1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nhân lực ở nhật bản kinh nghiệm cho phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông cửu long

156 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào Tạo Nhân Lực Ở Nhật Bản – Kinh Nghiệm Cho Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Tác giả Dương Thanh Mai
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tiến Lực
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Châu Á Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau chiến tranh thế giới II, các hệ thống và học thuyết về đào tạo nguồn nhân lực Âu Mỹ được du nhập vào Nhật Bản, cùng với nó là những giá trị được “nội hóa” như: hệ thống kiểm tra chất

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƯƠNG THANH MAI

ĐÀO TẠO NHÂN LỰC Ở NHẬT BẢN – KINH NGHIỆM CHO

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN

LỰC Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH CHÂU Á HỌC

MÃ SỐ: 60.31.50

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN TIẾN LỰC

TP HỒ CHÍ MINH –2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Lý do chọn đề tài 1

Lịch sử nghiên cứu đề tài 5

Mục đích nghiên cứu 8

Đối tượng nghiên cứu 8

Phạm vi nghiên cứu 9

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9

Đóng góp của đề tài 10

Bố cục luận văn 10

CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

I.1 Cơ sở lý luận 11

I.1.1 Khái niệm về nguồn lực, động lực phát triển, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân lực 11

I.1.2 Tính kinh tế và tính xã hội của nguồn nhân lực 17

I.1.3 Tính tất yếu và tính hệ thống trong việc đào tạo nguồn nhân lực 20

I.1.4 Yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong việc đào tạo nguồn nhân lực 21

I.1.5 Vai trò của việc đào tạo nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội 23

I.2 Cơ sở thực tiễn 25

I.2.1 Nhật Bản: Đất nước và con người 25

I.2.2 Tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nhật 26

Tiền đề kinh tế: 26

Tiền đề văn hóa xã hội 27

Tiền đề chính trị 27

I.2.3 Sự khai sáng từ học thuyết Fukuzawa Yukichi 27

I.2.4 Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của chính phủ các thời kz 31

Chính phủ Yoshida Shigeru (1950) 31

Chiến lược của chính phủ Fukuda (1977) 33

Chiến lược của chính phủ Hashimoto (1997) 34

Trang 3

CHƯƠNG II: CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 36

II.1 Chính sách thu hút và đào tạo nguồn nhân lực 36

II.1.1 Chính sách làm việc suốt đời 36

II.1.2 Chính sách đào tạo 41

II.1.3 Chính sách quản lý 48

II.1.4 Đào tạo nguồn nhân lực thông qua cải cách giáo dục 52

II.1.4.1.Tiền đề 52

II.1.4.2 Chủ thuyết từ chính phủ 52

II.1.4.3 Cải cách giáo dục tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng toàn cầu hóa 60

II.1.5 Đào tạo nhân lực qua các phương thức R&D và thu tóm công nghệ 64

II.1.5.1 Hoạt động R&D 65

II.1.5.2 Cuộc đào tạo nhân lực thông qua R&D và thu tóm khoa học kỹ thuật nước ngoài dưới sự chỉ đạo của MITI 67

II.1.6 Chính sách đào tạo nhân lực dự trữ ở các nước phát triển sau 77

II.2 Đào tạo nguồn nhân lực phân chia theo ngành 77

II.2.1 Ngành giáo dục 77

II.2.2 Ngành y tế 88

II.2.3 Ngành công nghiệp chế tạo máy 93

II.3 Đào tạo nguồn nhân lực phân chia theo trình độ 95

II.3.1 Hệ thống trường đại học và chuyên sâu 95

II.3.2 Hệ thống trường chuyên môn (nghề) và cao đẳng 97

II.4 Thành quả của cuộc đào tạo nguồn nhân lực 98

II.5 Hạn chế và hệ lụy phát sinh 103

Đặc điểm cuộc đào tạo nhân lực ở Nhật Bản khi đặt vào hệ thống khu vực Đông Bắc Á 105

Tiểu kết chương 106

CHƯƠNG III: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - BÀI HỌC TỪ NHẬT BẢN 109

III.1 Tiền đề kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long 109

III.1.1 Tiền đề xã hội 109

III.1.2 Tiền đề kinh tế 111

III.2 Nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long 113

Trang 4

III.2.1 Ngành giáo dục 113

III.2.2 Ngành y tế 114

III.2.3 Ngành nông lâm ngư nghiệp 114

III.2.4 Chất lượng nhân lực của đồng bằng sông Cửu Long 114

III.2.4.1 Năng suất và chất lượng 114

III.2.4.2 Đáp ứng đào tạo của trường đại học với nhu cầu doanh nghiệp - Bằng chứng thực nghiệm 118

II.2.4.3.Thị trường lao động 121

III.3 Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản 124

III.3.1 Cải cách giáo dục có định hướng nhân lực theo cơ cấu ngành 124

III.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực quyết liệt trong giai đoạn dân số vàng để vượt bẫy thu nhập trung bình .127

III.3.3 Chống tha hóa con người .132

II.4 Các khuyến nghị 134

III.4.1 Cấu trúc mới cho giáo dục 134

III.4.2 Xóa “vùng trũng giáo dục” đồng bằng sông Cửu Long 135

III.4.3 Chính sách thu hút nhân tài 136

III.4.4 Hệ thống trường nghề phục vụ kinh tế vùng 136

III.4.5 Thu tóm khoa học công nghệ 136

Tiểu kết chương 138

KẾT LUẬN 139

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

Trang 5

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Nhật Bản là một quốc đảo ở Đông Bắc Á, nghèo tài nguyên thiên nhiên, thường xuyên hứng chịu những cơn bão lớn, sóng thần và động đất Khoảng 67% diện tích đất của Nhật Bản là rừng núi Nhật Bản ngăn cách về địa lý với các quốc gia khác bởi biển

Trong quá trình lịch sử, sự khó khăn, nghèo tài nguyên và thiên tai thường xuyên đã tạo cho dân tộc Nhật tính cách yêu quý cuộc sống, yêu lao động, yêu thiên nhiên Người Nhật nhận ra rằng nguồn lực con người là tài nguyên quý báu nhất để phát triển đất nước

Sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực là một giá trị mang tính nhân loại, từ thời

cổ đại đến nay, ở quốc gia nào cũng có Ở Nhật Bản, sự nghiệp này cũng trải dài qua các thời kỳ, đặc biệt phát triển mạnh từ thời Minh Trị Duy Tân (1868) với câu

nói nổi tiếng của ông “học phương Tây, đuổi kịp phương Tây và vượt phương

Tây”; học thuyết “thoát Á luận” của Fukuzawa Yukichi, với các tác phẩm: Khuyến học (学問の進め), Khái lược luận thuyết về văn minh (文明論の概略), Tình hình

châu Âu (西洋事情), Phúc ông tự truyện (副王自伝) Fukuzawa là nhà cải cách

giáo dục, nhà tư tưởng lớn Tư tưởng của ông ảnh hưởng rất lớn ở Nhật Bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tạo tiền đề cho Nhật Bản phát triển mọi mặt tiềm lực con người, góp phần đưa đất nước tiến lên trở thành cường quốc trước chiến tranh thế giới II

Sau chiến tranh thế giới II, các hệ thống và học thuyết về đào tạo nguồn nhân lực Âu Mỹ được du nhập vào Nhật Bản, cùng với nó là những giá trị được “nội hóa” như: hệ thống kiểm tra chất lượng (QC và TQC), tinh thần và năng lượng của nhóm nhỏ, đề cao giá trị cá nhân và thúc đẩy cá nhân sáng tạo, quản lý nhân lực, đào tạo nhân lực tại chỗ trong công ty,… đã làm cho tất cả tiềm năng khổng lồ từ con người Nhật Bản được khai thác và phát huy Cải cách giáo dục và bộ luật giáo

dục 1947 với hệ thống cấp học 6-3-3-4 cũng tạo nên thế hệ dankai (sinh ra sau

chiến tranh) rất năng động, tự lập, luôn khao khát học hỏi, được kỳ vọng như “lứa

Trang 6

gà đẻ trứng vàng”, tạo dựng lại tương lai đất nước, đem lại thành công cho Nhật Bản Luật khuyến khích phát triển nguồn nhân lực (1949) tạo điều kiện cho các công ty và chính quyền các tỉnh mở các trường nghề chuyên biệt, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, phục vụ nhu cầu tại chỗ của dây chuyền sản xuất và kỹ thuật trong công ty, phục vụ chiến lược nghiên cứu khoa học của các công ty và các tỉnh Bộ luật này, cùng sự trợ giúp đắc lực của MITI về chính sách, đã tạo cho Nhật Bản có nguồn nhân lực kỹ thuật cao, không lãng phí thời gian học những vấn đề không phù hợp với công việc Luật khuyến khích học tập suốt đời (1971) cổ vũ cá nhân học tập, cống hiến sáng tạo cá nhân vào sự phát triển của công ty, thông qua hoạt động của các nhóm nhỏ; cổ vũ sự nở rộ của các trường nghề và xã hội hóa giáo dục Nhật Bản cũng đề ra chiến lược phát triển nhân lực phục vụ kinh tế cho từng thời kỳ như: chiến lược đuổi kịp, chiến lược hồi sinh… Từ vị trí đế quốc phát xít bại trận, hoang tàn, Nhật Bản đã dũng cảm vươn lên, bỏ lại hoàn toàn quá khứ quân phiệt, đoạn tuyệt sự trì trệ bảo thủ của văn hóa phương Đông để tiến lên vị trí cao thứ hai thế giới, làm thế giới thán phục Đặc biệt lưu ý là, phát triển và đào tạo nhân lực ở Nhật Bản là cả một hệ thống chính sách của chính phủ và Đảng cầm quyền,

do vậy có tính liên tục và ngày càng hoàn thiện

Một xã hội tiến bộ là xã hội mang lại được lợi ích cho số đông, cho đa số Trải qua các thời kỳ lịch sử và các kiểu hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, nguyên nhân sâu xa của sự đổi thay xã hội, xét cho cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX) LLSX thì lại luôn phát triển, là quá trình lịch sử tự nhiên Trong LLSX, yếu tố động nhất và có tính cách mạng nhất - là công cụ lao động - thì lại là sản phẩm của bộ óc con người Con người vừa là yếu tố thứ hai của LLSX, vừa là chủ thể tạo ra yếu tố động nhất của LLSX Quá trình lao động là quá trình con người sinh tồn, cùng lúc sáng tạo trí tuệ không ngừng vì muốn cải tiến công cụ lao động tạo năng suất cao hơn, vươn tới tự do, thực hiện khát vọng được làm người Thông qua đó các mặt của quan hệ sản xuất đòi hỏi phải có sự thay đổi để thích ứng Do vậy, ở mọi chế độ chính trị, mọi xã hội, thì phải có chính sách trọng dụng

và đãi ngộ người hiền tài trí thức để tiếp tục sáng tạo ra công cụ lao động Phân chia sản phẩm - tức phân chia lợi ích - ở góc độ giải quyết việc làm và tiền lương thỏa đáng, chính là trọng dụng và đãi ngộ Về thực chất, đó là chính sách khai thác, tận

Trang 7

dụng hiệu quả nguồn lực con người của đất nước Thực tế lịch sử cho thấy rằng, những nước có chính sách trọng dụng đãi ngộ nhân lực và sử dụng được nguồn lực con người hiệu quả thì đất nước phát triển rất nhanh: Nhật Bản vươn lên thứ hai thế giới chỉ trong giai đoạn ngắn 1946-1973 Singapore, Đài Loan… cũng là những nước châu Á nhỏ bé về địa lý, nghèo tài nguyên, đã vươn lên nhanh chóng nhờ biết khai thác nguồn lực con người Đó chính là động lực cho sự phát triển xã hội

Ngày nay, để phát triển xã hội, chỉ có cách duy nhất là dựa vào tài nguyên tri thức - tức nguồn lực con người - là nguồn lực vô tận chưa khai thác hết Khai thác tài nguyên khoáng sản, rừng và biển rồi cũng hết, cạn kiệt mà còn ô nhiễm môi trường, không bền vững Khai thác nguồn lực con người không những bền vững không cạn kiệt, mà càng khai thác càng sử dụng, thì thứ tài sản ấy càng giàu hơn (đối với từng cá nhân), còn đối với cả xã hội thì xã hội phát triển rất nhanh Nhận thức và trí tuệ con người ngày càng sâu, không bảo thủ, xã hội tiến bộ nhanh và bền vững, mặt khác giá trị phát minh khoa học và trí tuệ lấy về là vô giá Người lao động thông qua việc học hành, khao khát cống hiến và phát minh, trước là cầu no

ấm giàu có cho chính mình, sau là cả xã hội trở nên giàu có, vì các phát minh và hoạt động trí tuệ của mỗi cá nhân đều chứa đựng khát vọng của chính họ về dân chủ, về khát vọng được làm người, được sống đời sống tốt đẹp hơn

Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa trên cơ sở cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cần chuyển dịch cơ cấu lao động từ hàm lượng giản đơn cao sang hàm lượng trí tuệ và kỹ năng tay nghề cao; trong khi cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ Đây là mâu thuẫn chủ yếu của các nền kinh tế đang phát triển Nghị quyết Đại hội XI của Đảng cộng sản

Việt Nam chỉ rõ: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu: nâng cao năng lực khoa học, công nghệ; đổi mới cơ chế quản lý; đẩy mạnh nghiện cứu ứng dụng… Phát triển kinh tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ; xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng khoa học, công nghệ, trước hết là công nghệ

Trang 8

thông tin, truyền thông, công nghệ tự động, nâng cao năng lực nghiên cứu - ứng dụng gắn với phát triển nguồn lực chất lượng cao”1

Trong công cuộc phát triển nguồn nhân lực, giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ có vị trí đặc biệt quan trọng Nhận thức toàn diện và sâu sắc về vai trò, nhiệm vụ, nội dung, quy luật vận động của nó sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóa diễn ra từ gốc rễ và toàn diện

Văn kiện Đại hội XI nêu rõ: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức

mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”2

, và “Phải đổi mới

căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực quan trọng đối với cả nước về kinh tế

và chính trị Người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 10% dân số Các tộc người chủ yếu: Kinh, Khmer, Chăm và Hoa Đồng bằng sông Cửu Long có nền văn hóa đa dạng, bao dung, đa tôn giáo và đa tộc người Tiềm năng của đồng bằng sông Cửu Long rất to lớn nhưng chưa được khai thác hợp lý, chưa đảm bảo bền vững môi trường, công nghệ thô sơ, chưa có hiệu quả kinh tế cao Nguồn nhân lực chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn là phục vụ kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp của vùng, và chưa chuyển dịch hiệu quả lên hàm lượng kỹ năng tay nghề cao, đang bị lãng phí

Trong chuyến thăm cấp cao của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (30/10 - 2/11/2011) đến Nhật Bản, bản tuyên bố chính thức nhấn mạnh

“tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực trong kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, bày tỏ mong muốn đẩy mạnh trao đổi và nghiên cứu khoa học giữa các trường đại học hai nước và đề nghị phía Nhật Bản tiếp tục hỗ

1Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Nxb CTQG, H.2011, tr 218 - 220

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.77

Trang 9

trợ Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm việc xem xét phát triển trường đại học chất lượng cao tại Cần Thơ, Việt Nam” 3

Như vậy là đã có hệ thống lý luận, chủ trương của Chính phủ về phát triển nguồn nhân lực; từ yêu cầu thực tiễn và bức thiết của thời đại về phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long, tận dụng cơ cấu dân số vàng nước ta đang

có Sự nghiệp này của đồng bằng sông Cửu Long sẽ được nhiều gợi ý hơn nếu rút

ra được những bài học kinh nghiệm từ thành công của Nhật Bản trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, đánh thức được tiềm năng trí tuệ con người, tận dụng sức lao động trẻ dồi dào và khai thác được tài nguyên đất, nước, tài nguyên biển, rừng

ở một vùng được thiên nhiên ưu đãi, màu mỡ, giàu sản vật như đồng bằng sông

Cửu Long Vì thế, tôi chọn đề tài: Đào tạo nhân lực ở Nhật Bản – kinh nghiệm cho phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài này, có rất nhiều sách và tài liệu chuyên khảo, vì phát triển nguồn nhân lực là điều kiện cần, nằm trong chiến lược của Chính phủ các quốc gia để thúc đẩy đất nước phát triển Chiến lược đào tạo nhân lực ở Nhật Bản góp phần đưa Nhật Bản trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại Các quan điểm

và học thuyết về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực của Âu Mỹ và ảnh hưởng một cách có hệ thống vào Nhật Bản ngay từ thời Minh Trị và trải dài đến nay, qua những xu hướng biến đổi và các cách tiếp cận khác nhau, là nguồn tài liệu quý Có thể điểm qua một số sách của các tác giả sau:

Nhóm sách cung cấp các vấn đề về lý luận phát triển nguồn nhân lực, phát

triển con người, có: Hồ Sĩ Quý: Con người và phát triển con người – giáo trình cho

sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành triết học; NXBGD, 2007; Bùi

Văn Nhơn: Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội; NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006; Hồ Bá Thâm: Khoa học con người và phát triển nguồn nhân lực; NXB Tổng

hợp TPHCM, 2003; Phạm Minh Hạc (Cb), Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi:

Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực – niên giám nghiên cứu số 3; NXB

3

Trích mục 5, Tuyên bố chung Việt Nam và Nhật Bản, 11/2011

Trang 10

KHXH, Hà Nội, 2004; Nguyễn Công Bình (Cb): Đồng bằng sông Cửu Long –

nghiên cứu phát triển; NXB KHXH, Hà Nội, 1995 Nội dung các quyển sách này

được tiếp cận dưới góc độ khoa học phát triển, hướng về phát triển con người và nguồn nhân lực

Nguyễn Đình Luận – LA TS 2003: phát triển nguồn nhân lực đồng bằng

sông Cửu Long giai đoạn 2003 – 2010 Luận án này có ưu điểm là đã dùng các hàm

toán học để tính cơ cấu nguồn nhân lực theo trình độ; theo nhóm nghề nghiệp; theo lứa tuổi; dự báo cơ cấu dân số, cơ cấu nguồn nhân lực vùng đến 2020 Hàm lượng

lý thuyết trong luận án làm cơ sở cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực vùng khá đầy đủ và sắc sảo Tác giả đưa ra ba nhóm giải pháp cơ bản để phát triển nguồn

nhân lực về mặt chất lượng, dựa trên luận cứ khoa học, là: thúc đẩy giáo dục đào

tạo; khoa học công nghệ; và môi trường văn hóa xã hội Tuy nhiên, tác giả luận án

theo chuyên ngành kinh tế học, nên tiếp cận dưới góc nhìn kinh tế, chưa lột tả đầy

đủ giá trị của việc phát triển nguồn nhân lực theo khoa học phát triển con người, theo đó con người là chủ thể quyết định nhất, sáng tạo ra công cụ lao động – yếu tố động nhất của LLSX, là nguồn gốc cải biến mọi sự thay đổi trong xã hội Tác giả cũng chưa bám thật sâu được vào những nét đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long khi đưa ra các nhóm giải pháp, như phần nhận xét của các GS phản biện LA này là một trong những công trình hiếm hoi về phát triển nguồn nhân lực đồng bằng sông Cửu Long, và nội dung không đề cập đến Nhật Bản

Phạm Quý Long: Quản lý nguồn nhân lực ở doanh nghiệp Nhật Bản và bài

học kinh nghiệm cho doanh nhân Việt Nam; NXB KHXH, Hà Nội, 2008 Nội dung

nói về mô hình quản lý nguồn nhân lực (HRM) trong doanh nghiệp Nhật Bản từ sau chiến tranh đến nay Tác giả đã trình bày có hệ thống về khái niệm, vai trò quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp; các tư tưởng và thuyết quản lý lao động của

Âu Mỹ đầu thế kỷ XX ảnh hưởng vào Nhật Bản như thế nào; yếu tố truyền thống

có vai trò quan trọng; nội dung cụ thể và các xu hướng biến đổi chủ yếu trong nội dung HRM từ 1990 đến nay Tác giả nêu một số bài học rút ra từ nghiên cứu mô hình Nhật Bản, cùng các điều kiện để có thể vận dụng vào quản lý nguồn nhân lực

ở doanh nghiệp Việt Nam

Trang 11

Nhóm sách nêu mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực, nội dung phát triển nhân lực thông qua giáo dục - đào tạo

của Nhật Bản, rút ra bài học thực tiễn, gồm: Lê Thị Ái Lâm: Phát triển nguồn nhân

lực thông qua giáo dục và đào tạo – kinh nghiệm Đông Á; NXB KHXH, Hà Nội,

2003; Đặng Thị Thanh Huyền: Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn

nhân lực – Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản; NXB KHXH, Hà Nội, 2001;

Trung tâm nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực – nhiều tác giả: Từ chiến lược phát

triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực; NXBGD, 2002

Sách về hệ thống quản trị nguồn nhân lực của Nhật Bản, có: Masa Aki Imai

(Nguyễn Khắc Tình và Trịnh Thị Ninh biên soạn lại): Kaizen – chìa khóa của sự

thành công về quản lý của Nhật Bản; NXB TPHCM, 1992 Quyển sách giới thiệu

tính ứng dụng cao của hệ thống quản lý nhân lực ở Nhật Bản (Kaizen), nhấn mạnh đến: 1)hệ thống kiểm tra chất lượng của Nhật (QC) và tính hiệu quả của nó, thông qua đó mà nguồn nhân lực liên tục được đào tạo mới từng giờ, không để một sản phẩm lỗi nhỏ nào chạy qua vị trí của người công nhân trong mắt xích sản xuất, từ

đó tạo ra chuỗi giá trị kinh tế khổng lồ dựa trên sự chính xác và tiết kiệm của máy móc; 2) cách giải quyết vấn đề có hệ thống dựa trên dữ liệu, dữ kiện được lập hàm toán học để thống kê (TQC); 3)quy luật bánh xe Deming Kaizen hướng đến tập thể, hoạt động của các nhóm nhỏ, quản lý con người theo chức năng chéo, kiểm tra

và thúc đẩy tính sáng tạo của nhân viên Quyển sách đã lột tả việc đào tạo nguồn nhân lực chú trọng đến tinh thần nhóm kiểu Nhật Bản, luôn được đào tạo tại chỗ, phân loại trình độ tại nguồn để tiết kiệm thời gian, mang tính thực tiễn cao, phục vụ ngay cho cỗ máy kinh tế Nhật Bản

Nhóm sách tiếp cận về quản trị nhân sự trong công ty Nhật Bản dưới góc độ

văn hóa truyền thống có: Nguyễn Đình Hiển, Hải Minh: Quản trị kinh doanh, quản

trị nhân sự trong công ty Nhật Bản; NXB TPHCM, 1994; V.A.Pronnicov,

I.D.Ladanov: Tuyển chọn và quản lý công nhân viên chức ở Nhật Bản; Dịch giả:

Nguyễn Viết Trung, NXB ĐH và GD chuyên nghiệp, HN, 1991 Các nhóm tác giả chú ý đến những nhân tố truyền thống ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn nhân lực như tính cố kết cộng đồng, tinh thần võ sĩ đạo, sự trung thành và cảm thức thẩm mỹ cao, yêu thiên nhiên, ưa thích sự tỉ mỉ… Các tác giả cũng chú ý đến thuyết “con

Trang 12

người xã hội” trong đó nhấn mạnh đến việc quan tâm nhu cầu tình cảm, tâm tư nguyện vọng của người lao động như là lực đẩy giúp họ làm việc với năng suất cao hơn

Nhóm sách cho cái nhìn chi tiết về cơ cấu xã hội truyền thống, và nền giáo dục tiên tiến của Nhật Bản ngay từ nhỏ, tính thuần nhất sắc tộc đã ảnh hưởng đến

nguồn nhân lực chất lượng cao của Nhật Bản, có: 1) Fukutake Tadashi: Cơ cấu xã

hội Nhật Bản – Nihon Shakai no Kozo; Dịch giả: Hồ Hoàng Hoa, Viện nghiên cứu

chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng HCM, 1994 Quyển sách này phân tích xã hội Nhật Bản theo giai tầng, chế độ Nhà, chủ nghĩa gia đình, cộng đồng làng xã, tính cách xã hội của người Nhật Tác giả phân tích biến động xã hội công nghiệp hóa trong giai đoạn tăng trưởng cao, làm biến đổi cơ cấu lao động làm thuê, ảnh hưởng

cơ cấu nguồn nhân lực 2) Katsuta Suichi và Nakauchi Tosho: Giáo dục Nhật Bản,

dịch giả: Nguyễn Mạnh Trường, NXB CTQG, HN, 2001 Quyển sách này khái quát bối cảnh giáo dục từ khi có hệ thống nhà trường đầu tiên, thời kỳ Edo, thời kỳ phản động trong giáo dục trước chiến tranh thế giới II, thời kỳ sau chiến tranh Các tác giả nêu các quan điểm chung về nguyên tắc giáo dục, cung cấp số liệu tin cậy về tình trạng học sinh các cấp, định hướng cho học sinh trong nhà trường

Ngoài ra còn rất nhiều sách nghiên cứu nguồn nhân lực Song, chưa thấy có công trình phân tích cụ thể về “đào tạo nhân lực” ở Nhật Bản, chưa có công trình nêu bật những bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản có thể ứng dụng vào việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam, đặc biệt là nơi đặc thù sông nước, đa tộc người, đa tôn giáo như đồng bằng sông Cửu Long

Mục đích nghiên cứu

Sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực Nhật Bản, giới hạn thời gian trọng tâm là sau chiến tranh thế giới II Chú ý phân tích tính hệ thống và chuỗi giá trị của sự nghiệp này mang lại

Thành quả của sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản

Những bài học kinh nghiệm rút ra từ sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản, khi đối chiếu vào thực tiễn vùng đồng bằng sông Cửu Long

Đối tượng nghiên cứu

Lý luận về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Trang 13

Sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản

Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản trong việc phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Phạm vi nghiên cứu

Các chiến lược về đào tạo nhân lực ở Nhật Bản sau chiến tranh thế giới II, thể hiện qua nhận thức của chính phủ các thời kỳ, các chính sách về đào tạo nhân lực

Chú trọng 3 ngành chính là giáo dục, y tế và công nghiệp chế tạo máy

Kinh nghiệm từ công cuộc đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản cho việc phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nền chỉ đạo toàn bộ các phương pháp khác và nội dung luận văn

Phương pháp tổng hợp và phân tích

So sánh đối chiếu

Điền dã và phỏng vấn sâu

Tiếp cận liên ngành trong khu vực học

Nghiên cứu trường hợp (case study) để tìm bằng chứng thực nghiệm tại đồng bằng sông Cửu Long

Phương pháp thống kê: tính độ tăng dân số, dự báo nguồn nhân lực và cung – cầu nhân lực ở ĐBSCL Thống kê số lượng, chất lượng nhân lực của Nhật Bản và của đồng bằng sông Cửu Long thông qua nguồn số liệu

Trong đó, các phương pháp chính là: các phương pháp của chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng; tổng hợp và phân tích; so sánh đối chiếu; và chú ýtiếp cận liên ngành trong khu vực học

Trang 14

Các bài báo, bài viết trên các tạp chí

Tư liệu qua điều tra thực tế

Đóng góp của đề tài

Tiếp tục làm sáng tỏ cơ sở lý luận của Đảng CSVN về phát triển nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của nước đạt mức thu nhập trung bình diễn ra nhanh hơn

Dự báo cơ cấu nguồn nhân lực ở đồng bằng sông Cửu Long

Phân tích, lý giải những bước chiến lược dẫn đến thành tựu đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản

Rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo từ sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực ở Nhật Bản để ứng dụng vào công cuộc phát triển nguồn nhân lực đồng bằng sông Cửu Long

Cung cấp một vài số liệu điều tra thực tế

Luận văn gồm ba chương

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHƯƠNG II: CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CHƯƠNG III: PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG –BÀI HỌC TỪ NHẬT BẢN

Trang 15

CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

I.1 Cơ sở lý luận

I.1.1 Khái niệm về nguồn lực, động lực phát triển, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân lực

Nguồn lực (resources) là khái niệm chỉ những yếu tố vật chất và tinh thần để con người sinh sống, hoạt động và phát triển Nguồn lực có các loại: nguồn lực tự nhiên và những nguồn lực do con người tạo ra Nguồn lực tự nhiên gồm tài nguyên thiên nhiên như gió, đất, nước, các khoáng sản và sản vật giới hạn bởi vùng trời, biển, đất, thềm lục địa của một quốc gia Những từ có nội hàm là một loại nguồn lực có thể kể như: tài nguyên, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lực khan hiếm, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên tái tạo, nguồn lực kinh tế, tài chính, nguồn lực sẵn có…

Như vậy, nguồn lực là cần thiết để tồn tại một thể chế, cấu trúc kinh tế và sự phát triển của một tổ chức, quốc gia Xác định được nguồn lực, đặc biệt là xác định được mặt mạnh hay yếu và lợi thế cạnh tranh của nguồn lực, là gợi ý cho công việc chỉnh sửa cấu trúc và phát huy tiềm lực kinh tế, chính trị của đất nước

Các dạng của nguồn lực:

Nguồn lực có thể phân chia thành các nhóm, tùy theo tiêu chí phân loại, phục vụ cho các mục đích khác nhau Kế thừa học hỏi những cách phân chia của một số tác giả và phát huy thêm, có thể có các cách phân chia sau:

** Phân chia theo tính chất có thể tái sinh được nguồn lực:

Nguồn lực vĩnh cửu Gồm tài nguyên thiên nhiên không cạn kiệt, ví dụ năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thủy triều… và trí tuệ con người

Nguồn lực có khả năng tái sinh Gồm các tài nguyên có khả năng tái sinh thông qua sự cải tạo của con người, ví dụ rừng, động vật, và nguồn nhân lực

Nguồn lực không có khả năng tái sinh Gồm các tài nguyên không có khả năng tái sinh khi đã bị con người khai thác hết, ví dụ các mỏ dầu, khoáng sản

** Phân chia theo tính chất sử dụng của nguồn lực:

Trang 16

Nguồn lực đang được sử dụng, ví dụ cơ sở vật chất, tài nguyên đang được

sử dụng, và tri thức, kỹ năng lao động của con người, khoa học kỹ thuật đang được phát triển và ứng dụng

Nguồn lực tiềm năng Là các nguồn lực chưa được khai thác và sử dụng, nhưng vẫn có khả năng trở thành nguồn lực được sử dụng Ví dụ các mỏ khoáng sản chưa được phát hiện, các phát minh đi trước thời đại

Nguồn lực có các đặc điểm sau:

Tính động: Nguồn lực có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác, giữa các

quốc gia Ví dụ nguồn nhân lực có thể di chuyển đến những nơi khác nhau trong một nước, hoặc giữa các quốc gia trong khối kinh tế để lao động, khi quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng ở các quốc gia Nguồn lực tư bản (vốn) có thể di chuyển đến các chi nhánh ở các nước khác nhau của cùng một công ty đa quốc gia, hoặc tư bản của nhà nước và các công ty di chuyển ra nước ngoài để mua về loại nguồn lực khác như nguồn lực khoa học công nghệ tiên tiến, trang bị cơ sở vật chất

Sự xuất hiện của chuỗi giá trị toàn cầu và hệ thống phân phối toàn cầu làm quá trình dịch chuyển các nguồn lực diễn ra nhanh hơn Cạnh tranh giữa các nguồn lực ngày càng lớn Đặc biệt là nguồn lực tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực có trình

độ tri thức công nghệ cao

Tính khả biến: Tiềm năng của nguồn nhân lực – tức nguồn lực con

người – có thể tạo ra khối lượng trí tuệ và phát minh khổng lồ nếu được đầu tư để phát triển, cũng có thể bị lãng phí khi không được quan tâm đúng mức Tính khả biến còn được thể hiện ở chỗ, nguồn lực có thể thay đổi vai trò và hiệu quả của chúng trong từng thời kỳ phát triển theo nhu cầu của nền kinh tế xã hội Các nước đang trong giai đoạn phát triển 1, tức giai đoạn dựa vào đầu vào là vốn tài nguyên

và lao động giản đơn, có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào Muốn chuyển sang giai đoạn 2, tức phát triện dựa vào kỹ năng và tri thức, thì phải đào tạo nguồn nhân lực để tạo ra lao động có kỹ năng, tay nghề và trình độ cao, và phát triển khoa học kỹ thuật Chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ mà không chú ý đến vai trò của các nguồn lực khác nhau ở từng thời kỳ,

sẽ lãng phí tài nguyên con người và vướng vào “lời nguyền tài nguyên”

Động lực phát triển (Development dynamics)

Trang 17

Động lực phát triển là khái niệm có nội hàm rộng, mang ý nghĩa triết học về

sự phát triển Các công trình của Abraham Maslow, Fritz Heider có đề cập tới động lực như một quá trình lựa chọn sử dụng năng lượng, tạo lực để làm thỏa mãn nhu cầu của con người, thông qua sự kích thích, định hướng hành động và duy trì Maslow cho rằng tháp động lực của con người thể hiện thứ bậc quan trọng của những nhu cầu, tạo động lực cho con người hành động để thỏa mãn những nhu cầu

đó Tháp động lực của con người gồm 5 tầng được Maslow công bố trong bài “lý

thuyết về động lực của con người”

Có tác giả phân biệt động lực thành hai loại: động lực bên trong và động lực bên ngoài (Sansone và Harackiewicz, 2000) Trong đó, nhu cầu cá nhân là động lực bên trong Những tác động như: môi trường sống, môi trường văn hóa, môi trường kinh tế - xã hội chi phối hành vi của cá nhân hoặc tổ chức, khuyến khích hay ngăn cản hành vi, là động lực bên ngoài Hai loại động lực kết hợp với nhau tạo nên sức mạnh nội tại chi phối hành vi của cá nhân và chiến lược của tổ chức

Động lực phát triển: chưa có khung định nghĩa chuẩn về động lực phát

triển Ở các nước châu Mỹ, khái niệm động lực phát triển được xem như các lực lượng hay tài sản mà kích thích tăng trưởng, phát triển, hoặc làm thay đổi một hệ thống, một quá trình

Tại Việt Nam, trong Văn kiện Đảng của các đại hội Đảng lần X, XI có

nhắc tới thuật ngữ “động lực phát triển” nhiều lần Trong Văn kiện lần X xác định:

kinh tế tư nhân, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, dân chủ xã hội chủ nghĩa và đại đoàn kết dân tộc là những động lực phát triển chủ yếu và là những nhân tố có ý nghĩa quyết định Như vậy, động lực phát triển bao gồm cả yếu tố tinh thần và lợi ích vật chất của một đất nước Động lực phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường kinh tế, chính trị và sự cải cách thể chế, cải cách kinh tế, giáo dục Các yếu

tố nội lực hoặc tác động bên ngoài như quá trình khu vực hóa, gia nhập các khối kinh tế,…, là những tác nhân làm cho động lực phát triển diễn ra mạnh mẽ hơn

Có nhà kinh tế học như Adam Smith cho rằng lợi ích cá nhân và lòng yêu thương con người đã thúc đẩy các hoạt động của con người Lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy con người hành động Mỗi bên đối tác trong các giao dịch tự nguyện đều có nhu cầu riêng và có tư lợi Tư lợi chính là linh hồn của nền kinh tế thị trường

Trang 18

và là “bàn tay vô hình” điều tiết thị trường, có cạnh tranh làm con người trở nên giàu có hơn Lợi ích quốc gia và lợi ích cá nhân lúc đó tồn tại hài hòa, làm tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng Còn Marx cho rằng lợi ích và nhu cầu của người dân

là động lực cho phát triển Và theo ông, mục đích là phát triển năng lực và phẩm giá con người, giải phóng con người

Ăng-ghen khi nghiên cứu cuộc đấu tranh giai cấp ở Anh, Pháp giữa giai

cấp tư sản, giai cấp quý tộc và giai cấp công nhân vào thế kỷ 19, nhận xét “Lấy

toàn bộ lịch sử mà xem xét thì ngoại trừ xã hội nguyên thủy, đều là lịch sử đấu tranh giai cấp; cuộc đấu tranh giữa các giai cấp đều là sản phẩm của những quan

hệ trao đổi và quan hệ sản xuất, nói tắt một câu, đều là sản phẩm của những quan

hệ kinh tế của thời đại đó”, và “Cuộc đấu tranh của ba giai cấp này và sự xung đột lợi ích giữa chúng là động lực lịch sử hiện đại, chí ít thì cũng là động lực lịch sử của hai quốc gia tiên tiến nhất” 4 Như vậy, các nhà triết học trường phái Mác – Lê nin cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển xã hội có sự xung đột căn bản về lợi ích giai cấp Những nhà kinh tế chính trị học Mác – Lê nin cũng cho rằng lợi ích kinh tế là nguồn gốc của đấu tranh giai cấp, là động lực trực tiếp cho sự phát triển của xã hội loài người

Nguồn nhân lực:

Theo giáo trình của trường đại học Kinh tế TPHCM: Nhân lực là sức lực

con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức

độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động

Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A s%E1%BB%B1:

“bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả

thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp”

Theo The Oxford modern English Dictionary (online), là “số lượng lao

động cần thiết hoặc có sẵn để làm một công việc cụ thể”

4

Bộ Giáo dục và đào tạo, 2008 Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.178

Trang 19

Thuật ngữ nguồn nhân lực cũng được định nghĩa khác nhau bởi các tổ chức thế giới

Theo Liên Hiệp Quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức

và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng”.5 Nguồn nhân lực có thể hiểu là tất

cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người

có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước

Theo Ngân hàng thế giới (WB): “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người

bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Nguồn nhân lực của một quốc gia là

toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”

Theo giáo trình “Nguồn nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã

hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân

biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội” 6

Như vậy, nếu xét theo chức năng, nguồn nhân lực là khả năng (đã được thể hiện cụ thể hay ở dạng tiềm ẩn) của con người, là sức lực tiêu hao của con người trong một công việc cụ thể, có thể tính được giá trị Nếu xét theo chủ thể, thì con người là chủ thể Điều này phân biệt được nguồn nhân lực với các nguồn lực khác như nguồn lực tài nguyên Nguồn nhân lực cũng bao hàm sức mạnh tiềm ẩn của cộng đồng người và khả năng huy động tham gia sức mạnh đó vào quá trình tạo

ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng (trí tuệ, thể lực, nhân cách, cảm xúc tích cực…) và

cơ cấu dân số Tác giả luận văn đề xuất định nghĩa: “Nguồn nhân lực là khả năng

của con người, biểu hiện cụ thể hay tiềm ẩn, cùng sự nâng cao năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách, tâm lý… thông qua đào tạo, tham gia vào quá trình tạo ra vật chất và tinh thần cho xã hội”

Dù có nhiều định nghĩa và cách tiếp cận khác nhau nhưng khi nói đến nguồn nhân lực là chúng ta nói đến con người với toàn bộ kiến thức, kinh nghiệm, kỹ

5 WB World Development Indicators - London: Oxford, 2000

Trang 20

năng, của con người đang có ở hiện tại hoặc hình thành ở tương lai, để có thể tham gia vào quá trình lao động xã hội

Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều lý thuyết và mô hình phát triển nguồn nhân lực Trong đó, phát triển nguồn nhân lực gồm các loại hoạt động: sử dụng nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực và hoạch định nguồn nhân lực

Đào tạo nhân lực: gồm các hoạt động nhằm mục đích trang bị kiến thức

và kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động Do vậy đào tạo cũng có các hình thức

và các mục tiêu khác nhau

Đào tạo nhân lực có các đặc tính sau trong nền kinh tế thị trường:

Quy luật cung – cầu: theo lý thuyết về cung – cầu, việc đào tạo nhân lực

tạo ra sản phẩm là người lao động có kỹ năng, tay nghề và tri thức đáp ứng cho thị trường lao động và cho nền kinh tế Có thị trường, tức là có người bán trí tuệ và kỹ năng, có người mua trí tuệ và kỹ năng, có hợp đồng lao động được xác lập (bằng văn bản hoặc miệng) với điều kiện cụ thể, thì tất yếu việc đào tạo nhân lực phải tuân theo quy luật cung – cầu của thị trường

Ở các xã hội cổ truyền hoặc đang đạt mức thu nhập thấp, thị trường lao động chưa dần hình thành và sôi động như ở các nước đạt mức thu nhập trung bình Việc đào tạo nhân lực còn nặng nề về “phân phối hóa” theo chủ trương Nhưng ở các nước đã đạt mức thu nhập trung bình như Việt Nam hiện nay, thị trường lao động hình thành với cơ cấu lao động đang chuyển dịch dần lên hàm lượng kỹ năng

và tri thức cao hơn Hiện tượng đầu tư kinh tế diễn ra sôi động hơn Có người mua, người bán kỹ năng lao động và chất xám, có trả giá cho hàng hóa sức lao động, tức

là thị trường lao động đã hiện ra với đặc trưng điển hình của nó Đã đến lúc cần nhìn nhận việc đào tạo nhân lực và các dịch vụ giáo dục đào tạo nói chung (cả ở hệ thống công lẫn tư thục) tuân theo quy luật cung – cầu của thị trường Với cách nhìn nhận này, dễ dàng lý giải khi tỉ lệ lao động cân bằng là khi cung đáp ứng được cầu Khi hàng vạn lao động thất nghiệp, là khi phân khúc “cung” trên thị trường thừa so với “cầu” về nhân lực, hoặc nguồn cung lao động không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng trong nền kinh tế thị trường, mặc dù có thể có bằng cấp cao

Quy luật giá trị: Việc đào tạo nhân lực muốn có sản phẩm chất lượng cao

thì cần chi phí đầu tư cao, thời gian đủ dài, thích đáng cho yêu cầu đào tạo, và phải

Trang 21

được thực tế hóa, tức là lao động phải được trải nghiệm tay nghề thực tiễn Sản phẩm nhân lực sau khi đào tạo, ra khỏi cơ sở đào tạo, sẽ tất yếu được thị trường lao động “định giá” theo quy luật giá trị Phía người lao động, muốn được hưởng thụ dịch vụ đào tạo tốt thì cần chi phí cao hơn và đầu tư công sức, thời gian nhiều hơn

Quy luật cạnh tranh: Việc đào tạo nhân lực là vấn đề có tính toàn cầu

Mỗi quốc gia đều có chiến lược đào tạo nhân lực cho nước mình Sản phẩm nhân lực của nước nào có kỹ năng và tri thức tốt hơn, sẽ nhanh chân hơn trong quá trình bám đuổi các nước tiên tiến hơn về khoa học công nghệ, tạo ra nhiều sản phẩm chế tạo hơn ở nước mình, chuyển dịch cơ cấu lao động từ hàm lượng kỹ năng và tri thức thấp, lên hàm lượng kỹ năng và tri thức cao hơn trong các ngành cạnh tranh,

để rút ngắn khoảng cách bám đuổi, tức là chuyển dịch lên nước có thu nhập cao hơn Chính sách đào tạo nhân lực nếu không triệt để, không được sự quan tâm thích đáng của nhà nước (cả về vốn, chính sách), sẽ dễ dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực

và không tiến lên được nước có thu nhập cao hơn

Ở cấp độ các cơ sở đào tạo nhân lực, các cơ sở phải cạnh tranh với các cơ

sở khác trong nước, và với các cơ sở khác trong khu vực Dòng di cư nhân lực trong quá trình khu vực hóa mạnh mẽ như hiện nay, sẽ chảy từ thị trường lao động có kỹ năng nghề tốt hơn sang thị trường lao động mà còn nhiều lao động yếu kỹ năng, để cạnh tranh việc làm Dòng nhân lực chưa được đào tạo cũng chảy về nơi có dịch vụ đào tạo chất lượng hơn để thỏa mãn “cầu” về đào tạo kỹ năng tri thức cho chính người lao động Quy luật cạnh tranh góp phần tạo ra động lực cho phát triển nguồn nhân lực Và đào tạo nhân lực là một trong các yếu tố trụ cột của phát triển nguồn nhân lực

I.1.2 Tính kinh tế và tính xã hội của nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực dù ở dưới dạng tiềm ẩn hay đang hoạt động thì cũng có khả năng tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội, do vậy nguồn nhân lực có tính kinh tế Tính kinh tế được thể hiện thông qua khái niệm “tiền lương” Theo

quan điểm của Karl Marx thì tiền lương “là giá trị hay giá cả của sức lao động,

nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động” Với quan điểm đó, tiền

lương đại diện cho giá trị sức lao động, tỉ lệ thuận với giá trị sức lao động Giá trị sức lao động lại được tính như sự tổng hợp của giá trị những tư liệu vật chất và tinh

Trang 22

thần, để nuôi sống và đào tạo người lao động tạo ra giá trị lao động Tương quan giữa giá cả lao động và giá trị lao động là tương quan giữa tiền lương danh nghĩa (tiền công) và tiền lương thực tế (giá trị của lao động) Sự chênh lệch giá trị lao động là sự chênh lệch giữa lao động phức tạp và lao động giản đơn Lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Cũng theo Marx, lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn, đòi hỏi “chi phí đào tạo” cao hơn lao động giản đơn, người ta phải tốn nhiều thời gian lao động để tạo ra nó và vì vậy, nó có một giá trị cao hơn so với lao động giản đơn Do vậy, lẽ tất yếu là lao động phức tạp có tính kinh tế hơn lao động giản đơn, được nhận lương cao hơn Trình độ của nguồn nhân lực cũng tỉ lệ thuận với tính phức tạp của lao động, tức tính kinh tế tăng Lương phải trả sẽ tăng lên theo trình độ nguồn nhân lực và tính phức tạp của lao động

Với các nền kinh tế theo cơ chế thị trường, luôn tồn tại thị trường hàng hóa sức lao động, có kẻ bán người mua, mặc cả giá cả; tuân theo quy luật cung – cầu,

quy luật cạnh tranh “Tiền công” là giá cả cho loại hàng hóa sức lao động Tiền

công đó được xem như một loại “chi phí phái sinh” của giới chủ Tiền công - tức tiền lương danh nghĩa - nếu ở mức không đủ tái tạo sức lao động về trí lực lẫn thể lực, sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và sự phát triển nguồn nhân lực Vì chất lượng nguồn nhân lực tỉ lệ thuận với tiền công, nên tính kinh tế của nguồn nhân lực là điều hiển nhiên Tính kinh tế của nguồn nhân lực thể hiện rõ nhất trong các nền kinh tế theo cơ chế thị trường

Ở châu Âu, cách mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất và thứ hai đã tạo ra máy móc sản xuất hàng loạt, sản xuất dây chuyền Điều đó làm giảm nhẹ sức lao động dành cho loại lao động phức tạp vì đã có máy móc thay thế Người lao động chỉ làm những loại lao động giản đơn, thao tác dễ dàng trên một vị trí, do vậy tiền lương danh nghĩa trả cho loại lao động này rất thấp Năng suất tạo ra sản phẩm lại cao hơn rất nhiều trong cùng một đơn vị thời gian Mô hình sử dụng lao động Taylor cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là đại diện cho quan điểm này, được áp dụng rộng rãi, dựa trên nguyên lý chủ yếu là tiết kiệm tối đa “chi phí lao động” cho giới chủ Dây chuyền sản xuất đã được tự động hóa và chuyên môn hóa tối đa Người lao động do vậy thực hiện thao tác lao động giản đơn và lặp đi lặp lại Mục đích của

mô hình này là biến người công nhân vào thay chỗ cho vị trí nhỏ của máy móc và

Trang 23

tiết kiệm tiền công, tức tận dụng một cách tối đa tính kinh tế của nguồn nhân lực

Mô hình này được hãng ô tô Ford thực hiện đầu thế kỷ XX, và lan ra khắp thế giới

tư bản chủ nghĩa, gọi là phương thức Ford (Fordism)

Mô hình tận dụng tối đa tính kinh tế của nguồn nhân lực của Taylor bị phê phán nhiều trong thế kỷ XX Các nhà kinh tế cho rằng mô hình Taylor làm mòn kỹ năng của người lao động, biến họ thành công cụ máy móc thực hiện lặp lại một thao tác đơn giản và buồn tẻ, dễ dàng thay thế họ, xói mòn trí tuệ và thể chất, hủy hoại nguồn vốn con người Các nhà kinh tế Mác xít cũng phê phán phương thức này Lenin cho rằng đó là phương thức “bóc lột kiệt quệ sức lao động của công nhân”

Nguồn nhân lực cũng có tính xã hội Nguồn nhân lực là nguồn vốn quan trọng nhất, quý nhất của một đất nước Nguồn vốn này được gia tăng về chất lượng

và số lượng nhờ nhiều yếu tố: tỉ suất sinh tự nhiên, di cư cơ học… Đặc biệt, thông qua mạng lưới xã hội mà hiệu quả và năng lực của nguồn nhân lực càng cải thiện

Pierre Bourdieu đã định nghĩa vốn xã hội là “tập hợp những nguồn lực hiện hữu

hoặc tiềm tàng, gắn với việc có một mạng lưới bền vững những quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” 7 Ngân hàng Thế giới cũng

nêu định nghĩa về vốn xã hội: “Vốn xã hội có liên quan tới những chuẩn mực và

những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng sự gắn kết xã hội – vốn xã hội – đóng vai tr trọng yếu đối với việc giảm ngh o và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững” 8 Francis

Fukuyama định nghĩa vốn xã hội với sự nhấn mạnh yếu tố chuẩn mực xã hội: “Vốn

xã hội là một chuẩn mực phi chính thức được biểu hiện trong thực tế, thúc đẩy sự hợp tác giữa hai hay nhiều cá nhân Các chuẩn mực làm nên vốn xã hội có thể bao gồm từ chuẩn mực có đi có lại giữa hai người bạn, cho tới những học thuyết phức tạp và được kết cấu một cách tinh tế như Ki-tô giáo hay Khổng giáo” Như vậy,

vốn xã hội đề cập đến sự kết hợp của vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn thể chế, có không gian hoạt động thông qua mạng lưới xã hội Nguồn nhân lực là một loại vốn

mà trong quá trình phát triển có dấu ấn ảnh hưởng của các đặc điểm trên Hơn thế,

7 Alejandro Portes, Vốn xã hội: nguồn gốc và những áp dụng trong xã hội học hiện đại, sách “Lòng tin và vốn

xã hội” – Nhiều tác giả, tr.138

8

http://web.worldbank.org

Trang 24

nguồn nhân lực còn là một loại vốn trí tuệ từ bộ óc con người, là loại vốn chủ thể phát sinh tất cả nguồn vốn khác như: vốn xã hội và vốn trí tuệ của cá nhân; vốn xã hội và vốn trí tuệ của nhóm nhỏ; vốn xã hội và vốn trí tuệ của các nhóm tương tác với nhau, vốn xã hội và vốn trí tuệ của các tổ chức liên minh (ví dụ các công ty đa quốc gia, các tổ chức kinh tế khu vực…) Tính xã hội của nguồn nhân lực ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn nhân lực, có thể làm nguồn nhân lực ngày càng phát triển làm đất nước giàu mạnh lên, hay suy thoái cạn kiệt

Ở các xã hội phương Đông, trong đó có Việt Nam, nơi mà các quốc gia đang phát triển đang thực hiện các chiến lược “đuổi kịp”, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, thì một thể chế mạnh và các chính sách đào tạo nguồn nhân lực kịp thời sẽ giúp cho nguồn vốn nhân lực ngày càng phát triển, mạng lưới xã hội ổn định Các quốc gia đang phát triển có một đặc điểm chung: song song với sự phát triển kinh tế và chất lượng nguồn nhân lực, thì khoảng cách bất bình đẳng xã hội càng lớn, tham nhũng nghiêm trọng, mức độ lũng đoạn của các nhóm lợi ích gia tăng cùng với sự quan liêu của bộ máy hành chính Nguồn vốn xã hội bị ảnh hưởng nặng

nề, hiệu suất lao động của nguồn nhân lực và sự phân bổ các nguồn lực bị ảnh hưởng Lẽ tất yếu phải liên tục đào tạo nguồn nhân lực và cải cách các phương diện: kinh tế, chính trị, hành chính, và cải cách luật để phát triển

I.1.3 Tính tất yếu và tính hệ thống trong việc đào tạo nguồn nhân lực

Đào tạo nguồn nhân lực là một trong các nhiệm vụ của chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việc đào tạo nhân lực là nhằm tạo ra thế hệ nhân lực mới có những phẩm chất nghề nghiệp, chuyên môn lao động và kỹ năng mà nền kinh tế xã hội đang cần, đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế xã hội ấy, và thúc đẩy nền kinh tế xã hội

ấy tiếp tục phát triển Nền kinh tế xã hội nào thì cần nguồn nhân lực có những phẩm chất, chuyên môn và kỹ năng tương ứng thế ấy Các nước phương Tây sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, cần nguồn nhân lực một mặt là những lao động giản đơn trong dây chuyền máy móc, mặt khác là những nhà phát minh, nhà khoa học Tham vọng khám phá vũ trụ của Mỹ, Nga, Trung Quốc đã nảy sinh nhu cầu đào tạo nhân lực ngành vũ trụ một cách sâu rộng Nền kinh tế hướng về xuất khẩu của Nhật Bản từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cần nguồn nhân lực có kỹ năng nghề cao để vận hành máy móc, và đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học sáng tạo không

Trang 25

ngừng để tạo ra sản phẩm mới được cải tiến Tự thân nền kinh tế xã hội không thể vận hành nếu thiếu nguồn nhân lực, hoặc nguồn nhân lực có những phẩm chất, chuyên môn và kỹ năng không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế xã hội Do vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực là buộc phải tiến hành ở mọi quốc gia, luôn được Chính phủ của mọi quốc gia đầu tư mức độ cao nhất có thể, cả trong ngắn hạn, trung và dài hạn Mục đích cuối cùng là để thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển Việc đào tạo nguồn nhân lực, như vậy, có tính tất yếu ở mọi quốc gia Tính tất yếu

đó thể hiện ở các biểu hiện sau:

Hoàn thiện hệ thống luật để chống tha hóa con người

Không chỉ có tính tất yếu, việc đào tạo nguồn nhân lực còn có tính hệ thống Việc đào tạo nguồn nhân lực cùng với việc sử dụng nguồn nhân lực là các thành tố chính của chiến lược phát triển nguồn nhân lực Với tư cách là một thành tố con của chiến lược phát triển nguồn nhân lực, công cuộc đào tạo nhân lực phụ thuộc vào các chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách về kinh tế xã hội Với tư cách là một hệ thống độc lập, việc đào tạo nguồn nhân lực lại bao gồm nhiều thành

tố như: phục vụ các ngành khác nhau, đào tạo nhân lực ở trình độ chuyên môn khác nhau, phục vụ nhu cầu kinh tế xã hội ở các vùng miền khác nhau, đáp ứng nền kinh

tế hướng về liên kết khu vực Việc đào tạo nguồn nhân lực do vậy lại phải đáp ứng được chuẩn của các tổ chức kinh tế liên kết đòi hỏi, để nâng cao tính cạnh tranh của một nền kinh tế Tính hệ thống của việc đào tạo nguồn nhân lực còn thể hiện qua các dấu hiệu của hệ thống như: sự tương tác qua lại giữa các thành tố và tính khả biến

I.1.4 Yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong việc đào tạo nguồn nhân lực

Quá trình đào tạo nguồn nhân lực, vì là hệ thống có tính khả biến và có sự phối hợp giữa nhiều thành tố, nên cũng phụ thuộc vào sự liên kết giữa các thành tố này Trong đó, văn hóa truyền thống, môi trường quốc tế, chính sách của nhà nước,

Trang 26

và cấu trúc nhân lực xét về độ tuổi cũng là những thành tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình đào tạo nhân lực Có thể chia ra làm yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh

Yếu tố nội sinh gồm có:

Văn hóa truyền thống, kể cả các lễ hội cộng đồng, đóng vai trò phản ánh nhu cầu và các ước mơ của cộng đồng người, góp phần định hướng cho việc sản xuất những vật chất phục vụ nhu cầu của cộng đồng, và góp phần định hình một phần những phẩm chất của lực lượng lao động Ở Nhật Bản, những nét văn hóa góp phần chi phối, định hình phẩm chất nguồn nhân lực là văn hóa samurai, văn hóa hải đảo

và Thần đạo

Cấu trúc nhân lực: cấu trúc nhân lực soi chiếu dưới góc độ sinh học thể hiện qua giai đoạn dân số vàng, chỉ số hình thể và sức khỏe Ở góc độ khu vực thể hiện cấu trúc nhân lực chung theo nhu cầu xã hội, cấu trúc nhân lực nhỏ trong khung cấu trúc nhân lực của khu vực, tức nhu cầu phát triển ngành nghề của khu vực

Nền kinh tế vùng: các quốc gia nông nghiệp với lợi thế về lúa gạo có nguồn nhân lực mạnh về nông nghiệp, khác với các quốc gia hải đảo hoặc nhiều sa mạc có nguồn nhân lực mạnh về kinh tế biển, kinh tế trang trại lớn phù hợp với địa hình nhiều thảo nguyên Sự liên kết kinh tế trong các tổ chức kinh tế xuyên quốc gia hoặc khối kinh tế khu vực, cũng tạo ra sự dịch chuyển nguồn lực và định hướng sự phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp

Lợi thế quốc gia: lợi thế quốc gia đến từ tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên nước, đất, biển, khoáng sản, khí hậu… Tài nguyên con người chính là nguồn nhân lực

Ba nhóm nhân tố cơ bản phát triển chất lượng nguồn nhân lực:

Giáo dục – đào tạo

Khoa học công nghệ

Môi trường văn hóa – xã hội

Yếu tố ngoại sinh gồm các yếu tố sau:

Di cư nhân lực cơ học: nhân lực di chuyển từ vùng này đến vùng khác trong một quốc gia, hoặc từ quốc gia này đến quốc gia khác để cạnh tranh việc làm và theo nhu cầu của quốc gia cần lao động Đây là yếu tố có được do sự tác động của

Trang 27

các tác nhân bên ngoài như chính sách đãi ngộ đối với nhân lực, nhu cầu di chuyển

cá nhân, nhu cầu lao động của các khu công nghiệp

Hợp tác với nước ngoài, và thay đổi hệ thống luật, tạo hành lang pháp lý cho nguồn nhân lực ở các nước có nền kinh tế thấp hơn được học hỏi các tiến bộ khoa học kỹ thuật từ những nước có nền kinh tế cao hơn Thông qua việc đào tạo nhân lực cho các nước phát triển thấp hơn nhưng có nguồn lao động dồi dào hơn, các nước phát triển cao hơn tận dụng được lợi thế nguồn nhân lực dự trữ ở các nước này, với giá thuê rẻ hơn và có thể tìm kiếm tại chỗ khi đặt các nhà máy ở các nước này Khi có sự hợp tác đào tạo với nước phát triển cao hơn, chất lượng nguồn nhân lực phát triển nhanh hơn, thông qua việc tạo ra được cơ hội việc làm, học hỏi kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý, trình độ chuyên môn và tác phong từ nước đầu tư Vốn và kỹ thuật tiên tiến của nước đầu tư góp phần cải tiến môi trường trong nước

Bối cảnh khu vực và quá trình khu vực hóa: Bối cảnh khu vực là yếu tố ngoại sinh thúc ép quá trình đào tạo nhân lực ở quốc gia trong khu vực diễn ra nhanh hơn

Quá trình toàn cầu hóa

I.1.5 Vai trò của việc đào tạo nhân lực trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội

Xã hội trải qua các hình thái khác nhau, với các quá trình phát triển kinh tế

xã hội khác nhau Trong quá trình phát triển ấy, việc đào tạo nhân lực có vai trò chủ đạo và định hướng sự phát triển kinh tế xã hội Vì công cuộc đào tạo nhân lực là tạo

ra thế hệ nhân lực có những phẩm chất, năng lực và kỹ năng để đáp ứng đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời kiến thiết tiếp tục cho sự phát triển của nền kinh tế xã hội ấy Vai trò chủ đạo này thể hiện qua các chính sách có thể chủ động như: hệ thống chính sách đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chiến lược phát triển cơ cấu các nhóm ngành kinh tế, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Các chính sách này có thể được điều chỉnh để thu hẹp khoảng cách về trình độ nguồn nhân lực ở các địa bàn cư trú khác nhau Việc đào tạo nguồn nhân lực cũng có vai trò định hướng sự phát triển kinh tế xã hội, vì

có thể tạo ra phân tầng nghề nghiệp làm biến đổi nền kinh tế, tạo ra vị thế kinh tế

Trang 28

thông qua việc so sánh mức thu nhập của các nhóm nghề nghiệp, hoặc tạo ra vị thế kinh tế thông qua so sánh chất lượng nhân lực giữa các nền kinh tế

Công cuộc đào tạo nhân lực còn có vai trò cung cấp nguồn lực quan trọng nhất cho một nền kinh tế - nguồn lực con người Chính phủ và các Bộ ngành, đặc biệt là ngành giáo dục, có chức năng thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực, cụ thể hóa vai trò cung cấp nguồn lực của cuộc đào tạo nhân lực Nếu thiếu sự hoạt động hiệu quả của hệ thống chính sách của chính phủ, hay thiếu hụt nhân lực là giảng viên đào tạo, vai trò cung cấp nguồn nhân lực sẽ trở nên mờ nhạt, gây lãng phí nhân lực và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế

Khi nói đến vai trò của việc đào tạo nhân lực trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội, cũng là nói đến vai trò của con người trong quá trình phát triển ấy Con người vừa là chủ thể lao động, sáng tạo ra tất cả những mặt khác nhau của một nền kinh tế xã hội, vừa là chủ thể tiêu dùng các loại sản phẩm, dịch vụ và hưởng lợi ích

mà một nền kinh tế xã hội mang lại Việc đào tạo nhân lực cũng phát triển theo sự phát triển của con người Khi cách mạng khoa học lần thứ nhất diễn ra ở Tây Âu, bên cạnh nguồn nhân lực thuộc tầng lớp tinh hoa, tức những kỹ sư, nhà phát minh sáng chế, thì việc đào tạo nhân lực cũng hướng về đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, để theo kịp với nhu cầu của nền kinh tế xã hội Ở Nhật Bản, việc đào tạo nguồn nhân lực sau chiến tranh thế giới II hướng về mục tiêu đào tạo kỹ năng nghề và các ngành chế tạo, để phục vụ nền kinh tế chế tạo và xuất khẩu, đưa đất nước tiến lên hàng ngũ nước có thu nhập cao

Trang 29

I.2 Cơ sở thực tiễn

I.2.1 Nhật Bản: Đất nước và con người

Nguồn: http://www.hcmcgj.vn.emb-japan.go.jp/vn/jpnews/basicdata_v.htm

Nhật Bản là một quốc đảo, hình dáng địa lý như hình cánh cung, dài khoảng 3800km từ vĩ độ 20025’ Bắc đến 45033’ Bắc, phía Đông của lục địa châu Á Địa lý gồm 4 đảo chính: Hokkaido (83.453 km2), Honshu (231.078 km2), Shikoku (18.788

km2) và Kyushu (42.165 km2) và nhiều đảo nhỏ khác Tổng diện tích 380.000km2, trong đó khoảng 67% diện tích là rừng núi, diện tích đất có thể canh tác được lúa chiếm khoảng 13%

Theo lý thuyết đĩa lục địa, Nhật Bản nằm ở chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là

Á –Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương, và biển Philippines Các đảo của Nhật Bản hình thành qua các đợt vận động tạo núi, xuất hiện rất trẻ, khoảng 2,4 triệu năm trước, trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương Do vậy, Nhật Bản có nhiều núi lửa và động đất Tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản tương đối nghèo nàn

Nhật Bản không tiếp giáp với quốc gia nào khác trên đất liền, mà ngăn cách với các quốc gia khác bởi biển Có gần 60 bình nguyên hẹp ở ven biển, lớn nhất là bình nguyên Kanto Nhật Bản cũng có khoảng hơn 60 bồn địa (vùng đất trũng giữa các núi), khoảng gần 40 cao nguyên và cụm cao nguyên

Thủ đô là Tokyo, là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế Các đơn vị hành chính chia làm to ( 都 đô), tức thủ đô Tokyo, do ( 道 đạo), dùng để chỉ đảo

Trang 30

Hokkaido, fu (府 phủ) dùng để chỉ Osaka và Kyoto, 48 ken (県 huyện) dùng để chỉ đơn vị hành chính cấp tỉnh

Về dân số, năm 2000, dân số Nhật Bản là 126.926.000 người, xếp thứ 9 trên thế giới Mật độ dân số tương đối cao, 340 người/km2 vào năm 2000 44% dân số tập trung tại các khu vực hành chính lớn là Tokyo, Osaka và Nagoya Hiện nay, Nhật Bản bước vào giai đoạn dân số già Tỉ lệ trên 65 tuổi là 23,3% vào thời điểm năm 2011, dự kiến sẽ tăng lên đến 33,4% vào năm 2035, theo Viện nghiên cứu và

an sinh xã hội Nhật Bản

Khí hậu Nhật Bản có 4 mùa rõ rệt Địa hình trải dài từ Bắc xuống Nam trên 3000km, nhiều dãy núi và bao quanh bởi biển nên các vùng có những đặc điểm khác nhau về từng mùa Hokkaido và cao nguyên có khí hậu á hàn đới, mùa đông khắc nghiệt với tuyết rơi nhiều Vùng biển Thái Bình Dương có khí hậu cận nhiệt đới, nhiều nắng Các vùng khác có khí hậu ôn đới, còn biển Nhật Bản ở phía Tây Bắc thường u ám, dữ dội

Tháng 1 ~ 12 15.6°C

Tháng 1 ~ 12 13.2°C

Tháng 1 ~ 12 22.4°C

Nguồn: trang web của Tổng lãnh sự quán Nhật Bản tại Việt Nam

I.2.2 Tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nhật

Tiền đề kinh tế:

Ngay sau chiến tranh, Nhật Bản hứng chịu hậu quả tàn khốc: đất nước bị phá hủy hoàn toàn, hơn 150.000 người chết ngay lập tức vì hai quả bom hạt nhân và các cuộc ném bom tọa độ trên toàn Nhật Bản, hàng triệu người khác bị thương và ảnh hưởng phóng xạ Nhiều nhà máy bị phá hủy, hàng triệu lính Nhật Bản khắp châu Á thương vong Kinh tế tê liệt, nguồn nhiên liệu dầu mỏ và lương thực bị cắt đứt hoàn

Trang 31

toàn Hỗn loạn khắp nơi Dưới sự tiếp quản và cưỡng ép của quân đồng minh, tướng Marc Arthur đã thực hiện đợt cải cách kinh tế xã hội và giáo dục lớn nhất Mục đích là triệt tiêu tận gốc hệ tư tưởng phát xít, và xuất phát từ lòng nhiệt thành của Mỹ: muốn biến Nhật Bản thành nước dân chủ tự do đồng minh với Mỹ, tạo vành đai chống chủ nghĩa cộng sản ở châu Á Mỹ đã cải cách toàn diện nền kinh tế

xã hội và giáo dục theo kiểu Mỹ

Tuy nhiên, dù đã chịu nhiều tổn thất kinh tế, thì về cơ bản, các tập đoàn Zaibatsu của Nhật Bản hầu như vẫn còn tiềm lực lớn Chính sách giải tán các Zaibatsu do Marc Arthur ban hành không có hiệu quả, vì chỉ giải tán được khoảng hơn 10 Zaibatsu, số còn lại nhanh chóng tự phân rã thành những tổ hợp nhỏ, len lỏi vào khắp các ngóc ngách của đất nước Nhật Bản để tiếp tục sản xuất Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) và chiến tranh Việt Nam (1960-1975) tiếp tục đem đến cho Nhật Bản cơ hội lớn về kinh tế, nhờ những khoản tiền khổng lồ mà chính phủ Mỹ đã chi tiêu tại Nhật Bản để phục vụ chiến trường Mỹ giúp Nhật Bản về khoa học kỹ thuật bằng cách chuyển giao nhiều bằng sáng chế cho Nhật Bản với giá

rẻ Đây là các cơ hội vàng cho Nhật Bản phát triển đất nước

Tiền đề văn hóa xã hội

Sự thừa kế tư tưởng “thực học” trong cải cách văn hóa thời Minh Trị

Thần đạo và văn hóa Samurai

Cơ cấu xã hội Nhật Bản với đặc trưng là cơ cấu nhóm, tính tôn ti mạnh mẽ

Tiền đề chính trị

Một loạt cải cách có tính cưỡng ép của chính quyền chiếm đóng

Đa nguyên chính trị nhưng có tính liên tục của duy nhất một Đảng cầm quyền Môi trường quốc tế cực kỳ sôi động: chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, cách mạng giải phóng thuộc địa ở các nước châu Á

Xu thế liên kết khu vực: liên kết vùng Đông Á, ASEAN, ASEAN +3, AFTA, APEC Xu thế toàn cầu hóa

I.2.3 Sự khai sáng từ học thuyết Fukuzawa Yukichi

Tư tưởng về văn minh

Trang 32

Fukuzawa (1835-1901) được xem là nhà khai sáng văn minh ở Nhật Bản thời kỳ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Khi còn nhỏ, ông học Hán học với các thầy giỏi Ông tinh thông Hán học, nhưng không thích Hán học ngay trong quá trình học,

vì nhận thấy có những tư tưởng thủ cựu 19 tuổi, ông lên Nagasaki học và theo Hà

Lan học, sau đó là Tây phương học Năm 1858, Ngũ quốc điều ước9

được ký kết

Nhật Bản mở cửa tại Yokohama Fukuzawa đã đến thăm Yokohama Ông nhận ra

“bao nhiêu năm sống chết, điên cuồng miệt mài học đọc sách vở Hà Lan, bây giờ lại không được tích sự gì”10

và tìm mọi cách học tiếng Anh Năm 1859, Mạc phủ Tokugawa cử phái đoàn 95 người lên tàu đi cùng thuyền trưởng người Mỹ đến Mỹ Khi đến Mỹ, ông đã nhận ra quá nhiều sự khác biệt văn hóa, đặc biệt là sự văn minh cùng khoa học kỹ thuật vượt trội của người Mỹ so với Nhật Bản Năm 1860, từ Mỹ

trở về, Fukuzawa đã dịch và xuất bản cuốn Kaei Tsuugo (Hoa Anh thông ngữ) và

chuyên tâm nghiên cứu tiếng Anh Năm 1861, Mạc phủ phái đoàn sứ giả đến châu

Âu và ông cũng được đi với tư cách là người của Mạc phủ, qua Singapore, Hy Lạp, Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga, Bồ Đào Nha; và theo đường cũ về Nhật năm 1862

Những gì ông lĩnh hội qua chuyến đi được thể hiện trong cuốn Seiyou Jiyou (Tây

dương sự tình) Việc mở cửa đất nước và quyết tâm tìm hiểu văn minh các nước

phương Tây của Mạc phủ, đã đưa tư tưởng Fukuzawa đến bước ngoặt quan trọng,

đó là học tập theo văn minh phương Tây để đưa đất nước phát triển.“Trong nền văn

minh ấy có cả lợi lẫn hại song song, nhưng lợi luôn nhiều hơn hại, sức mạnh của những điều lợi đó không gì có thể ngăn cản được Đó chính là điểm tôi muốn nói rằng chúng ta không nên tìm cách ngăn cản lại sự lan truyền của nền văn minh ấy

Là những người trí thức, chúng ta hãy góp sức cho sự lan truyền của làn sóng văn minh đó tới toàn dân trong nước để họ thấy được và làm quen với nền văn minh ấy càng sớm càng tốt Làm được như vậy chính là sự nghiệp của những người trí thức”11

Tất cả các tác phẩm của ông cũng đều dẫn dắt nhân dân theo hướng này

9 Điều ước Hữu hảo thông thương do Mạc phủ Edo k{ với 5 nước châu Âu khi chưa nhận sắc chiếu triều đình: với Mỹ (tháng 6/1858), Hà Lan, Nga, Anh (tháng 7), Pháp (tháng 9) Theo đó mở cửa các cảng Kanagawa, Nagasaki, Niigata, Hakodate và mở các chợ Edo, Osaka buôn bán tự do Lưu thông cùng loại tiền, cùng lượng Thuế quan do chương trình ngoại thương quyết định

Trang 33

Chính phủ mới, theo Fukuzawa, phải là Chính phủ của dân Lúc đầu ông

đinh ninh Chính phủ Minh Trị là Chính phủ Nhưỡng di (ghét phương Tây): “Tôi

ghét cay ghét đắng Chính phủ mới và quan hệ cứ diễn ra theo chiều hướng như vậy Nguyên do của tình trạng đó là vì như đã nói ở phần trước, tôi cứ đinh ninh Chính phủ mới mang tư tưởng Nhưỡng di một cách thủ cựu Mà Nhưỡng di thì tôi ghét nhất trần đời Vì thế, tôi đã nghĩ rằng dù có thay Chính phủ mới mà mang tư tưởng thủ cựu như thế thì không thể giữ nổi đất nước này, thậm chí còn có thể làm cho náo loạn hơn”12 Ông lo lắng “những kẻ lập ra Chính phủ Nhưỡng di, làm những

việc ngu ngốc chỉ có mất nước”13 và không hợp tác với chính quyền Minh Trị Ông tìm cách thoái thác khi Hosokawa Junjiro - người đã tham gia chỉnh sửa pháp lệnh

và có nhiều công trạng trong ngành giáo dục, đến nhờ quản lý tất cả các trường học trực thuộc chính phủ Ông khẳng định sự vượt trội của văn minh phương Tây và

muốn chính phủ tiếp nhận học hỏi văn minh phương Tây: “Người dân trong nước

bắt đầu biết đến những giá trị hữu ích của nền văn minh ấy, và đang dần dần tích cực hướng tới tiếp nhận nền văn minh ấy Nhưng con đường tiến bộ tiếp cận nền văn minh đang bị cản trở bởi Chính phủ già nua lỗi thời Cho nên đó là vấn đề không thể giải quyết được Nếu chúng ta duy trì Chính phủ hiện nay thì nền văn minh chắc chắn không thể xâm nhập vào được Đó là vì nền văn minh hiện đại không thể song song tồn tại được cùng với những truyền thống Nhật Bản” 14

Tư tưởng về cải cách giáo dục

Trong tác phẩm “Khuyến học”, ngay trang đầu tiên, Fukuzawa đã nêu quan

điểm “trời không tạo ra người đứng trên người” và lấy đó làm tên chương Ông viết: “mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn” Ông phân tích lý do “trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ Người làm việc khó được coi là

người quan trọng Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, c n lao động chân tay là việc dễ Vì thế, học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân công…là những người có địa vị cao, quan trọng Và một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì đương nhiên gia đình họ cũng giàu

12

Fukuzawa Yukichi, Phúc Ông tự truyện, bản dịch của Phạm Thu Giang, NXB Thế Giới, tr.281

13 Fukuzawa Yukichi, Phúc Ông tự truyện, bản dịch của Phạm Thu Giang, NXB Thế Giới, tr.281

Trang 34

sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng nằm mơ cũng không được Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn đề thì chỉ có một nguyên nhân Đó chẳng qua là

do có chịu khó học hay không mà thôi, chứ có người nào được trời phú cho đâu Ngạn ngữ có câu “Trời không ban cho con người phú quý Chính con người tạo ra giàu sang phú quý” Rồi Fukuzawa tổng kết: “Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn, giàu nghèo Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành thấp kém nghèo khổ”15 Ông phê phán hư học, đề cao thực học Theo ông, học để tự chủ, độc lập cá nhân và giúp cho độc lập đất nước Mục tiêu chính là: tự chủ và độc lập dân tộc, vừa là mục đích vừa là biện pháp để giành được độc lập

Tư tưởng về đào tạo nhân lực: thể chất, trí dục, đức dục

Fukuzawa cho rằng cần đào tạo phẩm chất, trí tuệ của dân lẫn quan (Khuyến học) và hoàn thiện hệ thống pháp luật Ông kêu gọi nguồn nhân lực trong khu vực

tư nhân hăng hái bày tỏ ý kiến cải cách, giúp đỡ chính phủ, phát triển kinh tế, đặc biệt nhân lực phụ nữ hãy tham gia kinh doanh, phát triển tài năng Ông kêu gọi cải cách hệ thống luật pháp, phát triển hải quân, trí thức Nhật Bản và giai cấp lãnh đạo đồng hành với nhau Là người đầu tiên trên toàn nước Nhật thực hiện ý tưởng mới

là thu học phí từ học sinh mỗi tháng tại trường tư thục của ông, trường Keio Gijuku

“Trước đó, các trường tư thục của Nhật đều theo cách của người Trung Hoa, tức là khi nhập môn, các trò sẽ mang tiền hoặc lễ vật đến để nhận thầy Từ bây giờ, sẽ thu học phí của các trò và không phải mang lễ vật đến nữa”16 Thực hiện tư tưởng xã hội hóa giáo dục và truyền bá Tây phương học trong trường một cách nhiệt thành như vậy, chính là một cải cách lớn về giáo dục của Fukuzawa, là học thuyết khai sáng văn minh của ông, thể hiện xuyên suốt trong các trước tác Tuy nhiên, ông đề xướng tiếp thu, học tập văn minh phương Tây nhưng không sùng bái phương Tây,

mà phải tiếp thu có chọn lọc (Khuyến học, Phúc Ông tự truyện)

Luận thuyết nổi tiếng của ông về thu tóm khoa học công nghệ phương Tây, học hỏi và tạo ra nguồn nhân lực sánh ngang với nguồn nhân lực của phương Tây

trong tác phẩm Thoát Á luận của ông, được xem như đòn đánh thẳng tay vào những

Trang 35

tư tưởng thủ cựu, nêu cao chí khí và mong muốn thoát ra khỏi hàng ngũ các nước

châu Á lạc hậu trì trệ, để đứng vào hàng ngũ các nước tiên tiến phương Tây: “Nếu

chúng ta làm được như vậy, chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kỹ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại được một trật tự mới trên toàn châu Á Chủ trương của tôi chỉ gói gọn trong hai chữ “thoát Á””.17 Ông nêu rõ:

“Đường giao thông trên thế giới là phương tiện để làn gió của văn minh phương Tây thổi vào phương Đông Khắp mọi nơi, không có cỏ cây nào có thể ngăn được làn gió văn minh này”18

Ông phân tích: “Nếu chúng ta quan sát kĩ lưỡng tình hình

thế giới hiện nay, chúng ta sẽ nhận thấy được rằng chúng ta không thể nào chống lại được sự tấn công dữ dội của nền văn minh ấy Vậy tại sao chúng ta không cùng nhau bơi nổi trên biển văn minh ấy, cùng nhau tạo ra một làn sóng văn minh ấy, cùng nhau nỗ lực xây dựng và hưởng lạc những thành quả của nền văn minh ấy?” 19 Ông kêu gọi: “chúng ta không c n thời gian chờ đợi sự khai sáng của các nước láng giềng Châu Á để cùng nhau phát triển được mà tốt hơn hết chúng ta hãy tách ra khỏi hàng ngũ các nước Châu Á, đuổi kịp và đứng vào hàng ngũ các nước văn minh phương Tây” 20

Học thuyết Fukuzawa đã trở thành kim chỉ nam cho chính phủ Nhật Bản thời Minh Trị cải cách toàn diện, đưa công cuộc đào tạo nhân lực ở Nhật Bản phát triển

từ trước chiến tranh thế giới II, rồi trở thành di sản cho cuộc đào tạo nhân lực sau chiến tranh diễn ra nhanh chóng Nhật Bản trở thành người khổng lồ trên thế giới

I.2.4 Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của chính phủ các thời kỳ

Chính phủ Yoshida Shigeru (1950)

Sau chiến tranh, nhận thức của Chính phủ Yoshida Shigeru về tình hình trong nước và thế giới được thể hiện trong học thuyết Yoshida, tập trung ở những mặt sau:

Nền tảng của ngoại giao Nhật Bản là xu hướng “thân Mỹ”, đi với Mỹ Hiệp ước an ninh Nhật Mỹ được bảo đảm, Nhật Bản tự xem mình là thành viên của phương Tây

17

Fukuzawa Yukichi, Thoát á luận, bản dịch của Hải Âu và Kuriki Seiichi năm 2005

18

Fukuzawa Yukichi, Thoát á luận, bản dịch của Hải Âu và Kuriki Seiichi năm 2005

19 Fukuzawa Yukichi, Thoát á luận, bản dịch của Hải Âu và Kuriki Seiichi năm 2005

Trang 36

Dựa vào Mỹ để được đảm bảo an ninh quốc phòng, hạn chế tối thiểu kinh phí cho chi tiêu quốc phòng

Coi trọng ngoại giao thúc đẩy kinh tế làm nền tảng

Các chính sách của chính phủ hướng đến là phục vụ cho chủ thuyết trên, trước hết là chính sách về kinh tế và chính sách về đào tạo nhân lực Yoshida đã dựa vào điều 9 Hiến pháp, cự tuyệt yêu cầu của ngoại trưởng Mỹ muốn Nhật Bản tái vũ trang để làm đồng minh của Mỹ chống chủ nghĩa cộng sản Chính phủ Yoshida đã thực hiện các chiến lược ngoại giao kinh tế và chiến lược đào tạo nhân lực ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cải cách giáo dục để tái thiết và phát triển kinh tế

Xuất phát từ nhận thức đó, các chiến lược về đào tạo nhân lực mà chính phủ theo đuổi gồm có:

Phát triển nhanh các trường nghề để tạo nguồn nhân lực có kỹ năng nghề một cách nhanh chóng, xây dựng lại cơ sở hạ tầng đã bị mất và phục vụ cho các công xưởng sau chiến tranh để tái thiết đất nước

Thành lập nhiều trường đại học mới, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu ở các trường đại học Các trường đại học tư tăng số lượng nhanh chóng

Đặc biệt, chính phủ khuyến khích các công ty lớn ở Nhật Bản phối hợp nghiên cứu phát triển sản phẩm điện tử để xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Ví

dụ năm 1964, nhiều công ty lớn, trong đó có Toshiba, Sharp, Sony, Hitachi, Sanyo, Mitsubishi, Matsushita đã cùng phát triển các loại máy thu hình và các sản phẩm điện tử khác Thông qua Bộ thương mại và công nghiệp - MITI, những khoản tiền khổng lồ được đầu tư và chi trả ngầm để các sản phẩm máy thu hình mới được chế tạo ở Nhật tràn vào thị trường Mỹ và bán phá giá Bán phá giá là thuật ngữ chỉ hành

vi bán một sản phẩm ở nước khác thấp hơn giá trị thị trường đúng đắn Nó có thể được đo lường bằng cách so sánh với giá của sản phẩm đồng nhất hoặc tương tự ở nước chế tạo sản phẩm đó Mục tiêu là loại các công ty đối thủ nội địa ra khỏi thị trường bằng cách cung cấp cho người tiêu dùng hàng nhập khẩu với giá rất thấp trong thời gian dài Các công ty nội địa buộc phải bỏ phân khúc thị trường của sản phẩm đó vì kinh doanh không có lãi, các công ty nước ngoài dần chiếm lĩnh thị trường và dần tăng giá lên đến mức có thể thu lợi nhuận Như vậy, với sự liên quan giữa các tập đoàn lớn với MITI, và sự liên quan giữa MITI và chính phủ, chiến lược

Trang 37

đào tạo nhân lực không chỉ gói gọn ở bề nổi là các luật và văn bản, các trường đào tạo; mà còn bao gồm cả hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm điện tử của các tập đoàn lớn rồi tìm cách bán ở nước ngoài và được MITI hậu thuẫn Thông qua đó

số lượng và chất lượng nguồn nhân lực về điện tử bán dẫn và phần mềm của Nhật Bản đã gia tăng nhanh chóng

Các thủ tướng sau đó cũng kế thừa chiến lược trên Thủ tướng Ikeda Hayato đưa ra khẩu hiệu: "Hãy nhân lợi tức gấp đôi!", chủ trương "khoan dung và kiên nhẫn", tách kinh tế khỏi chính trị (seikei bunri - 正系分離 - chính kinh phân ly), lấy

chính sách kinh tế làm trọng tâm Việc đào tạo nguồn nhân lực tập trung hướng đến việc gia tăng chất lượng nhân lực ngành cảng biển, đóng tàu, gang thép, hóa học dầu khí và hóa học công nghiệp nặng, phục vụ cho các đề án xây dựng và nới rộng các hải cảng, vịnh Mỹ hậu thuẫn cho Nhật Bản bằng cách bán các bằng sáng chế và phát minh cho Nhật Bản với giá rẻ, chuyển giao kỹ thuật và thiết bị hiện đại, nên các ngành hóa học và dầu khí đã nhanh chóng có nguồn nhân lực đủ trình độ nghiên cứu và sản xuất

Chiến lược của chính phủ Fukuda (1977)

Trong chuyến thăm Đông Nam Á tháng 8/1977, tại Manila, thủ tướng Takeo Fukuda đã có bài diễn văn, trong đó nêu những quan điểm về chính sách của Nhật Bản với Đông Nam Á như sau:

Nhật Bản sẽ không trở thành cường quốc quân sự lớn

Xây dựng “lòng tin” trên mọi lĩnh vực

Hợp tác tích cực để tăng cường quan hệ với các nước ASEAN và tạo dựng hiểu biết lẫn nhau với ba nước Đông Dương

Học thuyết này chú trọng đến việc phục hồi từng bước vai trò an ninh của Nhật Bản trong khu vực, xây dựng lòng tin ở các quốc gia đã từng là nạn nhân của chế độ quân phiệt trong quá khứ, gợi ý hòa giải các nước ASEAN và Đông Dương, bồi thường chiến tranh cho các nước đã bị Nhật Bản chiếm đóng trong quá khứ Với nhận thức coi trọng Đông Nam Á như trên, chiến lược về kinh tế và chiến lược

về đào tạo nhân lực của Chính phủ Fukuda vừa có tính kế thừa học thuyết Yoshida, vừa mở rộng phạm vi kinh tế lẫn đào tạo nguồn nhân lực ra khu vực Đông Nam Á

Trang 38

Chính sách đào tạo nhân lực bây giờ bao gồm cả việc chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nhân lực ở các nước chậm phát triển hơn, để tạo nguồn nhân lực dự trữ cho Nhật Bản ở các nước Đông Nam Á, phục vụ chiến lược dịch chuyển các nhà máy của Nhật Bản sang các nước này Các chiến lược gồm có:

Đào tạo nhân lực và viện trợ ODA cho các nước Đông Nam Á, tạo nguồn nhân lực đệm để từng bước dịch chuyển các nhà máy sang Đông Nam Á, tận dụng lợi thế nhân lực rẻ ở các nước này, sau đó xuất khẩu hàng hóa sang nước thứ ba

Tiếp tục thành lập các trường đại học trong nước, khuyến khích mở rộng nghiên cứu ở khối đại học tư thục

Ở trong nước, MITI tiếp tục phối hợp ngầm với các tập đoàn kinh tế lớn, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu phát triển các loại sản phẩm trí tuệ cao Lần này là các loại máy công cụ cỡ lớn Chính phủ nhận thức rằng để duy trì vị thế quốc gia công nghiệp mạnh mẽ trên thế giới, họ phải trở thành nhà sản xuất máy công cụ hàng đầu Hầu hết các sản phẩm công nghệ cao đều được chế tạo bằng máy công cụ Máy công cụ làm được hầu hết các nhiệm vụ nặng nề ở cảng biển, trong xây dựng hay trong nông nghiệp, với độ chính xác rất cao, giảm thiểu sức lực con người Máy công cụ là yếu tố cơ bản trong hệ thống chất lượng quốc gia Nhật Bản tập trung đào tạo nhân lực nghiên cứu máy công cụ và sản xuất hàng loạt, thông qua đó đào tạo được nguồn nhân lực khổng lồ và thạo nghề, chất lượng nhân lực ở tầng lớp công nhân “cổ xanh” và “cổ trắng” đều tăng cao

Với vai trò điều hành và hỗ trợ nền công nghiệp Nhật Bản, MITI tiếp tục vừa khuyến khích vừa ép buộc các công ty nhỏ sáp nhập với nhau để tránh lãng phí về

sự trùng lắp nghiên cứu phát triển, tập trung đào tạo nhân lực và hoạt động nghiên cứu phát triển các loại máy phức tạp hơn, độ chính xác tinh xảo hơn Sự liên tục của chiến lược đào tạo nhân lực của chính phủ Nhật Bản qua các thời kỳ, rõ ràng đã đưa công cuộc đào tạo nhân lực tập trung vào các ngành mũi nhọn, phục vụ nền kinh tế hướng về xuất khẩu, tiến lên xã hội công nghiệp

Chiến lược của chính phủ Hashimoto (1997)

Chính phủ Hashimoto có những điều chỉnh, thể hiện nhận thức của Đảng cầm quyền Trong chuyến thăm 5 nước ASEAN (Brunei, Malaysia, Vietnam, Singapore), thủ tướng Ryutaro Hashimoto đã phát biểu diễn văn về chính sách tại

Trang 39

Singapore ngày 14/1/1997, nêu học thuyết coi trọng Đông Nam Á “Ba sáng kiến hợp tác Nhật Bản – ASEAN hướng tới thế kỷ XXI” gồm các điểm sau:

Tăng cường đối thoại cấp nguyên thủ về các lĩnh vực kinh tế, tiền tệ, tài chính Đối thoại theo hội nghị cấp cao định kỳ, chính thức hoặc không chính thức

Hợp tác văn hóa đa dạng theo hướng chung sống và kế thừa truyền thống Cùng nhau đối phó với những vấn đề toàn cầu như môi trường, chống khủng bố

Ngày 24/7/1997, trong diễn văn, thủ tướng Hashimoto đã sử dụng cụm từ

“ngoại giao Âu – Á” để diễn tả chiến lược thiết lập ngoại giao với Trung Quốc, Nga

và các nước Trung Á Như vậy, Nhật Bản đã kế thừa chính sách ngoại giao của Fukuda trước đây, vừa tiếp tục nâng mối quan hệ với ASEAN lên tầm đối tác, thể hiện quyết tâm ảnh hưởng lớn hơn về vai trò chính trị ở châu Á; vừa mong muốn đóng góp lớn hơn vào cấu trúc an ninh khu vực và kinh tế khu vực Sau đó, thủ tướng Keizo Obuchi (1998-2000) đã cụ thể hóa chính sách này bằng chiến lược đào

tạo “nguồn nhân lực dự trữ thứ tư”, thực hiện tiếp các mục tiêu đào tạo nguồn nhân

lực cho các nước Đông Nam Á, tăng vốn ODA cho các nước này – nơi có nguồn nhân lực trẻ dồi dào, đang theo nhau bước vào giai đoạn dân số vàng Thông qua việc giúp các nước đào tạo nhân lực và trợ giúp ODA, Nhật Bản cũng mở cửa thị trường Đông Nam Á rộng lớn với trên 600 triệu dân, cung cấp các mặt hàng và các

dự án theo thỏa thuận ODA, và vì mục đích chính trị của Nhật Bản ở châu Á

Sau đó, chính phủ của thủ tướng Koizumi đề xuất thành lập cộng đồng Đông

Á, gồm Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và New Zealand Xu hướng toàn cầu hóa đến giờ đã hiện rõ qua tính liên tục của các chính sách ngoại giao từng thời kỳ Chiến lược đào tạo nhân lực của Nhật Bản lại có những điều chỉnh để tạo ra nguồn nhân lực có kỹ năng và phẩm chất đáp ứng được quá trình toàn cầu hóa ấy, để giữ vững năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu

Trang 40

CHƯƠNG II: CÔNG CUỘC ĐÀO TẠO NGUỒN

NHÂN LỰC II.1 Chính sách thu hút và đào tạo nguồn nhân lực

II.1.1 Chính sách làm việc suốt đời

Ở Nhật Bản, một trong số những động lực kích thích nguồn nhân lực làm việc có hiệu quả, thu hút được nguồn nhân lực một cách tập trung, tránh lãng phí do phải đào tạo nhiều lần và mất thời gian thích ứng với công việc mới, là chính sách làm việc suốt đời Hệ thống làm thuê suốt đời xảy ra ở các công ty lớn Nền tảng xã hội của hệ thống này là tinh thần làm việc theo từng nhóm nhỏ và lòng trung thành với chủ kiểu văn hóa samurai đã trở thành căn tính văn hóa của người Nhật Số lượng công nhân làm việc suốt đời chiếm từ 22% đến 35% công nhân viên Chế độ này tạo ra nguồn nhân lực sẵn sàng làm việc quên mình, gắn chặt lợi ích cá nhân vào lợi ích và sự phát triển của công ty và rất trung thành Chế độ làm thuê suốt đời

đã có từ nhiều thế kỷ trước của Nhật Bản Từ thời Heian, các lãnh chúa đã có một đội quân là các võ sĩ sẵn sàng hy sinh và suốt đời bảo vệ chủ Các võ sĩ được hưởng bổng lộc từ các lãnh chúa, trung thành và làm việc cho lãnh chúa, thậm chí có thể tự sát theo chủ Một võ sĩ rời bỏ chủ của mình hoặc không có một người chủ để theo hầu được gọi là ronin, và xã hội không dành cho anh ta sự tôn trọng Của cải anh ta cũng không thể kiếm được đủ để lo cho gia đình và họ hàng của mình Kế thừa truyền thống văn hóa này, một người Nhật luôn có xu hướng làm việc theo một

“nhóm” nào đấy, trung thành với nhóm, với một công ty và tự hào khi mình là một thành viên trong đại gia đình công ty đó

Trong giai đoạn sau chiến tranh, chính sách làm việc suốt đời lại được các công ty sử dụng triệt để, tận dụng được nguồn lực con người hòa quyện với nét văn hóa đặc trưng trên, do vậy kích thích được sự tự nguyện từ phía người lao động Người công nhân rất mong muốn được tiếp nhận vào chế độ làm thuê suốt đời, không muốn thay đổi chỗ làm Tiền lương sẽ tăng dần theo thâm niên, người lao động tích lũy được khoảng 20% đến 25% lương để dành, được bảo đảm công việc suốt đời Khi đến 55 hoặc 60 tuổi, người lao động được hưởng tiền trợ cấp hưu đủ

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đặng Quốc Bảo (Cb), Trương Thị Thúy Hằng, Đặng Thị Thanh Huyền (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam, NXB CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo (Cb), Trương Thị Thúy Hằng, Đặng Thị Thanh Huyền
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2008
3. Nguyễn Công Bình (Cb) (1995), Đồng bằng sông Cửu Long – nghiên cứu phát triển, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bằng sông Cửu Long – nghiên cứu phát triển
Tác giả: Nguyễn Công Bình (Cb)
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1995
4. Charlene M.Solomon, Michael S.Schell (2010), Quản lý xuyên văn hóa, Dịch giả: Nguyễn Thọ Nhân, NXB Tổng hợp TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xuyên văn hóa
Tác giả: Charlene M.Solomon, Michael S.Schell
Nhà XB: NXB Tổng hợp TPHCM
Năm: 2010
5. Chie Nakane: Xã hội Nhật Bản (1990), dịch giả: Đào Anh Tuấn, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội Nhật Bản
Tác giả: Chie Nakane: Xã hội Nhật Bản
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1990
6. Chalmers Johnson, MITI and the Japanese micrale: the growth of industrial policy, 1925-1975 (Miti và sự thần kỳ Nhật Bản), bản tiếng Việt, Viện kinh tế thế giới, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MITI and the Japanese micrale: the growth of industrial policy, 1925-1975 (Miti và sự thần kỳ Nhật Bản)
7. Tạ Thị Thiều Dao, Làm gì để giải bài toán nhân lực cho Đồng bằng sông Cửu Long, tạp chí Khoa học & Ứng dụng, số 10-2009, tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để giải bài toán nhân lực cho Đồng bằng sông Cửu Long
9. Phan Xuân Dũng (Cb) (2004), Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp, NXB CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phan Xuân Dũng (Cb)
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2004
10. Edwin O. Reischauer (1993), Nhật Bản – câu chuyện về một quốc gia, NXB Thống kê, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản – câu chuyện về một quốc gia
Tác giả: Edwin O. Reischauer
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1993
11. Fukutake Tadashi (1994), Cơ cấu xã hội Nhật Bản – Nihon Shakai no Kozo, Dịch giả: Hồ Hoàng Hoa, Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu xã hội Nhật Bản – Nihon Shakai no Kozo
Tác giả: Fukutake Tadashi
Năm: 1994
12. Fukuzawa Yukichi (2005), Hồi ký Phúc ông tự truyện, Dịch giả: Phạm Thu Giang, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký Phúc ông tự truyện, D
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005
13. Fukuzawa Yukichi (2005), Khuyến học, Dịch giả: Phạm Hữu Lợi, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến học, D
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
15. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội – kinh tế, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội – kinh tế
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1996
16. Phạm Minh Hạc (Cb), Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi (2004), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực – niên giám nghiên cứu số 3, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực – niên giám nghiên cứu số 3
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Cb), Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2004
17. Phạm Minh Hạc (2010), Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị học – cơ sở lý luận góp phần đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của người Việt Nam thời nay
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
18. Nguyễn Đình Hiển, Hải Minh (1994), Quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự trong công ty Nhật Bản, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kinh doanh, quản trị nhân sự trong công ty Nhật Bản
Tác giả: Nguyễn Đình Hiển, Hải Minh
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1994
19. Đặng Thị Thanh Huyền (2001), Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực – Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực – Những bài học thực tiễn từ Nhật Bản
Tác giả: Đặng Thị Thanh Huyền
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2001
21. Katsuta Suichi và Nakauchi Tosho (2001), Giáo dục Nhật Bản (sách tham khảo), Dịch giả: Nguyễn Mạnh Trường, NXB CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Nhật Bản (sách tham khảo), D
Tác giả: Katsuta Suichi và Nakauchi Tosho
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 2001
22. Kenichi Ohno (2010), Phát triển kinh tế của Nhật Bản, bản dịch tiếng Việt của Diễn đàn phát triển Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế của Nhật Bản
Tác giả: Kenichi Ohno
Năm: 2010
23. K.B.Everard, Geoffrey Morris, Ian Wilson, Quản trị hiệu quả trường học, dự án SREM biên dịch, NXB Dân Trí, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị hiệu quả trường học
Nhà XB: NXB Dân Trí
24. Kozo Yamamura và Yasukichi Yasuba (chủ biên) (1991), Kinh tế học chính trị Nhật Bản, quyển I tập III– Sự biến đổi trong nước, NXB KHXH – Viện Kinh tế thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học chính trị Nhật Bản, quyển I tập III– Sự biến đổi trong nước
Tác giả: Kozo Yamamura và Yasukichi Yasuba (chủ biên)
Nhà XB: NXB KHXH – Viện Kinh tế thế giới
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w