1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của hai nguyên lý trong phép biện chứng duy vật

13 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan. Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển được coi là có vai trò quan trọng.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá trình khác nhau Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Trong lịch sử triết học, để trả lời câu hỏi

đó, ta thấy có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có

sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có

sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên

Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh hiện thực khách quan Trong hệ thống đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý

về sự phát triển được coi là có vai trò quan trọng

Nhóm chúng em đã chọn đề tài “Vai trò của hai nguyên lý trong phép

biện chứng duy vật” với mong muốn làm rõ vai trò của hai nguyên lý này trong

trong triết học nói chung và trong phép biện chứng duy vật nói riêng

Rất mong nhận được sự ủng hộ của thầy cô giáo

Trang 2

NỘI DUNG

I Khái quát chung về hai nguyên lý trong phép biện chứng duy vật

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

1.1 Khái niệm

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng…Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định, nhưng đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó, những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên

hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy

Theo Hồ Chí Minh thì: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, là một

nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau

mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đó triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới

Trang 3

Vậy, Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới Nguyên lý này biểu hiện thông qua 06 cặp phạm trù cơ bản.

1.2 Tính chất

Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ

a) Tính khách quan của các mối liên hệ.

Theo quan điểm biện chứng duy vật: các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự qui định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình

b) Tính phổ biến của các mối liên hệ.

Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sụ vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau

c) Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ.

Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều

Trang 4

có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, liên hệ chủ yếu và thứ yếu…

Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ việc nghiên cứu rút ra quan điểm toàn diện Quan điểm này đòi hỏi: (i) phải xem xét toàn diện các mối liên hệ, (ii) phải rút ra được những mối liên hệ bản chất, chủ yếu của sự vật, (iii) từ đó quay lại nhận thức toàn bộ sự vật Quan điểm toàn diện đối lập với phiến diện, chiết trung, siêu hình Nhưng gắn liền với quan điểm lịch sử - cụ thể

2 Nguyên lý về sự phát triển

2.1 Khái niệm

Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp

Đối lập với quan điểm biện chứng, quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển Bởi vì, họ tuyệt đối hóa sự ổn định tương đối của sự vật và hiện tượng, chứ không thấy được vận động, sự thay đổi chuyển hóa cũng như sự phát triển

Trang 5

của sự vật và hiện tượng Nếu có thừa nhận sự phát triển thì theo họ chẳng qua chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, chứ không phải về mặt chất lượng hoặc không có sự ra đời của cái mới cao và hoàn thiện hơn cái

cũ Ngược lại, phép biện chứng duy vật cho rằng Phát triển là quá trình vận động

từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp từ cái chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn và phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng

Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới

Như vậy, sự phát triển bao hàm sự vận động, sự xuất hiện cái mới theo chiều hướng đi lên Nhưng không phải bất kỳ sự vận động nào cũng bao hàm sự phát triển Không nên hiểu phát triển không phải bao giờ cũng diễn ra một cách đơn giản, thẳng tắp; mà là con đường quanh co, phức tạp Xét từng trường hợp

cá biệt thì có những vận động đi lên tuần tự và đồng thời có những vận động đi xuống, hoặc thụt lùi Nhưng về quá trình và trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hướng tất yếu Chính vì vậy, phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật và hiện tượng

Vậy, Nguyên lý về sự phát triển là nguyên tắc lý luận mà trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật) Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản.

2.2 Tính chất:

a) Tính khách quan của sự phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới, dù thể hiện dưới hình thức nào cũng cũng là quá trình giải quyết mâu thuẫn

Trang 6

vốn có của các sự vật, hiện tượng độc lập và không phụ thuộc vào ý thức con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng khuynh hướng chung của sự phát triển trên cơ sở phân tích, giải quyết các mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong hoạt động thực tiễn xã hội

b) Tính phổ biến của sự phát triển là không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới là không vận động mà phát triển là khuynh hướng chung trong sự vận động của các sự vật, hiện tượng Vì vậy, phát triển là một quá trình vận động đi lên diễn ra trong tự nhiên, xã hội và tư duy của con người Trong đó, sự xuất hiện con người cũng chỉ là một quá trình lịch sử tự nhiên

c) Tính đa dạng phong phú của sự phát triển được thể hiện trong các sự vật, hiện tượng đều gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Căn cứ tính đa dạng phong phú của sự phát triển có thể phân chia sự phát triển như một quá trình xuất hiện cái mới có tính giai đoạn, tính lịch sử cụ thể của nó Sự xuất hiện cái mới luôn gắn liền với những điều kiện khách quan nhất định Trong đó, cái mới phù hợp với qui luật vận động phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy là tiêu chuẩn của sự phát triển Bởi, có những cái mới là cái khác với cái cũ hoặc quá trình trước đó, nhưng không là tiêu chuẩn của sự phát triển vì nó không phù hợp với qui luật vận động của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy

2.3 Ý nghĩa phương pháp luận:

Quan điểm phát triển đòi hỏi phải xem xét sự vật trong quá trình vận động, biến đổi liên tục, quá trình mất đi của cái cũ và xuất hiện cái mới; phải thấy rõ khuynh hướng biến đổi, phát triển của sự vật và chỉ rõ những giai đoạn phát triển của sự vật; phải tư duy năng động, linh hoạt, mềm dẻo để nhận thức cái mới và phát huy cái mới, khắc phục những tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến nhằm góp phần định hướng nhận thức, chỉ đạo hoạt động cải tạo hiện thực và cải tạo bản thân con người

Trang 7

II Vai trò của hai nguyên lý trong phép biện chứng duy vật

1 Vai trò của Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thể hiện vai trò trong nhận thức khoa học và thực tiễn, cụ thể:

a)

Vai trò đối với nhận thức

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã tạo cơ sở lý luận để xây dựng nên hai quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng bao gồm: quan điểm toàn diện

và quan điểm lịch sử cụ thể

Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữ

sự vật đó với sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp

Chỉ trên cơ sở đó mới nhận thức đúng về sự vật Lê-nin đã viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc”(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1976, t.42, tr.384).

Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác

Ví dụ cụ thể: Trong quá trình phân tích tình hình cụ thể trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch ở trong nước và trên thế giới, Đảng ta đã quyết định đường lối và phương pháp đánh giặc là: sử dụng sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại, của kinh tế,

Trang 8

quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao, sức mạnh của ba thứ quân và ba mũi giáp tấn công, đánh địch trên cả ba vùng chiến lực với phương châm “đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận để đi tới đánh đổ hoàn toàn kẻ địch” Đây là thành quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo phép biện chứng duy vật với quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể vào thực tiễn cách mạng nước ta

b) Vai trò đối với thực tiễn

Đặt trong hoàn cảnh của đất nước ta, với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục…), mà trước hết là đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về chủ nghĩa xã hội Cụ thể, về xã hội: giải quyết tốt mối liên hệ giữa công nhân, nông dân và trí thức tạo thành mối liên hệ công nông trí thức Về chính trị: đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hệ thống, chức năng, tránh chồng chéo, tạo sự đồng bộ giữa Đảng và Nhà nước Về tư tưởng: với ba bộ phận chủ yếu: văn hóa, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Nó phải có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó giáo dục đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu Tuy nhiên không phải đổi mới tất cả các lĩnh vực ngay cùng một lúc (như thế sẽ không đủ lực để thực hiện) mà phải xác định đổi mới có trọng tâm, trọng điểm Trong đổi mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục…

Đảng xác định đổi mới kinh tế là trước hết; đổi mới giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu trên cơ sở phát huy sức mạnh nội lực

và tranh thủ ngoại lực Để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước và bối cảnh quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn, thời kỳ và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ

Trang 9

sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể Đại hội

Đảng lần VIII đã khẳng định: “Xét trên tổng thể, Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và chính sách đối nội, đối ngoại Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác” Tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi, hình

thức và cách làm phù hợp là sự vận dụng đúng đắn các nguyên lý, quan điểm của triết học Mác - Lênin và là bài học kinh nghiệm qúy báu của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay, là điều kiện đảm bảo sự thành công của công cuộc đổi mới trong giai đoạn đã qua cũng như trong thời gian tới

2 Vai trò của Nguyên lý về sự phát triển

Nguyên lý về sự phát triển có vai trò vô cùng quan trọng trong nhận thức

và thực tiễn, cụ thể:

a) Vai trò đối với nhận thức

Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận xây dựng nên một trong những nguyên tắc phương pháp luận – đó là quan điểm phát triển Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm được những cái đang tồn tại của sự vật mà khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng, chúng ta phải đặt chúng vào trong hoàn cảnh và điều kiện mà chúng đang vận động, biến đổi và phát triển, phải vạch ra được xu hướng biến đổi và chuyển hóa chúng Chúng ta phải tìm ra không chỉ khuynh hướng phát triển tiến lên của sự vật mà còn nhận rõ con đường quanh co và tính chất phức tạp, đầy mâu thuẫn trong phát triển Đó là cuộc đấu tranh giữa cái mới

và cái cũ, cái tích cực và cái tiêu cực để đi đến chiến thắng của cái mới, yêu cầu xây dựng tinh thần lạc quan cách mạng, có niềm tin khoa học về sự tất thắng của cái mới, quán triệt bài học “thắng không kiêu, bại không nản”

Ví dụ cụ thể: khi nghiên cứu vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải đặt các nhà khoa học trong bối cảnh tác động của kinh tế thị trường, cách mạng khoa học công nghệ và toàn

Trang 10

cầu hóa; cần chú ý giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, những điểm mới và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển tri thức ở nước ta để từ

đó dự báo sự biến đổi và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, nâng cao hiệu quả sự dụng và chính sách đãi ngộ với đối tượng này

b) Vai trò đối với thực tiễn

Nguyên lý về sự phát triển với tính chất đa dạng, phong phú còn là cơ sở

lý luận xây dựng quan điểm lịch sử cụ thể trong nguyên tắc phương pháp luận

Cụ thể quan điểm lịch sử giúp chúng ta nhận thức đúng đắn sự phát triển bao giờ cũng xảy ra ở trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, không gian và thời gian xác định Cùng một sự vật trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, không gian, thời gian xác định Cùng một sự vật nếu tồn tại ở trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, không gian thời gian khác nhau thì sự phát triển của nó sẽ thay đổi khác nhau, từ đó có vai trò đối với thực tiễn trong việc tạo ra những điều kiện, hoàn cảnh tốt nhất để thúc đẩy sự phát triển, giúp cải tạo thực tiễn và cải tạo bản thân con người Giúp vận dụng vào hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, đòi hỏi phát huy cao độ nỗ lực của nhân tố con người trong quá trình “chủ quan hóa khách quan” và “khách quan hóa chủ quan”

Đặt trong thực tiễn hoàn cảnh lịch sử nước ta, nguyên lý về sự phát triển

đã giúp chúng ta chống lại tư tưởng nóng vội chủ quan, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ, định kiến vốn có là sản phẩm của nền kinh tế tiểu nông, của chế độ thực dân và của cơ chế quan liêu bao cấp của nước ta trước đây Giúp chúng ta nhận thức những mặt hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trong thời

kỳ bao cấp để dần khắc phục, phát triển và hoàn thiện sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay ở nước ta

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w