1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng chính trị của minh mạng qua tác phẩm minh mệnh chính yếu

137 56 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với sự nghiệp đổi mới chính trị hiện nay của đảng và nhà nước ta, chúng ta cần chắt lọc và kế thừa những tư tưởng về chính trị, pháp luật của các thế hệ đi trước, trong đó có tư tưởn

Trang 1

BÙI THỊ NGỌC MAI

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MINH MẠNG QUA TÁC PHẨM MINH MỆNH CHÍNH YẾU

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 2

BÙI THỊ NGỌC MAI

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MINH MẠNG QUA TÁC PHẨM MINH MỆNH CHÍNH YẾU

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa

TP HỒ CHÍ MINH – 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được ai công bố, dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa Tư liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực

Người cam đoan

Bùi Thị Ngọc Mai

Trang 4

Trang PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài luận văn 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7

6 Kết cấu của luận văn 7

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG 8

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG 8

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG 26

1.3 THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA MINH MẠNG 43

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49

Chương 2: NỘI DUNG, GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ Ý NGHĨA TRONG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MINH MẠNG QUA TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” 50

2.1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” 50

2.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MINH MẠNG TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” 64

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 120 KẾT LUẬN CHUNG 123 TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử tư tưởng Việt Nam là kết quả của một quá trình đúc kết, kế thừa và phát huy những tinh hoa văn hóa, tư tưởng qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Qua đó, nó đã tạo nên hệ thống tri thức lý luận định hướng và chỉ đạo cho hoạt động của con người

Mỗi giai đoạn lịch sử là mỗi bước thăng trầm mà bên trong đó bao gồm những bước tiến bộ và cả những bước đi chậm chạp, thậm chí là thụt lùi so với thời đạị Tuy nhiên, xét trên mặt tổng thể, ít nhiều mỗi giai đoạn đó đều

để lại những giá trị văn hóa, những bài học lịch sử sâu sắc cho đời sau Như triều Nguyễn (1802 – 1945) – triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam,

có nhiều quan điểm đánh giá trái chiều nhau về nó, trong đó hầu như các nhà

đánh giá lịch sử đều cho rằng: “Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX là một xã hội

phong kiến lâu dài, không có tiền đề kinh tế - xã hội cho một hệ tư tưởng mới, cao hơn hệ tư tưởng phong kiến Nó chỉ có thể và thực sự là hệ tư tưởng phong kiến mà thôi, tuy có thể đạt tới yếu tố nào đó của tư tưởng cải cách Đã thế hậu quả kinh tế, xã hội và tâm lý mà thế kỷ trước để lại cho thế kỷ XIX là hết sức nặng nề; thiên tai thì xảy ra liên tiếp Hậu quả ấy đã khiến cho dù có thi hành những yếu tố tích cực nhất của hệ tư tưởng phong kiến nói chung và Nho giáo nói riêng cũng khó mà ổn định được tình hình, thay đổi được tâm lý, cải thiện được đời sống của đại đa số nhân dân vốn đã đau khổ cùng cực trong suốt thế kỷ XVIII Cũng khó mà tránh được thiên tai, phát triển sản xuất, và không có cách gì khắc phục được những chậm trễ, lạc hậu có tính lịch sử của

đất nước” [60; tr.12-13] Nhưng chính trong những hoàn cảnh ấy, thế kỷ XIX

đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn như: Minh Mạng, Nguyễn Đức Đạt, Đặng Đức Tuấn, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Xuân Ôn… Trong đó, Minh Mạng

là một trong những nhà tư tưởng lớn của Việt Nam Ông là người tinh thông

Trang 7

Nho học và sùng đạo Khổng – Mạnh Minh Mạng rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài Trong 21 năm làm Hoàng Đế, ông đã có những cải cách với các định chế công quyền, hành chính, pháp luật, thuế khóa, đinh điền, tu soạn sử sách địa lý và lập các cơ sở dưỡng tế

Đồng thời, ông cũng là người quan tâm đến võ bị, nhất là thủy quân, ông cho người tìm hiểu cách đóng tàu của Châu Âu và ước vọng làm sao cho người Việt đóng được tàu kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương Ông cho chỉnh đốn và hoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ

Đánh giá về con người cũng như sự nghiệp của vua Minh Mạng, Trần

Trọng Kim – một sử thần cuối triều Nguyễn trong sách “Việt Nam sử

lược” đã viết như sau: “Trong đời vua Thánh Tổ làm vua, pháp luật, chế độ

điều gì cũng sửa sang lại cả, làm thành một nước có cương kỷ Nhưng chỉ vì ngài nghiêm khắc quá, cứ một mực theo cổ, không tuỳ thời mà biến hoá phong tục; lại không biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, lại tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình Đã hay rằng những điều lầm lỗi ấy là trách nhiệm chung cả triều đình và cả bọn sĩ phu nước ta lúc bấy giờ, chứ không riêng chi một mình ngài, nhưng ngài là ông vua chuyên chế một nước, việc trong nước hay dở thế nào ngài củng có một phần trách nhiệm rất to, không sao chối từ được Vậy

cứ bình tĩnh mà xét thì chính trị của ngài tuy có nhiều điều hay, nhưng củng

có nhiều điều dở; ngài biết cương mà không biết nhu, ngài có uy quyền mà ít

độ lượng, ngài biết có dân có nước mà không biết thời thế tiến hoá Bởi vậy cho nên nói rằng ngài là một anh quân thì khí quá, mà nói rằng ngài là bạo quân thì không công bằng Dẫu thế nào mặc lòng, ngài là một ông vua thông minh, có quả cảm, hết lòng lo việc nước, tưởng về bản triều nhà Nguyễn chưa

có ông vua nào làm được nhiều công việc hơn ngài vậy” [38; tr.493 - 494] Có

Trang 8

thể nói Minh Mạng là người đã đặt cơ sở xây dựng thể chế chính trị cho triều Nguyễn Và hệ thống tư tưởng này được trình bày đầy đủ, sâu sắc trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu”

“Minh Mệnh chính yếu” là bộ sách lớn do Quốc sử quán triều Nguyễn

biên soạn gồm 26 quyển, 22 thiên, nội dung trích những văn kiện, ghi những

việc làm thiết yếu dưới triều Minh Mạng Bộ sách này được phê chuẩn biên

soạn năm thứ 18 và hoàn thành năm 21 đời Minh Mạng

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trước Minh Mạng chưa từng có tác phẩm nào có giá trị nền tảng tư tưởng và đề cập gần như tất cả các vấn đề quan trọng nhất về việc trị nước Tuy vẫn lấy Nho giáo làm nồng cốt, nhưng

“Minh Mệnh chính yếu” đề cập một cách toàn diện hơn, tập trung hơn, chú trọng cả những tư tưởng chỉ đạo lẫn thực tế tình hình và các việc làm, biện pháp cụ thể đã được tiến hành “Minh Mệnh chính yếu” là một dẫn chứng cho thấy khuynh hướng nỗ lực muốn xây dựng một hệ tư tưởng hoàn chỉnh của vương triều mang màu sắc Việt Nam Trong “Minh Mệnh chính yếu”, Minh Mạng hầu như không đề cập thế giới quan, mà chỉ bàn về nhân sinh quan, trong đó tư tưởng xuyên suốt của ông là: Đạo làm vua, đạo làm người, lòng yêu nước thương dân Đường lối trị nước của Minh Mạng trong “Minh mệnh chính yếu” mang dấu ấn cả “Nho”, “Pháp”, và “Đạo”

Vì vậy, việc nghiên cứu tư tưởng chính trị của Minh Mạng không chỉ đem đến cho chúng ta cái nhìn mới mẻ và rõ ràng về một giá trị tư tưởng của lịch sử mà còn rút ra cho chúng ta những kinh nghiệm đáng quý và bài học lịch sử về “trị nước an dân” Từ những tư tưởng “lấy dân làm gốc”, tư tưởng

về pháp luật dựa trên nền tảng “pháp trị” kết hợp với “đức trị”, tư tưởng về dân chủ cũng như trách nhiệm của người đứng đầu,… của Minh Mạng; đã gợi

mở cho chúng ta những bài học quý giá như: quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, nhất định xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và thống nhất

Trang 9

trong đó kết hợp cả sự nghiêm khắc và sự khoan dung Đối với sự nghiệp đổi mới chính trị hiện nay của đảng và nhà nước ta, chúng ta cần chắt lọc và kế thừa những tư tưởng về chính trị, pháp luật của các thế hệ đi trước, trong đó

có tư tưởng của Minh Mạng

Xuất phát từ những ý nghĩa trên tác giả chọn đề tài “Tư tưởng chính trị của Minh Mạng qua tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu”, làm luận văn

thạc sỹ của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài luận văn

Tư tưởng chính trị Minh Mạng không nằm ngoài dòng chảy lịch sử của

tư tưởng Việt Nam, nên cùng với việc nghiên cứu lịch sử, tư tưởng, văn hóa, chính trị - xã hội các nhà khoa học cũng dành nhiều sự quan tâm đến và nghiên cứu nó như một tiểu hệ thống góp phần làm nên sự đa dạng phong phú thêm nền tảng tư tưởng của dân tộc Việt Nam Tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, đúc kết toàn bộ tư tưởng, chính sách của vua Minh Mạng trong suốt thời gian trị vì đất nước (1820 - 1840) với nhiều giá trị và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là một tài liệu sử học quý mà các nhà nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và triều vua Minh Mạng nói riêng đều lấy làm cơ sở để tìm hiểu về triều Nguyễn cũng như triều vua Minh Mạng

Với tinh thần nghiên cứu tư tưởng chính trị của Minh Mạng với tư cách là một nhà tư tưởng chính trị trong lịch sử Việt Nam, tác giả xuất phát từ những công trình mang tính chất tổng quan và định hướng cho sự nghiên cứu của mình Trước hết phải kể đến những tác phẩm do Quốc sử quán triều Nguyễn biện soạn trong lĩnh vực lịch sử và pháp luật:

“Đại Nam thực lục” (hai quyển Tiền biên và Chính biên), ghi chép các sự

kiện từ khi chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn Vào năm 1962, Viện

Sử học bắt đầu cho công bố bản dịch bộ “Đại Nam thực lục, tập 1, phần Tiền

Trang 10

biên”, do Nhà xuất bản Sử học xuất bản Sau đó đến năm 1978 (16 năm sau) thì phần Chính biên gồm 37 tập được hoàn thành với sự hợp tác của Nhà xuất bản Khoa học - Xã hội, kết thúc công việc xuất bản trọn bộ “Đại Nam thực lục”

“Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ”, được biên soạn từ 1943 đến 1855, ghi chép những điển pháp Việt Nam dưới triều Nguyễn “Đại Nam liệt

truyện”, là một bộ sách lịch sử ghi chép về gia phả nhà Nguyễn, các sự tích,

công trạng của các công thần, liệt nữ

Ở lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam có một số công trình như: Doãn

Chính (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến

đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Nguyễn Hùng Hậu (2010), Đại cương lịch sử triết học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Ở đây,

tư tưởng của các nhà tư tưởng Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử trong đó

có Minh Mạng được nghiên cứu và khái quát lại Vì vậy, những công trình này có giá trị tham khảo và định hướng nghiên cứu Tương tự, còn có những

công trình như: Lịch sử tư tưởng Việt Nam (1993) của tác giả Nguyễn Tài Thư, và công trình Một số vấn đề lí luận về lịch sử tư tưởng Việt Nam (1984)

của Viện triết học biên soạn

Đi sâu nghiên cứu tư tưởng chính trị Minh Mạng, có một số công trình

tiêu biểu như: Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX do PGS.TS

Doãn Chính (chủ biên), cùng với việc làm sáng tỏ sự chuyển biến tư tưởng Việt Nam trong thời kỳ lịch sử từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX tư tưởng chính

trị Minh Mạng trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu” đã được trình bày khái quát trong đó có 2 bài viết “Đức trị và pháp trị trong tư tưởng Minh

Mệnh” của hai tác giả Nguyễn Thị Thùy Duyên – Nguyễn Thị Thu Phương và

bài viết “Tư tưởng chính trị của Minh Mạng qua tác phẩm Minh Mệnh chính

yếu” của tác giả Lê Văn Phúc Công trình trình Tìm hiểu tư tưởng chính trị

Trang 11

Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mạng (2002) của Nguyễn

Hoài Văn Công trình Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới (2005) do

nhóm tác giả Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn biên soạn trình bày một số vấn đề về công tác hành chính dưới triều vua Minh Mạng Nhóm tác giả đã chỉ ra cho chúng ta thấy một cách tiếp cận mới về triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam Công trình này có nhiều bài viết đã nghiên cứu trình bày tư tưởng của Minh Mạng ở nhiều khía cạnh khác nhau, đây là những đóng góp lớn cho việc nghiên cứu tư tưởng chính trị của Minh Mạng qua tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu”

Trên nền tảng kế thừa những kết quả nghiên cứu đó, trong khuôn khổ luận văn này, tác giả muốn phân tích, trình bày tư tưởng chính trị của Minh

Mạng trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu” theo một hệ thống tư tưởng

bao gồm: tư tưởng của Minh Mạng về lòng yêu nước, thương dân; tư tưởng cần chính với việc đào tạo và sử dụng quan lại; tư tưởng của Minh Mạng về pháp luật; tư tưởng có khuynh hướng dân chủ của Minh Mạng Qua đó, tác giả làm rõ thêm những giá trị và một số hạn chế trong tư tưởng chính trị của Minh Mạng qua tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu ”

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là làm rõ tư tưởng chính trị của Minh Mạng trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu”

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên của luận văn, tác giả tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:

Phân tích điều kiện lịch sử - xã hội và tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Minh Mạng

Trang 12

Phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Minh Mạng trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu”

Đánh giá những giá trị và hạn chế trong tư tưởng chính trị Minh Mạng trong tác phẩm “Minh Mệnh chính yếu” Từ đó, rút ra ý nghĩa của nó đối với công cuộc “đổi mới chính trị” của nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên của luận văn, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu đề tài

Đồng thời, tác giả còn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như phương pháp logic – lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, diễn dịch và quy nạp, trừu tuợng hoá, khái quát hoá

5 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Luận văn trình bày làm rõ nội dung tư tưởng chính trị của Minh Mạng, góp phần vào lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam

Kết quả nghiên cứu đề tài của luận văn là một tài liệu có ích, có thể làm tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên chuyên ngành Triết học, Chính trị học, và những ai quan tâm đến lịch sử tư tuởng Việt Nam nói chung hay tư tưởng của Minh Mạng nói riêng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn bao gồm 2 chương 6 tiết

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ

LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG

1.1 ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG

Theo tác giả Nguyễn Hoài Văn, “tư tưởng chính trị là các quan niệm của các giai cấp, các nhóm xã hội về thực tiễn chính trị, xoay quanh trục cơ bản nhất là vấn đề quyền lực, bao gồm cả việc giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực của nhà nước Đó chủ yếu là những quan niệm về bản chất quyền lực, cách thức tổ chức và cơ chế thực hiện quyền lực, cách giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, cách thức và mức độ tham gia của các bộ phận cư dân vào việc thực hiện quyền lực; những quan niệm về vai trò của nhà nước và các bộ phận khác trong hệ thống chính trị, về trách nhiệm của các cá nhân đại diện cho quyền lực chính trị” [71; tr 36] Như vậy,

tư tưởng chính trị là tổng thể những nguyên tắc thiết yếu, theo đó nhà nước được thiết lập và được tổ chức nên, vận hành và chuyển phát quyền lực chính trị của một giai cấp nhất định Đồng thời, tư tưởng chính trị là một hiện tượng lịch sử - xã hội, nó xuất hiện khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước

ra đời Nó là sự phản ánh những quan hệ kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Do đó, Minh Mạng với tư cách là vua của một nước phong kiến phương Đông, mà ở đó quyền lực tối cao là quân quyền, tư tưởng chính trị của ông mang những đặc điểm hoàn toàn khác biệt, vì đó không những là sản phẩm của một nhà tư tưởng bình thường, mà còn là sự đúc kết

Trang 14

của một quá trình trị quốc, đối diện và trực tiếp giải quyết với toàn bộ những vấn đề chính sự của đất nước Quá trình hoàn thiện tư tưởng chính trị của Minh Mạng gắn liền với tác phẩm chính sử “Minh Mệnh chính yếu” do Quốc

sử quán đương thời biên soạn theo yêu cầu của ông Vì vậy, Chúng ta phải xuất phát từ điều kiện kiện lịch sử - xã hội Việt Nam cũng như tình hình chung của thế giới nửa đầu thế kỷ XIX, để hiểu rõ hoàn cảnh tác động trực tiếp đến quá trình hình thành tư tưởng của Minh Mạng

1.1.1 Tình hình thế giới nửa đầu thế kỷ XIX

Nhà Nguyễn ra đời trong bối cảnh thế giới có nhiều chuyển biến mạnh

mẽ và to lớn trong tất cả các lĩnh vực Đặc biệt, sự thay đổi của sức sản xuất

đã làm đảo lộn trật tự xã hội và ý thức hệ tư tưởng cũ của người Trung đại, xây dựng một mền văn minh mới cho nhân loại, khởi đầu một giai đoạn mới của lịch sử thế giới là giai đoạn Cận đại

Ngay từ cuối thế kỷ XV nền kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu, tạo ra trong lòng xã hội phong kiến một tầng lớp mới đó là thị dân Tầng lớp này lớn dần lên, có thế lực kinh tế nhưng vẫn bị các quý tộc phong kiến chèn ép khinh rẻ Do vậy, họ đã dựa vào sức mạnh kinh tế của mình tập hợp những người cùng chí hướng trong xã hội phong kiến, tiến hành cuộc đấu tranh giành quyền chính trị, từng bước thiết lập hệ thống chính trị tư sản Cuộc cách mạng Tư sản đầu tiên diễn ra ở Hà Lan vào năm 1566, là khởi đầu cho hàng loạt cuộc cách mạng sau này Tiếp đến là cuộc cách mạng Tư sản Anh năm 1640 thành công tạo điều kiện thành lập một nước Anh tư bản chủ nghĩa Sau đó là cách mạng Tư sản Pháp 1789, được coi là cuộc cách mạng triệt để nhất, đã thực sự xác lập một phương thức sản xuất mới, một chế độ sản xuất mới văn minh hơn, tiến bộ hơn xã hội cũ Với tác động của những cuộc cách mạng nói trên, phong trào cách mạng tư sản dần lan rộng ra ở châu

Âu, đã giành nhiều thắng lợi, từng bước đẩy lùi giai cấp phong kiến thối nát

Trang 15

và dần đi tới kết quả sụp đổ hoàn toàn Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng

Sản” K Marx và F Engels đã khẳng định rằng: “Giai cấp tư sản đã từng đóng

một vai trò hết sức cách mạng” [10; tr 599] Thời kỳ này còn được đánh dấu bởi cuộc cách mạng công nghiệp, mở đầu bằng việc phát minh và sử dụng máy hơi nước vào sản xuất ở nước Anh cuối thế kỷ XVIII Một quá trình công nghiệp hóa diễn ra rầm rộ ở châu Âu đã làm thay đổi cách thức sản xuất,

từ lao động bằng chân tay sang sử dụng máy móc và từng bước hình thành một cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh; từ sản xuất quy mô nhỏ đến quy mô lớn với sự ra đời của nhà máy và các khu công nghiệp đã khiến cho loài người trong vòng chưa đầy một trăm năm, có thể tạo nên một lượng vật chất to lớn hơn và đồ sộ hơn tất cả các thế hệ trước cộng lại Chính những thành tựu về kinh tế và kỹ thuật ấy đã khẳng định ưu thế của xã hội chủ nghĩa tư bản đối với xã hội phong kiến Và tạo nên một bước ngoặc cơ bản của xã hội đó là chuyển từ “làn sóng văn minh nông nghiệp sang làn sóng văn minh công nghiệp” – theo cách diễn đạt của nhà tương lai học A.Toffle

Khoa học không còn dừng lại ở vị trí tri thức thuần túy, mà dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và thiết chế xã hội đặc trưng, nghĩa là những thành quả khoa học, với sự tổ chức chặt chẽ và khả năng ứng dụng kịp thời không chỉ làm thay đổi cuộc sống con người, cải tạo tự nhiên, mà còn góp phần vào tiến bộ xã hội Bản thân nhà khoa học cũng tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội Mặt khác, khoa học với tính ứng dụng hiệu quả của mình, đáp ứng nhu cầu giải phóng sức lao động, khoa học dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong điều kiện chế độ phong kiến thối nát, trong cuộc đấu tranh chống lại bọn quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản với tư cách là người đại biểu đã lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc cách mạng, lật đổ chế độ cũ, xây dựng một chế độ mới, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển Về mặt đó, giai cấp tư sản đã đóng vai trò cách

Trang 16

mạng Nhưng chúng ta cần phải nhìn rõ quần chúng nhân dân lao động là lực lượng đóng vai trò quyết định Đó là những người nô lệ, những công nhân, nông dân không có đất đã tham gia nhiệt tình vào cuộc đấu tranh cách mạng

Họ đóng góp của cải sức lực để tạo nên thắng lợi của cách mạng Là những người phục vụ trong đạo quân khởi nghĩa, trong đơn vị hải quân pháo binh, công binh, hậu cần, du kích, họ đã chiến đấu và lao động hết lòng vì cách mạng Có thể nói, cách mạng không thể đi đến thắng lợi, nếu không có sự đóng góp của quần chúng nhân dân, với tinh thần dũng cảm ý chí kiên cường bất khuất của họ Tuy nhiên, vì quyền lợi giai cấp hẹp hòi, sau khi cách mạng

tư sản giành thắng lợi giai cấp tư sản nắm chính quyền và toàn bộ tư liệu sản xuất xã hội, còn quần chúng nhân dân trở về với hai bàn tay trắng và được bổ sung vào giai cấp vô sản

Cách mạng tư sản đã đập tan quan hệ ruộng đất phong kiến, giải phóng nông dân khỏi sự ràng buộc cổ truyền của nghĩa vụ phong kiến, tạo nên một tầng lớp nhân dân tiểu tư sản đông đảo; mở đường cho nền kinh tế tư bản phát triển mạnh mẽ hơn Phương thức sản xuất tư bản dần thay thế phương thức sản xuất cũ, mở ra khả năng phát triển khoa học – kỹ thuật, cải tiến công cụ sản xuất Đồng thời, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa góp phần phá vỡ quan hệ xã hội lỗi thời, đơn giản hóa môi trường giao tiếp, kích thích tính sáng tạo của cá nhân, xác lập những giá trị mới, những chuẩn mực mới phù hợp với xã hội đang biến đổi nhanh chóng

Sự biến đổi lớn lao về chính trị và kinh tế tất yếu dẫn tới sự biến động lớn lao về đời sống xã hội, sự tăng dân số, sự phát triển đô thị, sự pháp lý hóa chế độ gia đình một vợ một chồng và điều quan trọng là sự hình thành các giai cấp xã hội mới, đó là giai cấp tư sản công thương nghiệp và giai cấp vô sản công nghiệp

- hệ quả tất yếu của cách mạng công nghiệp – trở thành hai giai cấp cơ bản của

xã hội tư bản chủ nghĩa, có mối liên hệ khăng khít trong guồng máy vận hành

Trang 17

của nền kinh tế, đồng thời ẩn chứa mâu thuẫn cơ bản về quyền lợi giữa người thống trị và người bị trị, giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Đến những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã có hơn một trăm năm tồn tại Vai trò tích cực của giai cấp tư sản đối với lịch sử nhân loại được thể hiện thông qua cuộc đấu tranh thủ tiêu chế độ phong kiến, giải phóng cá nhân, phát triển sức sản xuất Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phá vỡ những quan hệ lỗi thời, mang nặng tính chất đẳng cấp

Có thể nói thời đại tư bản là thời đại năng động nhất trong các thời đại

đã qua Tính biện chứng của thời đại tư bản thể hiện ở chỗ nó không thể tồn

tại bình thường nếu không tạo ra những biến đổi liên tục trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, cải tiến liên tục công cụ sản xuất, tích cực khai thác và tìm kiếm nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế

Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” K Marx và F.Engels viết: “Giai cấp

tư sản không thể không tồn tại, nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội… Tất cả những quan hệ xã hội cứng đờ và hoen rỉ… đều đang tiêu tan… Tất cả những gì mang tính chất đẳng cấp và trì trệ đều tiêu tan như mây khói […] Giai cấp tư sản đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả những thế hệ trước kia gộp lại” [10; tr 599, 603] Tuy nhiên, theo K Marx, sự phát triển của nền sản xuất tư bản dựa trên các thành tựu khoa học, kỹ thuật của nhân loại, dù thúc đẩy về cơ bản xã hội tiến về phía trước, vẫn không khắc phục được những mâu thuẫn cố hữu của xã hội có giai cấp đối kháng, sự tha hóa con người, mà thậm chí còn làm cho những mâu thuẫn ấy ngày càng trở nên trầm trọng và không thể kiểm soát

Mâu thuẫn thứ nhất dễ thấy nhất là, xã hội tư sản đào sâu thêm khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông

Trang 18

nghiệp, tạo nên những chênh lệch lớn trong đời sống kinh tế lẫn môi trường văn hóa, nhận thức, sự phân hóa mới trong quan hệ giữa người với người

Mâu thuẫn thứ hai thể hiện ở sự vận động xã hội dựa trên các quy luật thị trường tư bản chủ nghĩa trong khi đơn giản hóa quan hệ xã hội đồng thời bộc lộ mặt trái của nó: sự cằn cỗi dần những phong tục, thói quen và sinh hoạt văn hóa truyền thống, xu hướng thực dụng hóa ngay cả quan hệ gia đình huyết thống, sự sòng phẳng đến tàn nhẫn các thang bậc đánh giá khả năng của

cá nhân, và do đó loại bỏ không thương tiếc con người trong cạnh tranh và làm giàu bằng mọi giá Sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội phong kiến bằng hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa là hợp lý xét từ quan điểm phát triển, nhưng chưa hoàn thiện xét từ góc độ nhân sinh Chủ nghĩa tư bản thay thế phương thức nô dịch con người, chứ chưa thể loại bỏ hẳn phương thức đó

Chủ nghĩa tư bản, theo K Marx và F Engels, chẳng những không khắc phục mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của nền sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất, mà còn thúc đẩy mâu thuẫn đó đến tình trạng gay gắt, không thể dung hòa trong điều kiện kinh tế thị trường vận hành theo quy luật cạnh tranh tự do Cuộc đấu tranh giải phóng xã hội bấy giờ gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản công nghiệp chống lại sự áp bức của lực lượng thống trị và trật tự xã hội tư sản nói chung

Chủ nghĩa tư bản đã giành được thắng lợi ở nhiều nước kết hợp với những kết quả của việc tích lũy nguyên thủy tư bản đầy máu và nước mắt của người lao động trên khắp thế giới suốt từ Thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII Đến những năm 30 – 40 của thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã có hơn 100 năm tồn tại Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình thực dân hóa ở các châu lục chậm phát triển Từ các thuộc địa của người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha trong thời kỳ phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, đến hệ thống thuộc địa lớn của người Anh, người Pháp Việc xâm chiếm thuộc địa, ngày càng

Trang 19

quyết liệt hơn khi nền sản xuất càng phát triển mạnh mẽ ở châu Âu Thuộc địa

là thị trường tiêu thụ hàng hóa và là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho nền công nghiệp ngày một đồ sộ của châu Âu và Bắc Mỹ Cho đến giữa thế kỷ XIX các nước tư bản đã phân chia nhau 51% diện tích châu Á, 10% diện tích châu Phi, nước anh thôn tính hoàn châu Úc Các nước Mỹ La Tinh rơi và tay Bắc Mỹ Trong cơn những cơn khủng hoảng, các nước tư bản càng ngày càng tìm thị trường mới để giải quyết các hàng hóa ế thừa Họ hăng hái đi sâu vào châu Phi để thám hiểm, để truyền giáo và cuối cùng là để xâm chiếm đất đai Các nước châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng, và các nước châu Phi không đứng vững được trước làn sóng thôn tính ào ạt của phương Tây, lần lượt trở thành thuộc địa và phụ thuộc

1.1.2 Bối cảnh Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX

Cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ đánh tan 20 vạn quân Thanh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Quang Trung, lập nên triều đại Tây Sơn Triều đại Tây Sơn tồn tại không được bao lâu thì Quang Trung mất đột ngột, Quang Toản còn nhỏ lên thay thế khiến nội bộ Tây Sơn lục đục Chớp thời cơ Gia Long phản công đánh bại triều Tây Sơn lập nên triều Nguyễn

Nhà nguyễn được thừa hưởng thành quả to lớn của phong trào nông dân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước, làm chủ một lãnh thổ trãi dài từ ải Nam Quang đến mũi Cà Mau bao gồm cả Đàng trong và Đàng Ngoài Đầu năm 1804, Gia Long chính thức công bố tên nước là Việt Nam Nhưng năm 1813, do sự phản ứng của nhân dân, Gia Long cho đổi lại tên là Đại Việt Năm 1839, Minh Mạng khẳng định lại quốc hiệu là Đại Nam quốc hiệu này được sử dụng đến năm 1945

Nhà Nguyễn ra đời trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước Có thể nói, quá trình hình thành tư tưởng chính trị của Minh Mạng gắn liền với quá trình xây dựng và củng cố triều đại nhà Nguyễn của vua cha Gia Long Từ khi

Trang 20

còn là Hoàng tử, ông đã được học tập và tôi luyện trong hoàn cảnh đất nước sau một thời gian dài chia cắt với rất nhiều khó khăn, Gia Long đang tập trung giải quyết, mong muốn xây dựng nên một triều đại phong kiến hùng mạnh Sau đó, Minh Mạng đã được thừa kế thành quả cũng như những công việc chưa hoàn thành của vua cha, ông tiếp quản công việc trị nước, đồng thời tiếp tục tâm nguyện xây dựng một quốc gia thống nhất và giàu mạnh của vua cha

Minh Mạng tiếp quản đất nước đồng thời phải đối diện với hàng loạt những khó khăn về nhiều mặt

Thứ nhất, về mặt chính trị - xã hội, sự thống nhất của nước ta giai

đoạn này chỉ mới trên phương diện lãnh thổ địa lý và quân sự, còn trên bình diện chính trị và tổ chức hành chính thì vẫn lỏng lẽo và phân tán

Tình trạng cát cứ về chính trị có từ quá khứ để lại vẫn còn tồn tại Hiện tượng phân liệt của đất nước Việt Nam bắt đầu từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê do Nguyễn Kim cầm đầu Chỉ sau 6 năm, lực lượng phù Lê do Nguyễn Kim cầm đầu nổi dậy (1533) dần dần phát triển thế lực dựng lên một triều đình riêng, sử gọi là Nam triều chống lại Bắc triều của nhà Mạc Năm 1592, Bắc triều bị tiêu diệt, một cục diện phân liệt mới lại hình thành với hai thế lực chính trị và quân sự đối đầu: Trịnh ở đàng Ngoài và Nguyễn ở đàng Trong Tình trạng phân liệt Trịnh – Nguyễn kéo dài gần hai thế kỷ lại được thống nhất một thời gian nhờ công lao của Nguyễn Huệ Nhưng bản thân triều đại Tây Sơn với

sự chia sẻ quyền hành của những người đứng đầu vương triều lại một lần nữa hình thành một cục diện phân liệt mới Trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc từ Quảng Ngãi trở vào, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ từ Thuận Hóa ra Bắc và Đông Bình Vương Nguyễn Lữ ở vùng Gia Định Sau năm 1788 Đông Bình Vương Nguyễn Lữ bị thất bại trước sự tấn công của quân nhà Nguyễn, rồi chết, thì Gia Long thay thế làm chủ vùng Gia Định Đây là tình trạng chính trị thực

tế mà Gia Long thừa hưởng của quá khứ Các quan lại địa phương chuyên

Trang 21

quyền, pháp lệnh thì bất nhất, tổ chức chính trị mỗi nơi mỗi khác

Tình hình thống nhất yếu về chính trị trên phạm vi toàn quốc còn do sự khác biệt về quá trình hình thành của hai vùng đất đàng Trong và đàng Ngoài trong lòng quốc gia Việt Nam Đặc biệt, dưới tầng sâu của nền chính trị ở Bắc

Hà, Gia Long hiểu rõ tinh thần “hoài Lê” là cản trở rất lớn đối với ông

Với tham vọng của một vị hoàng đế khai sáng một triều đại, Gia Long

đã cố gắng bằng mọi cách xây dựng một cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự, vững vàng cho triều đại mới Đồng thời, Gia Long còn cố gắng xây dựng lại toàn bộ đất nước từ trung ương đến địa phương tạo nên một thể chế chính trị thống nhất, xóa đi mọi yếu kém sau một thời gian nội chiến kéo dài

Các cơ quan hành chính ở trung ương tức là triều đình, dưới triều Gia Long cũng theo thể chế của nhà Lê đặt ra đầy đủ 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Đứng đầu mỗi bộ có thượng thư Cơ quan giúp việc quan trọng cho hoàng đế là Thị Thư viện Thị Thư viện giữ việc văn thư, sổ sách thảo các văn ấn luật lệ Phụ trách công việc kiểm soát và xét xử là bộ Hình Cái thiếu ở chính quyền trung ương là chưa có một cơ quan nào chuyên trách kiểm soát thanh tra đủ năng lực và thẩm quyền

Bộ máy hành chính địa phương thời Gia Long gần như giữ nguyên theo cách tổ chức cũ của các chúa Nguyễn (Miền Nam) và của triều Lê (miền Bắc) Năm Mậu Thìn (1808) Gia Long thấy “địa thế vùng Gia Định” rộng lớn, sai đình thần bàn kĩ việc kinh lý để giữ gìn bờ cõi cho vững mạnh Đổi Gia Định trấn thành Gia Định thành Đối với vùng dân tộc thiểu số, miền núi với vùng biên giới vẫn chia thành các châu như trước kia và giao cho các tù trưởng thiểu số nắm giữ

Toàn quốc gồm 23 nội trấn, Gia Long phân bổ địa hạt quản lý như sau: triều đình trung ương trực tiếp nắm đất Kinh Kỳ bao bồm 7 trấn là Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khương, Bình Thuận Ngoài

Trang 22

ra, ông còn thiết lập hai trấn lớn là Bắc Thành và Gia Định thành Đứng đầu là các Tổng trấn, Bắc Thành lại chia thành 5 nội trấn là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, và 6 ngọai trấn là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, An Quảng, Hưng Hóa Gia định thành bao gồm 5 trấn là Phiên An, Phiên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên

Mối liên hệ giữa Bắc Thành và Nam Thành với triều đình trung ương trong thời kỳ này rất lỏng lẽo, có phần mang tính chất hình thức Vì triều đình trung ương cũng chỉ liên hệ với các vị Tổng trấn

Ở các trấn ngoài Bắc Hà, phần nào muốn thu phục nhân tâm, nhất là muốn lôi kéo số sĩ phu cũ của triều Lê trong một thời gian dài, Gia Long đã

bổ nhiệm nhiều người trong số họ cai trị ở các phủ, huyện của 5 nội trấn

Có thể nói, suốt thời gian trị vì của mình, Gia Long chưa nắm được 11 trấn Bắc thành, đặc biệt là các trấn miền núi Đối với 5 trấn thuộc Gia Định thành tình trạng cũng không khá hơn, trước thế lực của các viên Tổng trấn, Gia Long chấp nhận để cho họ quyền tự trị

Thực trạng tổ chức bộ máy hành chính từ triều đình trung ương đến địa phương dưới thời Gia Long bộc lộ rõ sự lỏng lẽo trong thiết chế, và phân quyền trong việc quản lý Nhiều cơ quan hành chính chưa được thiết lập một cách đầy đủ phần nhiều còn giản lược Các vị quan lại đứng đầu các cơ quan hành chính ở trung ương chỉ có một số ít người có học thức như Trịnh Hoài Đức, Đặng Đức Siêu, Lê Quang Định, còn phần lớn là các võ quan

Tình trạng này ở các trấn càng nặng nề hơn nữa Các trấn thủ phần lớn

là võ quan, hầu hết trong số họ không biết chữ Hán Những sớ tấu gửi về triều đình đều phải nhờ người viết thay Nên bộ máy chính quyền địa phương mang nặng tính chất quân sự

Bộ luật Gia Long, hay còn gọi là Hoàng Việt Luật Lệ ra đời trong thời

kỳ này Nó bao gồm 398 điều, chia thành 7 chương, ngoài ra còn có 30 điều

Trang 23

“tập tụng” Mặc dù nó được tham khảo cả bộ Luật Hồng Đức và luật của nhà Thanh, nhưng nó được tham khảo luật nhà Thanh là chính Nên các điều luật phản ánh thực tiễn nước ta trong bộ luật Hồng Đức đã không còn, thay vào đó

là những điều luật rất hà khắc Đồng thời, Gia Long từ sớm đã muốn xây dựng một lực lượng quân sự mạnh Kéo theo là chế độ binh dịch nặng nề ở trong nước, hầu như cứ 3 đinh là lấy một Theo thống kê, số đinh năm 1820 là 620.240, thế nhưng số lính lại nhiều như số đinh đó [49; tr.440]

Về mặt ngoại giao, thái độ của nhà Nguyễn trong quan hệ với nhà Thanh là thần phục một cách mù quáng Trong khi đó, nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự khống chế Cao Miên, đặt thành trấn Tây, bắt Ai Lao thần phục Quan hệ với Xiêm cũng thất thường, lúc hòa hoãn lúc tranh chấp

Đối với phương Tây, Gia Long luôn tỏ ra lo ngại với sự ảnh hưởng của

họ Minh Mạng hiểu ý cha, nên trong thời gian trị vì của mình, ông luôn tỏ ra lạnh nhạt trong mối quan hệ đó, đặc biệt là với nước Pháp Biện pháp để đẩy lùi sự lo lắng về mối nguy cơ xâm lược từ các nước phương Tây của Gia Long và Minh Mạng chỉ dừng lại ở chổ “đóng cửa”, “khước từ” đã trì hoãn được ít nhiều Nhưng lại không tận dụng được thời gian đó để tăng cường được sức tự vệ cho đất nước

Như vậy, với tư cách là vị vua đầu triều, Gia Long đã bước đầu hoàn thành công việc xác lập sự ổn định chính trị, xây dựng bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương Mặc dù nó chưa được hoàn chỉnh, nhưng đó là nền móng tạo điều kiện cho Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính sau này

Thứ hai, về mặt kinh tế - xã hội, cuộc nội chiến liên miên giữa các tập

đoàn phong kiến đã tàn phá nặng nề nền kinh tế đất nước thời bấy giờ Các biểu hiện của khủng hoảng đã xuất hiện từ trước khi Gia Long lên ngôi Đất nước ta từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XIX là một quốc gia phong kiến hùng mạnh được xây dựng trên cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước phát triển

Trang 24

cao, một nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ ở Đông Nam Á Sự sản xuất nông nghiệp, một mặt đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, cải thiện chất đất để thâm canh tăng năng suất, mặt khác là phải đẩy mạnh công cuộc khai khẩn đất hoang, không ngừng mở rộng diện tích canh tác mới, đồng thời đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày càng tăng lên

Giai đoạn này, người nông dân bỏ làng đi phiêu tán khắp nơi, đồng ruộng bị bỏ hoang Dẫn tới nạn kiêm tính ruộng đất, nhiều đại địa chủ xuất hiện, xã hội làng xã bị thu hẹp, sở hữu tư nhân đã chiếm ưu thế chi phối các quan hệ ruộng đất Vì vậy, triều Nguyễn thực hiện nhiều biện pháp bảo vệ và

mở rộng diện tích đất công Nhà nước, một mặt cấm các làng xã không được bán đứt hay cầm cố ruộng công, mặt khác thực hiện nhiều biện pháp nhằm tăng cường diện tích ruộng đất công, thậm chí là can thiệp vào cả sở hữu của địa chủ

mà điển hình là việc thực hiện phép quân điền ở Bình Định Chính sách này vấp phải sự phản ứng gay gắt của giai cấp địa chủ nên kết quả không như mong đợi, triều đình buộc phải thoái lui Tuy diện tích ruộng đất công không còn nhiều nhưng triều Nguyễn vẫn tiếp tục thực hiện chính sách quân điền, coi nó như một biện pháp nhằm củng cố, bảo vệ ruộng công làng xã và lấy đó làm cơ

sở để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội và ổn định tình hình đất nước Tuy nhiên, trong tình hình ruộng đất công đã thu hẹp mà đối tượng được chia lại nhiều đã khiến diện tích ruộng đất cấp cho dân thường càng ít đi, do đó người nông dân càng phải lệ thuộc nhiều vào ruộng đất của quan lại địa chủ mà

họ lĩnh canh thêm Mặt khác, cơ sở ruộng đất chỉ còn thu gọn trong ruộng khẩu phần được chia theo kì hạn, càng khiến họ tìm mọi cách mở rộng diện tích ruộng tư hữu của mình Trên thực tế, chính sách quân điền của nhà Nguyễn chỉ còn là biện pháp trói buộc người nông dân vào tổ chức thôn xã để thực hiện nghĩa vụ tô thuế, lao dịch, binh dịch đối với nhà nước Thêm vào đó, nạn kiêm tính ruộng đất của giai cấp địa chủ và quan lại không ngừng phát triển là cho

Trang 25

chế độ quân điền nhanh chống bị phá sản, mâu thuẫn giai cấp càng thêm gay gắt Có thể nói trước xu thế khách quan của lịch sử, nhà Nguyễn gần như bất lực trong việc ngăn chặn xu hướng kiêm tính ruộng đất của giai cấp địa chủ Ruộng đất được tiếp tục tập trung trong tay những kẻ giàu có, còn người nông dân thì hoặc trở thành tá điền hoặc bỏ làng đi nơi khác

Gia Long đưa ra chính sách khai hoang thực hiện trên khắp các vùng lãnh thổ từ biên giới, hải đảo, ven biển, gò đồi… Sử dụng các nguồn lực dôi thừa trong nông thôn tham gia việc khai hoang, từ binh lính, nông dân, tù phạm, địa chủ, quan lại, nhất là các viên quan có kinh nghiệm, uy tín Nhiều hình thức khai hoang khác nhau được triển khai Trong đó, hình thức khai hoang doanh điền mang lại nhiều hiệu quả nhất Chính sách khai hoang được Minh Mạng kế thừa và mở rộng, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế,

xã hội trị an, quốc phòng của đất nước góp phần giải quyết nạn dân phiêu tán, mang lại ruộng đất cho dân nghèo, thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp

Việc tiếp xúc với người phương Tây cũng góp phần tạo điều kiện cho thủ công nghiệp phát triển, đặc biệt là thủ công nghiệp dân gian Từ đó, nó đã kích thích tinh thần sáng tạo của thợ trong các công xưởng, họ đã chế tạo được máy hút nước tưới ruộng, máy xẻ gỗ bằng sức nước, tàu thủy chạy bằng hơi nước,…

Thương nghiệp củng có cơ hội mở rộng Đầu thế kỷ XIX, đất nước thống nhất, xu thế phát triển kinh tế thị trường càng rõ nét Triều đình cũng đã cải cách tiền tệ, thống nhất đơn vị đo lường tạo tiền đề cho sự phát triển của nền nội thương nước ta Tuy vậy, việc đặt ra nhiều cửa, nhiều bến kiểm soát và thu thuế, thủ tục phiền hà đã gây cản trở cho hoạt động nội thương, lưu thông hàng hóa

Còn ngoại thương, cùng với sự phát triển của sản xuất cộng với sự giao lưu với các nước được mở rộng đã tạo điều kiện cho nó phát triển, trong nửa đầu thế kỷ XIX, thời Gia Long ngoại thương rất phát triển Có thể nói, chính sách ngoại thương của triều Nguyễn thời kỳ này không phải là “bế quan tỏa cảng”

Trang 26

hoàn toàn Triều Nguyễn đã đón nhận tất cả tàu buôn Trung Quốc, các nước phương Đông và mở cửa Đà Nẵng để đón nhận thuyền phương Tây đến buôn bán

Thực chất, triều Nguyễn đã xây dựng một nền kinh tế dựa trên sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, thi hành nhiều chính sách “ức thương” khiến nền kinh tế tồn tại nhiều mâu thuẫn gay gắt, sức sản xuất không thể được giải phóng Điểm nổi bật là thành quả của chính sách khẩn hoang, và sự phát triển công thương nghiệp, đây chính là cơ sở giúp cho triều Nguyễn củng cố sự thống trị của mình về mặt chính trị và tư tưởng

Sự chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, nhất là trong vấn đề sở hữu ruộng đất đã tác động đến quá trình phân hóa xã hội và sự phát triển của các quan hệ giai cấp Về cơ bản, xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn được chia thành hai bộ phận đối lập nhau: một bên là những kẻ thống trị một bên là những người bị trị

Bộ phận thống trị gồm có vua, tầng lớp quan lại và giai cấp địa chủ Vua và hoàng tộc là lớp người có nhiều đặc quyền trong xã hội Giai cấp địa chủ bấy giờ đã trở thành một lực lượng đông đảo, vừa có thế trong quan trường vừa có uy quyền ở làng xã

Trong cơ cấu xã hội thế kỷ XIX còn hiện diện một tầng lớp trung gian khá đông đảo và đóng một vai trò rất quan trọng trong xã hội, đó là tầng lớp Nho sĩ Đây là lực lượng dự bị của bộ máy quan liêu và là chỗ dựa tư tưởng của chính thể trung ương tập quyền

Bộ phận bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân, một số dân nghèo thành thị Lớp người bị lưu đày, nô tỳ cùng gia quyến sống

ở các đồn điền càng ngày càng tăng lên

Đại đa số cư dân là nông dân, nhưng người nông dân tuy có được mảnh ruộng của riêng mình nhưng cuộc sống vẫn hết sức khó khăn Nếu số diện tích ruộng đất ấy là ruộng làng xã thì với số khẩu phần ruộng ít ỏi, đất lại xấu, thiên

Trang 27

tai, dịch bệnh, mùa màng thất bát nên cũng khó có thể duy trì cuộc sống của họ Còn nếu là ruộng tư thì họ cũng chịu sự đe dọa của nạn kiêm tính ruộng đất Bất chấp mọi cố gắng của nhà nước, nạn kiêm tính ruộng đất vẫn diễn ra mạnh mẽ, kéo theo đó là sự phá sản của những người nông dân nghèo và hạng trung

Người tá điền ở miền Bắc và miền Trung thường thực hiện theo chế độ phát canh thu nô Ở đây ruộng đất không nhiều, thường xuyên bị thiên tai có thể bị mất trắng nên số phận của họ bị buộc chặt với địa chủ Bên cạnh nỗi lo bần cùng hóa, người nông dân còn phải đối mặt với chính sách lao dịch nặng

nề Hàng năm nhà nước huy động rất nhiều sức dân để xây dựng thành lũy, cũng như vét sông đào kênh

Nhưng vấn nạn đáng sợ nhất là nạn tham quan, ô lại, cường hào Mặc

dù triều đình đã có gắng hạn chế tác hại của nạn cường hào, song những chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước lại tạo cơ hội cho họ lợi dụng để bóp nặn người nông dân Thật ra, mức tô, thuế ruộng đất của triều Nguyễn không quá cao so với những triều đại trước, nhưng người dân cũng phải nộp thuế thân Đây mới thật sự là gánh nặng của họ vì nghĩa vụ này trên đại thể không phân biệt người có ruộng hay không có ruộng Nhà nước để cho làng xã trực tiếp thu thuế Với sự lũng đoạn của tầng lớp cường hào, mức nộp bị khuyếch đại lên và trở nên nặng nề đối với người dân

Nhà nước đã có những chính sách nhằm xoa dịu tình thế như: miễn thuế, hoãn thuế… ;nhà nước cũng quản lý giá gạo, lập kho thóc dự trữ để điều phối cho dân; triệt để khai hoang để trưng dụng sức dân phát triển nông nghiệp Song, hiệu quả của những chính sách ấy là không đáng kể Mâu thuẫn

xã hội bùng phát là điều tất yếu Các cuộc đấu tranh đã xuất hiện rất sớm và ngày càng lan rộng Có thể kể đến các cuộc khởi nghĩa lớn như: khởi nghĩa của Phan Bá Vành, khởi nghĩa của Cao Bá Quát, khởi nghĩa của Nông Văn Vân, khởi nghĩa của nhân dân Đá Vách… Theo thống kê riêng thời Gia Long hơn

Trang 28

90 cuộc, thời Minh Mạng là hơn 250 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ [49; tr.457] Khi các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ Nhà nước áp dụng các biện pháp khác nhau như: đàn áp, mua chuộc, dụ dỗ nhưng khởi nghĩa nông dân vẫn diễn ra khắp nơi Chưa có một triều đại nào mà khởi nghĩa nông dân lại diễn ra liên tục như vậy

Thứ ba, về mặt văn hóa, tư tưởng, giáo dục và tín ngưỡng, triều đình

phong kiến nào cũng đưa ra những chính sách giáo dục, tư tưởng nhằm hướng nhân dân của mình theo một hệ tư tưởng và phong tục thống nhất Đó là một trong những phương án nhằm giữ một sự ổn định nhất định trong xã hội thời bấy giờ Ngoài những quy định chặt chẽ về chế độ giáo dục, tư tưởng thì vì những yếu tố mang tính chất lịch sử như sự du nhập của văn hóa phương Tây,

đã tạo nên đời sống văn hóa với những tính chất mới so với trước đây Chính những điều đó đã khiến cho triều đình bối rối khi đưa ra những chính sách giáo

dục và tư tưởng, dẫn tới nhiều mâu thuẫn tư tưởng và tôn giáo trong xã hội

Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn cố tìm mọi cách củng cố địa vị độc tôn của Nho giáo bằng việc hạn chế xây dựng chùa chiền, cấm dân theo đạo Kitô, lập nhà thờ, theo gương nhà Lê ban “mười điều huấn dụ” giao cho các làng xã giảng

giải cho dân, nội dung học tập, thi cử được củng cố

Giai đoạn này, các giáo sĩ Thiên chúa Giáo ra sức truyền giáo Từ khi phong trào cách mạng bắt đầu bùng lên ở châu Âu, một số quan chức thực dân tìm cách dựa vào các giáo sĩ để tạo điều kiện nhảy vào Việt Nam Các giáo sĩ S.Phanlles, Perre (người Việt biết đến ông với cái tên Bá Đa Lộc) đã giúp họ Số giáo dân tăng lên, mâu thuẫn lương – giáo nảy sinh, có lúc gây thành xung đột

Và đây cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc cấm đạo của triều đình, Minh Mạng sau này đã thực hiện chính sách cấm đạo Kitô quyết liệt hơn

Trong khi đó, đạo Phật phát triển bình thường, các tín ngưỡng dân gian ngày càng mở rộng Tục thờ tổ tiên trở thành chung của nhân dân Việt Nhiều

Trang 29

nơi, các giáo sĩ đạo Thiên chúa phải chấp nhận điều này để tiếp tục phát triển

Đầu thế kỷ XIX, Gia Long lên ngôi định tổ chức lại việc giáo dục thi

cử nhưng không làm được Năm 1807 quy chế thi Hương mới được ban hành khoa thi Hương đầu tiên được tổ chức, chủ yếu ở Bắc thành Giáo dục thi cử thời kỳ này sa sút về nhiều mặt so với các triều đại trước

Văn học chữ Hán không còn chiếm ưu thế nữa Văn học dân gian tiếp tục phát triển với nhiều thể loại khác nhau từ tục ngữ phương ngôn đến ca dao,

vè, hát giặm Đặc biệt, những bài thơ dài, dạng sử thi, ca ngợi người anh hùng của mình Cuộc đấu tranh chống phong kiến chống áp bức, bóc lột không chỉ biểu hiện quyết liệt bằng vũ, bạo lực mà cả trên mặt trận văn học

Tóm lại, đất nước ta trongiai đoạn này có những đặc điểm nổi bật sau: Nền hành chính – chính trị còn rời rạc, chưa thống nhất Hạn chế lớn nhất trong bộ máy hành chính thời Gia Long là việc thanh tra kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong triều đình, và giữa triều đình trung ương với quan lại địa phương Nên hiện tượng tiếm quyền, lộng hành quyền lực, gây khó dễ cho người dân diễn ra dai dẳng Có thể thấy, Gia Long định hướng khôi phục lại chế độ quân chủ tập quyền Trong một chế độ quân chủ hiểu theo đúng nghĩa của người phương Đông, nếu không tập quyền được, thì triều đại đó sẽ rất yếu và mầm tan rã luôn được nuôi dưỡng Quân quyền khác với dân quyền

ở chỗ không thể mang ra phân tán được Hơn thế nữa trong cuộc tranh giành ảnh hưởng đối với Cao Miên, Xiêm La, đòi hỏi Gia Long và Minh Mạng phải củng cố chính quyền một cách vững mạnh nhất

Góp phần vào công cuộc giữ gìn kỷ cương của đất nước, bộ luật Gia Long hay cò gọi là Hoàng Việt Luật Lệ đã ra đời Việc ra đời bộ luật này là một bước tiến trong lịch sử phát triển pháp chế Việt Nam, tuy nhiên ngoài những hiệu quả của nó mang lại, thì thông qua công việc đưa bộ luật này vào đời sống của nhân dân, bằng những điều luật quá khắc nghiệt, và những quy

Trang 30

định nặng nề của chế độ binh dịch đã làm cho cuộc sống của nhân dân phần nào trở nên căng thẳng, làm cho nỗi oán hận của nhân dân đối với triều đình ngày càng tăng thêm

Quan hệ ngoại giao với các nước châu Á láng giềng xuất hiện nhiều điểm phức tạp, riêng với Trung Quốc vẫn phải khiêm nhường, và lúc đó đối với nước ta Trung Quốc đương nhiên là cái gương lớn để theo đuổi Trong khi đó, các nước phương Tây đang lần lượt thực hiện các cuộc cách mạng tư sản Triều đình nhà Nguyễn với thái độ e dè miễn cưỡng, trong mối quan hệ đó chúng ta vẫn chưa học hỏi được những thành tựu mà phương Tây đã đạt được

Trong khi đó, chính sách phát triển kinh tế, ổn định đời sống xã hội trong nước nửa đầu thế kỷ XIX chưa mang lại hiệu qua cao Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Xã hội phong kiến thể hiện rõ mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị Điều đó thể hiện rõ ở chỗ nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình đã diễn ra Triều đình vừa phải ổn định chính trị, đối đầu với nguy cơ xâm lược, lại vừa phải đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân trong nước Dẫn đến hậu quả là kinh tế đã chậm phát triển thì tình hình chính trị cũng như quản lý nhà nước, pháp luật vẫn không thể đi vào ổn định Yêu cầu giải quyết đồng thời các vấn đề còn nhiều bất cập, đòi hỏi những chính sách phù hợp với tình hình đó, đó chính là những tiền đề để Minh Mạng đưa ra những chính sách hợp lý hơn sau này

Mâu thuẫn xã hội còn thể hiện trong chính những tác phẩm văn học dân gian mà hàng ngày nhân dân truyền miệng nhau Chứng tỏ đời sống tinh thần của người dân gặp nhiều bất công Đồng thời sự can thiệp quá sâu của triều đình vào tín ngưỡng riêng tư của người dân tạo nên nhiều bức xúc và mâu thuẫn, với chủ trương độc tôn Nho giáo, cấm đạo Kitô, từ đó xã hội xuất hiện những chuẩn mực khác nhau về niềm tin tôn giáo tín ngưỡng, tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc, càng gây nên mất đoàn kết trong nhân dân Điều đó cho

Trang 31

thấy tâm nguyện “quốc thái dân an” của Gia Long vẫn chưa được hoàn thành Những thuận lợi cộng với những khó khăn lúc bấy giờ cũng chính là những điều kiện cho Minh Mạng thể đề xuất và thực hiện những tư tưởng chính cần thiết cho triều đại mình

1.2 TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ TRONG TÁC PHẨM “MINH MỆNH CHÍNH YẾU” CỦA MINH MẠNG

Lênin đã nói “chính trị cũng có cái logic nội tại của nó”, trong khi phản ánh mối quan hệ đương thời, thì đồng thời, tư tưởng chính trị cũng kế thừa những tư tưởng, những học thuyết chính trị xã hội trước đó Do đó, muốn nghiên cứu về tư tưởng chính trị Minh Mạng chúng ta phải tìm hiểu những học thuyết chính trị đóng vai trò là tiền đề lý luận cho nó

1.2.1 Tư tưởng chính trị truyền thống của Việt Nam là nền tảng cho

việc hình thành nên tư tưởng chính trị của Minh Mạng

Sinh ra trong thân phận là một vị Hoàng tử, được học tập và nuôi dưỡng

để có thể trở thành một vị vua, Minh Mạng sớm đã được truyền dạy những tinh hoa văn hóa của dân tộc Nhất là những chiến công hiển hách trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tiếp đến là những chiến lược để gìn giữ nền độc lập chủ quyền của quốc gia

Lịch sử Việt Nam từ khi các vua Hùng dựng nước, mở mang bờ cõi đến nay là lịch sử đấu tranh đầy bi hùng Đầu tiên là các cuộc đấu tranh với thiên nhiên để dựng nước, kế đến là các cuộc đấu tranh với kẻ thù xâm lược

để giữ nước Cuộc đấu tranh cam go, quyết liệt, lúc thành lúc bại nhưng ý chí quật cường, lòng yêu nước sâu sắc luôn dẫn dắt dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng quốc gia Việt Nam giàu mạnh Chủ nghĩa yêu nước trở thành ngọn đèn soi đường dẫn lối cho công cuộc dựng nước của dân tộc

Nó cũng là tư tưởng chi phối toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và

tư tưởng chính trị nói riêng Cùng với quá trình xây dựng và phát triển đất

Trang 32

nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước hình thành những học thuyết chính trị mang những nét riêng với các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tư tưởng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Đây là

một nội dung cốt lõi trong tư tưởng chính trị Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước Xây dựng quốc gia bên cạnh một nước lớn luôn có tham vọng thôn tính các nước nhỏ xung quanh nên cư dân Văn Lang, Âu Lạc đã sớm có ý thức về độc lập tự chủ rất cao Trong thời Bắc thuộc, sự thống trị tàn bạo của ngoại bang càng khiến ý thức, tư tưởng về độc lập, chủ quyền quốc gia trở nên mạnh mẽ, thôi thúc mọi người dân tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại

âm mưu đồng hóa

Ý chí bảo vệ nền độc lập, chủ quyền trở thành động lực tinh thần mạnh

mẽ, đoàn kết toàn dân chống lại mọi kẻ thù Điều đó được thể hiện trong câu

nói khẳng khái của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không

thèm làm vương đất Bắc Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi”; hay quyết tâm đánh giặc cứu nước đại diện cho các bô lão đại

diện cho nhân dân trong hội nghị Diên Hồng ở Bình Than,… Khí thế quyết đánh ấy đã lan tỏa đến mọi người dân tạo thành khối đoàn kết vững chắc mà không kẻ thù nào có thể đánh bại Với sức mạnh đó, chúng ta có quyền tin vào tiền đồ lâu dài của dân tộc “sơn hà nghìn thuở vững âu vàng”

Tư tưởng về chủ quyền quốc gia không chỉ thể hiện ở ý thức đấu tranh chống ngoại xâm, mà còn thể hiện trong quan niệm của người Việt về một quốc gia độc lập, ngang hàng với phương Bắc Ở giai đoạn đầu thời kỳ Bắc thuộc, các cuộc khởi nghĩa mà tiêu biểu là khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đều hướng tới việc khôi phục lại cơ nghiệp của vua Hùng Trong bối cảnh lúc bây giờ, tư tưởng ấy

là một động lực to lớn của công cuộc cứu nước Về sau, xu hướng này mở rộng dần cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội của cư dân Việt Một xu

Trang 33

hướng mới xuất hiện, xu hướng xây dựng một quốc gia độc lập theo mô hình Trung Hoa và có địa vị ngang hàng với các quốc gia phương Bắc

Theo Nguyễn Trãi, một quốc gia độc lập có chủ quyền phải hội tụ bốn yếu tố: lãnh thổ, văn hiến, phong tục và lịch sử Trải qua một quá trình dài phát triển, với ý thức đấu tranh bất khuất, kiên quyết bảo vệ nền độc lập và chủ quyền quốc gia, dân tộc Việt Nam đã đứng vững trước mọi cuộc tấn công của các triều đại phong kiến phương Bắc, xây dựng một quốc gia Việt Nam với những chiến công và thành tựu về mọi mặt

Thứ hai, tư tưởng thân dân, dân là gốc nước Trong bối cảnh chủ

quyền đất nước thường xuyên bị đe dọa bởi nạn ngoại xâm, giai cấp phong kiến Việt Nam luôn đề cao vai trò của người dân trong đường lối chính trị của mình Ý dân trở thành căn cứ, mục đích cho các quyết sách quan trọng của nhà nước phong kiến như thay đổi vương triều, phát động chiến tranh,… Đào Cam Mộc, một công thần nhà Lý đã khuyến khích Lý Công Uẩn lên ngôi

bởi nhà Lê đã không được lòng dân tin theo: “Hiện nay trăm họ qu n bách

không chịu nối mệnh trên Thân Vệ nhân tình thế đó lấy ân đức vỗ về thì người ta tất đua nhau theo về như nước chảy chỗ trũng, ai có thể ngăn được”

[88; tr 235] Lòng dân có theo thì xã tắc mới yên ổn, ngai vàng mới vững Mọi đường lối, chủ trương, mọi quan hệ đối xử của triều đình đều phải căn cứ vào lòng dân Bởi theo ông, các công việc của triều chính đều quan hệ tới dân, đều gây nên một sự phản ứng nhất định Lòng dân ủng hộ thì làm, chống đối thì phải hủy bỏ Dân là gốc nước, sự hưng thịnh hay suy vong của triều đại gắn liền với lòng dân Vì vậy, Nguyễn Trãi, trên cơ sở tổng kết lịch sử, đã rút

ra kết luận: “chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Dân còn là lực lượng cơ bản trong mọi cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Kẻ xâm lược là nước lớn, lực lượng hùng hậu, còn chúng ta chỉ là nước nhỏ, dân ít Muốn giữ nền độc lập không còn cách nào khác là phải dựa vào dân, đoàn kết toàn dân

Trang 34

và phát huy sức mạnh của cả dân tộc Trần Hưng Đạo cho rằng nhân dân là cơ

sở để tiến hành cuộc kháng chiến, vì thế cần phải tranh thủ được sự đồng lòng của nhân dân cả nước, phải “khoan thư sức dân”, đó là thượng sách giữ nước

Chỉ rõ vai trò của dân, nên việc quan tâm đến đời sống, nguyện vọng của dân được xem như là công việc hàng đầu của đạo trị nước Các vua thời

Lý – Trần có mối quan hệ khá gần gũi với dân chúng Ở thời Lý người dân còn được vào điện Long Trì đánh trống kêu oan, vua Lý Anh Tông còn tự mình cày ruộng tịch điền để khuyến khích sản xuất Còn các vua Trần thường xuyên đi xuống các địa phương thăm hỏi về mùa màng, công việc đắp đê, dự các lễ hội đấu vật, đua thuyền Thấu hiểu và đồng cảm với nỗi khổ của người dân, triều đình thường ban hành chính sách giảm, miễn thuế cho người dân, cứu trợ những khi thiên tai, mất mùa

Thứ ba, tư tưởng củng cố quân quyền và quản lý đất nước bằng luật pháp Uy quyền tối cao của vua được tôn trọng là một tiêu chí quan trọng

giúp duy trì sự ổn định trong xã hội Vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn quan tâm củng cố địa vị thống trị của vương triều Viên Thống

quốc sư nhà Lý đã chỉ ra rằng: “Thiên hạ cũng như đồ dùng, đặt chỗ yên thì

được yên, đặt chỗ nguy thì ắt nguy, cốt yếu là hành vi của bậc nhân chủ như thế nào mà thôi” [88; tr 461- 462] Nhận thức được vai trò của mình, các

bậc cầm quyền luôn quan tâm đến việc sửa mình để cai trị đất nước và tỏ ra thận trọng, nghiêm túc trong công việc

Trong bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, tiếp sau ngôi vua là bộ máy quan lại từ trung ương đến địa phương Nên các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi trọng lòng trung thành của bách quan với vương triều Nổi bật nhất là triều Lê, thông qua hệ thống giáo dục Nho giáo của triều Lê đã hình thành nên hệ thống quan lại, sĩ phu có lòng trung thành tuyệt đối với triều đình, thậm chí ngay cả khi nhà Lê đã mất đi vai trò thống trị

Trang 35

Song hành với việc giáo dục lòng trung của bề tôi với vương triều, các triều đại phong kiến cũng thấy được vai trò quan trọng của luật pháp trong việc thiết lập, củng cố trật tự xã hội và bảo vệ sự thống trị của mình Nên việc biên soạn những bộ sách luật cũng nhằm mục đích cai trị đất nước và quản lý

xã hội cũng được đầu tư kỹ càng

Để củng cố địa vị thống trị của mình, bên cạnh việc sử dụng công cụ pháp luật, các triều đại phong kiến Việt Nam còn thâu tóm cả thần quyền Triều đình phong kiến thường dựa vào các luận điểm của Hán nho “quân quyền thần thụ”, vua thay trời hành đạo, kẻ nào không nghe lệnh vua, tức là làm trái ý trời Khi đưa ra các chủ trương chính trị, người ta thường nhắc đến

“ý trời”, biến ông trời thành một người có quyền năng tối cao, quyết định chi phối mọi việc ở trên đời

Tóm lại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp thu tư tưởng chính trị Trung Hoa với lòng tự tôn mãnh liệt, đã “bản địa hóa” nó, làm cho nó mang màu sắc của riêng mình Với sự “dẫn đường chỉ lối” ấy, quốc gia Việt Nam không những có con đường phát triển của riêng mình, mà thậm chí còn đánh bại được

sự xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Hoa bảo vệ nền độc lập chủ quyền của dân tộc Có thể nói, tư tưởng chính trị căn bản, xuyên suốt lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Kể

từ thời Bắc thuộc nó đã là động lực và cũng là mục đích của biết bao cuộc đấu tranh Chính nhu cầu phải bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc mà tư tưởng chính trị Việt Nam qua các thời kỳ luôn hướng tới việc củng cố sức mạnh của chính quyền trung ương Trên thực tế, các triều đại từ Ngô, Đinh, Tiền Lê qua Lý, Trần, Lê sơ luôn cố gắng xây dựng một triều đại thân dân, lấy dân làm gốc chống lại xu hướng cát cứ Nhờ vậy, nhà nước mới có thể huy động được sức mạnh của toàn dân tộc trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Sau thời Lê

Sơ, sự độc tôn Nho giáo bên cạnh những yếu tố tích cực đã để lại nhiều yếu tố

Trang 36

tiêu cực đối với sự phát triển của dân tộc: bộ máy quan lại triều đình ngày càng cồng kềnh; tính chất quan liêu, xa dân, đứng trên dân, thậm chí đối lập với dân luôn tiềm tàng Thực tế lịch sử đã chỉ rõ một thời gian ngắn sau thời thịnh vượng Hồng Đức, nhà Lê nhanh chống rơi vào suy vi, đất nước rơi vào nội chiến và chia cắt Sự chia cắt đó kéo dài mãi đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế Kỷ XIX, khi Gia Long đánh bại quân Tây sơn và làm chủ toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, khởi đầu một triều đại mới

Tư tưởng chính trị của Minh Mạng là sự kế thừa trực tiếp, và hoàn

thiện tư tưởng chính trị của Gia Long Xây dựng vương triều sau 20 năm loạn

lạc, triều Nguyễn càng phải nhanh chóng xây dựng cho mình một đường lối chính trị định hướng cho công cuộc khôi phục và phát triển đất nước Người đặt nền móng tư tưởng chính trị triều Nguyễn là Gia Long - vị vua sáng lập triều Nguyễn Là người đã dành hơn 20 năm để chống lại phong trào Tây Sơn với mong muốn khôi phục lại cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở đàng Trong, nhưng kết cục, Gia Long lại làm chủ được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam rộng lớn, đồng thời, điều này cũng mang lại cho triều đại ông những thách thức mà

chưa triều đại nào gặp phải

Tư tưởng chính trị của Gia Long thể hiện trước hết ở đường lối ngoại giao khéo léo vơi nhà Thanh và các nước phương Tây nhằm xác lập, củng cố

sự thống trị của mình và bảo vệ quyền lợi của quốc gia Trong mối quan hệ với nhà Thanh, quan điểm của Gia Long là “trong đế ngoài vương” bên ngoài thì xưng vương nhưng bên trong thì xưng đế, tuy mang danh nghĩa là thuần phục, song thực ra là một nước hoàn toàn độc lập

Song song với việc củng cố địa vị thống trị, Gia Long cũng thực thi nhiều chính sách có tính hòa giải nhằm ổn định lòng người và tạo lập niềm tin của người dân với triều đình mới Đây là bài học rút ra từ thực tiễn lịch sử Việt Nam

mà Gia Long đã khái quát lại là “trị nước lấy được lòng dân làm gốc”

Trang 37

Song hành với những chính sách trên, Gia Long cũng bắt tay ngay vào công cuộc phục hồi kinh tế để ổn định đời sống của nhân dân Ông đề ra nhiều biện pháp nhằm khôi phục lại sản xuất nông nghiệp, lôi kéo người dân quay trở lại với ruộng đồng Để ổn định cuộc sống người dân, thiết lập lại trật tự xã hội, ông cũng cho xây dựng bộ luật mới trên cơ sở tham khảo luật Hồng Đức và luật của nhà Thanh, gọi là Hoàng Việt Luật Lệ còn gọi là luật Gia Long

Tiếp theo, Gia Long bắt tay vào xây dựng bộ máy nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm quản lý đất nước về mọi mặt Gia Long đã lựa chọn cho mình những chính sách mềm dẻo chấp nhận tạm thời thực trạng hiện tại, đồng thời thực hiện nhiều biện pháp cứng rắn nhằm chấm dứt ảnh hưởng của các triều đại trước, xây dựng đất nước thống nhất mang nét riêng của mình

Để quản lý đất nước rộng lớn, Gia Long nhanh chóng tổ chức các kỳ thi

để kén chọn người tài ra giúp nước Khắc phục tình trạng thiếu người có kinh nghiệm quản lý đất nước, ông sử dụng nhiều nhà khoa bảng thời Lê trong bộ máy chính quyền của mình Điều này, một mặt giúp ông có thể quản lý tốt đất nước bởi họ là những người có kinh nghiệm; mặt khác nó cũng giúp ông tạo dựng niềm tin đối với tầng lớp sĩ phu trong xã hội dù học xuất thân tư triều đại trước, nhưng nếu họ là người tài đức thì triều đình mới sẵn sàng chấp nhận

Có thể nói, Gia Long là nhà chính trị có tài Trong suốt 25 năm chống lại triều Tây Sơn, ông chưa bao giờ bỏ cuộc, dùng đủ mọi cách để khôi phục

cơ nghiệp, thậm chí là cầu viện nước ngoài Ông là kẻ mở đường cho quân Xiêm xâm lược Việt Nam; sau đó lại thông qua Bá Đa Lộc ký hiệp ước Vecxay nhượng Hội An, Côn Đảo để đổi lấy sự giúp đỡ của người Pháp trong cuộc chiến chống lại Tây Sơn Dù sau đó hiệp ước này không được thi hành, song nó đã gây nên mầm mống họa xâm lăng cho đất nước Ở góc độ này, ông là tội nhân của cả dân tộc, và vương triều do ông sáng lập đã gặp vô vàng khó khăn để thu phục “nhân tâm”, để khẳng định sự thống trị của mình Song

Trang 38

khi xây dựng vương triều mới, ông đã dồn tâm sức khôi phục lại đất nước đã kiệt quệ bởi chiến tranh, đồng thời cố gắng khắc phục hậu quả của hành động

“rước voi về dày mả tổ” của mình, xây dựng lại lòng tin của người dân vào triều đại Ở khía cạnh này, bằng những chính sách mềm dẻo nhưng cương quyết, ông từng bước khắc phục những khó khăn, mà thực tiễn đặt ra, nhanh chóng ổn định nhân tâm, ổn định trật tự xã hội, bước đầu khôi phục nền kinh

tế, tạo nền móng vững chắc cho Minh Mạng phát triển đất nước xây dựng hệ

tư tưởng cho cả vương triều Những chính sách ấy chính là sự hiện thực hóa

tư tưởng chính trị của ông về vai trò của dân, về kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong đường lối trị nước

Tư tưởng chính trị của triều Nguyễn được tiếp tục được bổ sung, phát triển đến đỉnh cao bởi Minh Mạng, người kế vị Gia Long Với tư cách là một

vị vua tiếp nối lịch sử xây dựng và phát triển đất nước của các triều đại phong kiến Việt Nam, Minh Mạng luôn thấm nhuần những tư tưởng truyền thống của dân tộc, từ đó từng chính sách cai trị của mình sau này đều là tấm gương phản chiếu từ tinh thần độc tập dân tộc, và chủ quyền quốc gia Đồng thời nó còn là sự kế thừa tư tưởng thân dân từ hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhằm vào mục đích xây dựng một quốc gia hùng mạnh yên bình dựa trên thống nhất quyền lực, tập trung quân quyền, và tôn trọng kỷ cương phép nước thông qua hệ thống giáo dục và pháp luật

1.2.2 Nho giáo và Pháp trị với việc hình thành tư tưởng chính trị của Minh Mạng

Tư tưởng chính trị của Minh Mạng không chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở đặc điểm và nhu cầu của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nửa đầu thế kỷ XIX, mà còn là sự kế thừa dung hợp những tiền đề tư tưởng chính trị của một số học thuyết chính trị của Trung quốc cổ đại, trong đó, tư tưởng của Nho giáo ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Minh Mạng là

Trang 39

người sùng tín nho học Khổng Mạnh Ông kế thừa tư tưởng đức trị Nho giáo, đồng thời cũng đề cao đường lối pháp trị của Pháp gia Tạo nên một đường lối trị nước trị với sự kết hợp hài hòa giữa đức trị và pháp trị

Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử (551 – 479 TCN) sáng lập Ông là người dày công sắp đặt, hệ thống hóa và khẳng định những tư tưởng, nguyên lý của đạo Nho, những bài học kinh nghiệm của đạo trị nước ở các triều đại trước đây Những nội dung cơ bản trong tư tưởng chính trị Nho giáo đã được Khổng Tử định hình và tiếp tục được Mạnh Tử, Tuân Tử phát triển thêm Từ thời Hán trở đi, Nho giáo chính thức trở thành nền tảng tư tưởng, phương hướng hoạt động của các triều đại phong kiến Trung Hoa Để phù hợp với vai trò này, tư tưởng chính trị của Nho giáo có thêm sự bổ sung mới nhưng theo hướng loại bỏ những yếu tố tích cực nhằm bảo vệ địa vị thống trị của giai cấp phong kiến và trật tự xã hội

Qua tiến trình hình thành phát triển của Nho giáo, những giá trị của Nho giáo luôn được bổ sung, kế thừa để đáp ứng với yêu cầu lịch sử nhất định Những giá trị tư tưởng chính trị - đạo đức ấy đã chi phối đời sống chính trị, xã hội các nhà nước phong kiến Trung Hoa nói chung và có ảnh hưởng không nhỏ đến các triều đại phong kiến Việt Nam

Tư tưởng chính trị Nho giáo thể hiện trước hết trong quan niệm về vị trí và vai trò của bậc cầm quyền Vua trong quan niệm của Nho giáo là người có tài đức, được trời trao sứ mệnh để trị dân, giáo dân Do đó, vị trí của vua là cao nhất, quyền uy của vua là tuyệt đối bao trùm khắp thiên hạ Mọi thần dân phải chịu sự thống trị của vua Vua là những bậc hiền tài, đức

độ, hợp ý trời, được lòng dân nên “quốc thái, dân an” Với tư cách là kẻ nhận mệnh trời mà trị dân, trách nhiệm của thiên tử là phải chăm lo đời sống của người dân, biết lựa chọn và sử dụng người tài, sinh hoạt thì phải tiết kiệm, phải “vui cái vui của thiên hạ, lo cái lo của thiên hạ” Để làm tròn

Trang 40

trách nhiệm của bậc thiên tử phải dùng điều nhân nghĩa để trị thiên hạ Đường lối trị nước ấy chính là “đức trị”

Đức trị là đường lối trị nước dựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đạo đức theo các nhà Nho, là công cụ hữu hiệu nhất để có thể đưa xã hội từ loạn thành trị, giúp xã hội ổn định bằng cách hình thành các chuẩn mực đạo

đức mà con người buộc phải tuân theo Theo Khổng Tử “muốn d n dắt dân

chúng nhà cầm quyền phải dung đức hạnh; muốn trị dân nhà cầm quyền phải dùng lễ tiết” Những biện pháp chủ yếu để thực hiện đức trị là: dùng lễ, đạo

nhân và thực hành chính danh; đồng thời đề cao đạo đức và sự tu dưỡng đạo đức của bậc cầm quyền; biện pháp thứ ba là đề cao vai trò của nhân dân

Ở Trung Quốc, tư tưởng chính trị Nho giáo hợp thành và biến thái qua từng thời kỳ với nội dung chủ yếu là đẳng cấp tôn ty, nhà nước tập trung chuyên chế, toàn trị, hợp dung lễ pháp, nhằm đưa con người vào trong giới hạn khắt khe của lễ, tiết chế bản tính con người, giữ con người trong trật tự lý tưởng cả ở trong gia đình và ngoài xã hội Từ đó, đảm bảo cho xã hội được tổ chức có trật tự, kỷ cương, cũng như khẳng định quyền lực của vua quan phong kiến Tư tưởng chính trị Nho giáo, vì thế trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Nho giáo Trung Quốc đã bắt đầu

du nhập vào Việt Nam Tư tưởng Nho giáo thời kỳ này như một lớp ván mỏng trên bề mặt xã hội Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIV, tư tưởng chính trị Nho giáo bám rễ và phát triển trong lòng xã hội Đại Việt Đó cũng là cơ

sở cho việc hình thành nên nhà nước trung ương tập quyền, tạo ra mối liên

hệ xã hội vững chắc, phù hợp với một xã hội nông nghiệp tự cung, tự cấp mà

tư tưởng chính trị Nho giáo sẽ nhanh chóng trở thành hệ tư tưởng thống trị nhà nước vào thế kỷ XV, dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông (1460-1497),

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn (2005), Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới, Nxb. Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới
Tác giả: Đỗ Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Cơ, Phan Ngọc Liễn
Nhà XB: Nxb. Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
7. Tôn Thất Bình (2001), Triều đại nhà Nguyễn, Nxb. Ðà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều đại nhà Nguyễn
Tác giả: Tôn Thất Bình
Nhà XB: Nxb. Ðà Nẵng
Năm: 2001
8. Tôn Thất Bình (2001), 12 danh tướng triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, Huế 9. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại cương triết học Trung Quốc,Tập 1, Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 12 danh tướng triều Nguyễn", Nxb. Thuận Hóa, Huế 9. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê (2004), "Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Tôn Thất Bình (2001), 12 danh tướng triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, Huế 9. Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 2004
10. C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 4 (1998), Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 4 (1998)
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 4
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc Gia
Năm: 1998
11. Doãn Chính (chủ biên) (1994), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1994
12. Doãn Chính (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
13. Doãn Chính (chủ biên) (1999), Kinh dịch tân giải, Nxb. TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh dịch tân giải
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. TP. HCM
Năm: 1999
14. Doãn Chính (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kỳ dựng nước đến đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2013
15. Doãn Chính (2010), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ Cổ đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ Cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
16. Doãn Chính (chủ biên) (2012), Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
17. Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
18. Doãn Chính, Nguyễn Văn Trịnh (2005), Tư tưởng pháp trị và pháp gia với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng pháp trị và pháp gia với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Doãn Chính, Nguyễn Văn Trịnh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Doãn Chính (chủ biên) (2007), Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
20. Doãn Chính - Trương Văn Chung (đồng chủ biên) (2008), Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần
Tác giả: Doãn Chính - Trương Văn Chung (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2008
21. Đoàn Trung Còn (dịch) (2010), Tứ thư, Nxb. Thuận Hóa. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư
Tác giả: Đoàn Trung Còn (dịch)
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa. Huế
Năm: 2010
22. Đảng cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1987
23. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
24. Bùi Xuân Đính (2004), Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam – những suy ngh m, Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam – những suy ngh m
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: Nxb. Tƣ pháp
Năm: 2004
25. Trịnh Hoài Đức, (2004), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng, Huỳnh Văn Tới (dịch), Nxb. Tổng hợp, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
Tác giả: Trịnh Hoài Đức
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp
Năm: 2004
26. Trần Văn Giàu (2001), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w