1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của nhận thức

14 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 27,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử Triết học đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về Nhận thức. Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ và hình thức khác nhau. Song đây chính là con đường biện chứng của quá trình nhận thức: “đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ dựa trên việc kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu khoa học – kỹ thuật, của thực tiễn xã hội. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận triết học của thế giới khoa học Mác –Lê Nin. Để tìm hiểu sâu sắc nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề này, nhóm em xin lựa chọn tìm hiểu đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của nhận thức” để nghiên cứu và phân tích.

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG 1

I Lý luận chung về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng 1

1 Khái niệm nhận thức 1

2 Chủ thể, khách thể và đối tượng của nhận thức 2

2.1 Chủ thể của nhận thức 2

2.2 Khách thể và đối tượng của nhận thức 3

II Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của nhận thức 3

1 Nguồn gốc của nhận thức 3

1.1 Nguồn gốc tự nhiên của nhận thức 3

1.2 Nguồn gốc xã hội của nhận thức 5

2 Bản chất của nhận thức 6

III Các quan điểm khác về nguồn gốc, bản chất của nhận thức 8

C KẾT LUẬN 10

0

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong lịch sử Triết học đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về Nhận thức Nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạn, trình

độ và hình thức khác nhau Song đây chính là con đường

biện chứng của quá trình nhận thức: “đi từ trực quan sinh

động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng sẽ dựa

trên việc kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được minh chứng bởi những thành tựu khoa học – kỹ thuật, của thực tiễn xã hội Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hạt nhân lý luận triết học của thế giới khoa học Mác –Lê Nin Để tìm hiểu sâu sắc nhằm làm sáng tỏ hơn vấn đề này, nhóm em xin lựa chọn tìm hiểu đề tài:

“Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về

nguồn gốc và bản chất của nhận thức” để nghiên cứu

và phân tích

B NỘI DUNG

I Lý luận chung về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

1 Khái niệm nhận thức

Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực,

tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn

2 Chủ thể, khách thể và đối tượng của nhận thức

Trang 3

2.1 Chủ thể của nhận thức

Chủ thể nhận thức là con người, bởi cá thể người có khả năng phản ánh vào ý thức của mình những đối tượng hiện thực Nhận thức chỉ được thực hiện bởi những cá nhân

cụ thể hiện thực, ngoài họ ra không thể có tư duy nhận thức khoa học Nhưng, đó không là con người chỉ với những thuộc tính sinh học xác định, mà trước hết là con người xã hội, con người trong hoạt động thực tiễn sinh động Con người chỉ nhận thức khi là thành viên của xã hội, bởi các hình thái ý thức xã hội đã ảnh hưởng rất căn bản đến nội dung nhận thức Và do vậy, chủ thể của tư duy, nhận thức cũng không thể là trí tuệ nhân tạo có khả năng, giống như con người, lưu giữ và xử lý thông tin Bởi

vì, tư duy nhận thức là quá trình phản ánh tích cực hiện thực bằng các khái niệm, các phán đoán, các lý thuyết khoa học Mà điều đó có nghĩa là, nó luôn đòi hỏi sự hiện hữu của chủ thể đặt ra các mục đích, xác định các phương tiện đạt tới chúng, tiến hành việc chỉnh sửa nhận thức trên

cơ sở thực tiễn Còn máy (trí tuệ nhân tạo) thì không thể thực hiện các thao tác như con người làm, và vì vậy không thể là chủ thể của nhận thức Nếu có chăng nữa thì cũng không phải là máy nhận thức, mà là con người với sự trợ giúp của máy (cũng như suy nghĩ không phải là bộ não sinh học với tư cách một dạng vật chất có tổ chức cao nhất, mà con người suy nghĩ với sự trợ giúp của bộ não)

2.2 Khách thể và đối tượng của nhận thức

Trang 4

Khách thể nhận thức là những đối tượng vật chất hay tinh thần mà hoạt động nhận thức của chủ thể hướng đến Khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ hiện thực vật chất hay tinh thần Chỉ có những lĩnh vực hiện thực đã được thu hút vào hoạt động nhận thức của chủ thể mới trở thành khách thể Trình độ phát triển của khoa học

và nhận thức của con người càng cao bao nhiêu, sẽ càng rộng hơn các lĩnh vực được khoa học nghiên cứu, và do vậy, càng nhiều hơn các khách thể nhận thức

II Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

về nguồn gốc và bản chất của nhận thức

1 Nguồn gốc của nhận thức.

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức là quá trình phản ảnh thế giới khách quan vào đầu óc con người nên không đồng nhất với ý thức nhưng nhận thức lại là hình thức phát triển quan trọng hơn, cao hơn của ý thức Do đó nguồn gốc của nhận thức cũng bao gồm nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

1.1 Nguồn gốc tự nhiên của nhận thức.

Nguồn gốc tự nhiên của nhận thức được thể hiện qua

sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của thế giới khách quan cùng với mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan Trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh sáng tạo, năng động

Trang 5

Về bộ óc người: Nhận thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của

bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ

óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng hiệu quả, nhận thức của con người càng phong phú

và sâu sắc Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con người bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc

Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ khi con người xuất hiện Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên quá trình phản ánh Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Những đặc điểm được tái tạo ở dạng vật chất chịu sự tác động bao giờ cũng mang thông tin của dạng vật chất tác động Những đặc điểm mang thông tin ấy được gọi là cái phản ánh Cái phản ánh và cái được phản ánh không tách rời nhau nhưng không đồng nhất với nhau Cái được phản ánh là những dạng cụ thể của vật chất, còn cái phản ánh chỉ là đặc điểm chứa đựng thông tin của dạng vật chất đó (cái được phản ánh) ở một dạng vật chất khác (dạng vật chất nhận sự tác động)

Trang 6

Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất, song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hóa của vật chất

- Phản ánh vật lý, hóa học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý, hóa học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động

- Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản

xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc…khi nhận

sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống

- Phản ánh tâm lý là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của

hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện

- Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực

Trang 7

hiện ở dạng vật chất có tổ chức cao nhất, mà có tổ chức cao nhất chính là bộ óc người Phản ánh năng động, sáng tạo được thực hiện qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Quá trình phản ánh sáng tạo năng động này được gọi là nhận thức

1.2 Nguồn gốc xã hội của nhận thức.

Nguồn gốc xã hội của nhận thức là lao động và ngôn ngữ Hai yếu tố này vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề của

sự ra đời nhận thức

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác

động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên Đây cũng là quá trình làm thay đổi cấu trúc cơ thể, đem lại dáng đi thẳng bằng hai chân, giải phóng hai tay, phát triển khí quan, phát triển bộ não,… của con người Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động

Trang 8

của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung

Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng

thông tin mang nội dung nhận thức Không có ngôn ngữ, nhận thức không thể tồn tại và thể hiện

Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải

có phương tiện để biểu đạt Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động Nhờ ngôn ngữ con người đã không chỉ giao tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác

Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của nhận thức là lao động Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển hóa thành bộ óc người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức và cao hơn là nhận thức

2 Bản chất của nhận thức.

Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra cuộc cách mạng trong lý luận nhận thức Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được

Trang 9

minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, của thực tiễn xã hội, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết biện chứng duy vật về nhận thức

Thứ nhất, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách

quan, độc lập đối với cảm giác, tư duy và ý thức của con người

Thứ hai, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới

của con người Không có cái gì là không thể nhận thức được, mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng

sẽ nhận thức được Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người về hiện thực khách quan Nhờ

có nhận thức, con người mới có ý thức về thế giới, ý thức

về cơ bản là kết quả của quá trình nhận thức về thế giới Thế giới vật chất tồn tại khách quan ở ngoài và độc lập với

ý thức của con người, tác động vào các giác quan sinh ra cảm giác, từ đó đi tới hình thành ý thức Con người (cá nhân, nhóm người, giai cấp, dân tộc và cả nhân loại) là chủ thể tích cực sáng tạo của nhận thức Khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể như lợi ích, lí tưởng, tài năng, ý chí, phẩm chất đạo đức,… đều tham gia vào quá trình nhận thức với những mức độ khác nhau và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức Còn khách thể nhận thức là một bộ phận nào đó của hiện thực khách quan mà nhận thức hướng tới, nắm bắt, phản ánh, nó nằm trong phạm vi tác động của hoạt động nhận thức Do vậy, khách thể nhận thức không đồng nhất hoàn toàn với hiện thực khách quan Phạm vi của khách thể được mở rộng đến đâu là tuỳ theo sự phát

Trang 10

triển của nhận thức, của khoa học Như vậy, không chỉ chủ thể nhận thức mà cả khách thể nhận thức cũng mang tính lịch sử - xã hội

Thứ ba, nhận thức không phải là một hành động tức

thời, giản đơn, máy móc và thụ động, mà là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh ấy diễn ra theo con đường “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Đó cũng chính là quá trình nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn Tính sáng tạo của nhận thức được thể hiện rất phong phú Trên cơ sở những cái đã có, nhận thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế Tuy nhiên sáng tạo của nhận thức

là sáng tạo của sự phản ánh, bởi vì nhận thức bao giờ cũng chỉ là sự phản ánh tồn tại Vì vậy, trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng Nghĩa là đừng giả định nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào

Thứ tư, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất

của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Trang 11

Dựa trên những nguyên tắc cơ bản đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của nhận thức: nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tuy nhiên, không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên sẽ trở thành nhận thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới,

do nhu cầu của việc con người cải biến thế giới tự nhiên quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động Vì vậy, nhận thức là cái “vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó” Mức độ cải biến đến đâu hoàn toàn do chủ thể nhận thức

III Các quan điểm khác về nguồn gốc, bản chất của nhận thức

Bên cạnh những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của nhận thức thì chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình cũng có những quan điểm khác về nhận thức

Chủ nghĩa duy tâm không thừa nhận thế giới vật chất tồn tại độc lập với ý thức, do đó không thừa nhận nhận

thức là sự phản ánh hiện thực khách quan Theo chủ

nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng tất cả mọi cái đang tồn

tại đều là phức hợp những cảm giác của con người Do đó, nhận thức, theo họ, chẳng qua là sự nhận thức cảm giác,

biểu tượng của con người Chủ nghĩa duy tâm khách quan coi nhận thức là sự "hồi tưởng lại" của linh hồn bất tử về

Trang 12

"thế giới các ý niệm" mà nó đã từng chiêm ngưỡng được

nhưng đã bị lãng quên, hoặc cho rằng nhận thức là sự "tự

ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối" Chủ nghĩa duy tâm khách quan mặc dù không phủ nhận khả năng nhận thức

thế giới, song coi nhận thức cũng không phải là sự phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là sự tự nhận của ý niệm, tư tưởng tồn tại ở đâu đó ngoài con người

Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan, những người theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc của nhận thức, thậm chí chuyển thành nghi ngờ sự tồn tại của bản thân thế giới bên ngoài Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người hoặc hạn chế ở cảm giác bề ngoài của

sự vật

Thuyết không thể biết lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới Đối với họ, thế giới không thể biết được, lý trí của con người có tính chất hạn chế và ngoài giới hạn của cảm giác ra, con người không thể biết được gì nữa Quan điểm của thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết đã bị bác bỏ bởi thực tiễn và sự phát triển của nhận thức loài ngườ

Đối lập với những quan niệm đó, chủ nghĩa duy vật

siêu hình thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của

con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Tuy nhiên, do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ

Ngày đăng: 26/04/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w