầu cho sự phát triển kinh tế hàng hóa, và cũng là giai đoạn phồn thịnh của các vùng thành thị ở Việt Nam thời trung đại
Cũng thời gian đầu thế kỷ XVI này, tàu buôn của Bồ Đào Nha đã đến và thiết lập mối quan hệ giao lưu buôn bán với người Việt Nam Vào năm 1524, Duarte Coelho đã được cử làm đại diện thiết lập mối quan hệ bang giao với người Việt Năm 1535, Antonie de Faria đã đến cửa Hàn (Đà Nẵng), lúc bấy giờ ông ta đã chú ý đến thương cảng Hội An Vào khoảng tháng 01 năm 1540 thương nhân Bồ Đào Nha đã vào Hội An theo đường từ Ma Cao hoặc Nam
Trang 26Dương Năm 1555 người Bồ đã lập trụ sở tại Ma Cao để tiện đường liên lạc buôn bán với người Việt ở Hội An Chúa Nguyễn Hoàng đã móc nối liên hệ với họ để mua súng đạn Năm 1584 đã có rất nhiều người Bồ đến Đàng Trong sinh sống Ở Đàng Ngoài dưới thời vua Lê Anh Tông (1556-1573), cũng đã có thiết lập quan hệ buôn bán với người Bồ qua cửa biển Thanh Hóa Lúc này cũng đã có tàu buôn Hà Lan qua lại buôn bán Do đó giữa Bồ Đào Nha và Hà Lan cũng đã xảy ra nhiều cuộc tranh giành thị trường đầy màu mỡ béo bở này Người Bồ muốn độc quyền buôn bán ở Đàng Trong nhưng vào những năm đầu thế kỷ XVII hoạt động thương mại của họ suy yếu dần rồi rút lui, để nhường chỗ cho người Hà Lan vào độc quyền chiếm lĩnh Cũng thời gian này, các thương gia Nhật Bản, Trung Quốc cũng đã đến buôn bán và định cư tại các thương cảng lớn ở nước ta, trong đó có Hội An
1.1.2 Tình hình Nho giáo ở Đại Việt thế kỷ XV-XVII
Bước sang thế kỷ XV, Nho giáo và Phật giáo đã thay đổi vị trí cho nhau trên vũ đài chính trị Lúc này Nho giáo đã chiếm thế thượng phong, còn Phật giáo đã bắt đầu suy yếu, không còn ảnh hưởng đến chính quyền, nên lui về chùa chiền, về với nhân dân và nặng về phần tín ngưỡng thờ cúng, nhờ vào tha lực hơn là tự lực như Phật giáo thời Lý - Trần trước đó
Từ khi nhà Minh xâm lược nước ta thì rất nhiều kinh sách Phật học dưới thời Lý- Trần bị tịch thu và thiêu hủy, chúng đem qua Tứ thư Ngũ kinh để truyền bá Nguyễn Lang đã nhận định:
“Trong thời gian nhà Minh đô hộ, vào đầu thế kỷ thứ mười lăm, chính sách đồng hóa Đại Việt với Trung Quốc được thi hành triệt để Nhà Minh không muốn Đại Việt có một nền văn hóa độc lập, bởi vì độc lập văn hóa sẽ dẫn tới độc lập chính trị Nhà Minh bắt Đại Việt theo phong tục và lễ nghi Trung Quốc Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ mới của Đại Việt và chở về Kim Lăng Sợ
Trang 27những sách này còn sót lại, năm 1418 lại cho hai nhà trí thức nhà Minh
là Hạ Thanh và Hạ Thì sang Đại Việt để thu lượm cho kỳ hết những tác phẩm Đại Việt Đại tạng kinh thực hiện và ấn loát nhiều lần dưới triều Trần, mỗi lần in hàng ngàn cuốn, vậy mà ngày nay sách Thiền tông chỉ nam, Bình đẳng sám hối khoa văn của Trần Thái Tông, Thạch thất mỵ ngữ, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Trúc Lâm hậu lục và Tăng già toái sự của Trúc Lâm Điều Ngự và tám tác phẩm của Pháp Loa, không tác phẩm nào còn lại Thật đáng tiếc biết chừng nào Để thay thế cho sách Việt bị lấy mất, nhà Minh cho chở sang nước
ta những tác phẩm Trung Quốc về Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo cho người Việt học Chính quyền đô hộ lập Tăng Cương Ty và Đạo Kỳ Ty để
lo việc giáo dục Phật giáo và Lão giáo theo mẫu mực Trung Hoa” [Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, 3 tập, trang 485]
Đến khi triều Lê độc lập, những chế độ và thư tịch của các thời trước không còn, nên nhà Lê đành phải theo chế độ khoa cử của Minh triều, dùng văn chương bát cổ để tuyển dụng nhân tài, lấy Tống Nho làm tư tưởng trị quốc, từ đây Nho giáo mới bắt đầu chiếm địa vị độc tôn Nhà Lê lấy tư tưởng học thuyết Nho giáo của Chu - Trình để cai trị đất nước Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chủ yếu của thời đại và trở thành quốc giáo Nho giáo đề cao vai trò vị thế của vua, mọi người phải tuyệt đối tôn trọng quyền hành tối thượng của vua, thần thánh hóa vai trò của vua, vua là con Trời (Thiên tử) Dưới triều Lê, việc chọn quan lại phải dựa vào tầng lớp Nho sĩ, các nhà nho
được rèn luyện qua học thuyết Khổng - Mạnh, lấy hiểu biết về Tứ thư, Ngũ kinh làm tiêu chuẩn đầu tiên của kẻ sĩ Để tạo dựng một bộ máy nhà nước cai
trị kiểu mới, việc học hành thi cử được tổ chức theo những quy mô nhất định Ngay từ những năm 1427, khi còn chống giặc Minh, Lê Lợi đã cho mở khoa thi Hoành từ để lấy Nho sĩ bổ vào những chức vụ quan trọng Khi đất nước
Trang 28được giải phóng, nhà vua ban chiếu khuyến khích việc học hành, mở trường Quốc Tử Giám để dành riêng cho con em hoàng tộc và con em các quan vào học, mở rộng nhận các học sinh ở các trường khác vào với những kỳ thi được qua sát hạch kỹ lưỡng Do đó số lượng các nhà nho ngày càng tăng để thay thế vai trò của tăng lữ trước đây Việc giáo dục Nho học dần dần bước vào quy củ, nề nếp Nhà nước khuyến khích học để ra làm quan, trị nước an dân Nhà Lê tôn vinh việc học bằng việc tổ chức các lễ xướng danh (lễ đọc tên người thi đậu), lễ vinh quy (lễ đón rước người thi đậu về làng) và lễ khắc tên vào bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám bắt đầu từ năm 1484 Vì vậy khắp nơi trên đất nước mọi người đua nhau chọn con đường khoa cử để làm rạng rỡ tông môn Nhà Lê cho mở rất nhiều trường học, ngoài trường Quốc Tử Giám
ở kinh đô, còn có các trường học ở các đạo, phủ với rất nhiều sĩ tử theo học Các kỳ thi được mở ra thường xuyên, chế độ khoa cử ngày càng hoàn chỉnh, quy củ, cứ ba năm là tổ chức một kỳ thi, năm trước thi Hương và năm sau thi Hội, thi Đình Người đi học càng nhiều thì người đi thi càng đông Nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn có nhận xét:
“Chẳng hạn như kỳ thì Hương khoa Nhâm Ngọ (1462) chỉ một trấn Sơn Nam thôi cũng có khoảng 4.000 thí sinh, gần 1.000 vào tam trường rồi chọn lọc chọn 100 người trúng tuyển Đến năm sau Quý Mùi (1463) vào Hội thi có hơn 4400 người Đời Lê Thánh Tông là đời thịnh đạt nhất của việc học, việc thi trong lịch sử khoa cử Nho học Các khoa thi ở Thăng Long, số sĩ tử thường trên 4.000 người, ít như khoa thi năm 1475 cũng có 3.200 người, nhiều như khoa thi năm 1499 có hơn 5.000 người ứng thi Nếu kể từ thời Lý với khoa cử Nho học đầu tiên đến khoa thi
Nho học cuối cùng năm 1919 có khoảng 2.335 Tiến sĩ trong đó có 30
Trạng nguyên thì chỉ riêng thời Lê Thánh Tông trong 38 năm trị vì đã có
501 Tiến sĩ, trong đó có 9 trạng nguyên Như vậy, số Tiến sĩ thời Lê
Trang 29Thánh Tông chiếm gần 1/5 tổng số Tiến sĩ Nho học cả nước và gần 1/3
số trạng nguyên Đó là số lượng sĩ phu cao cấp, còn số lượng cống sinh trở xuống chắc phải cao hơn gấp bội” [Phan Đại Doãn - Lê Thánh Tông
và Nho học Nho giáo]
Trên đây là con số thống kê của nhà nghiên cứu Phan Đại Doãn
Nhưng theo thống kê của nhà nghiên cứu Nguyễn Công Lý thì có khác
Trong công trình Giáo dục - Khoa cử và Quan chế ở Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc, Nxb ĐHQG Tp HCM, 2011, được biết tác giả đã dựa
và tư liệu của Phan Huy Chú, của Cao Xuân Dục, kiểm tra và thống kê cẩn thận số người thi đỗ đại khoa qua từng khoa thi của từng triều đại, nên ở phần
kết luận của công trình, ông viết: “…tính từ khoa thi đầu tiên vào năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919 của chế độ phong kiến, trải qua 844 năm, các triều đại đã tổ chức tất cả 185 đại khoa, chưa tính số khoa thi chưa rõ tổng số
người thi đỗ, thì theo sử sách ghi chép, chúng tôi thống kê có tất cả 3994 người
đỗ đại khoa, gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Thái học
sinh, Tiến sĩ, Phó bảng.” [Nguyễn Công Lý, sách đã dẫn, trang 315]
Còn số người thi đỗ Tiến sĩ dưới triều Lê Thánh Tông, công trình đã
thống kê như sau: “Chỉ tính riêng trong 38 năm trị vì, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã cho tổ chức 26 khoa thi Hội và thi Đình gồm chính khoa và
ân khoa, đã lấy đỗ Tiến sĩ 989 người, trong đó có 18 người đạt học vị Trạng nguyên” [Nguyễn Công Lý, sách đã dẫn]
Chính việc kết hợp gắn bó giữa Nho sĩ với nhà vua và triều đình đã tạo nên mối liên kết chặt chẽ để tổ chức bộ máy chính quyền, quản lý đất nước Nho sĩ lúc này là một lực lượng mới, một đẳng cấp mới có vai trò quan trọng đối với nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Một số nhà nho nếu không đỗ đạt thì lui về vườn làm thầy, theo phương châm “tiến vi quan, thối
vi sư” Các vị làm thầy đồ dạy học đào tạo nhân lực cho đất nước, làm thầy
Trang 30thuốc chữa bệnh cứu người, làm thầy tướng số, địa lý… để giúp cho con người an bình về niềm tin tâm linh
Theo quy luật của quá trình phát triển xã hội, một học thuyết muốn hoàn thiện, độc tôn trên vũ đài chính trị thì bản thân học thuyết đó phải đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử là kiện toàn vai trò bảo vệ giai cấp thống trị, duy trì hệ thống chính trị vững mạnh để phát triển kinh tế, trấn áp thù trong giặc ngoài, bảo vệ nền độc lập chủ quyền đất nước Nho giáo Việt Nam ở thế
kỷ XV đã làm được điều này
Có thể nói, dưới thời vua Lê Thánh Tông, vai trò của Nho giáo đã được
đề cao, trở thành một ý thức hệ độc tôn trên vũ đài chính trị Việc nhà nước Đại Việt đề cao Nho giáo, từ đó ý thức hệ Nho giáo đã phát huy và lan toả ảnh hưởng trong cộng đồng, góp phần tạo đà ổn định và phát triển cho đất nước, thì đây là thế mạnh của Nho giáo Nhưng mặt khác, do học thuyết Tống Nho quá cứng nhắc, chú trọng lối học từ chương, nặng về gó bó, nhất nhất đều phải tuân theo lời của thánh hiền với ‘Tử viết’, ‘Tử vân’… và nhà nho theo thông lệ thì phải ‘khắc kỷ phục lễ’, tức dẹp bỏ cái tôi cá nhân để phục tùng tôn ty trật tự xã hội, nên ít nhiều đã làm khô cạn cái tôi cá tính, có thể làm mất
đi sự sáng tạo và linh hoạt trong quá trình trị quốc an dân cũng như trong sáng tạo văn học nghệ thuật Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh đã nhận định:
“Nho học đã đạt đến cực thịnh ở thế kỷ XV Nhưng chính sự thịnh vượng của lối học cử tử đã làm cho học phong đời Lê dần dần kém hơn trước Nho giáo đời Lê học theo phái Tống Nho, nặng về từ chương, với tính chất câu nệ gò bó Lối học bát cổ giáo điều ấy đã hạn chế tư tưởng, hạn chế tính sáng tạo.” [Đinh Gia Khánh, Sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của nền văn hóa Đại Việt trong thế kỷ XV - giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ thứ XVIII, Nxb GD, HN, 2001,
tái bản]
Trang 31Sang thế kỷ XVI-XVII, Nho giáo tuy vẫn còn đóng vai trò then chốt trong bộ máy chính quyền, một vũ khí đắc lực trong việc cai trị đất nước Vua chúa vẫn sử dụng Nho giáo làm thước đo để định chuẩn những giá trị của con người khi muốn tiến thân vào xã hội Điều này đã làm cho đội ngũ nho gia ngày càng lớn mạnh, và đồng thời lại có sự phân hóa ra trong nội bộ nho gia Những nhà nho với tâm trạng ưu thời mẫn thế, với nhân cách đạo đức cao khiết, trong sạch, tri túc, thường không chấp nhận những việc xấu xa bỉ ổi nơi triều đình, nên đa số từ quan về sống cuộc đời nhàn dật, vui với tính phận, hoà với thiên nhiên Một số nhà nho có khí phách thì đứng lên tố cáo vạch trần những tệ nạn xấu xa ấy Chẳng hạn, nếu ở thời Vãn Trần, Văn Trinh công Chu
An (1292-1370) đã dâng sớ xin chém đầu 7 nịnh thần, vua Trần không nghe nên cụ đã dứt khoát treo ấn từ quan, về với núi Phụng Hoàng ở Chí Linh để vui với thiên nhiên, thì ở đời Mạc, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) cũng vậy Cụ đã dâng sớ xin chém đầu 18 lộng thần, vua nhà Mạc không nghe, cụ cũng từ quan để về am Bạch Vân quy ẩn Tuy thân về ở ẩn nhưng lòng của cụ vẫn quan tâm tới đời, vẫn lo cho đời Lòng ưu thời mến tục của tiên sinh đều bộc lộ trong thơ, trong đó có những vần thơ viết về Phật giáo
Cũng cần lưu ý là dù Nho học đã đào tạo được nhiều nhà bác học thông thái lỗi lạc với những nghiên cứu có chiều sâu không chỉ về Nho giáo mà còn tinh thông cả tam giáo cửu lưu cùng các ngành học thuật, trong đó có tư tưởng Phật giáo, tư tưởng Lão - Trang như Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI, Lê Quý Đôn và Lê Hữu Trác ở thế kỷ XVIII chẳng hạn, nhưng nhìn chung phần nhiều các nhà nho thời này đều hướng về thứ văn chương bát cổ và thường chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Chu - Trình, nên văn chương của họ thường nệ cổ, tập cổ, ít có sức sáng tạo, bay bổng và hấp
dẫn Bàn luận về học phong đời Lê, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: “Quốc
Trang 32gia khôi phục sau khi nhiễu nhương thì nhà nho vắng vẻ; đến đời Hồng Đức
mở rộng khoa mục thì kẻ sĩ xô về hư văn; đời Đoan Khánh trở đi thì sĩ tập suy bại quá lắm” Chính trong thời đại độc tôn Nho học, thời đại Nho học phát
triển cực thịnh như thế,vậy mà trong nội tại của nó cũng không tránh khỏi những hạn chế Điều đó đã làm cho Nho học dần dà sẽ đi vào con đường suy thoái Lúc này, Nho học chỉ còn là cái vỏ bọc để cho những kẻ chuộng danh lợi đeo đuổi Đây chính là lực cản sự phát triển của xã hội
Có thể nói, Nho giáo một mặt nào đó đã thành công trên vũ đài chính trị,
vì nó đáp ứng được nhu cầu chính trị thời đại đặt ra là bảo vệ được vương triều phong kiến Nhưng về mặt văn hóa tinh thần, nhất là về mặt tâm linh, Nho giáo đã không đáp ứng được những mong mỏi, những khát vọng về đời sống tinh thần của con người Nho giáo với những giáo điều áp đặt, buộc con người phải tuân thủ theo và phải sống theo những chuẩn mực khuôn khổ dưới
sự khống chế của tư tưởng Thiên mệnh Sự nô lệ tinh thần mang tính thần quyền này là bước đầu tiên của giai cấp phong kiến đề ra nhằm giữ vững vương quyền Hoàng đế là con trời (thiên tử), thay trời trị dân (đại thiên hành hoá), nên hoàng đế có quyền uy tối thượng, mà mọi con dân dưới quyền cai trị của hoàng đế nhất nhất phải phục tùng mệnh lệnh Nhưng bản chất của sự sống con người là luôn đấu tranh để đạt hạnh phúc Dần dần trong quá trình đấu tranh ấy, con người đã tìm ra lối thoát để thoát khỏi những sự sợ hãi vô cớ này Từ đó, con người tìm đến một niềm tin khác, chẳng hạn như đến với Phật giáo hay Đạo giáo cũng là mong tìm một chỗ dựa tâm linh mới Cho nên dù Nho giáo có thành công về mặt chính trị nhưng thực chất nó lại thất bại hoàn toàn về mặt tâm linh và ước vọng tìm cầu hạnh phúc của con người
1.1.3 Tình hình Phật giáo ở Đại Việt thế kỷ XV-XVII
Sau khi cướp ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly đổi quốc hiệu là Đại Ngu Năm
1401, bắt chước theo lệ nhà Trần, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán
Trang 33Thương, để làm Thái Thượng hoàng Nhà Hồ trị vì được bảy năm 1407), thì bị mất nước bởi giặc Minh xâm lược với cái cớ ‘Phù Trần diệt Hồ’ Sau khi chiếm đóng, nhà Minh đã đổi tên nước ta thành quận Giao Chỉ gồm
(1400-15 phủ, 36 châu, 181 huyện
Trong 21 năm đô hộ, nhà Minh đã cho mở trường Nho học và lập ra Tăng Cương Ty để kiểm soát tăng đoàn Phật giáo Những kinh sách, di sản văn hoá Phật giáo thì bị chúng tiêu huỷ, đập phá hoặc tịch thu đem về Kim Lăng – Trung Quốc theo lệnh của vua nhà Minh Chẳng hạn, năm 1426, chúng cho phá chuông Quy Điền và đỉnh vạc Phổ Minh rồi nấu đồng, đúc vũ khí
Trước đó, vào những năm cuối đời Trần rồi nhà Hồ, Phật giáo bắt đầu suy thoái Tăng sĩ thì tha hoá, thiếu đạo đức, không gìn giữ giới luật, lại thiếu trình độ Phật học, sinh hoạt nơi Thiền môn thì bê tha Đây là một tệ nạn để Nho gia lấy cớ mà công kích, phê phán Phật gia Có nhà nghiên cứu nhận định:
“Dưới triều nhà Hồ, Phật giáo tiếp tục suy vi Tăng lữ lười biếng, không chịu tu học, sư sãi và tín đồ Phật giáo lại chiếm một tỉ lệ quá cao trong dân chúng Quý Ly ra lệnh sa thải một số tăng sĩ thiếu đạo đức, không cho ở chùa, để chùa khỏi biếng thành hang ổ chứa chấp những kẻ
du đãng, trốn phu, trốn lính Quý Ly còn bắt tăng sĩ dưới 50 tuổi phải hoàn tục tham gia lao động sản xuất, bắt các tăng sĩ phải qua kỳ thi sát hạch, ai không trúng tuyển phải trở về làm ăn sinh sống như người dân bình thường” [Bồ Đề Tân Thanh - Nguyễn Đại Đồng, Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến 1981]
Sau khi giành lại độc lập tự chủ, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế Tình hình Phật giáo lúc này cũng không phát triển là bao Phật giáo lúc này không còn vai trò và vị thế ở chính trường như thời Lý - Trần Nhà Hậu Lê rồi nhà Mạc
Trang 34đã dựa vào Nho giáo để xây dựng và củng cố vương triều Tuy không được coi trọng như giai đoạn trước, nhưng Phật giáo lúc này như một mạch ngầm vẫn âm ỉ chảy và phát triển trong lòng dân tộc để tạo nên một Phật giáo nhân gian, qua tinh thần từ bi, đạo lý nhân quả, luân hồi
Giống như thời Hồ Quý Ly, năm 1429, vua Lê Thái Tổ cho mở kỳ thi sát hạch tu sĩ, ai đậu thì tiếp tục được ở chùa, ai rớt thì bắt hoàn tục, trở về đời sống bình thường, chịu phu phen tạp dịch
Năm 1434 do trời hạn hán, vua Lê Thái Tông thuận theo lời tâu của các đại thần, nhà vua cho các quan rước tượng Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô
và mời chư tăng làm lễ cầu mưa Cũng vào năm này nhà vua ban áo tía cho sa môn Huệ Hồng
Năm 1460, vua Lê Thánh Tông ra sắc lệnh cấm tu sĩ không được giao du với dân chúng trong thành Lúc này, trong suy nghĩ của thế nhân, các tu sĩ chẳng khác nào các thầy cúng làm nhiệm vụ tư tế, giao tiếp với thần linh, cầu xin thần linh cứu khổ cứu nạn Việc này, nhà nghiên cứu Phật giáo sử Mật Thể
đã nhận định: “Chỉ còn là sự cung cấp cầu đảo và tăng đồ đã thành những tay sai đáng thương hại của vua quan hoặc các nhà có tiền khi muốn cầu tự, cầu tài, mặc dầu bề ngoài họ tưởng họ vẫn được tôn kính” [Mật Thể - Việt Nam Phật giáo sử lược]
Năm 1461, vua Lê Thánh Tông lại xuống chiếu không được xây dựng chùa mới Sự kỳ thị về Phật giáo thời điểm này là rất nặng nề, nhà nghiên cứu
Nguyễn Lang nhận xét: “Đến thời Lê, Phật giáo bị Nho giáo kỳ thị đến nỗi Trạng nguyên Lương Thế Vinh vì sáng tác sách Phật mà không được ghi tên trong Văn miếu Khổng Tử Xét kỹ, ta thấy rằng các Nho gia đả kích Phật giáo
ở Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của lý học Tống Nho một cách sâu đậm” [Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, tr 637]
Từ cuối thời Trần (nửa cuối thế kỷ XIV), Nho giáo đã phát triển rồi lấn
Trang 35át Phật giáo Các nhà nho đã công khai công kích Phật giáo trên diễn đàn Giờ đây, dưới triều Lê Thánh Tông, với chủ trương hạn chế, cùng sự kỳ thị Phật giáo của triều đình cùng Nho gia, nên sự phê phán, công kích nhà chùa càng
có cơ hội bùng phát, mà nguyên nhân là do Phật giáo không còn vị thế trên chính trưởng nơi triều đình
Lý giải điều này, có nhiều nguyên nhân
Một là, do quy luật phát triển của tự nhiên, bởi bất cứ một hiện tượng nào trong xã hội đều đi theo quy trình chung là hết hưng thì vong, hết thịnh thì suy Đó là lẽ thường của tạo hoá Phật giáo cũng vậy Phật giáo đầu đời Trần là giai đoạn cực thịnh trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Dưới đời Trần,
từ vua quan đến lê dân bá tánh đều mộ đạo, hành thập thiện, và nhiều người đua nhau xây chùa, đúc chuông, tạc tượng Chùa càng xây nhiều, tăng chúng càng đông, sự cúng dường càng nhiều, đời sống vật chất nơi Thiền môn dư dật thì đời sống tinh thần của tu sĩ sẽ giảm sút Khi xã hội tôn trọng thái quá thì một số kẻ lợi dụng để được bước vào hàng ngũ tăng đoàn Nhiều người vào chùa vì lười biếng, trốn việc quan Do vậy sẽ kéo theo những tệ đoan nơi Thiền môn, họ chỉ biết hưởng thụ, không lo tu tập và giữ giới Đây là cái cớ
để cho thế tục gièm pha
Hai là, khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, cùng với những chủ trương của ‘Thiên triều’ đã tạo điều kiện cho Nho giáo phát triển Khi kháng chiến thành công, vương triều Hậu Lê được thiết lập, nhà Hậu Lê vẫn giữ và theo những học phong tư tưởng ấy Lúc này Phật giáo hoàn toàn nhường chỗ cho Nho giáo Tuy vậy, lúc này Phật giáo vẫn không mất đi, mà lui về nhân gian, ảnh hưởng đến văn hóa dân gian, lan toả trong đới sống tâm linh con người Khi chế độ phong kiến đi dần vào suy thoái với những dấu hiệu rạn nứt, thì lúc này tư tưởng chính thống Nho giáo ít nhiều không đáp ứng được nhu cầu của con người, của xã hội Bên cạnh, trong nội bộ giai cấp phong kiến lại
Trang 36có sự phân tranh quyền lực, nội chiến xảy ra Tất cả đã tác động không nhỏ đến tâm lý - tư tưởng mọi người
Khác với vương triều nhà Lê, Mạc Đăng Dung sau khi lên nắm quyền, với tầm nhìn rộng mở, nhà vua ít nhiều đã nghĩ đến Phật giáo Phật giáo có cơ hội và điều kiện để phục hưng Nhiều chùa chiền được tôn tạo, trùng tu Kinh sách Phật giáo được nhà chùa khắc bản in ấn phát hành Mạc Đăng Dung ra sắc lệnh cho Thụy Trúc thiền sư trùng tu chùa bà Đinh, tức chùa Thiên Phúc ở Kiến Thụy, Hải Phòng Tiếp theo nhà vua còn cho sửa sang lại những ngôi chùa trước đây đã bị giặc Minh tàn phá Phật giáo giờ đây bước đầu đã được khôi phục Theo tư liệu hiện còn, có đến 109 văn bia do nhà chùa tạo dựng ghi lại việc cúng ruộng đất, ngày xây dựng và người đứng ra xây dựng trên tổng
số 146 văn bia thời nhà Mạc Trong đó, số thành viên trong hoàng tộc nhà Mạc chiếm đa số như: năm 1557 Mạc Phúc Nguyên ban “Cấm tiền” cho chùa Linh Cảm (Từ Sơn - Bắc Ninh); năm 1582, Mạc Mậu Hợp cúng 20 lạng bạc vào chùa Hoa Tân (Hải Phòng); Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn đã cúng 30 mẫu ruộng và 6.000 lá vàng cùng bạc tiền cho hơn mười ngôi chùa ở vùng Dương Kinh và những vùng lân cận Bà được người dân tôn sùng như vị
‘Phật sống’, nhiều nơi đã tạc tượng thờ bà tại một số chùa ở Hải Phòng Ngoài
ra, còn có các thái hậu, hoàng phi, công chúa như: Quận công Mạc Ngọc Liễn
và Phúc Thành Thái trưởng công chúa là những Phật tử thuần thành đã góp công xây dựng trên chục ngôi chùa
Nhà Mạc còn mở rộng cho bá tánh cúng ruộng đất vào chùa làm công đức và được ghi bia hậu Vì vậy, ở thời nhà Mạc, chùa nào cũng có ruộng đất
ít nhất là vài ba mẫu, có chùa thì vài chục mẫu như: chùa Pháp Vũ (Thường Tín, Hà Nội) 70 mẫu; chùa Hoa Tân (Hải Phòng) 50 mẫu; chùa Nghiêm Quang (Hải Phòng) 31 mẫu Ở các vùng quê, nhiều ngôi chùa cũng được tôn tạo hay trùng tu dưới sự đóng góp của những người có tiền của và nhân dân
Trang 37địa phương Chùa được xây dựng ở khắp mọi nơi mà không bị cấm kỵ Do đó, Phật giáo thời này đã bước đầu đi vào giai đoạn phục hưng Nhưng nội chiến
Lê - Mạc liên miên, rồi sau đó nhà Mạc bị tiêu diệt, vì thế tình hình Phật giáo lúc này cũng không phát triển là bao nếu so với thời Lý - Trần
Chiến tranh Nam - Bắc triều từ năm 1543 đến năm 1592, rồi Trịnh - Nguyễn phân tranh từ năm 1600 đến năm 1672 đã làm cho nhân dân khốn khó lầm than Chính đời sống khốn khổ, chiến tranh điêu linh nên con người cần một chỗ dựa về tinh thần, một chỗ tựa nương về tâm linh Đây là điều kiện để Phật giáo có cơ hội phát triển ở Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong
Lúc này, ở Đàng Ngoài có các thiền sư đang truyền đạo như:
Thiền sư Chuyết Chuyết sinh năm 1590, tịch năm 1644, tục danh là Lý Thiên Tộ, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, quê quán ở quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến - Trung Hoa Từ Trung Hoa, sư vượt biển vào Cao Miên rồi đi lần ra kinh thành Thăng Long vào năm 1633 Sau khi tịch, được vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức thiền sư Sư thuộc thế hệ thứ 34 dòng Thiền Lâm Tế, có 2 đệ tử xuất sắc là Minh Hành (người Hoa) và Minh Lương (người Việt)
Thiền sư Hương Hải sinh năm 1627, thông minh học giỏi, dưới thời chúa Nguyễn, sư thi đậu Hoa văn Chính đồ, làm quan Tri phủ phủ Triệu Phong, Quảng Trị Năm 1655, sư cáo quan để xuất gia Năm sư hai mươi lăm tuổi theo học Phật với thiền sư Viên Cảnh (Trung Hoa), pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương Hải Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần lập Thiền Tĩnh Viện mời sư giảng pháp Sau đó sư bị vu cáo, bị chúa Nguyễn tra khảo, rồi quản thúc tại Quảng Nam Năm 1682, sư cùng 50 đệ tử trốn ra Đàng Ngoài bằng đường biển, được chúa Trịnh rước ra Đông Đô Sau
đó, chúa Trịnh xây chùa ở trấn Sơn Nam 1683 mời sư ra trụ trì thuyết pháp giảng đạo Sư thị tịch ngày 13-5-1715, thọ 88 tuổi
Trang 38Thiền sư Thủy Nguyệt sinh năm 1636, tịch năm 1704, người làng Thanh Triều, tỉnh Thái Bình Sau khi qua Hồ Châu - Trung Quốc tham học với thiền
sư Nhất Cú Tri Giáo, sư trở về trụ trì chùa Vọng Lão, núi An Sơn, nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, rồi trụ trì chùa Tư Phúc, núi Côn Sơn, nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương và chùa núi Nhẫm Dương ở Hạ Long Thiền sư là Sơ tổ phái Tào Động ở Việt Nam ở Đàng Ngoài
Thiền sư Chân Nguyên, quê ở Hải Dương, sinh năm 1646, xuất gia năm
19 tuổi, học với thiền sư Chân Trú (là đệ tử của thiền sư Minh Hành) tại chùa Hoa Yên, pháp danh là Tuệ Đăng, sau đó đến tham học với thiền sư Minh Lương (đệ tử của thiền sư Chuyết Chuyết) và được ban pháp hiệu là Chân Nguyên Về sau được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động
và chùa Quỳnh Lâm Năm 1726, trong tư thế kiết già, sư tịch vào tháng 10 âm lịch, thọ 80 tuổi
Ở Đàng Trong, năm 1558, chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613) khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa đã để ý đến việc lập chùa Ông cho xây dựng chùa Thiên Mụ ở xã Hà Khê, huyện Hương Trà năm 1601 Năm 1602 lại cho dựng chùa Sùng Hóa trên nền một ngôi chùa cổ ở xã Triêm Ân, huyện Phú Vang Năm 1607, chúa cho lập chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu, Quảng Nam Năm 1609, lập chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch, Quảng Bình Sau đó lại cho dựng chùa Long Hưng ở phía đông dinh Quảnh Nam Như vậy, trong thâm ý của chúa Nguyễn là muốn dùng Phật giáo để làm chỗ dựa tinh thần cho công cuộc củng
cố vương triều và mở cõi phương Nam Về sau, các chúa Nguyễn đều hướng
về Phật giáo
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) là Phật tử mộ đạo Chúa quy y Phật, thọ Bồ tát giới, được tôn vinh là chúa Phật hay Sãi vương (chúa Sãi)
Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), dâng đất cho Tổ Nguyên
Trang 39Thiều để xây dựng chùa Vĩnh Ấn (Quốc Ân) ở Phú Xuân Sơn, và trùng tu chùa Thiên Mụ ở Huế
Tại xã Đâu Kênh, phủ Triệu Phong (nay thuộc Quảng Trị), chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) cho xây chùa Thiền Tôn, rồi dựng chùa Hòa Vĩnh trên núi Linh Thái, xã Vĩnh Hiền Nhà chúa còn ủng hộ lễ Phật Đản 7 ngày để Tổ Nguyên Thiều xây chùa Thập Tháp tại Bình Định năm 1683 Đến năm 1695, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ban sắc lệnh cho thiền sư Nguyên Thiều qua Trung Quốc thỉnh các danh tăng đạo cao đức trọng về Việt Nam hành đạo, thỉnh tượng Phật và các pháp khí về tôn thờ ở Thuận Hóa, tôn thiền sư Quả Hoằng Hưng Liên người Quảng Đông, vị thiền
sư đầu tiên đưa phái Tào Động truyền vào Đàng Trong làm Quốc sư vào năm
1694 Sau khi sư Nguyên Thiều viên tịch (1695), chúa lại phái người sang Quảng Đông thỉnh Hòa thượng Thạch Liêm về Việt Nam hoằng đạo Tại chùa Thiền Lâm, Thạch Liêm đã mở đại giới đàn Thiền Lâm từ ngày mùng một đến ngày mười hai tháng Tư năm Ất Hợi (1695), có trên 3000 giới tử, trong
đó, số giới tử xuất gia có đến 1.400 vị thọ giới Sa di và Tỳ kheo
Nhờ vào sự ủng hộ của các chúa Nguyễn, Phật giáo Đàng Trong phát triển rất mạnh mẽ, các cao tăng ở Hoa Nam – Trung Quốc được các chúa thỉnh sang hoặc đi lánh nạn đã đến Đàng Trong hành đạo khá đông, hình thành nhiều tông phái khác nhau Vì thế, Phật giáo ngày càng phát triển mạnh, nhiều chùa chiền được trùng tu và xây dựng mới, kinh sách được phiên dịch
và sưu tầm trở lại
Sau giai đoạn suy thoái của Phật giáo ở thời Lê sơ, thì đến thời nhà Mạc Phật giáo đã bắt đầu hưng thịnh một chút, nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc tạo phúc như xây chùa, đúc chuông, tạc tượng, chứ chưa phát triển nhiều về mặt
tu tập hành trì, giáo lý tư tưởng Các hoàng tộc đến với chùa do niềm tin tôn giáo nhiều hơn là vấn đề tu tập giải thoát Phải đợi đến thời Trịnh - Nguyễn
Trang 40phân tranh, Phật giáo mới bắt đầu phát triển, với chủ trương lấy vấn đề tu tập giải thoát làm trọng tâm Lúc này do điều kiện hoàn cảnh thời đại xã hội loạn lạc mà con người hướng về tâm linh với nhu cầu giải thoát nhiều hơn, đồng thời lại được dẫn dắt bởi các thiền sư chân tu nên Phật giáo hồi này phát triển theo đúng tôn chỉ mà Đức Phật đề ra
1.2 Cội nguồn của cảm hứng về Phật giáo trong thơ văn các nhà nho thế kỷ XV-XVII
Bất cứ một sáng tác văn học nào đều cũng đều bắt nguồn từ một cảm hứng sáng tác nào đó Văn học của các nhà nho Việt Nam thế kỷ XV-XVII cũng vậy Có thể nêu ra đây một số cội nguồn cảm hứng trong thơ văn của các nhà nho thế kỷ XV-XVII viết về Phật giáo như sau:
Một là, kế thừa và tiếp nối tinh hoa văn học Phật giáo thời Lý – Trần
Văn học Phật giáo thời Lý - Trần là mốc son chói ngời của văn học Phật giáo Việt Nam nói riêng và của văn học trung đại Việt Nam nói chung Đây là một bộ phận văn học được sáng tác dưới ánh sáng tư tưởng triết học uyên áo uẩn súc, đầy sức gợi cảm, mang nhiều biểu tượng đặc trưng, hướng người đọc đến với một thế giới tâm linh sâu thẳm, từ đó gợi cho họ một sự khám phá về nội tâm, quay về với chính mình Văn học Phật giáo thời Lý - Trần có một sức sống ám ảnh mãnh liệt, làm cho người đọc ngoài việc suy tư để tìm cầu chân
lý, thì còn đưa đến cho họ một tâm trạng an bình Từ đó, họ sẽ khao khát vươn lên, khao khát chiếm lĩnh, khao khát vượt qua những cái nhỏ nhen của đời thường để hướng đến một cảnh giới cao thượng Chính điều ấy là những cảm hứng bất tận cho các nhà nho khi viết về Phật giáo Với lại, thơ văn Lý - Trần còn là niềm tự hào của dân tộc, mang đậm bản sắc dân tộc, thể hiện tình yêu non sông đất nước, nó ám ảnh các nhà nho khi họ nghiên cứu về Phật giáo đến khi họ ngộ ra rằng: Văn chương nhà Phật lại uyên thâm vi diệu, mang nhiều cảm xúc đến như thế, với nhiều bài thơ hay đến như thế! Họ đến