1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bản thể luận trong triết học của Hêghen; đóng góp, hạn chế của ông trong vấn đề này

15 277 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hình học. Tên gọi “bản thể luận” xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại. Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học.Bản thể luận nhận thức đã được trình bày trong “Phê phán lý tính thuần tuý” của Cantơ, nhưng rõ ràng và sâu sắc nhất là trong “Khoa học logic” của Hêghen.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hình học Tên gọi “bản thể luận” xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học

Bản thể luận nhận thức đã được trình bày trong “Phê phán lý tính thuần tuý” của Cantơ, nhưng rõ ràng và sâu sắc nhất là trong “Khoa học logic” của Hêghen

Hêghen (1770 – 1831) là một nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của triết học mác-xít (Đức) Triết học của Hêghen có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nước Đức và của cả Châu Âu đương thời Để hiểu rõ hơn vấn đề bản thể luận trong

triết học của Hêghen, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Vấn đề bản thể luận trong

triết học của Hêghen; đóng góp, hạn chế của ông trong vấn đề này”.

Với đề tài này, nhóm chúng em mong muốn đưa đến những kiến thức cơ bản nhất về bản thể luận, đặc biệt là bản thể luận trong triết học của Hêghen và nêu được những đóng góp, hạn chế của Hêghen trong vấn đề bản thể luận Rất mong nhận được sự ủng hộ của thầy cô giáo

Trang 2

NỘI DUNG

I Vấn đề bản thể luận trong triết học của Hêghen

1 Thuật ngữ “Bản thể luận”

Để hiểu được bản thể luận trong triết học của Hêghen, trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là Bản thể luận

Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nó là sự kết hợp giữa hai từ on OPv) – “cái thực tồn”, cái đang tồn tại và logos OλPγος) – lời lẽ, học) – lời lẽ, học thuyết, tạo thành “học thuyết về tồn tại”

Bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hình học Tên gọi “bản thể luận” xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, trong “Lexicon philosophicum” OBách khoa thư triết học) của triết gia R.Goclenius được xuất bản tại Phrăngphuốc OĐức) vào năm 1613 Muộn hơn một chút, thuật ngữ này cũng đã xuất hiện trong các tác phẩm của A.Calovius Oxuất bản tại Rostock, năm 1636) và của J.B du Hamel Oxuất bản tại Pari, năm 1687) Năm 1656, J.Clauberg cũng đã sử dụng thuật ngữ này trong “Siêu hình học” được xuất bản tại Amsterdam Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi trong triết học sau khi C.Vônphơ OC.Wolff) sử dụng nó để chỉ một bộ phận căn bản của siêu hình học, bên cạnh vũ trụ luận, tâm lý học và thần học

Như vậy, tên gọi “Bản thể luận” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học

Trang 3

2 Vấn đề bản thể luận trong triết học của Hêghen

a Quan điểm về “ý niệm tuyệt đối” (hay nguồn gốc thế giới) của Hêghen

Hêghen là nhà duy tâm khách quan, ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới” Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính cách dường như là sự thể hiện,

sự biểu hiện cụ thể của tinh thần thế giới, là cái có sau; tinh thần là đấng sáng tạo

ra vật chất Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Tinh thần thế giới – ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn và chứa đựng dưới dạng tiềm năng tất cả của mọi hiện tượng tự nhiên và

xã hội Nó là nguồn gốc và động lực của mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội

Tinh thần thế giới hay ý niệm tuyệt đối trong quá trình phát triển của nó diễn

ra qua các giai đoạn khác nhau, ngày càng thể hiện đầy đủ nội dung bên trong nó Đầu tiên nó phát triển ở chính bản thân nó Sau khi tồn tại ở bản thân mình, “tinh thần thế giới” vận động tha hóa sang giới tự nhiên; hay nói khác đi, giới tự nhiên là tồn tại khác của “tinh thần thế giới” Sau khi tồn tại ở giới tự nhiên, “tinh thần tuyệt đối” lại tha hóa quay trở về bản thân mình dưới dạng lịch sử, xã hội, tinh thần Theo hệ thống triết học của Hêghen, toàn bộ thế giới muôn màu, muôn vẻ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên của ý niệm với tính cách là lực lượng sáng tạo,

là tổng hòa của mọi hình thức khác nhau của sự biểu hiện ý niệm Bởi vậy, học thuyết của Hêghen coi tính thứ nhất là tinh thần, tính thứ hai là vật chất do ý niệm tuyệt đối và tinh thần thế giới sinh ra và quyết định, là một sự “tồn tại” khác của tinh thần sau khi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giới mới trở lại “bản thân mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng, được Hegel gọi là “tinh thần tuyệt đối” Đó cũng chính là sự thể hiện riêng về mặt triết học những lời khẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới

Trang 4

Có thể nói, trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Hêghen chỉ lặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói, song cái mới trong học thuyết của ông chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệt đối là một quá trình phát triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi tồn tại

b Quan điểm về triết học tự nhiên của Hêghen

Triết học tự nhiên của Hêghen với tính cách là sự tha hóa của ý niệm tuyệt đối Giới tự nhiên được Hêghen hiểu là một hình thức tồn tại khác của “Ý niệm tuyệt đối” nó nằm trong quá trình phát triển thống nhất của “Ý niệm tuyệt đối”, cho nên không ngừng vận động và phát triển Tiếp thu những thành tựu khoa học tự nhiên, Hêghen khẳng định sự tồn tại của nhiều cấp độ khác nhau của vật chất như:

cơ học, vật lý, hóa học, sự sống… với những đặc điểm khác nhau về bản chất và vận động

C.Mác đã nhận xét trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, “Hêghen đã xuất phát từ tha hoá” để nghiên cứu triết học của mình Phạm trù “tha hoá” rốt cuộc đã xuyên suốt và bao trùm lên toàn bộ hệ thống của Hêghen Phạm trù “tha hoá” của Hêghen mang cả tính chất bản thể luận Osự chuyển hoá của tinh thần thành tự nhiên và sự tạo ra thế giới đối tượng, tức là thế giới xã hội, khách quan, thông qua hoạt động mang tính đối tượng hoá của con người) lẫn tính chất nhận thức luận Obiến tri thức thành mặt đối lập của nó, tức là thành sai lầm) Thứ hai, tính độc đáo và biện chứng trong cách tiếp cận của Hêghen về “tha hoá” Trong cách hiểu của Hêghen về “tha hoá”, thể hiện qua việc ông cho xuất bản Hiện tượng học tinh thần Trong tác phẩm này, Hêghen đã xây dựng và trình bày rõ quan niệm của mình về “tha hoá”: tha hoá chính là quá trình biến thành Otrở thành) cái khác, cái tha hoá chính là cái ban đầu được biểu hiện là cái khác Hêghen viết:

Trang 5

“Tự nhiên biểu hiện ra là ý niệm dưới hình thức tồn tại khác Như vậy, vì ý niệm biểu hiện ra ở đây là sự phủ định bản thân, hoặc như ở ngoài bản thân mình, cho nên không phải tự nhiên chỉ có tính chất bên ngoài theo ý nghĩa tương đối, so với ý niệm ấy, mà tính bên ngoài tạo thành sự quy định trong đó ý niệm biểu hiện ra là

tự nhiên”O2)

Giải thích rõ hơn về quan niệm này của Hêghen, C.Mác viết: “Cần phải hiểu tính bên ngoài ở đây theo ý nghĩa sự tha hoá, theo ý nghĩa sự thiếu sót, khuyết điểm không nên có Vì cái chân thực vẫn còn là ý niệm Tự nhiên chỉ là hình thức

đầu, dĩ nhiên là cái ban đầu trong hoàn cảnh khác Và, chính C.Mác đã chỉ ra quan

niệm này ở Hêghen: “Mặt khác, theo lời Hêghen, ở đây đồng thời cũng có một nhân tố khác, đó là: trên một mức độ y như thế, tự ý thức đã tước bỏ và hấp thu trở lại vào mình sự tha hoá ấy và tính đối tượng ấy và do đó, trong tồn tại khác của nó với tính cách là tồn tại khác, cũng vẫn ở trong bản thân nó”O4) Theo đó, có thể nói, trong quan niệm của Hêghen, ý niệm tuyệt đối là tồn tại đầu tiên, duy nhất và vĩnh hằng và nhờ có sự “tự tha hoá” mà hình thức thể hiện đầu tiên của nó là giới tự nhiên, hình thức thứ hai là con người và xã hội loài người và đến đây, ý niệm tuyệt đối tự nhận thức đầy đủ về chính bản thân mình trong triết học Hêghen

c Quan điểm về triết học tinh thần (quan điểm về xã hội) của Hêghen

Tuy coi lịch sử nhân loại là lịch sử phát triển của đời sống tinh thần, là hiện thân của “Ý niệm tuyệt đối” theo tinh thần duy tâm, nhưng Hêghen đã nêu được những tư tưởng biện chứng sâu sắc về sự phát triển xã hội Hêghen giải thích nguồn gốc nhà nước không phải từ khế ước xã hội Ông không cho rằng con người sinh ra vốn đã bình đẳng, mà ngược lại là bất bình đẳng Do đó, trong xã hội luôn

có sự khác biệt về đẳng cấp, của cải…vì vậy, cần có nhà nước để điều hòa mẫu

Trang 6

thuẫn Ông cho rằng nhà nước tồn tại vĩnh viễn ở mọi thời kỳ lịch sử Nó là hiện thân của “Ý niệm tuyệt đối”nhờ nó mà gia đình và xã hội công dân mới tồn tại được

Nguyên lý xuất phát triết học Hêghen là sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và thế giới được hiểu như hiện thân của tinh thần đó Tư duy, tinh thần, theo Hêghen là nguồn gốc duy nhất của mội cái trong tồn tại Thế giới tự nhiên là tư duy đã tha hóa, là tư duy tồn tại dưới dạng vật chất Tư duy khi suy tư

về chính bản thân mình thì nó đã lấy chính bản thân mình làm đối tượng để tư duy Nói cách khác, Hêghen coi thế giới vật chất chính là con người vô cơ, con người ở giai đoạn chưa hình thành Còn con người bằng xương, bằng thịt theo Hêghen là con người đã phát triển đầy đủ, là con người trở về chính bản thân nó với tất cả những đặc tính vốn có của mình

Hêghen đã quy mọi quá trình của hiện thực thành quá trình tư duy, quy lịch

sử hiện thực về lịch sử tư duy, quy hoạt động thực tiễn của con người về quá trình

tự ý thức, tự nhận thức Hêghen coi con người vừa là chủ thể vừa là kết quả của chính quá trình hoạt động của mình; con người vừa là chủ thể, đồng thời là mục đích của sự phát triển lịch sử; tư duy và trí tuệ con người hình thành và phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải biến thế giới, đối lập với bản thân mình thành cái của mình, ý thức con người là sản phẩm của lịch sử xã hội, hoạt động của con người càng phá triển thì ý thức của nó càng mang bản chất xã hội

Hêghen coi con người là sản phẩm và cũng là giai đoạn phát triển cao của tinh thần tuyệt đối Hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người là công

cụ để tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình Hêghen tiếp cận được quan niệm coi ý thức con người, nhân cách con người là sản phẩm của lịch sử

Theo Hêghen, con người, xã hội, loài người với tư cách là sự phát triển giới

tự nhiên để nó tạo ra

Trang 7

Vậy, cả giới tự nhiên, xã hội loài người đều là kết quả của sự vận động, của

ý niệm tuyệt đối

II Những đóng góp của Hêghen trong vấn đề bản thể luận

1 Thứ nhất, Hêghen đã sáng tạo ra một hệ thống logic học mới.

Có thể nói, bản thể luận trong giai đoạn cận đại nói chung và trong triết học của Hêghen nói riêng đóng vai trò luận chứng cho sự tồn tại của khoa học mà khuôn mẫu là khoa học tự nhiên Để xây dựng logic học mới với tính cách là logic biện chứng, Hêghen đã nghiên cứu toàn bộ quá trình phát triển của logic hình thức

cổ điển trước đây Tuy không phủ nhận ý nghĩa và vai trò của logic hình thức trong lịch sử nhận thức, nhưng Hêghen đã chỉ ra những hạn chế của nó Theo Hêghen, logic học trước ông là khoa học về những hình thức tư duy chủ quan, vì vậy nó chưa đầy đủ chưa đáp ứng được với sự phát triển của triết học và khoa học Trên

cơ sở đó, Hêghen đã sáng tạo ra một hệ thống logic học mới - logic biện chứng nhằm đem lại cho triết học một phương pháp luận mới đó là phép biện chứng Phép biện chứng của Hêghen là một trong những thành tựu quý giá nhất của triết học cổ điển Đức nói riêng và lịch sử triết học trước Mác nói chung

Hêghen, một mặt, đã phê phán siêu hình học cũ, nhưng mặt khác, lại cho rằng, “Logic học” của ông là đồng nhất với siêu hình học, tức là “với khoa học nắm bắt sự vật trong tư tưởng, khoa học có nhiệm vụ trình bày bản chất của sự vật” Theo Hêghen, bản thể luận là “học thuyết về các tính quy định trừu tượng của bản chất” Hêghen cũng là người đầu tiên đưa ra quan niệm coi siêu hình học là một phương pháp tư duy đối lập với phương pháp biện chứng và qua đó, siêu hình học bị đánh giá một cách hoàn toàn tiêu cực

Những phạm trù trong triết học Hêghen không phải là sự phản ánh thế giới khách quan, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng hoàn toàn không chứa đựng

Trang 8

một nội dung gì cả Trái lại, những phạm trù của Hêghen còn có ý nghĩa bản thể luận Một trong những sự khác biệt giữa triết học Hêghen và Cantơ cũng chính là ở điểm này Theo Cantơ, những phạm trù không có mối liên hệ nào với thế giới hiện thực khách quan, chúng là sản phẩm của ý thức con người Vì vậy, những phạm trù

tự chúng không chứa đựng nội dung khách quan Còn ở Hêghen thì những phạm trù logic không phải là cái gì khác mà là những trừu tượng được tách ra từ bản thân hiện thực, cho nên chúng có nội dung sinh động, phong phú, từ đó tạo nên nội dung sâu sắc của Khoa học logic Hệ thống Hêghen dưới hình thức duy tâm đã đoán được trước tư tưởng về sự thống nhất giữa bản thể luận Ophép biện chứng), logic học và lý luận nhận thức và, do đó, đã chỉ ra lối thoát khỏi khuôn khổ những triết lý tư biện để đi đến sự nhận thức thật sự tích cực về thế giới

2 Thứ hai, Hegel không phải là người đầu tiên xây dựng nên phép biện chứng; song qua tư tưởng và quá trình hoạt động của mình, Hêghen đã khiến

nó trở nên hoàn thiện hơn và mang lại cho phép biện chứng một vị trí quan trọng trong triết học.

Triết học Mác-Lênin với phương pháp biện chứng duy vật là đỉnh cao triết học của thời đại ngày nay Và chính những người sáng tạo nên hệ thống triêt học

đó đã thừa nhận sự kế thừa và phát triển cái hạt nhân hợp lý trong triết học của Hêghen Cái hạt nhân ấy chính là phép biện chứng, là hệ thống các quan điểm của ông Mác không những chỉ phê phán một cách sâu sắc phép biện chứng của Hêghen mà còn cải tạo phép biện chứng đó, xây dựng nên phép biện chứng duy vật duy nhất và thực sự khoa học với mẫu mực tuyệt vời của nó là tác phẩm chủ yếu của ông - bộ "Tư bản" Mác viết: "Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung Phép biện chứng ấy ở Hêghen là phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ

Trang 9

cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí”

Nhiều nhà triết học đã đánh giá: nếu loại bỏ đi cái xuất phát điểm trong thế giới quan duy tâm của Hêghen, người ta sẽ không thể phân biệt được đâu là triết học Mác đâu là triết học Hêghen Mặc dù việc phát triển của triết học Mác không đơn thuần là “chỉ cần dựng nó lại” nhưng hệ thống triết học rõ ràng và khoa học của Hêghen cũng chính là cái hệ thống cơ bản để triết học Mác hoàn thiện nên phương pháp biện chứng duy vật với dưới một hệ thống của gồm 2 nguyên lý Onguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), 3 quy luật cơ bản Oquy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủđịnh của phủ định) và 6 cặp phạm trù với tính cách là những quy luật không cơ bản Ocái chung và cái riêng; nội dung và hình thức; nguyên nhân và kết quả; bản chất và hiện tượng; tất nhiên và ngẫu nhiên; khả năng và hiện thực)

Triết học duy vật biện chứng chính là giải pháp cho nhiệm vụ nghiên cứu đã được Mác đặt ra đó.Mác và Ph.Ăngghen không gán ghép hay hợp nhất một cách đơn giản phép biện chứng của Hêghen với chủ nghĩa duy vật trước đó, trước hết là chủ nghĩa duy vật của L Phoiơbắc Trên thực tế các ông đã phải tiến hành một công việc hết sức phức tạp và đồ sộ là chỉnh lý cải tạo một cách duy vật đối với phép biện chứng duy tâm của Hêghen; chỉnh lý và cải tạo một cách biện chứng đối với chủ nghĩa duy vật máy móc và siêu hình

Có thể nói, Hêghen có nhiều đóng góp trong nghiên cứu lịch sử triết học: Ông cho rằng lịch sử triết học không phải là kho chứa đơn thuần của các tư tưởng triết học, mà lịch sử triết học có quy luật vận động và phát triển của nó

Trang 10

III Những hạn chế của Hê ghen trong vấn đề bản thể luận

Trong tư tưởng triết học của Hegel, quan niệm về thế giới quan triết học của ông ngay từ đầu đã gặp phải hạn chế nhất định từ chính quan điểm Hegel luôn coi triết học là lĩnh vực tối cao của hoạt động khoa học tinh thần, là khoa học “tạo thành trung tâm của văn hóa tinh thần của mọi khoa học và mọi chân lý” Ông luôn coi triết học như là cái tinh thần tuyệt đối, như là động lực nội tại khiến thế giới con người phải theo và tiến tới

Thêm vào đó, với xuất phát điểm là một nhà triết học duy tâm khách quan, trong tư tưởng của Hegel có những nhận thức chưa thực sự phù hợp Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật, ý niệm là cái phản ánh của vật chất hiện thực vào trong ý thức con người nhưng đối với Hegel, ông đã tách nó ra khỏi con người, làm cho nó trở thành đấng tối cao sáng tạo ra tự nhiên và nhân loại Phân tích quan niệm của Hegel về “ý niệm mà rốt cuộc hoá ra là giới tự nhiên” Lênin viết: “Hegel

đã đoán được một cách tài tình biện chứng của sự vật Ocủa những hiện tượng của thế giới của giới tự nhiên) trong biện chứng của khái niệm” Nói cách khác, các quy luật phổ biến của sự phát triển của giới tự nhiên của xã hội loài người và của

sự nhận thức không thể được mô hình hoá chỉ phù hợp với các quy luật của một mình sự nhận thức của một mình tư duy như hệ thống Hegel giả định Không thể rút ra các quy luật của tồn tại từ tư duy Từ một thực tế là các quy luật của tồn tại được phản ánh trong tư duy Hegel đã rút ra một kết luận sai lầm rằng tồn tại thực chất là tư duy Quan hệ hiện thực đã bị Hegel thần bí hoá bị “đặt lộn ngược chân lên đầu” Đây là cách mà Hegel luận chứng theo kiểu duy tâm luận điểm cho rằng các hình thức của tư duy là sự phản ánh các mối quan hệ vốn có trong tự nhiên và trong xã hội không phụ thuộc vào tư duy

Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong hệ thống triết học của Hegel

đó chính là: Ông là người đầu tiên sáng tạo ra một hệ thống tri thức mới – phép

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w