Bộ Y tế cũng đưa ra nhận định tương tự trong báo cáo kết quả nghiên cứu khả năng thực hiện BHYT toàn dân khi cho rằng “Chính sách BHYT còn tồn tại những hạn chế từ đó dẫn tới sự chưa hài
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA VÀ SỬ DỤNG
BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỌC SINH – SINH VIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA
PHẠM NGỌC THẠCH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA VÀ SỬ DỤNG
BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỌC SINH – SINH VIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cám ơn TS Nguyễn Thị Hồng Xoan đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho Tôi hoàn thành luận văn này Cám ơn Cô đã kiên nhẫn
và động viên khuyến khích để em hoàn thành đề tài luận văn của mình
Xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo cũng như các Học sinh - Sinh viên trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã giúp tôi thu thập các số liệu và hoàn thành trong thời gian sớm nhất
Tôi cũng xin chân thành cám ơn Khoa Xã hội học, Phòng Sau Đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài của mình
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình của tôi đã giúp tôi vượt qua khoảng thời gian khó khăn nhất khi phải vừa làm vừa thực hiên đề tài luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cám ơn
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Toàn bộ kết quả của các nghiên cứu khác được trích dẫn trong luận văn đều để tên tác giả và chỉ dẫn nguồn gốc rõ ràng
Học viên thực hiện luận văn
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ngày 14/ 11/ 2008 Quốc hội đã thông qua Luật BHYT với mục tiêu là tất cả công dân đều tham gia bảo hiểm y tế vào năm 2014 – đây gọi là lộ trình BHYT toàn dân Luật BHYT quy định cụ thể cho 25 đối tượng trong đó, Học sinh – Sinh viên (HSSV) là đối tượng thứ 21 và được quy định bắt buộc tham gia từ ngày 01/ 01/
2010 Tuy nhiên, sau 4 năm thực hiện, HSSV là đối tượng được xác định là đối tượng bắt buộc tham gia BHYT nhưng vẫn còn đạt tỷ lệ thấp và rất khó bao phủ 100%
Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính đối với 300 HSSV là khách thể nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV hiện nay
Kết quả cho thấy, về thực trạng tham gia BHYT thì có hai nhóm yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của HSSV trường hiện nay được xác định là:
Yếu tố vĩ mô: chính sách BHYT, công tác tuyên truyền về chính sách BHYT, quy định bắt buộc của Luật BHYT
Yếu tố vi mô: ngành học, kiến thức về Luật BHYT, khu vực sinh sống
Các yếu tố không ảnh hưởng gồm cấp bậc đào tạo, khu vực sinh sống và mức sống
Về thực trạng sử dụng BHYT của HSSV thì tỷ lệ sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh của HSSV trong vòng sáu tháng qua được ghi nhận khá cao chiếm tỷ lệ
là 68,9%
Các yếu tố được xác định là có ảnh hưởng đến việc sử dụng BHYT của HSSV gồm:
Trang 6 Yếu tố vĩ mô: chất lượng khám chữa bệnh BHYT gồm sự thiếu CSVC và thuốc điều trị, thủ tục phiền hà mất nhiều thời gian, sự công bằng trong KCB
Yếu tố vi mô: cấp bậc đào tạo, mức sống và khu vực sinh sống
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ DẦU
1 MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined 1.1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.2.1 Nghiên cứu về vai trò của BHYT và thực trạng tham gia Error!
Bookmark not defined
1.2.2 Thực trạng sử dụng BHYT trong CSSK Error! Bookmark not defined 1.2.3 Vấn đề công bằng trong tiếp cận DVYT của người sử dụng BHYT Error! Bookmark not defined 1.2.5 Thực trạng không sử dụng BHYT trong CSSK và nguyên nhân Error!
Bookmark not defined
1.3 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.4 Nội dung nghiên cứu 14 1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu Error! Bookmark not defined 1.7 Phương pháp nghiên cứu 15 1.7.1 Phương pháp thu thập thông tin Error! Bookmark not defined 1.7.1.1 Thông tin định lượng Error! Bookmark not defined 1.7.1.2 Thông tin định tính: Error! Bookmark not defined 1.7.2 Phương pháp xử lý thông tin Error! Bookmark not defined 1.8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn Error! Bookmark not defined 1.9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn Error! Bookmark not defined
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN Error! Bookmark not defined 2.1 Cách tiếp cận chính và lý thuyết áp dụng trong nghiên cứuError! Bookmark
not defined
2.2 Khung phân tích 23 2.3 Giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined
Trang 82.4 Khái niệm liên quan: 24
2.5 Kết cấu của luận văn Error! Bookmark not defined PHẦN 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA VÀ SỬ DỤNG BHYT CỦA HSSV THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chương 1: Thực Trạng Tham Gia Bảo Hiểm Y Tế Của Học Sinh – Sinh Viên 30
1.1 Quá trình hình thành và phát triển chính sách BHYT ở Việt Nam 30
1.2 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu và mô tả mẫu nghiên cứu 32
1.3 Thực trạng tham gia BHYT của HSSV Error! Bookmark not defined Chương 2: Thực Trạng Sử Dụng Bảo hiểm Y tế Của Học sinh - Sinh viên 61
2.1 Biện pháp xử trí khi mới phát hiện bệnh 61
2.2 Thực trạng sử dụng BHYT của HSSV 65
Chương 3: Đánh Giá Của Học sinh – Sinh Viên Về Chính Sách Bảo Hiểm Y Tế Trong Giai Đoạn Hiện Nay 76
3.1 Đánh giá hiệu quả chính sách 76
3.2 Công tác tuyên truyền về chính sách BHYT 78
3.3 Thời gian triển khai và phát hành thẻ BHYT 81
3.4 Công tác tư vấn và hiệu quả tư vấn 83
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 KẾT LUẬN 88
1.1 Kiểm tra đánh giá giả thuyết 88
1.2 Kết luận chung 89
2 KHUYẾN NGHỊ 91
2.1 Đối với cơ quan BHXH 91
2.2 Đối với các CSYT 92
2.3 Đối với Nhà trường 92
2.4 Đối với HSSV 93
Trang 11Biểu đồ 1.1 Lộ trình bao phủ các đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT
BHYT Bảo hiểm Y tế
BHXH Bảo hiểm Xã hội
CSYT Cơ sở Y tế
Trang 13
PHẦN I: MỞ DẦU
Trang 141 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nhằm mục đích huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội trong việc tăng cường chất lượng khám chữa bệnh, ngày 15 – 8 – 1992 Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị định
số 299-HĐBT triển khai thực hiện Bảo hiểm Y tế (BHYT) Điều này hoàn toàn phù
hợp với Hiến pháp năm 1992 đó là “ kết hợp phát triển y tế nhà nước với y tế nhân
dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ” Với ưu điểm của BHYT là dùng nguồn quỹ thu được để chia sẻ rủi ro với
những người khó khăn về kinh tế, BHYT đã dần đi vào đời sống người dân, giúp cho mọi người đều được tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế (DVYT), chăm sóc sức khỏe (CSSK) được tốt hơn
Để tỏ rõ quyết tâm xây dựng một “hệ thống y tế công bằng, hiệu quả và phát triển” mang lại mục đích cuối cùng của hệ thống y tế là nâng cao sức khỏe nhân dân đồng thời góp phần đảm bảo công bằng xã hội, ngày 14/ 11/ 2008 Quốc hội đã thông qua Luật BHYT với mục tiêu là tất cả công dân đều được bảo hiểm vào năm 2014 – đây gọi là lộ trình BHYT toàn dân Luật BHYT quy định cụ thể cho 25 đối tượng trong đó, Học sinh – Sinh viên (HSSV) là đối tượng thứ 21 và được quy định bắt buộc tham gia từ ngày 01/ 01/ 2010 Kể từ ngày 01/ 01/ 2014 sẽ quy định bắt buộc tham gia cho đối tượng cuối cùng và từ đó, BHYT Việt Nam sẽ chuyển sang bảo hiểm bắt buộc toàn dân – chấm dứt bảo hiểm y tế Chính sách BHYT được đánh giá
là chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng được Đảng, Nhà nước hết sức coi trọng
Tuy nhiên, sau 4 năm thực hiện, kết quả tham gia BHYT của một số nhóm đối tượng bắt buộc vẫn còn đạt tỷ lệ thấp, khó bao phủ 100% trong đó có đối tượng HSSV Theo báo cáo tổng kết từ cơ quan BHXH thì số HSSV trên cả nước tham gia BHYT năm 2011 là 80,01%, tỉ lệ tham gia BHYT của HSSV tại Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2012 – 2013 là 86,89%, tại tỉnh Thừa Thiên Huế tỉ lệ này là 92,61%
Trang 15- giảm so với năm học 2011 – 2012 là 0,02%, tại Đồng Nai toàn tỉnh có 573 trường
học các cấp và gần 487 ngàn HSSV trong đó có khoảng 96 trường học tham gia BHYT nhưng số HSSV tham gia chỉ 59% (thống kê của BHXH tỉnh Đồng Nai ngày 31/ 8/ 2012)
Bên cạnh việc người dân tham gia BHYT còn thấp, vẫn còn một thực trạng khác đang tồn tại đó là có sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế của người dân tham gia BHYT Việc gia tăng sử dụng DVYT thấp nhất là ở nhóm nghèo nhất Điều này thể hiện ở việc người dân tuy có thẻ nhưng lại không sử dụng
để tham gia khám chữa bệnh, dẫn đến sự không công bằng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người dân
Chính sách BHYT được xem là một chính sách an sinh xã hội có ý nghĩa nhân văn vô cùng thiết thực, mang lại sự công bằng trong CSSK nhưng vì sao lại chưa được sự đồng tình tham gia của người dân nhất là HSSV? Vì sao HSSV được xem
là đối tượng khó đạt tỷ lệ bao phủ BHYT 100%? Có sự khác biệt trong việc tham gia BHYT ở những HSSV thuộc các ngành học khác nhau hay không? Có sự công bằng trong tiếp cận DVYT đối với người tham gia BHYT đặc biệt là đối tượng HSSV không?
Tất cả những vấn đề đặt ra cũng là lý do tác giả chọn đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu về BHYT trong HSSV tại trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THAM GIA VÀ SỬ DỤNG BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỌC SINH – SINH VIÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA
PHẠM NGỌC THẠCH)
Trang 161.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn của mình, tác giả đã tiếp cận được các công trình nghiên cứu về đề tài tham gia và sử dụng BHYT của người dân hiện nay Điều này cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đến lĩnh vực chính sách này Thực tế cho thấy BHYT ngay từ khi triển khai đã dần đi vào đời sống và được sự chấp nhận đông đảo của người dân, BHYT đã phát huy vai trò quan trọng trong việc CSSK của người dân, giúp giảm gánh nặng về tài chính trong những lúc cần thiết nhất
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đều tập trung vào nhóm người dân thuộc diện chính sách như người nghèo và người ở vùng sâu vùng xa Hầu như các nghiên cứu đều chưa quan tâm hoặc chỉ dừng ở việc đánh giá tỷ lệ tham của đối tượng HSSV, chưa tập trung làm rõ tác động của ngành học đối với việc tham gia BHYT của HSSV trong khi đây là đối tượng có rất nhiều vấn đề sức khỏe cần được đầu tư để
có thể tạo ra nguồn nhân lực lao động có sức khỏe tốt trong tương lai
Với các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài BHYT, tác giả tổng quan theo ba nội dung lớn gồm: vai trò của BHYT và thực trạng bao phủ BHYT hiện nay, thực trạng sử dụng BHYT trong CSSK và vấn đề công bằng trong tiếp cận DVYT, thực trạng không sử dụng BHYT trong CSSK và nguyên nhân
1.2.1 Nghiên cứu về vai trò của BHYT và thực trạng tham gia
1.2.1.1 Về vai trò của chính sách BHYT
BHYT từ khi được triển khai đã phát huy tầm quan trọng đặc biệt trong việc mang lại nhiều lợi ích cho người dân với việc CSSK của người dân, là “cái phao” giúp giảm gánh nặng tài chính khi ốm đau, giúp người dân tiếp cận với các dịch vụ CSSK dễ dàng hơn (Tăng Hà Nam Anh và cộng sự, 2014) Nhận định về vai trò của
BHYT, tác giả Trịnh Hòa Bình đã đưa ra nhận xét “BHYT có tầm quan trọng đặc
biệt với việc CSSK của người dân, giúp giảm gánh nặng tài chính khi ốm đau”
Cùng chung nhận định này tác giả Nguyễn Khánh Phương và cộng sự (2010) đã
Trang 17nhìn nhận tính ưu việt của BHYT là đã mang lại một cơ chế tài chính hữu hiệu cho người nghèo trước nguy cơ chi phí y tế, tăng tiếp cận BHYT cho người nghèo Không giống với kết quả của các nghiên cứu trên, Nhóm Hợp tác hành động Công bằng sức khỏe của trường Đại học Y Hà Nội đã cho rằng mặc dù chính sách BHYT được xem là phương thức giúp người nghèo có thể tiếp cận DVYT nhưng chính sách này lại ít có tác động tới sự thay đổi trong chi trả trực tiếp và sử dụng DVYT ở nhóm nghèo nhất (Đại học Y Hà Nội, 2011) Tác giả Hoàng Thị Mỹ Linh
đã nêu lên đánh giá của người dân về sự hiệu quả của chính sách BHYT là chưa tốt, dưới mức trung bình (Hoàng Thị Mỹ Linh, 2013) Bộ Y tế cũng đưa ra nhận định tương tự trong báo cáo kết quả nghiên cứu khả năng thực hiện BHYT toàn dân khi
cho rằng “Chính sách BHYT còn tồn tại những hạn chế từ đó dẫn tới sự chưa hài
lòng của các bên tham gia BHYT, nhất là làm giảm niềm tin của người dân đối với chính sách BHYT” (Bộ Y tế, 2011)
Mặc dù các nghiên cứu đã nêu lên đánh giá của người dân về hiệu quả chính sách BHYT còn chưa cao nhưng hầu như chưa cho thấy mối liên hệ giữa hiệu quả chính sách với việc tham gia BHYT Trong nghiên cứu của mình, tác giả sẽ phân tích và làm rõ nhận định của HSSV về hiệu quả của chính sách qua đó cho thấy sự tồn tại của mối liên hệ giữa việc tham gia BHYT của HSSV và hiệu quả của chính sách BHYT trong giai đoạn hiện nay
1.2.1.2 Nguyên nhân tham gia BHYT của người dân
Bàn về thực trạng tham gia BHYT của người dân hiện nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Báo cáo đã nêu trong kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật
về BHYT giai đoạn 2009 – 2012 đó là tỷ lệ tham gia đạt ở mức rất cao nhưng lại chủ yếu là các đối tượng thuộc diện chính sách của Nhà nước do NSNN hoặc quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) đóng tiền mua BHYT (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013a) Những đối tượng này thuộc nhóm ngũ phân vị yếu thế nhất trong xã hội, việc tham gia BHYT của nhóm này được xác định là không thể do đó, việc cấp phát
Trang 18thẻ như hiện nay giúp cho đối tượng này có được sự công bằng trong cơ hội tiếp cận với các DVYT
Ngoài những đối tượng tham gia thuộc diện chính sách Nhà nước, tác giả Trịnh Hòa Bình cho rằng nguyên nhân chính của việc tham gia BHYT của người dân là vì theo quy định của Nhà nước (Trịnh Hòa Bình, 2007) Tác giả Trần Đan Tâm cũng đưa ra nhận định tương tự khi cho rằng việc tham gia BHYT của người dân hiện nay do quy định bắt buộc tham gia cho đối tượng người lao động (Trần Đan Tâm, 2013; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013a) Đây là nhóm cán bộ công chức, công nhân lao động chủ yếu do đang làm trong các cơ quan, xí nghiệp, doanh nghiệp và việc tham gia BHYT là bắt buộc
Nguyên nhân tham gia BHYT do tự nguyện cũng được đề cập trong Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về BHYT giai đoạn 2009 –
2012 (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013a) Tuy nhiên, theo tác giả Hoàng Thị Mỹ Linh, đối tượng tham gia BHYT tự nguyện hiện nay là những người đã có bệnh rồi nên mua để giảm chi phí khi đến bệnh viện (Hoàng Thị Mỹ Linh, 2014) Một vài nghiên cứu khác cũng đưa ra kết luận tương đồng với nhận định này và kết luận
“BHYT hiện nay đang rơi vào trường hợp lựa chọn đảo ngược” (Bộ Y tế, 2012),
(Quốc hội, 2013)
Về thực trạng tham gia BHYT của HSSV thì nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tham gia BHYT đối với học sinh phổ thông cao hơn hẳn so với sinh viên của các trường chuyên nghiệp, nhất là sinh viên của các trường do các bộ, ngành quản lý và đối tượng tham gia chủ yếu là các sinh viên vào năm thứ nhất do Nhà trường quy định trong thủ tục nhập học (Bảo Hiểm Xã Hội Thành phố Hà Nội, 2011) Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay hầu như chưa ghi nhận mối quan hệ giữa việc tham gia BHYT của HSSV với yếu tố ngành học mà các em đang theo học Trong luận văn của mình, tác giả sẽ phân tích ảnh hưởng của yếu tố ngành học đặc biệt là ngành sẽ đào tạo ra những cán bộ y tế trong tương lai đến việc tham gia BHYT của HSSV
Trang 191.2.1.3 Nguyên nhân không tham gia BHYT
Bàn về nguyên nhân không tham gia BHYT của người dân hiện nay, tác giả Trần Đan Tâm cho rằng nguyên nhân chính là do người dân không đủ tiền (Trần Đan Tâm, 2013) Cùng chung nhận định, tác giả Trần Văn Tiến cho rằng việc người
dân không tham gia BHYT do không đủ khả năng đóng phí hoặc “ưu tiên sử dụng
đồng tiền cho các mục đích khác cấp bách hơn.” (Trần Văn Tiến và cộng sự, 2007)
Đây cũng là nguyên nhân được Bộ Y tế đề cập trong Đề án thực hiện lộ trình tiến
tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020: “Tại khu vực nông thôn
rất khó thực hiện BHYT do điều kiện KT khó khăn, nhiều gia đình không có tiền cho con đi học” (Bộ Y tế, 2012)
Ngoài nguyên nhân không đủ tiền tham gia như đã nêu, một nguyên nhân khác được nhận định đó là do người dân chưa thấy sự cần thiết của BHYT do sức khỏe tốt (Trịnh Hòa Bình, 2007), (Hoàng Thị Mỹ Linh, 2014), (Trần Văn Tiến và cộng
sự, 2007) Tương tự, trong nghiên cứu của mình tác giả Trần Đan Tâm cũng nhận
định “34,5% người dân ở TP HCM không mua BHYT vì sức khỏe tốt.” (Trần Đan
Tâm, 2013)
Tác giả Hoàng Thị Mỹ Linh cũng đã có đóng góp trong việc phát hiện ra sự
khác biệt giới trong nguyên nhân không tham BHYT ở người dân, theo đó “lý do
chủ yếu khiến nữ giới không mua BHYT là do không được lựa chọn nơi khám bệnh, còn nam giới thì do còn khỏe mạnh không có bệnh.” (Hoàng Thị Mỹ Linh, 2014)
Bàn về thực trạng người dân không tham gia BHYT, Bộ Y tế cho rằng nguyên nhân là do hoạt động khám, chữa bệnh BHYT tại bệnh viện chưa thật sự hấp dẫn,
thu hút người dân cùng với các thủ tục khám chữa bệnh BHYT tại các cơ sở khám chữa bệnh còn “quá tải và rườm rà” khiến người dân mất rất nhiều thời gian cho
mỗi lần khám chữa bệnh (Bộ Y tế, 2012)
Đối với đối tượng HSSV, nguyên nhân không tham gia được xác định là do việc chấp hành pháp luật chưa nghiêm (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2013a) và do
Trang 20công tác vận động chưa thực sự đi vào chiều sâu để phụ huynh, học sinh hiểu rõ hơn
về quyền lợi và trách nhiệm tham gia BHYT theo luật định (Bộ Y tế, 2012)
Các đề tài nghiên cứu mà tác giả đã tiếp cận đều đề cập đến nguyên nhân không tham gia BHYT của người dân Mỗi một đề tài đều đưa ra một nguyên nhân chính qua đó góp phần đưa ra cái nhìn khách quan và đầy đủ về thực trạng của việc người dân chưa muốn tham gia BHYT hiện nay Tuy nhiên các đề tài trên chưa đi sâu vào việc phân tích những yếu tố thuộc về bản thân như thành phần gia đình, trình độ học vấn, ngành nghề đang học và đang làm v v có ảnh hưởng thế nào đến việc tham gia BHYT của người dân Đề tài luận văn sẽ đóng góp bổ sung những phân tích về yếu tố bản thân như thành phần gia đình, ngành học của HSSV ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT
1.2.2 Về thực trạng sử dụng BHYT trong CSSK và vấn đề công bằng trong tiếp cận DVYT
1.2.2.1 Thực trạng sử dụng BHYT trong CSSK
Đánh giá về tỷ lệ người dân sử dụng BHYT trong khám chữa bệnh, tác giả Đàm Viết Cương cho rằng người dân đã sử dụng DVYT nhiều hơn từ khi có thẻ BHYT (Đàm Viết Cương và cộng sự, 2007) Việc sử dụng DVYT của người có thẻ cũng được xác định là đạt tỷ lệ cao hơn người không có thẻ (Trần Thị Mai Oanh và cộng sự, 2012) Tương tự với nhận định này, tác giả Trần Đăng Khoa còn đưa ra số
liệu cụ thể trong nghiên cứu của mình đó là “người có thẻ BHYT sử dụng DVYT cao
gấp 5,73 lần người không có thẻ” (Trần Đăng Khoa, 2013)
Cũng đưa ra kết luận người dân sử dụng BHYT nhiều từ khi có thẻ, tuy nhiên các tác giả Nguyễn Thị Khánh Phương, Trần Thị Thoa cho rằng việc sử dụng BHYT cao chỉ tập trung ở nhóm người nghèo, mức độ sử dụng BHYT ở nhóm nghèo cao hơn nhóm còn lại (Nguyễn Thị Khánh Phương và cộng sự, 2010; Trần Thị Thoa, 2012)
Không tương đồng với những nhận định trên, kết quả được nêu trong Quyết định ban hành kế hoạch thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trên địa bàn thành phố Hồ
Trang 21Chí Minh, giai đoạn 2012 – 2015 và giai đoạn 2016 – 2020 đã cho thấy thực trạng
sử dụng BHYT của người dân không chênh lệch bao nhiêu so với người không có
thẻ Thậm chí ngược lại “có tình trạng khoảng một nửa không sử dụng thẻ BHYT để
thanh toán viện phí.” (Ủy ban Nhân dân TP HCM, 2012) Tương tự, tác giả Trần
Hữu Quang cũng cho rằng “Số lần khám bệnh và số lần nằm bệnh viện không có sự
chênh lệch bao nhiêu giữa nhóm có BHYT và nhóm không có BHYT.” (Trần Hữu
Quang, 2010) Cùng đồng tình với nhận xét này nhưng tác giả Lê Mạnh Hùng còn khẳng định đối tượng người nghèo có tỷ lệ sử dụng DVYT thấp nhất ở cả hai khu vực nội trú và ngoại trú trong khi người nghèo có thẻ BHYT chiếm tỷ trọng cao
nhất điều này đã dẫn đến tình trạng “người nghèo bao cấp ngược cho người giàu
trong khám chữa bệnh” (Lê Mạnh Hùng, 2012)
Các đề tài trên phần nào cho thấy việc sử dụng BHYT của người dân chủ yếu tập trung ở nhóm người nghèo Từ khi có BHYT, người nghèo đã được tiếp cận DVYT dễ dàng hơn, đây cũng chính là chức năng của BHYT Tuy nhiên, việc sử dụng BHYT khi tiếp cận các DVYT của các đối tượng nói chung và HSSV nói
riêng là chưa thuận lợi và được đánh giá là “Có bảo hiểm y tế không đồng nghĩa với
việc tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn.” Thậm chí là vẫn còn có khoảng “30% người nghèo có thẻ BHYT vẫn phải gặp chi phí thảm họa” (BHXH tỉnh Sóc Trăng, 2011;
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2013; Lê Mạnh Hùng, 2012) Tương đồng với
về vấn đề này, nghiên cứu của tác giả Đặng Nguyên Anh đã góp phần mô tả thực trạng về sự khó khăn trong việc sử dụng BHYT trong tiếp cận DVYT của người dân
đó là việc phải “đi lại, chờ đợi, nếm trải nhiều tiêu cực hoặc chữa không khỏi bệnh
do chất lượng thấp của các loại thuốc trong danh mục được bảo hiểm” (Đặng
Nguyên Anh, 2013; Bộ Y tế, 2011)
Các công trình nghiên cứu cũng ghi nhận thực trạng người sử dụng BHYT đang chịu sự phân biệt đối xử với người nộp tiền viện phí từ các nhân viên của CSYT Người dân khi sử dụng BHYT luôn có tâm lý phải nộp các khoản phí ngầm
Trang 22để có được sự chăm sóc như những người nộp phí thậm chí có ý kiến cho rằng
“phải giấu thẻ BHYT để bảo toàn tính mạng” (Bộ Y tế, 2011)
Ghi nhận về việc sử dụng BHYT của HSSV thì cơ quan BHXH Việt Nam đã
cung cấp số liệu là “trong năm 2010, chỉ riêng đối tượng HSSV đã có 8,5 triệu lượt
KCB, trong đó tám triệu KCB ngoại trú và hơn 500 nghìn lượt điều trị nội trú Tổng chi trả từ Quỹ KCB BHYT cho các em là 755 tỷ đồng.” tuy nhiên, báo cáo cũng ghi
nhận việc tiếp cận dịch vụ y tế của người có thẻ BHYT nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng chưa thật sự thuận lợi để khuyến khích tham gia BHYT (BHXH Thành phố Hà Nội, 2011)
Các nghiên cứu mà tác giả đã tiếp cận hầu như chỉ tập trung phân tích sự khác biệt trong việc tiếp cận DVYT giữa người có BHYT và người không có BHYT chứ chưa chú trọng phân tích đặc điểm cũng như sự khác biệt giới của những người sử dụng BHYT Ngoài ra, các nghiên cứu chưa đề cập đến việc sử dụng BHYT của đối tượng đang làm việc hoặc có liên quan đến trong ngành y tế để cho thấy đánh giá của họ về chính ngành nghề như thế nào Trong luận văn này, tác giả sẽ phân tích những ý kiến đánh giá của người trong cuộc, những ý kiến này sẽ cho cái nhìn khách quan hơn về việc sử dụng BHYT của HSSV hiện nay
1.2.2.2 Vấn đề công bằng trong tiếp cận DVYT của người sử dụng BHYT
Một thực trạng đã và đang diễn ra đó là sự bất công bằng trong việc sử dụng BHYT ở đối tượng người nghèo Thực tế cho thấy, người nghèo càng nhiều bệnh nhưng do không có tiền trả các chi phí gián tiếp cùng với tâm lý sợ bị khinh rẻ nên người nghèo rất ít sử dụng BHYT trong CSSK nên đây lại là đối tượng ít được hưởng lợi từ chính sách này Trong khi ngược lại, những người khá giả do sự thuận lợi trong việc tiếp cận DVYT lại sử dụng BHYT nhiều hơn và được hưởng lợi từ các dịch vụ này điển hình là chỉ có người giàu mới có thể tiếp cận với các kỹ thuật cao có chi phí lớn (Bộ Y tế, 2013; Trần Đăng Khoa, 2013; Nguyễn Quý Thanh, 2001) Nhận định về tình hình này, Bộ Y tế cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT sẽ làm tăng thêm nghịch lý người giàu được bao cấp nhiều hơn Sự
Trang 23nghịch lý này cũng dẫn tới hậu quả là hệ thống y tế cũng khó phát triển do phải cung cấp nhiều DVYT theo giá thấp hơn chi phí thực tế (Bộ Y tế, 2011)
Bàn về sự lựa chọn CSYT trong khám chữa bệnh của đối tượng sử dụng
BHYT, tác giả Lê Thanh Sang nhận định trong nghiên cứu của mình đó là “đa số
người có thẻ BHYT và người có thu nhập thấp đến trạm y tế nhiều hơn các nhóm so sánh” (Lê Thanh Sang, 2013) Tác giả Trần Đăng Khoa cũng đưa ra nhận định
trong việc người dân nghèo và người dân nông thôn có xu hướng sử dụng trạm y tế
trong khi nhóm người giàu, người dân thành thị có xu hướng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện tuyến trên (Trần Đăng Khoa, 2013)
Từ thực trạng này sẽ dẫn tới sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng các DVYT khi cần CSSK của người có thẻ BHYT do chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến
y tế cơ sở không cao, thiếu các trang thiết bị cơ bản, ít về số lượng và thiếu về chủng loại đối với các loại thuốc quy định trong danh mục, thiếu nhân lực đặc biệt
là cán bộ dược, về trình độ chuyên môn của nhân viên y tế cũng còn hạn chế, ít được đào tạo lại (Đặng Nguyên Anh, 2013; Vũ Thị Minh Hạnh và cộng sự, 2013; Trần Đăng Khoa, 2013; Trần Thị Mai Oanh và cộng sự, 2012; Lê Thanh Sang, 2013; Dương Chí Thiện, 2013; Trần Thị Thoa, 2012) Trong khi người nghèo chịu
sự không công bằng trong việc thụ hưởng các DVYT tại tuyến YTCS thì lại tiếp tục chịu sự bất hợp lý khác đó là việc quy định không hợp lý do BHYT chỉ trả phí điều trị cho tuyến trên những gì mà tuyến dưới yêu cầu, phần bệnh phát sinh do BS tuyến trên tìm ra sẽ không được BHYT thanh toán mà người bệnh sẽ hoàn toàn chi trả (Tăng Hà Nam Anh và cộng sự, 2014)
Từ những vấn đề bất bình đẳng trong việc sử dụng BHYT trong CSSK mà người dân có thẻ BHYT đang phải chịu như đã nêu cho thấy việc triển khai chính sách BHYT chưa thực hiện đúng so với mục tiêu ban đầu Mục tiêu của chính sách BHYT toàn dân đó là phải đảm bảo sao cho mọi người dân dù có tiền hay không có tiền đều có thể tiếp cận với các DV CSSK Nếu không thực hiện được như vậy thì
Trang 24như tác giả Phạm Mạnh Hùng nhận định: “nền YT được coi là đạt đến công bằng
nhưng kém hiệu quả thì công bằng đó chỉ là hình thức.”(Phạm Mạnh Hùng, 2011)
Những đề tài tác giả tiếp cận được đều đã phân tích gần như đầy đủ những vấn
đề khó khăn khi người dân sử dụng BHYT trong việc tiếp cận DVYT nhưng chưa
có sự phân biệt về vị thế xã hội giữa những người sử dụng BHYT Trong nghiên cứu của mình, tác giả sẽ phân tích thêm về vấn đề này nhằm góp phần phân tích về
sự bất công bằng trong tiếp cận DVYT của người sử dụng BHYT
1.2.3 Thực trạng không sử dụng BHYT trong CSSK và nguyên nhân
Việc người dân hiện nay không sử dụng BHYT khi tham gia khám chữa bệnh
là một thực trạng đã được các nghiên cứu ghi nhận Trong nghiên cứu của mình, tác
giả Trần Đan Tâm đã nêu nguyên nhân người dân không sử dụng BHYT do “không
thuận tiện” (Trần Đan Tâm, 2013) Sự không thuận tiện còn được các nghiên cứu
ghi nhận qua việc nhận xét lý do người dân không sử dụng BHYT do các chi phí gián tiếp cao cộng với khoảng cách xa đối với CSYT (Bộ Y tế, 2011; Đàm Viết Cương và cộng sự, 2007; Trần Văn Tiến và cộng sự, 2007; Thủ tướng chính phủ, 2013) Tương đồng với nhận định này, tác giả Tăng Hà Nam Anh cho rằng sự không phù hợp còn thể hiện ngay cả trong việc triển khai giờ khám bệnh do hiện nay việc khám chữa bệnh BHYT chỉ được thực hiện vào ban ngày trong khi đối tượng sử dụng là người lao động làm công nên sợ mất việc (Tăng Hà Nam Anh và cộng sự, 2014)
Ngoài những nguyên nhân khách quan nêu trên, một nguyên nhân chủ quan được ghi nhận cho lý do không sử dụng BHYT mặc dù đã được cấp thẻ đó là việc người dân không biết cách sử dụng thẻ BHYT (Đàm Viết Cương và cộng sự, 2007; Nguyễn Khánh Phương và cộng sự, 2010) Việc nhân viên y tế vi phạm y đức, giao tiếp kém và phân biệt đối xử đối với những người khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT
đã làm cho người dân không muốn sử dụng BHYT khi tham gia khám chữa bệnh (Bộ Y tế, 2011; Bộ Y tế, 2012; Trần Văn Tiến và cộng sự, 2007)
Trang 25HSSV cũng là một đối tượng bắt buộc tham gia BHYT từ năm 2010 và một bộ phận không nhỏ HSSV đang thuộc nhóm nghèo và cận nghèo nhưng chưa có nghiên cứu nào về việc sử dụng BHYT của đối tượng này Có phải HSSV cũng gặp những vấn đề tương tự trong việc sử dụng BHYT khi đến khám chữa bệnh? Tác giả
sẽ làm rõ vấn đề này trong đề tài luận văn của mình nhằm góp phần giúp các nhà chính sách có cái nhìn toàn diện hơn về các đối tượng tham gia
Các đề tài nghiên cứu tác giả tiếp cận được hầu như đã đề cập được các vấn
đề liên quan đến thực trạng tham gia và nguyên nhân tham gia BHYT của người dân nói chung nhưng lại chưa quan tâm đến đối tượng HSSV trong khi đây là đối tượng cần sự quan tâm của các cấp Đề tài luận văn của tác giả sẽ góp phần bổ sung nhằm tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT của đối tượng HSSV từ đó có thể hiểu được những khó khăn vướng mắc của đối tượng đặc biệt này
Tóm lại, việc tham gia BHYT của HSSV từ khi trở thành bắt buộc vào năm
2010 đã trở thành mối quan tâm của đối tượng tham gia lẫn các nhà quản lý tuy nhiên các bài nghiên cứu đã nêu đều chưa quan tâm nhiều đến đối tượng HSSV, chưa phân tích sự khác biệt trong việc tham gia BHYT ở các nhóm HSSV thuộc các ngành đạo tạo khác nhau do đó, đề tài nghiên cứu này sẽ bổ sung cái nhìn toàn diện hơn việc tham gia BHYT của tất cả các đối tượng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này với mục tiêu nghiên cứu tổng quát là
mô tả thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của đối tượng HSSV, tìm hiểu các yếu
tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của đối tượng HSSV trong giai đoạn hiện nay để từ đó phân tích tác động của chính sách BHYT đối với việc tiếp cận DVYT của HSSV trong giai đoạn hiện nay
Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu tổng quát trên, tác giả sẽ tiến hành thực hiện các mục tiêu cụ thể đó là:
- Tìm hiểu thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của HSSV từ khi trở thành đối tượng bắt buộc tham gia theo quy định của Luật BHYT
Trang 26- Tìm hiểu các yếu tố vĩ mô và vi mô ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV
- Đánh giá của HSSV về chính sách BHYT trong giai đoạn hiện nay để từ đó
có thể đưa ra các khuyến nghị giúp cho việc triển khai chính sách BHYT đối với đối tượng HSSV được thuận lợi hơn
1.4 Nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tập trung phân tích ba nội dung lớn như sau:
Thứ nhất, thực trạng tham gia BHYT của HSSV được thể hiện qua số lượng
và xu hướng tham gia, đặc điểm về sự phân bố theo cấp bậc đào tạo, giới tính… Thứ hai, thực trạng sử dụng BHYT của HSSV khi tham gia khám chữa bệnh tại các CSYT và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ BHYT
Thứ ba, đánh giá của của HSSV về công tác triển khai chính sách BHYT tại trường hiện nay cũng như công tác tư vấn và hiệu quả tư vấn của trường về chính sách BHYT
1.5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện với các khách thể nghiên cứu là các HSSV thuộc các hệ đào tạo chính quy thuộc trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV Mục đích của việc chọn nhóm khách thể này vì đây là nhóm HSSV có kiến thức và sự quan tâm đến vấn đề sức khỏe do đang được đào tạo để trở thành những nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe cho người dân trong tương lai, bên cạnh đó những HSSV này đã có hộ khẩu sinh sống tại các Quận huyện trên khắp địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ đó kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang tính khách quan và khái quát cao
1.6 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Luận văn được tác giả thực hiện trong thời gian từ tháng 12 năm 2012 đến tháng 12 năm 2014 với nội dung là phân tích thực trạng tham gia và sử dụng BHYT
Trang 27của HSSV tại địa bàn trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch hiện nay cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng qua đó đưa ra những khuyến nghị giúp khắc phục những khó khăn trong việc tham gia và sử dụng BHYT của đối tượng HSSV
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được kết quả tối đa khi thực hiện đề tài luận văn này tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính
để bổ sung cho nhau, trong đó:
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: theo trường phái thực nghiệm xã hội, phương pháp nghiên cứu định lượng giúp cho chúng ta cái nhìn chung, bao quát về toàn bộ đối tượng nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp điều tra bảng hỏi và phân tích tư liệu sẵn có để thu thập các số liệu thứ cấp và sơ cấp qua đó mô tả và khái quát hóa thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của HSSV
- Phương pháp nghiên cứu định tính: theo trường phái kiến tạo xã hội, phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp tìm hiểu những đặc tính, tính chất của đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia
và sử dụng BHYT của HSSV đồng thời phân tích các chính sách về BHYT dành cho đối tượng HSSV trong giai đoạn hiện nay Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng trong nghiên cứu là phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm qua đó
có thể nắm bắt được những tâm tư của cả nhân về vấn đề BHYT hiện nay giúp bổ sung những ý kiến của khách thể nghiên cứu làm cho luận văn được rõ ràng hơn
1.7.1 Phương pháp thu thập thông tin
1.7.1.1 Thông tin định lượng
Các thông tin định lượng tác giá đã thu thập trong quá trình thực hiện luận văn được chia làm hai nhóm như sau:
Nhóm thông tin sơ cấp: là những thông tin tác giả trực tiếp có được trong quá trình thực hiện luận văn Các thông tin định lượng tác giả thu thập được bao gồm những mức thu nhập của gia đình HSSV, đánh giá của HSSV về hiệu quả và
Trang 28sự cần thiết của chính sách BHYT Phương pháp sử dụng là phương pháp điều tra bảng hỏi với số mẫu chọn là 300 HSSV dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được tác giả thực hiện như sau:
Từ số lượng cụ thể do phòng Công tác Học sinh – Sinh viên cung cấp, tác giả chia ra thành ba nhóm mẫu cần chọn với số lượng mỗi nhóm là 100 HSSV bao gồm như sau:
Y đa khoa: đại học hệ 6 năm
Cử nhân KTYH: đại học hệ 4 năm
Trung cấp: hệ 2 năm
Giai đoạn kế tiếp, tác giả đánh số thứ tự cho các lớp trong từng nhóm sau đó tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên hai số (để đảm bảo số lượng mỗi nhóm nhiều hơn 100) Tác giả tiến hành phát bản hỏi đến các lớp có số thăm tương ứng, các bản hỏi khi thu về sẽ được tiến hành phân loại, bỏ những bản không đạt yêu cầu Các thông tin định lượng được sử dụng nhằm mô tả thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của HSSV trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
Nhóm thông tin thứ cấp: là những thông tin tác giả có được từ những nghiên cứu đã có Để thu thập được những thông tin này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu có sẵn bao gồm số liệu tại trạm y tế nhà trường cùng với việc phân tích, tổng hợp một số tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn đã thực hiện, các thông tin trên báo, mạng để thu thập những thông tin số liệu cần thiết cho
đề tài nghiên cứu
Trang 29Các thông tin được thu thập từ việc thực hiện 01 buổi thảo luận nhóm, 04 cuộc phỏng vấn sâu gồm 02 cán bộ quản lý, 01 sinh viên khối đại học và 01 học sinh khối trung cấp dựa trên phương pháp chọn mẫu tình cờ tiện lợi được tác giả thực hiện như sau:
Đối với hai cuộc phỏng vấn sâu của cán bộ quản lý, tác giả chọn người phụ trách trực tiếp của Phòng công tác HSSV và Phòng Y tế cơ quan
Đối với việc chọn phỏng vấn sâu 01 sinh viên khối đại học và 01 học sinh khối trung cấp dựa trên phương pháp chọn mẫu tình cờ tiện lợi, tác giả đề nghị được tiến hành phỏng vấn người đầu tiên của khối khi đến liên hệ tại Phòng Y tế
và được sự đồng ý của HSSV
Buổi thảo luận nhóm được thực hiện tại lớp Y đa khoa năm thứ 5, đây là lớp được chọn ngẫu nhiên do ban cán sự lớp đồng ý họp nhóm thảo luận
1.7.2 Phương pháp xử lý thông tin
Các thông tin thu được từ quá trình thu thập thông tin sẽ được tác giả chia làm hai nhóm gồm: thông tin định lượng và thông tin định tính
Các thông tin định lượng: được tác giả sử dụng phần mềm xử lý thông tin SPSS 11.5 để thể hiện thông qua các bảng biểu, biểu đồ để minh họa, dẫn chứng cho nội dung của luận văn
Các thông tin định tính: sẽ được gỡ băng và ghi nhận thông tin nhằm phân tích những ý kiến, nhận định của HSSV, nhân viên y tế của trường trong công tác triển khai BHYT HSSV hiện nay
1.8 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp tác giả và những người quan tâm hiểu rõ hơn về vấn đề bất bình đẳng sức khỏe đã và đang diễn ra trong xã hội hiện nay Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và những người quan tâm đến đề tài nghiên cứu của luận văn
Trang 30 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những thông tin giúp những người làm công tác chính sách về BHYT xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV từ đó có thể khắc phục các yếu tố khó khăn giúp cho việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV được thuận lợi hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân, đạt được sự công bằng trong tiếp cận DVYT trong CSSK của đối tượng HSSV
1.9 Hạn chế trong quá trình thực hiện luận văn
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như năng lực nghiên cứu, tác giả chỉ mới thực hiện khảo sát được tại địa bàn trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Trong khuôn khổ đề tài này tác giả cũng chỉ mới dừng lại ở việc phân tích thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của HSSV cũng như các yếu tố ảnh hưởng chứ chưa đánh giá hết được vai trò của chính sách BHYT đối với HSSV
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1 Cách tiếp cận chính và lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
2.1.1 Cách tiếp cận công bằng sức khỏe
Tính công bằng trong tiếp cận DVYT của một đối tượng được hiểu ở hai khía cạnh gồm:
- Công bằng sức khỏe theo chiều ngang (horizontal equity): đối xử như nhau đối với những người có hoàn cảnh như nhau (ví dụ có cùng “nhu cầu”)
- Công bằng theo chiều dọc (vertical equity): đối xử khác nhau với những người có hoàn cảnh khác nhau nhằm làm giảm sự khác biệt sẵn có (ví dụ có “nhu cầu” khác nhau) (Hoàng Văn Minh, 2011; Đặng Thị Lệ Xuân, 2012)
Khi xem xét về sự công bằng trong tiếp cận DVYT của người nghèo thì cần đánh giá công bằng theo chiều dọc, nghĩa là cần phải có những chính sách từ Nhà nước để làm giảm những chi phí khác biệt giúp cho đối tượng này được đáp ứng những nhu cầu về CSSK hoàn toàn tương tự với những người khá giả Thực tế cho thấy, hệ thống y tế nước ta hiện nay chưa đạt được sự công bằng sức khỏe cho
Trang 31người nghèo Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng những người sử dụng BHYT để tiếp cận DVYT mặc dù có cùng nhu cầu sức khỏe nhưng lại chịu sự phân biệt đối xử (Bộ Y tế, 2011)
Theo quan điểm công bằng sức khỏe, sự công bằng được thể hiện dựa trên bốn khía cạnh gồm:
Chỉ số sức khỏe: tình trạng sức khỏe
Tiếp cận các dịch vụ CSSK: có BHYT, sử dụng các dịch vụ CSSK
Chi trả phí dịch vụ CSSK
Hành vi có liên quan đến sức khỏe
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn này tác giả chỉ dựa vào hai tiêu chí
để đánh giá sự công bằng sức khỏe ở HSSV đó là:
Tình trạng sức khỏe bản thân hiện nay, biện pháp xử lý khi mới phát hiện bệnh
Có BHYT
2.1.2 Lý thuyết áp dụng
2.1.2.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý (còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý)
Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất của con người là vị
kỷ, luôn tìm đến sự hài hòng, sự thỏa mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động Đặc trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là các cá nhân lựa chọn hành động Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều
nhà Xã hội học tiêu biểu như: George Homans, Peter Blau, James Coleman
Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “lựa
Trang 32chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Phạm vi của mục đích đây không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có
cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần Định đề này được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: khi lựa chọn trong số các cách hành động có thể có, cá nhân sẽ lựa chọn cách nào mà họ cho là tích của xác suất thành công của hành động
đó với giá trị mà phần thưởng của hành động đó là lớn nhất Tức là Homans đã nhấn mạnh đến đặc trưng thứ hai của sự lựa chọn hợp lý là quá trình tối ưu hóa (Lê
Ngọc Hùng (2011), Lịch sử và Lý thuyết Xã Hội Học)
Tác giả vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý nhằm giải thích thực trạng HSSV mặc dù có kiến thức về sức khỏe nhưng lại không thường xuyên kiểm tra sức khỏe định kỳ do chi phí cao Đây cũng chính là lý do HSSV lựa chọn không tham gia BHYT do cân nhắc giữa chi phí tham gia và đánh giá chất lượng khám chữa bệnh BHYT trong giai đoạn hiện nay là chưa tốt
Ngoài ra, thuyết lựa chọn duy lý cũng nhằm giải thích thực trạng quyết định không sử dụng thẻ BHYT khi tham gia khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế vì cân nhắc giữa việc sử dụng BHYT phải tốn nhiều thời gian do thủ tục rườm rà cộng với việc có sự phân biệt đối xử với người có BHYT đã làm cho HSSV thấy rằng lựa chọn hình thức khám chữa bệnh bằng hình thức dịch vụ sẽ ưu việt hơn do tốn ít thời gian hơn và được đối xử tốt hơn Tất cả những điều này dẫn đến việc HSSV lựa chọn không sử dụng thẻ BHYT khi tham gia khám chữa bệnh mặc dù đã
có BHYT
2.1.2.2 Lý thuyết xung đột
Theo Karl Marx, xã hội chủ yếu là một cấu trúc theo chiều dọc gồm các giai cấp, các tập đoàn xã hội mâu thuẫn lợi ích với nhau và do đó luôn mâu thuẫn, xung đột với nhau Còn theo Georg Simmel thì xã hội là một cấu trúc ngang – dọc gồm các cá nhân, các nhóm người có mối quan hệ tương tác và mâu thuẫn chồng chéo,
Trang 33chằng chịt theo chiều ngang – dọc rất phức tạp Xung đột được chia làm hai nhóm là nhóm xung đột nội bộ và xung đột liên nhóm trong đó, Simmel có quan niệm tích cực lạc quan đối với xung đột liên nhóm vì xung đột giữa các nhóm làm tăng cường độ tập trung quyền lực, sức người, sức của để giải quyết mâu thuẫn, giải quyết xung đột làm cho xã hội được phát triển Những người theo lý thuyết xung đột nhấn mạnh tầm quan trọng của lợi ích so với chuẩn mực và giá trị , những cách trong đó sự theo đuổi lợi ích đã làm nảy sinh nhiều dạng xung đột khác nhau, xem chúng là những khía cạnh bình thường của đời sống xã hội chứ không phải là điều bất bình thường hay phản chức năng (Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012; Lê Ngọc Hùng, 2011)
Theo Max Weber, xã hội tồn tại sự phân chia hai nhóm người trong xã hội: một là những sản người sở hữu tài sản và sử dụng tài sản đó để thu lợi nhuận; hai
là những người không có tài phải bán sức lao động để lấy tiền công Từ đó, Weber xem xã hội cấu thành từ hai giai cấp tương ứng là giai cấp tài sản và giai cấp làm thuê Dựa trên sự phân tầng này lý thuyết bất bình đẳng sức khỏe cho rằng có sự khác biệt về sức khỏe giữa các tầng lớp xã hội – người giàu luôn có sức khỏe tốt hơn (Steve Taylor và David Field, 2007)
Tại Việt Nam, quan điểm cơ bản về y tế trong giai đoạn hiện nay đó là muốn đầu tư cho sự phát triển của đất nước thì phải đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe cho mọi người vì sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn
xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2010) Nhu cầu CSSK của mọi người dân phải được thực hiện một cách công bằng dù cho khả năng chi trả của họ hoàn toàn khác nhau Tuy nhiên hiện nay, hệ thống tài chính cho y tế ở Việt Nam đã làm tăng sự bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận với các dịch vụ khám chữa bệnh, khoảng cách y tế giữa người giàu và người nghèo ngày càng giãn rộng, thực trạng bất bình đẳng sức khỏe đang diễn ra và ngày càng gay gắt (UBND Thành phố Hồ Chí Minh, 2012) Những người giàu luôn có đủ điều kiện để tiếp cận với các DVYT đắt tiền nhằm chăm sóc cho sức khỏe của họ một cách tốt nhất, cũng với tình trạng sức khỏe
Trang 34tương tự nhưng người nghèo hơn không thể tiếp cận được các DVYT tương tự nhóm có điều kiện
Bên cạnh việc bất bình đẳng sức khỏe do yếu tố kinh tế, người nghèo hiện nay còn đối mặt với sự bất bình đẳng do chính sự phân phối các nguồn lực y tế giữa các nhóm dân cư khác nhau Sự bất bình đẳng rõ nhất là giữa đô thị và nông
thôn về điều kiện và cơ hội tiếp cận các dịch vụ CSSK: “người dân nông thôn lại
phải chi trả cho các khoản về CSSK cao hơn rất nhiều đối với người dân đô thị” (Dương Chí Thiện, 2013) Ngoài ra, sự bất bình đẳng còn thể hiện trong sự
khác biệt về điều kiện trang thiết bị cũng như CSVC tại các trạm y tế: “điều kiện
trang thiết bị cũng như CSVC ở tuyến cơ sở hiện nay còn hạn chế, trong khi đó chính là sự lựa chọn của hầu hết người có thu nhập thấp” (Trần Thị Mai Oanh và
cộng sự, 2012; Lê Thanh Sang, 2013)
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả vận dụng lý thuyết bất bình đẳng sức khỏe để lý giải thực trạng một bộ phận HSSV do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải đầu tư kinh phí cho việc học nên chưa quan tâm và đầu tư đúng mức cho sức khỏe bản thân dẫn đến có sự khác biệt về sức khỏe với nhóm HSSV có kinh tế khá giả Bên cạnh đó việc thiếu các trang thiết bị cần thiết cũng như thuốc điều trị cũng gây
ra sự bất bình đẳng trong việc đáp ứng nhu cầu CSSK của HSSV giữa các nhóm khác nhau
Trang 352.2 Khung phân tích
2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: HSSV chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề chăm sóc sức khỏe nên việc tham gia BHYT hiện nay chủ yếu là do quy định bắt buộc, chưa nhận thức được sự cần thiết của BHYT
Giả thuyết 2: Có sự bất bình đẳng về sức khỏe giữa những HSSV thuộc các hsức khỏe đối với HSSV thuộc các hệ đào tạo khác nhau do sự khác biệt về mức sống Một bộ phận HSSV không thể tham gia BHYT do chi phí cao và ưu tiên sử dụng kinh phí cho mục đích học tập
Giả thuyết 3: Chỉ những HSSV có hoàn cảnh kinh tế khó khăn mới sử dụng BHYT khi tham gia khám chữa bệnh nên đây cũng là những đối tượng chịu sự bất bình đẳng trong CSSK do tình trạng không đủ thuốc điều trị cũng như cơ sở vật chất tại các CSYT hiện nay
THAM GIA BHYT CỦA HSSV
Trang 362.4 Khái niệm liên quan:
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng những khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu bao gồm:
2.4.1 Khái niệm bảo hiểm y tế và bảo hiểm y tế toàn dân
Trong đề tài này khái niệm BHYT chủ yếu được hiểu theo Luật BHYT của Việt Nam số 25/2008/QH12 thông qua ngày 14/ 11/ 2008 như sau:
“Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này.” (Luật BHYT, 2009)
Có hai hình thức tham gia BHYT hiện nay đó là:
- BHYT tự nguyện: Là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia
- BHYT bắt buộc: Là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở bắt buộc của người tham gia
Đối với đối tượng HSSV: Luật BHYT quy định trở thành đối tượng tham gia BHYT bắt buộc kể từ ngày 01/ 01/ 2010 đây gọi là lộ trình bao phủ bảo hiểm toàn dân
Bảo hiểm y tế toàn dân:
Theo Luật Bảo hiểm y tế năm 2009 định nghĩa: “ BHYT toàn dân là việc các
đối tượng quy định trong Luật này đều tham gia bảo hiểm y tế.” (Luật BHYT,
2009)
Một khái niệm khác về BHYT toàn dân được Tổ chức Y tế thế giới sử dụng là:
“BHYT toàn dân là một mục tiêu, theo đó tất cả mọi người đều có thể tiếp cận đến các DVYT cần thiết mà không gặp khó khăn về tài chính khi chi trả phí các dịch vụ CSSK” (Nhóm Hợp tác Hành động vì Sức khỏe, )
Tổ chức Y tế Thế giới cũng đưa ra ba khía cạnh của bao phủ BHYT toàn dân gồm:
Trang 37 Bao phủ dân số hoặc độ rộng bao phủ: tỷ lệ dân số được hưởng các dịch vụ CSSK Mức độ và phân bổ bao phủ giữa các nhóm dân số khác nhau thể hiện rõ tầm quan trọng của công bằng trong độ bao phủ theo thu nhập hoặc sự giàu có, giới tính,
độ tuổi, nơi cư trú, tình trạng di cư và sắc tộc
Độ bao phủ của dịch vụ hoặc độ sâu của bao phủ: phạm vi các dịch vụ được bao phủ (dựa vào kỳ vọng rằng tất cả mọi người đều có thể hưởng lợi các dịch vụ CSSK mà họ cần)
Bao phủ tài chính, bao phủ chi phí hay chiều cao của bao phủ: tỷ lệ tổng chi phí được chi trả thông qua bảo hiểm hoặc các hình thức chia sẻ rủi ro khác Điều này có nghĩa người dân không gặp khó khăn về tài chính khi chi trả phí các dịch vụ
mà họ cần
Hình 1: Ba khía cạnh của bao phủ y tế toàn dân
(Nguồn: Đại học Y Hà Nội, Nhóm Hợp tác hành động Công bằng sức khỏe, Báo
cáo số 2 về công bằng sức khỏe: Hệ thống y tế Việt Nam hướng tới mục tiêu và
công bằng.)
Tuy nhiên Bộ Y tế xác định, do điều kiện KT-XH hiện nay nước ta chỉ hướng tới việc gia tăng tỉ lệ dân số tham gia (Bộ Y tế, 2012a)
Trang 382.4.2 Khái niệm HSSV:
Khái niệm HSSV được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính
quy: “Học sinh, sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường, được nhà trường
bảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2007)
Ngoài ra, khái niệm sinh viên cũng được đề cập trong Điều lệ của Hội Sinh viên Việt Nam được được phê duyệt kèm theo Quyết định số 1739/QĐ-BNV của
Bộ trưởng Bộ Nội vụ: “Sinh viên là công dân Việt Nam đang học bậc đại học, cao
đẳng”(Bộ Nội vụ, 2009)
Như vậy, HSSV được hiểu là những người đang học hệ chính quy trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, được nhà trường bảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình Trong đó, sinh viên là những người đang học bậc đại học, cao đẳng còn học sinh là những người đang học
ở bậc trung cấp chuyên nghiệp
2.4.3 Khái niệm Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu
“Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ bảo hiểm y tế” (Luật BHYT, 2009)
2.4.4 Khái niệm sức khỏe
Theo tự điển Xã hội học Oxford, việc đo lường về khẻ mạnh và đau ốm là điều không dễ vì nếu chỉ dựa vào việc đã từng tiếp xúc với DVYT thì có thể bị sai lệch
do người dân có những cách ứng xử khác nhau khi bị bệnh, khả năng tiếp cận DVYT, mức độ hiểu biết về bệnh tật cũng là những yếu tố tác động đến việc sử dụng DVYT Do đó, việc đánh giá sức khỏe ở đây được do chính HSSV lựa chọn
và tiêu chí để được đánh giá là có sức khỏe hay không dựa vào định nghĩa về sức khỏe của WHO (Tổ chức Sức khỏe Thế giới) năm 1946
“Sức khỏe là sự hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần lẫn xã hội chứ không chỉ là không có bệnh tật” (WHO, 1946)
Trang 392.4.5 Khái niệm công bằng sức khỏe (Health Equity)
Công bằng sức khỏe: “Là tình trạng không còn sự khác biệt (chỉ bao gồm sự
khác biệt có thể phòng tránh được hoặc chịu sự tác động của các chính sách) về sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe giữa các nhóm khác nhau trong xã hội”
(Hoàng Văn Minh, 2011)
Ngược lại với công bằng sức khỏe đó là sự bất bình đẳng sức khỏe, bất bình đẳng y tế Ở đây, tác giả sử dụng khái niệm về bất bình đẳng y tế của Viện Chiến lược và Chính sách y tế nhằm phân tích sự khác biệt về tình trạng sức khỏe giữa các nhóm HSSV thuộc các nhóm mức sống và khu vực sinh sống khác nhau nhằm làm
rõ thực trạng bất bình đẳng y tế trong HSSV
“Bất bình đẳng Y tế là sự khác biệt có hệ thống: bất bình đẳng y tế là sự khác biệt về tình trạng sức khỏe hoặc phân phối các nguồn lực y tế giữa các nhóm dân
cư khác nhau” (Viện chiến lược và chính sách y tế)
2.4.6 Khái niệm hành vi tìm kiếm sức khỏe
“Hành vi tìm kiếm sức khỏe là toàn bộ các ứng xử của con người đối với các
hoạt động tăng cường, phòng chống và chữa trị bệnh tật.” (Hoàng Bá Thịnh, 2010)
Trong đề tài này, hành vi tìm kiếm sức khỏe của HSSV được xem xét là hành
vi có đến cơ sở khám chữa bệnh để điều trị khi mới phát hiện bệnh qua đó có thể đánh giá nhận thức của HSSV về vấn đề sức khỏe bản thân
2.5 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm ba phần: Phần 1: Phần mở đầu, Phần 2: Kết quả nghiên cứu, Phần 3: Kết luận – khuyến nghị
Trong phần mở đầu, tác giả trình bày về lý do chọn nghiên cứu đề tài về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV thành phố Hồ Chí Minh, mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý thông tin, ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn, cách tiếp cận chính và lý thuyết áp dụng, các khái niệm
Trang 40Trong phần kết quả nghiên cứu, tác giả chia làm ba chương:
Chương 1: tập trung phân tích thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của HSSV hiện nay qua đó cho thấy sự khác biệt trong việc tham gia và sử dụng BHYT trong việc tiếp cận các DVYT giữa các HSSV thuộc các nhóm khác nhau: giới tính, cấp bậc đào tạo, mức sống, khu vực sinh sống
Chương 2: phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng BHYT của HSSV trong giai đoạn hiện nay Chương này cũng sẽ ghi nhận những ý kiến cá nhân của HSSV về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng BHYT để tiếp cận DVYT trong CSSK
Chương 3: đề cập đến những ý kiến đánh giá của HSSV về công tác triển khai BHYT tại trường hiện nay Chương này cũng sẽ ghi nhận về thực trạng tìm hiểu thông tin về chính sách BHYT của HSSV và những nơi HSSV chọn khi cần tư vấn
và giải đáp các thắc mắc về chế độ chính sách
Trong phần kết luận và khuyến nghị, tác giả tổng kết lại các nội dung đã trình bày ở chương 1 và chương 2, trên cơ sở đó tác giả đưa ra một số khuyến nghị