Tài liệu là bộ sáng kiến kinh nghiệm môn Ngữ văn cấp THCS. Sáng kiến được viết chi tiết, công phu theo mẫu mới nhất rất hữu ích để các thày cô tham khảo dùng để nộp công nhận các danh hiệu thi đua hoặc chỉnh sửa thành báo cáo giải pháp thi giáo viên giỏi các cấp.
Trang 1Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhànước và của toàn dân.Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển và được ưu tiên đitrước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Năm học 2018 - 2019, ngành Giáo dục tiếp tục tập trung thực hiện Nghịquyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghịquyết số 44/NQ-CP ngày 09/6/2014 của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hộikhóa XIII, Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội khóa XIV
và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mớichương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; các Nghị quyết của Đảng, Quốchội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Đây cũng là năm học màngành giáo dục thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp và kỹ thuật dạyhọc tích cực, đổi mới kiểm tra đánh giá học sinh nhằm phát huy năng lực, phẩmchất của học sinh
Môn học Ngữ văn trước hết là một môn học như tất cả các môn khoa họckhác được quy định bởi chương trình và có tác dụng góp phần hình thành, pháttriển và hoàn thiện nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục Những tác phẩmtrong chương trình đó là những tác phẩm văn chương được chọn lọc từ trong khotàng văn hoá dân tộc và nhân loại Nói đến tác phẩm văn chương là nói đến một tácphẩm “nghệ thuật bằng ngôn từ ”, đó là đặc trưng của văn học nghệ thuật
Trong nhà trường Trung hoc cơ sở (THCS), môn Ngữ văn là môn học chiếm
vị trí quan trọng, có tác động tích cực đến hoạt động của các môn học khác vàngược lại Mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn trong nhà trường THCS đã nêu rõ
“ Môn Ngữ văn góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổthông cơ sở, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quí trọng gia đình bè bạn, cólòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm caođẹp Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo,bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân - thiện - mĩ trong nghệ thuật, trướchết là trong văn học Có năng lực thực hành, năng lực sử dụng tiếng Việt như mộtcông cụ để tưduy giao tiếp Đó cũng là những con người có mong muốn đem tài trícủa mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trang 2Đại văn hào Nga Mác-Xim Goocki đã nói: “ Học văn là học làm người.” Vănhọc là phương tiện giáo dục con người nhạy bén nhất, hiệu quả nhất Ở đâu có conngười và có giáo dục thì ở đó không thể thiếu văn học Mỗi tác phẩm văn học vừamang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật Học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽtác động tích cực đến việc học tập các môn học khác.
Trong những năm học vừa qua, việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuậtvào dạy học Ngữ văn đã và đang được triển khai rộng rãi trong các nhà trườngTHCS và thu được những kết quả đáng kể Đây không còn là việc làm mới mẻ vìthực tế ngành giáo dục đã tiến hành vận dụng qua nhiều năm nhưng trong quá trìnhthực hiện nhiều giáo viên còn lúng túng, tổ chức thực hiện chưa hiệu quả.Giáo viênmặc dù đã có ý thức vận dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học nhưng việc thựchiện đôi khi còn mang tính chất hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quảnhư mong muốn Và một bộ phận không nhỏ giáo viên ngại đổi mới, vẫn giữ thóiquen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: giáo viên giảng giải, họcsinh lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại những điều giáo viên đã truyền đạt Từ đó vôtình biến học sinh thành "bình chứa", thiếu sự chủ động, học theo lối "học vẹt",không phát huy vai trò cá nhân Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưa thuhút đượcsự chú ý của người học.
Từ thực tế trên, việc vận dụng linh hoạt các phương pháp, kỹ thuật dạy họctrong giảng dạy là cách thức giúp học sinh bàn bạc những vấn đề về nội dung, ýnghĩa của một văn bản văn học hay một đơn vị ngôn ngữ; là biện pháp tích cực đểkhai thác những hướng khác nhau trong cảm nhận văn chương, giúp học sinh cảm,hiểu sâu sắc, thấu đáo giá trị tác phẩm, có cách tiếp cận độc lập sáng tạo, đảm bảomỗi học sinh đều được đối thoại, được tôn trọng, được bình đẳng trước tác phẩm,đơn vị ngôn ngữ
Bản thân tôi là một giáo viên đã nhiều năm làm nhiệm vụ giảng dạy trực tiếpbộ môn Ngữ văn Đáp ứng yêu cầu thay đổi và phát triển của giáo dục hiện đại, tôirất quan tâm đến việc đổi mới, áp dụng những phương pháp, kỹ thuật dạy họctrong giảng dạy Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm này, tôi xin phép
được chia sẻ một vài suy nghĩ về vấn đề“Sử dụngmột số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Ngữ Văn cấp THCS”.
Trang 3- Chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực hành động, vận dụng kiếnthức, tăng cường thực hành và gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống. -Thiết kế tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cáchình thức đa dạng, phong phú, có sự hấp dẫn, phù hợp với đặc trưng bài học, vớiđặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương.
- Học sinh tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự khámphá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành viđúng đắn
- Học sinh mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cựcthảo luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy (cô), cho bạn.
- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè
- Để nâng cao chất lượng dạy và học đòi hỏi người giáo viên phải sử dụng hợp lí,hiệu quả cáckĩ thuật dạy học,các kĩ thuật dạy học sẽ là phương tiện để thực hiệncác thao tác của quá trình dạy học,là phương tiện được dùng để khai thác kiến thứcmột cách tích cực và hiệu quả nhất
Vì vậy mục đíchnghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm này là vận dụng một sốkỹ thuật dạy học tích cực vào dạy học môn Ngữ văn Trung học cơ sở.
Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy sẽ là phương tiện hỗ trợ chomỗi giáo viên giảng dạy và phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tậpcủa học sinh Người thày có nhiều cách thức thực hiện tích cực hơn để cho họcsinh tiếp cận với nội dung của bài học, nắm bắt được những điều cần và muốn củacác em trong bài học để mang lại chất lượng cao nhất cho tiết học Các em sẽ đượctrực tiếp thực hiện những kĩ thuật học tập tích cực nhất dưới sự hướng dẫn củangười thày để từ đó hình thành và chiếm lĩnh tri thức.Xuất phát từ quan điểm trên,tôi đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề trên.Vấn đề không mới khi đã có rất nhiềuthầy, cô giáo quan tâm thực hiện và đã thành công trong công tác giảng dạy của
Trang 4mình.Tuy nhiên, trong đề tài này, tôi hướng tới việc trình bày những kĩ thuật dạyhọc tích cực mà bản thân tôi đã thực hiện trong các năm học qua, ứng dụng thựctiễn trong các tiết dạy và bước đầu đã mang lại thành công.
II PHẦN NỘI DUNG
1 Chương 1: Tổng quan
1.1.Cơ sở lí luận
Hiện nay, giáo dục và đào tạo đã và đang tiếp tục coi trọng đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, đổi mới kiểmtra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu ngày càng caocủa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Môn Ngữ văn là một mônkhoa học có tính đặc thù, giàu tính nhân văn sâu sắc.Học văn không chỉ để cảmnhận cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương mà còn học cách làm người Vì vậy,người dạy văn, học văn giống như người lao động nghệ thuật, không chỉ tìm hiểu,khám phá, cảm nhận, mà còn phải nhập thân, biến kiến thức văn chương thànhmáu thịt, một phần đời sống không thể thiếu của mình. Muốn vậy người giáo viênphải tổ chức cho học sinh thực sự được sống, được tham gia, được khám phá vàcảm nhận vẻ đẹp kiến thức văn chương qua mỗi tác phẩm trong nhà trường
Ở cấp THCS, chương trình Ngữ văn mang tính đồng tâm, lặp lại và tiếp nốimột số kiến thức đã học ở Tiểu học Bởi vậy trong quá trình dạy học nếu giáo viênkhông biết cách khám phá, khai thác kiến thức và những hiểu biết đã có của họcsinh để nâng cao trình độ nhận thức, để áp dụng cách thức tổ chức dạy học đúngđối tượng sẽ gây ra sự nhàm chán, nhạt nhẽo đối với học sinh vì các em nghĩ rằngmình phải học những điều đã biết rồi Tuy nhiên, theo chuẩn kiến thức, kĩ năng củamôn học thì yêu cầu của việc tiếp cận và khai thác kiến thức môn Ngữ Văn kháchẳn với yêu cầu mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học Một trong các yêucầu phải đặt ra đối với giáo viên là phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học,vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học nhằm xây dựng lớp học thânthiện,hướng dẫn học sinh tiếp nhận, khai thác kiến thức một cách tích cực, hứngthú và chủ động, sáng tạo, đúng đặc thù của phân môn Văn nói chung và phân mônTiếng Việt nói riêng Học sinh từ những văn bản được học sẽ tiến tới tự biết cáchdùng từ đặt câu và cao hơn là có kĩ năng tự tạo lập được văn bản theo yêu cầu, biếtnhận biết và bước đầu sử dụng được các biện pháp nghệ thuật trong sáng tạo vănchương từ đó không chỉ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của các tác phẩm vănchương mà còn tiến tới sáng tạo ra các tác phẩm có giá trị nghệ thuật Trên cơ sởnắm vững đặc trưng bộ môn của từng khối lớp, giáo viên phải là người hướng dẫn,
tổ chức, định hướng cho học sinh từng bước tiếp cận, đi vào thế giới nghệ thuậtcủa tác phẩm văn chương một cách tự nhiên, say mê, hứng thú Bằng nhiều hình
Trang 5cảm, được suy ngẫm được vận dụng, được sáng tạo giáo viên không thể làm hộ,làm thay cho trò để trò bắt chước theo
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ, nội dung cụ thể. Để đáp ứng các kĩ thuật trong dạy học đạt hiệu quả, tíchcực hoá học sinh, ngoài việc tuân thủ các quy trình mang tính đặc trưng của kĩthuật dạy học còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật sư phạm của người giáo viên Một kỹ thuật dạy học nào đó tự nó không tích cực hay tiêu cực Đồng thời kỹ thuật nào cũng gắn liền với người sử dụng nó.Cho nên, một
kỹ thuật dạy học có phát huy được tính tích cực học tập của học sinh hay không còn tuỳ thuộc vào năng lực của người giáo viên sử dụng nó Tức là, bấtkì cách thức tổ chức dạy học nào được thực hiện tạo nên những "chấn động",khiến các em có những vận động trí tuệ, cảm xúc đều là kỹ thuật dạy học tíchcực. Vận dụng các phương pháp dạy học thế nào, phát huy được tính tích cực củahọc sinh hay không và phát huy đến mức độ nào là tuỳ thuộc rất lớn vào trình độchuyên môn, nghiệp vụ, vào khả năng tổ chức học sinh hoạt động học tập của giáoviên nhằm phát triển năng lực sáng tạo và tư duy tích cực cho các em học sinh
1.2.Cơ sở thực tiễn
Thực tế cho thấy trong giờ học, khi sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực sẽtác động trực tiếp tới việc hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng của học sinh,học sinh được trực tiếp tham gia vào quá trình học tập, tự mình chiếm lĩnh tri thứctrước sự dẫn dắt của người thày mà không còn hình thức học tập thụ động nhưtrước
Xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của học sinh ngày càng cao và nhanh nhạy,đứng trước yêu cầu đó trong mỗi giờ dạy giáo viên không thể nhất thiếtgiảng dạymột chiều, chỉ phân tích rồi rút ra nội dung bài học mà cần thông qua những kĩthuật dạy học tích cực gợi mở, giúp học sinh tự tìm tòi kiến thức Những hoạt độngnày sẽ được học sinh thực hiện có hiệu quả khi có người thày dẫn dắt học tập bằngnhững kĩ thuật dạy học tích cực để mang lại hiệu quả cao
Trong những năm học gần đây,bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảngdạy bộ môn Ngữ vănở trường THCS Nguyễn Đức Cảnh.Tôi đã từng bước sửdụng các kĩ thuật dạy học vào giảng dạy và nhận thấy việc sử dụng các kĩ thuậtdạy học tích cực trong giảng dạy Ngữ văn thực sự có tác động tích cực trong việchình thành kiến thức cho các em học sinh Bản thân các em học sinh cũng chủđộng, tích cực học tập hơn, tự mình chiếm lĩnh tri thức bài học hiệu quả qua các kĩthuật dạy học mà thày, cô giáo hướng dẫn
Từ những vấn đề trên, qua thực tế giảng dạy, qua quá trình tích lũycủa bản thân, qua trao đổi với đồng nghiệp, tôi xin mạnh dạn đề xuất một vài ý
kiến nhỏ trong việc“Sử dụngmột số kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Ngữ
Trang 6Văn cấp THCS”.Tôi nghĩ đây là vấn đề thiết thực mang tính khả thi đối với bộ
môn, với các tiết dạy và phù hợp với mọi đối tượng học sinh Tuy nhiên, sử dụng
kĩ thuật dạy học nào, khi nào và sử dụng ra sao để đạt được kết quả cao nhất, đó lànhững vấn đề về nội dung mà tôi muốn trình bày sau đây
2 Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
2.1.Thực trạng
a.Những thuận lợi
- Sự động viên, quan tâm của Phòng Giáo dục - Đào tạo thị xã tới giáo viên
- Ban giám hiệu nhà trường có quyết tâm cao và tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh đổimới phương pháp kỹ thuật dạy học
+ Nhà trường đã trang bị khá đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy mócphục vụ cho đổi mới phương pháp kĩ thuật dạy học: các phòng học bộ môn, thưviện, máy tính, ti vi, máy chiếu, mạng Internet…
+ Thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua, thao giảng đổi mới phươngpháp kĩ thuật dạy học và được đông đảo cán bộ giáo viên nhiệt tình tham gia
- Được sự ủng hộ tích cực của học sinh, đa số học sinh rất mong muốn được họcnhững giờ học có đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học
- Trên cơ sở điều tra cơ bản từ đầu năm học, thăm dò phương pháp học tập, tôithấy rằng : đối tượng học sinh tôi đang giảng dạy có kiến thức khá chắc về TiếngViệt sơ giản, bước đầu đã biết cách khai thác, trình bày, phân tích các tác phẩmvăn học trong chương trình Ngữ văn 6, 7 Khả năng liên tưởng và tưởng tượng củacác em khá linh hoạt Khả năng ghi nhớ tái hiện hình tượng văn học đã được hìnhthành Nhìn chung đa số học sinh có khả năng độc lập, tích cực trong học tập bộmôn, phát huy tương đối tốt các năng lực cần đạt giành cho học sinh khối 6,7 b.Những hạn chế:
* Về phía giáo viên:
Hiện nay việc đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học trong dạy và họcmôn Ngữ văn vẫn còn hạn chế, đa số giáo viên giảng dạy trong các trường ít khiđổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học trong các tiết dạy Những hạn chế nàyxuất phát từ nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, cảtrong nhận thức lẫn hành động, cả trong khả năng và sự nhiệt tình của giáo viên
- Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ
- Nhiều giáo viên ngại đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học do tốn thời gian,công sức
- Một số giáo viên đã cố gắng đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học vào giảngdạy, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức và mang nặngtính chất trình diễn
*Về phía học sinh:
Trang 7Trên thực tế, hầu hết học sinh đều say mê, thích thú được học những giờ có đổimới phương pháp và kĩ thuật dạy học Nhưng vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau:
- Tôi cũng nhận thấy những khó khăn khi vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạyhọc tích cực khi giảng dạy là một số học sinh vẫn còn thụ động, chưa hòa nhập,chưa tích cực học tập và hoạt động chưa tốt Một số học sinh chỉ thực hiệnyêu cầukhi có sự thúc ép của giáo viên
- Các em dễ hứng thú, tích cực nhưng cũng dễ chán nản, thiếu kiên trì với cái mớitrong hoạt động học, tìm tòi, khám phá tác phẩm, những năng lực và hứng thú cánhân chưa bền vững
- Các em chưa ý thức được vai trò việc vận dụng các kỹ thuật dạy học của giáoviên nên vẫn còn một số học sinh chưa chủ động tự giác, thiếu tự tin Khi học tậptheo nhóm, và được giao nhiệm vụ cụ thể các em còn ỷ lại, trông chờ vào các bạntrong nhóm khi đưa ra ý kiến cuối cùng; đôi khi các em còn lợi dụng hoạt độngthảo luận để nói chuyện, làm việc riêng…
- Các em chưa tự tìm hiểu để lĩnh hội cảm nhận tác phẩm, còn ngại ngần, e dè khibày tỏ quan điểm cá nhân với thầy, với bạn
Đó cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc vận dụng các kỹ thuật dạyhọc trong giờ dạy
Từ thực tế đó, bài kiểm tra đầu tiên của học sinh ở cấp THCS cho thấy họcsinh còn hạn chế nhiều về kĩ năng diễn đạt, dùng từ đặt câu, kĩ năng trình bày mộtvấn đề còn lúng túng, còn sai nhiều lỗi chính tả, dấu câu Kết quả đạt được chưacao.
HS
Kết quả Khá - Giỏi Trung bình Yêú
2.2 Các giải pháp
Trang 8Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên vàhọc sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quátrình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạyhọc Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệttrong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích
tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS
Việc đổi mới phương pháp và kĩ thuật dạy học môn Ngữ văn giúp giáo viên hạnchế bớt phần thuyết giảng, đa dạng hoá việc cung cấp kiến thức cho học sinh, cóthời gian thảo luận và tăng cường kiểm soát đối với học sinh nhờ vậy mà giờ họctrở nên sôi nổi và sinh động hơn
Đối với học sinh, việc học tập môn Ngữ văn sẽ hứng thú hơn, các em được tự mìnhtiếp cận và nhận thức kiến thức một cách cụ thể và toàn diện Bài học môn Ngữvăn sẽ sống động , gần hơn với các em Từ đó khơi gợi, kích thích quá trình tư duycủa học sinh, nội dung kiến thức môn Ngữ văn được học sinh lĩnh hội đầy đủ và
in sâu hơn vào trong trí nhớ của các em
Giáo dục học sinh hình thành các kĩ năng học tập, kỹ năng sống, những giá trị sốngcần thiết, linh hoạt xử lí các tình huống trong cuộc sống thông qua việc vận dụngcác kỹ thuật dạy học trong tiết dạy Có rất nhiều các kỹ thuật dạy học khác nhau,việc vận dụng kỹ thuật dạy học nào để mang lại hiệu quả cao nhất phụ thuộc vào
sự linh hoạt và nghệ thuật sự phạm khéo léo của người giáo viên Trong khuôn khổsáng kiến này, tôi xin được đưa ra một số kỹ thuật dạy học tích cực mà bản thân tôi
đã sử dụng trong giảng dạy và bước đầu mang lại hiệu quả giáo dục trong bộ mônNgữ văn
- Kỹ thuật công não (động não)
- Kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy (lược đồ tư duy)
2.2.1 Kỹ thuật công não (động não)
Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới
mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận.Các thành viên được
cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra "cơnlốc” các ý tưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trênmột kỹ thuật truyền thống từ Ấn Độ
* Ứng dụng
- Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề;
Trang 9- Tìm các phương án giải quyết vấn đề;
- Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau
* Các bước tiến hành
1 Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề
2 Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, khôngđánh giá, nhận xét Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau
3 Kết thúc việc đưa ra ý kiến
* Minh họa 1:Dạy bài “Sơn Tinh, Thủy Tinh” - Ngữ văn 6 (Tập 1)
- HS1: Đoạn phim về hiện tượng mưa bão, lũ lụt ở Sơn La tháng 8 năm 2017
- HS 2: Rất sợ hãi trước sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên, mưa, lũ
- HS3: Cảm thông và chia sẻ với nhân dân ở vùng đất này
- HS4: Vậy chúng ta sẽ làm thế nào để chế ngự được thiên tai bão lũ?
* HS điều khiển khái quát lại các ý kiến và mời giáo viên giới thiệu bài học
* Minh họa 2:Dạy bài “Động từ ” - Ngữ văn 6 (Tập 1)
- Đáp án: đáp, đi, đợi, đòi, đánh, đấm, đập, đèo, động, đốt, đọc, đội, đuổi, đun, đẽo,
đu, đục, đeo… GV cùng HS kiểm tra đáp án rồi giới thiệu bài Đây là những từ
Trang 10ngữ chỉ hoạt động.Dựa vào kiến thức đã học ở Tiểu học các em hãy xác định các từtrên thuộc từ loại nào?
để đảm bảo yêu cầu về thời gian cho tiết học
* Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùatrong năm,…
- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặcđiểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông, )
- Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loàihoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm
* Chia nhóm theo hình ghép
- GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn
có là 3/4/5 HS trong mỗi nhóm.Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm
mà GV muốn có
- HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt
- HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hìnhhoàn chỉnh
- Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.
* Chia nhóm theo sở thích
Giáo viên có thể chia học sinh thành các nhóm có cùng sở thích để các em cóthể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc củanhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm nhà thơ,nhóm hùng biện, nhóm đọc diễn cảm, nhóm chuyển thể kịch bản, nhóm diễnviên…
* Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm.Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗnhợp, nhóm theo giới tính, giáo viên cần linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện thực tếbài học và lớp giảng dạy để chia nhóm cho phù hợp
2.2.3 Kỹ thuật KWL (KWLH)
Trang 11KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạyhọc hoạt động đọc hiểu Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các
em đã biết về chủ đề bài đọc Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu
đồ Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biếtthêm trong chủ đề này.Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểuđồ.Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi
ở cột W Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L
(Trích từ Ogle, D.M (1986) K-W-L: A teaching model that develops active
reading of expository text Reading Teacher, 39, 564-570).
K : kiến thức / hiểu biết HS đã có;
W : những điều HS muốn biết;
L : những điều HS tự giải đáp / trả lời ;
Lúc mới xuất hiện, kỹ thuật này dùng để dạy đọc hiểu. Hiện nay được dùng trong nhiều môn học => Kỹ thuật KWL phát triển thành KWLH (H : cách thức để
HS tìm tòi nghiên cứu mở rộng thêm về chủ đề học)
* Mục đích
- Học sinh xác định động cơ, nhiệm vụ học tập và tự đánh giá kết quả học tập saubài học thông qua việc xác định những hiểu biết, kinh nghiệm và kiến thức đã cóliên quan đến bài học, xác định nhu cầu về kiến thức mới và đánh giá kết quả họctập của mình sau bài học Trên cơ sở kết quả thu được học sinh tự điều chỉnh cáchhọc của mình
- Tăng cường tính độc lập của học sinh
- Giáo viên có thể đánh giá được kết quả của giờ học thông qua tự đánh giá, thuhoạch của học sinh Trên cơ sở đó có thể điều chỉnh cách dạy của mình cho phùhợp
- Tác dụng đối với học sinh: học sinh xác định được nhiệm vụ học tập, nhu cầu,mong muốn được trang bị thêm hiểu biết, kiến thức, kỹ năng qua bài học Qua việcnhìn lại những gì đã học được sau bài học, học sinh phân tích, đánh giá nhữngthông tin mới được hình thành và nhận thức được sự tiến bộ của mình sau bài học
Học sinh điền các thông tin trên phiếu như sau:
- Tên bài học (hoặc chủ đề):………
- Tên học sinh (hoặc nhóm học sinh): ………
Trang 12( Điều đã biết)
W( Điều muốn biết)
L( Điều học được)
H(Điều muốn
mở rộng)
* Minh họa 1: Dạy bài “ Ôn tập thơ” - Ngữ văn 9
Mục tiêu: Giúp học sinh nắm một cách hệ thống các tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam đã học trong chương trình Ngữ văn 9, có cái nhìn khá toàn diện về nội dung tư tưởng, nghệ thuật các tác phẩm đã học
Sau khi hệ thống kiến thức, phần bài tập xác định các chủ đề có thể sử dụng
sơ đồ tư duy KWL theo 4 bước đã trình bày ở trên
Từ những bài thơ đã học, học sinh tập hợp thành từng chủ đề cụ thể và tìm nét tiêu biểu cho từng chủ đề đó
lửa, Khúc hát ru những
em bé lớn trên lưng mẹ
Chủ đề tình cảm gia đình
- Tình cảm gia đình là thiêng liêng, quý giá
- Giọng thơ thiết tha, trìu mến.Đồng chí, Bài thơ về tiểu Chủ đề về người - Vẻ đẹp trong tính cách, tâm