Đề tài hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại; phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ; đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ (BIDV Phú Thọ)
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Chính
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 8
DANH MỤC CÁC HÌNH 9
LỜI MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Kết cấu luận văn 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 12
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 12
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại 12
1.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại 13
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 14
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 14
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 14
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 16
1.2.3 Đặc điểm liên quan đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại 17
1.2.4 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 20
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 31
1.3.1 Những nhân tố bên trong 31
Trang 41.3.2 Những nhân tố bên ngoài 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA BIDV PHÚ THỌ 40 2.1 Tổng quan về BIDV Phú Thọ 40
2.1.1 Lịch sử phát triển và hình thành 40
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực 42
2.1.4 Mạng lưới hoạt động và cơ sở vật chất 46
2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 48
2.2.1 Thực trạng hoạt động kinh doanh của BIDV Phú Thọ 48
2.2.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 54
2.3 Định vị năng lực cạnh tranh của ngân hàng BIDV 74
2.3.1 Điểm mạnh 75
2.3.2 Điểm yếu 76
2.3.3 Cơ hội 78
2.3.4 Thách thức 78
2.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 79
2.4.1 Kết quả đạt được 79
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 80
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA BIDV PHÚ THỌ 85
3.1 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 85
3.1.1 Mục tiêu về nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế 85
3.1.2 Mục tiêu tổng quát nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV đến 2015: 86
3.1.3 Các định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 86
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ 87
3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao năng lực hoạt động của BIDV Phú Thọ 87
3.2.2 Giải pháp 2: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 95
Trang 53.2.3 Giải pháp 3: Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin 97
3.3 Một số kiến nghị 99
3.3.1 Với Nhà nước 99
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 99
3.3.3 Với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 100
KẾT LUẬN 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nội dung
1 Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam
2 ATM Máy giao dịch tự động
3 BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4 BIDV Phú Thọ Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi
10 MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
11 MHB Ngân hàng TMCP phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu
Long
12 NHTM ngân hàng thương mại
13 NHNN ngân hàng nhà nước
14 NHTMCP ngân hàng thương mại cổ phần
15 NHTW ngân hàng trung ương
17 VIBBank Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam
18 Vietinbank Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
19 VPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
20 TMCP thương mại cổ phần
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 QUY MÔ TÀI SẢN VÀ LỢI NHUẬN BIDV PHÚ
THỌ
2 Bảng 2.2 HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY
3 Bảng 2.3 LÃI THUẦN TỪ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ
4 Bảng 2.4 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ẢNH MỨC ĐỘ SINH LỜI
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT Biểu đồ Nội dung
1 Biểu đồ 2.1 SO SÁNH QUY MÔ LAO ĐỘNG CÁC NHTM TRÊN ĐỊA
6 Biểu đồ 2.6 THỊ PHẦN KẾT QUẢ KINH DOANH
7 Biểu đồ 2.7 TĂNG TRƯỞNG LỢI NHUẬN QUA CÁC NĂM
8 Biểu đồ 2.8 SO SÁNH QUY MÔ MẠNG LƯỚI CÁC NHTM TRÊN ĐỊA
BÀN
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 2.1 MÔ HÌNH TỔ CHỨC BIDV PHÚ THỌ
2 Hình 2.2 TỔNG HỢP VỊ TRÍ THỊ PHẦN CỦA BIDV PHÚ THỌ
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề toàn cầu hoá được các quốc gia đặc biệt quan tâm Toàn cầu hoá là mang lại những tác động tích cực, tuy nhiên nó sẽ loại bỏ những nền kinh tế không có khả năng cạnh tranh Bản thân Việt Nam cũng là một quốc gia đang ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế Thêm vào đó, các năm vừa qua, khối các ngân hàng TMCP đang ngày càng lớn mạnh, họ năng động, thích nghi nhanh chóng với yêu cầu của thị trường để gia tăng thị phần của mình Cùng với đó là sự xuất hiện của các ngân hàng thương mại nước ngoài với ưu thế lớn về kinh nghiệm, công nghệ hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến Dưới áp lực cạnh tranh về cung cấp dịch vụ ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, các ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Thọ nói riêng đòi hỏi tự mình phải đánh giá lại năng lực cạnh tranh của bản thân, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh để bản thân ngân hàng để có thể đứng vững trên thị trường
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Thọ” làm đề tài luận văn của mình, nhằm góp phần nào đó để giải quyết được những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
- Đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Phạm vi nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ trong giai đoạn
2010 - 2012
Trang 114 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Thống kê, thu thập, điều tra, khảo sát thực tế, tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp giữa lý luận và tình hình thực tế hoạt động của ngân hàng
Tùy vào loại dữ liệu và giả thuyết nghiên cứu mà sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu thích hợp Trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định lượng bằng việc lập bảng số liệu, phân tích so sánh, phương pháp biểu diễn bằng đồ thị…
5 Kết cấu luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, luận văn gồm có 03 chương:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Sự phát triển của nền kinh tế của mỗi một quốc gia trong mỗi một giai đoạn tuy khác nhau nhưng ngân hàng luôn là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Các ngân hàng mạnh, nền kinh tế sẽ mạnh và ngược lại các ngân hàng yếu, nền kinh tế sẽ yếu; thậm chí nếu các ngân hàng đổ vỡ nền kinh
tế sẽ lâm vào khủng hoảng và sụp đổ Vì vậy, các nhà kinh tế trong kinh tế học đã coi “ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt”, là “trái tim của nền kinh tế”
Chính bởi tính chất quan trọng của mình, cho nên để định nghĩa ngân hàng
có rất nhiều các khái niệm khác nhau như:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch
vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” (Peter S.Rose, 2001, Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính)
Theo Luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình tổ chức ngân hàng khác” Trong đó, hoạt động ngân hàng được định nghĩa là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
Trang 131.1.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
Các ngân hàng thương mại đã thể hiện được rõ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Đó là:
Cung ứng vốn cho nền kinh tế: Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, các ngân hàng thương mại đã tập hợp những khoản vốn nhàn rỗi tạm thời của các tổ chức, cá nhân và thực hiện cung ứng vốn cho nền kinh tế nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất, góp phần vào lưu thông hàng hoá tiền tệ, cũng như đẩy mạnh tiêu dùng cá nhân từ
đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Từ đó huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn
bộ nền kinh tế vào trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Có thể nói đó là
“chất dầu bôi trơn” cho bộ máy kinh tế hoạt động
Không chỉ như vậy, các ngân hàng còn thúc đẩy sự luân chuyển vốn trong nền kinh tế Với chức năng thanh toán, ngân hàng thực hiện dịch vụ thanh toán hộ cho nền kinh tế, thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và vốn trong xã hội; đồng thời giám sát toàn bộ nền kinh tế, góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội Với nguồn vốn huy động, bên cạnh cung ứng vốn cho nền kinh tế, ngân hàng còn thực hiện mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, tạo điều kiện tốt nhất giúp các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả bằng các dịch vụ cần thiết như: tư vấn đầu tư, bảo lãnh, kiểm tra số dư trên tài khoản giao dịch thường xuyên cho khách hàng
Với vai trò tạo tiền do tham gia vào quá trình cung ứng tiền tệ, ngân hàng thương mại còn là công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW Để thực hiện các chính sách đó, NHTW phải sử dụng công cụ điều tiết đảm bảo thực hiện được các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong đó là mục tiêu ổn định tiền tệ Phần lớn các công cụ đó chỉ thực hiện có hiệu quả khi có các ngân hàng thương mại và trung gian tài chính tham gia đầy đủ theo quy định của NHTW (về tỉ lệ dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt )
Với những ý nghĩa to lớn trong nền kinh tế hàng hoá thị trường như góp phần giảm chi phí lưu thông, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy tăng trưởng
Trang 14trong nền kinh tế phát triển và đặc biệt là mối giao lưu kinh tế quốc tế thì sự ra đời
và tồn tại của NHTM là một xu hướng tất yếu và khách quan
1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ quản lý quỹ cho công chúng, đồng thời nó còn thực hiện nhiều vai trò khác nhau trong nền kinh tế Có thể nói thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách hiệu quả và bán chúng tại một mức giá cạnh tranh Bởi vậy
số lượng các sản phẩm dịch vụ mà một ngân hàng cung ứng ngày càng phát triển đa dạng theo sự phát triển của xã hội Do đó có rất nhiều cách phân chia hoạt động ngân hàng theo nhu cầu khách hàng, dựa vào bảng cân đối tài sản Nhưng ở đây, tôi xin được phân chia các hoạt động ngân hàng như sau:
- Các hoạt động truyền thống bao gồm: Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, nhận tiền gửi, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, thực hiện trao đổi ngoại tệ, bảo quản vật có giá, tài trợ cho các hoạt động của chính phủ, cung cấp các dịch vụ uỷ thác
- Các hoạt động hiện đại bao gồm: cho vay tiêu dùng, tài trợ cho dự án, tư vấn tài chính, cho thuê thiết bị trung và dài hạn (leasing), quản lý ngân quỹ, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
1.2 Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trong một thập kỷ trở lại đây, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được nhắc đến rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Mọi người đều nói đến thuật ngữ đó, và được coi là chủ đề thời sự trong kinh doanh Nhưng năng lực cạnh tranh
là gì thì không phải ai cũng hiểu được một cách rõ ràng và chính xác
Năng lực cạnh tranh không phải là:
Trang 15- Sự dư thừa nguồn lực: bởi bất cứ một nguồn lực nào được sử dụng thường xuyên sẽ cạn kiệt và không thể mãi tạo ra một năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp đó
- Giá nhân công rẻ: đây chỉ là một lợi thế cạnh tranh trong một giai đoạn nhất định mà không thể coi là năng lực cạnh tranh Mặt khác, giá nhân công rẻ cũng có thể phản ánh trình độ người lao động không cao, không thể tạo ra sản phẩm tốt với năng suất lao động cao được
- Chính sách khuyến khích, ưu đãi của chính phủ: không một doanh nghiệp nào, kể cả doanh nghiệp nhà nước mà có thể sống mãi bằng sự "bao cấp" của nhà nước; đến một lúc nào đó sự bảo hộ với doanh nghiệp đó sẽ phải mất đi Khi đó một doanh nghiệp có thể coi là tồn tại khi và chỉ khi đứng vững được trong cạnh tranh
mà không phải nhờ đến sự giúp đỡ của một thế lực nào khác
Theo quan điểm “Quản trị chiến lược” của Michael Porter thì năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá trị thấp và sự khác biệt của sản phẩm, tức bao gồm cả các yếu tố vô hình Mỗi công ty đều phải xây dựng chiến lược cạnh tranh liên quan tới việc xác định vị trí của công ty để phát huy các năng lực trước các lực lượng cạnh tranh như: đối thủ tiềm năng, đối thủ hiện tại, sản phẩm thay thế, khách hàng và nhà cung cấp Còn theo quan điểm marketing ngân hàng thì năng lực cạnh tranh liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra sản phẩm dịch vụ khác biệt và chỉ rõ lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ đó trên thị trường mục tiêu Nếu tiếp cận theo góc độ của một nhà quản trị ngân hàng, năng lực cạnh tranh cần được hiểu là khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, biểu hiện qua sức mạnh thương hiệu, uy tín của ngân hàng, thị phần của ngân hàng trên thị trường, chiến lược phát triển dài hạn, nguồn nhân lực… có khả năng chống đỡ hiệu quả đối với các biến động bất lợi của thị trường
Vậy, năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được hiểu là tiêu chí tổng hợp phản ánh khả năng tự duy trì lâu dài trên thị trường, trên cơ sở thiết lập một mối quan hệ bền vững với khách hàng để đạt được một số lượng lợi nhuận nhất
Trang 16định hoặc khả năng chống lại một cách thành công các sức ép của các lực lượng cạnh tranh
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Trong kinh tế thị trường thì một đặc trưng cơ bản là cạnh tranh, sẽ không có kinh tế thị trường nếu không có cạnh tranh Mặt khác để phát triển kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế thì chúng ta phải chấp nhận sự cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt Vì vậy, đòi hỏi các ngân hàng thương mại sẽ nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại hoá công nghệ ngân hàng; hay nói một cách chung nhất thì các ngân hàng thương mại phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thì quá trình cạnh tranh lại diễn
ra khác biệt và có phần gay gắt và khó khăn hơn so với ngành khác Các ngân hàng thương mại luôn nằm trong một hệ thống dưới sự quản lý của ngân hàng nhà nước Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng không phải là đối đầu, chiến thắng tuyệt đối đối thủ của mình mà cạnh tranh là để hợp tác và phát triển ví dụ như: các ngân hàng thương mại phải hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề chung của ngành, hệ thống đảm bảo hai bên cùng có lợi, tồn tại và phát triển bằng nhiều hình thức: cho vay hợp vốn, đồng tài trợ Bởi lẽ chỉ cần một ngân hàng thương mại trong hệ thống lung lay sụp đổ cũng làm ảnh hưởng đến các ngân hàng thương mại khác thậm chí dẫn đến hiệu ứng đôminô sụp đổ hàng loạt các ngân hàng thương mại khác
Thực tế trong giai đoạn hiện nay toàn cầu hóa kinh tế là một quá trình thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, qua
đó các ngân hàng không ngừng mở rộng thị phần và quy mô hoạt động bằng cách vươn tới các thị trường quốc tế Xu hướng quốc tế hóa hoạt động ngân hàng đã đặt các NHTM trước áp lực cạnh tranh lớn đó là sự cạnh tranh giữa các NHTM với nhau và giữa NHTM với các tổ chức tài chính phi ngân hàng, xu hướng này sẽ tác động đến khách hàng, họ có nhiều sự lựa chọn hơn vì vậy nhu cầu và đòi hỏi sẽ cao
Trang 17hơn Trong kinh doanh mọi doanh nghiệp đều lấy khách hàng làm đối tượng và mục tiêu phục vụ, các ngân hàng cũng không ngoại lệ, họ luôn không ngừng nỗ lực và thỏa mãn nhu cầu khách hàng tối đa Do đó những đòi hỏi của khách hàng trong việc nâng cao chất lượng, loại hình dịch vụ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ngân hàng Không chỉ như vậy, mặc dù rào cản ra nhập thị trường ngân hàng rất khắt khe nhưng thị trường ngân hàng vẫn thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức lớn, đặc biệt là các tổ chức nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ ngân hàng hiện đại, kinh nghiệm quản lý dày dạn và thương hiệu đã khẳng định trên thị trường quốc tế Các ngân hàng mới tham gia vào thị trường với kỹ năng cạnh tranh, tiềm lực tài chính và ước vọng chiếm lĩnh thị phần, tham khảo được kinh nghiệm của các ngân hàng đi trước Các ngân hàng mới có những kế sách và sức mạnh mà các ngân hàng hiện tại chưa có thông tin để đối phó Do đó trong thời gian tới sự cạnh tranh trên thị trường ngân hàng sẽ ngày càng gay gắt, xu hướng trong thời gian tới có thể
là xu hướng mua bán và sáp nhập trong ngành; từ đó số lượng ngân hàng vừa và nhỏ sẽ giảm đáng kể Sáp nhập giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động,
duy trì mức lợi nhuận và giảm được cạnh tranh trong ngành
1.2.3 Đặc điểm liên quan đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Đặc điểm về sản phẩm ngân hàng cung cấp
Sản phẩm ngân hàng được thể hiện dưới dạng dịch vụ nên nó có những đặc điểm cụ thể sau:
a) Tính vô hình
Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế Các sản phẩm ngân hàng không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được, ngửi được trước khi mua chúng như bất cứ các dịch vụ khác được cung cấp trên thị trường Khách hàng khi đến với ngân hàng không thể biết chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không, số tiền thanh toán cho đối tác có đến tay người nhận đúng hẹn hay
Trang 18không Do vậy, để khắc phục đặc điểm này thì trong kinh doanh, ngân hàng phải dựa trên cơ sở lòng tin Hoạt động của ngân hàng phải hướng vào việc tạo và củng
cố được niềm tin đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch
vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của sản phẩm, khuyếch trương uy tín, hình ảnh, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho ngân hàng đẩy mạnh công tác xúc tiến hỗn hợp
b) Tính không thể tách biệt
Quá trình cung cấp và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ ngân hàng được diễn ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ Không chỉ như vậy mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại thành phẩm khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay… Điều này làm cho sản phẩm ngân hàng không có sản phẩm dở dang, sản phẩm lưu kho mà được cung ứng trực tiếp cho các khách hàng khi và chỉ khi các khách hàng có nhu cầu sản phẩm mới được cung ứng Do vậy, các ngân hàng thường tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng và các ngân hàng khác bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng, phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong toàn thể đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng và hiện đại hoá hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này
c) Tính không ổn định
Chất lượng của các dịch vụ ngân hàng thường không xác định, nó phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian, địa điểm thực hiện Đồng thời, giữa các ngân hàng khác nhau thì chất lượng dịch vụ sẽ khác nhau tuỳ trình độ chuyên môn nhận thức mà cung ứng dịch vụ với mức độ khác nhau, cùng nhân viên thì chất lượng dịch vụ này cũng tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, tinh thần ở thời điểm giao dịch với khách hàng…
d) Tính không lưu giữ được
Trang 19Các sản phẩm ngân hàng mang đặc tính vô hình do vậy cũng không thể lưu kho được Trong khi đó nhu cầu dịch vụ thường dao động lớn có thời điểm nhu cầu tăng đột biến song các ngân hàng cũng không thể sản xuất sẵn rồi đem lưu kho được Ví dụ như, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền tại thời điểm cuối năm là rất lớn nhưng các ngân hàng ngân hàng phải tăng cường phương tiện cũng như nguồn nhân lực để đảm bảo phục vụ khách hàng song những thời điểm như đầu năm thì hoạt động này lại ít hơn nhưng ngân hàng cũng không thể san bớt công việc để làm đỡ cho cuối năm được Chính bởi vậy chi phí bỏ ra cho dịch vụ ngân hàng thường tương đối cao
Đặc điểm sản phẩm ngân hàng có những đặc tính riêng so với ngành khác ảnh hưởng rõ rệt đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Sản phẩm của ngân hàng thương mại là tiền, đó vừa là đối tượng kinh doanh lại vừa là thước đo kết quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Mặt khác đó là loại hàng hoá có tính xã hội và tính nhạy cảm cao; chỉ một biến động nhỏ về tỷ giá và lãi suất cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Do vậy cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại thực sự gay gắt và quyết liệt, nỗ lực không ngừng nổi bật hơn đối thủ để đem lại cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất
Hơn nữa sản phẩm ngân hàng có tính vô danh Nếu như sản phẩm của doanh nghiệp có thể đăng ký bản quyền thì sản phẩm của một ngân hàng không thể làm như vậy được Bất cứ một sản phẩm của một ngân hàng nào tạo ra được sự ưa chuộng cho khách hàng thì ngay lập tức các ngân hàng khác cũng có khả năng cung cấp những sản phẩm tương tự thậm chí còn hấp dẫn khách hàng hơn để giành lại thị phần, phân tán mức độ ưa chuộng của xã hội đối với sản phẩm đó và làm giảm lợi nhuận của ngân hàng đó ngay lập tức Do vậy sự cạnh tranh này phổ biến diễn ra thường xuyên buộc các ngân hàng phải chấp nhận
1.2.3.2 Đặc điểm về khách hàng của ngân hàng
Do các sản phẩm ngân hàng nhìn chung là tương đối giống nhau nên ở bất cứ một ngân hàng nào khách hàng cũng có thể được cung cấp những dịch vụ cơ bản
Trang 20nhất Do vậy khách hàng của ngân hàng thương mại không phải là những khách hàng trung thành tuyệt đối mà rất dễ dàng bị lôi kéo bởi đối thủ cạnh tranh Lòng trung thành của khách hàng đối với ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào thái độ phục
vụ của nhân viên ngân hàng, cũng như những lợi ích mà họ thu được từ ngân hàng Với đặc điểm khách hàng rất dễ bị lôi kéo thì sự cạnh tranh của ngân hàng cũng
được nhân lên rất nhiều gây khó khăn trong hoạt động của ngân hàng
1.2.4 Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Như đã trình bày ở trên, năng lực cạnh tranh là một tiêu chí tổng hợp Để duy trì sự tồn tại và phát triển trong một thời gian dài thì đòi hỏi ngân hàng thương mại
đó phải có một năng lực cạnh tranh tốt Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được cấu thành từ những lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn của ngân hàng
Đó là những lợi thế được ngân hàng tạo ra và sử dụng cho cạnh tranh Hay còn được hiểu là các đặc điểm hay biến số của sản phẩm mà nhờ đó ngân hàng có thể tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ trực tiếp
Ngân hàng cũng có thể tự sáng tạo lợi thế cạnh tranh khác nhau dựa trên hai cách chủ yếu:
- Đối đầu trực tiếp với đối phương (vươn tới và duy trì lợi thế)
- Phát triển con đường tránh cạnh tranh Mặc dù phương pháp này ít tốn kém nhưng rất khó thực hiện Phương pháp này thường được áp dụng trong những ngân hàng có quy mô nhỏ, chiếm thị phần nhỏ
Ta có thể khái quát một số nhóm chỉ tiêu để đo lường năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại như sau:
1.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng tài chính
a) Chỉ tiêu phản ánh mức độ sinh lời
Có rất nhiều chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nhưng trong hoạt động ngân hàng thì thu lãi là khoản thu luôn chiếm tỷ trọng lớn
Trang 21nhất trong các khoản mục trên bảng cân đối Do vậy trong phần này tôi xin đưa ra một số chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu 1: ROA
ROA =
Lợi nhuận ròng
x 100 Tổng tài sản
Chỉ tiêu trên cho thấy khả năng bao quát của hoạt động ngân hàng thương mại trong việc tạo thu nhập từ tài sản Các ngân hàng thường sử dụng ROA để đo lường mối quan hệ sinh lời của tài sản và nguồn vốn bởi vì một bộ phận nguồn vốn được sử dụng tạo nên tài sản không sinh lãi và có một bộ phận tài sản không sinh lãi lại tham gia tạo nên thu nhập cho ngân hàng Do vậy nếu ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tốt và cơ cấu tài sản hợp lý Tuy nhiên nếu ROA quá lớn làm cho các nhà quản trị lo lắng vì rủi ro nhìn chung luôn đi song hành với lợi nhuận
- Chỉ tiêu 2: ROE
ROE =
Lợi nhuận ròng
x 100 Vốn tự có
ROE là chỉ tiêu được các nhà ngân hàng quan tâm đến nhiều nhất Nó cho thấy khả năng sinh lời từ một đồng vốn của chủ Từ đó cho biết số lợi nhuận ròng
mà một cổ đông có được Do vậy các ngân hàng luôn cố gắng tăng chỉ tiêu ROE để tăng tính hấp dẫn đối với các cổ đông bằng nhiều phương pháp như: kiểm soát chi tiêu, đầu tư, quản lý rủi ro có hiệu quả Tuy nhiên việc tăng ROE quá cao so với ROA chứng tỏ nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, do vậy ảnh hưởng đến mức độ lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng thương mại
Trang 22Trong cùng một hệ thống, người ta có thể so sánh bằng hai chỉ tiêu ROA và ROE để thấy được Chi nhánh nào hoạt động hiệu quả hơn đồng thời nó cũng phản ánh sức mạnh về tiềm lực tài chính của ngân hàng – nhân tố quan trọng xây dựng nên năng lực cạnh tranh của ngân hàng
- Chỉ tiêu 3: Chênh lệch lãi suất
Chênh lệch lãi suất =
Chênh lệch thu – chi từ lãi Tổng tài sản có bình quân Chỉ tiêu này cũng thường được tính đến trong khi tính ROE và ROA Đó cũng là một chỉ tiêu bổ sung cho hai chỉ tiêu trên và cho ta thấy được từ một đồng vốn tài sản sinh lãi sinh ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận
- Chỉ tiêu 4: Lãi ròng biên tế
Bên cạnh đó, trong phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu sau: Chi phí / Thu nhập; Lợi nhuận trước thuế
và DPRR / Tổng tài sản có bình quân; Thu nhập từ lãi / Tài sản có sinh lời bình quân và Chi lãi / Tài sản có sinh lời bình quân; Chi phí hoạt động / Thu nhập ròng
và Chi phí hoạt động / Tổng tài sản có bình quân…
Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng cho thấy rõ năng lực cạnh tranh về tài chính Tuy nhiên đây là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp cao, các chỉ tiêu bổ trợ cho nhau sẽ cho ta một cái nhìn đầy đủ về ngân hàng
Trang 23b Chỉ tiêu phản ánh tính rủi ro
Trong hoạt động kinh doanh thì sinh lời cao luôn đồng hành với một mức rủi
ro lớn Do vậy chúng ta không thể dễ dàng kết luận một ngân hàng có mức sinh lời cao, hiệu quả hoạt động kinh doanh lớn lại là một ngân hàng tốt được Một ngân hàng có năng lực cạnh tranh tốt phải là một ngân hàng có thể duy trì khả năng sinh lời cao trong suốt quá trình hoạt động của mình Nếu như ta chỉ căn cứ vào một hoặc một số lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn mà kết luận đây là ngân hàng có năng lực cạnh tranh thì đó là kết luận vội vàng và khá thiếu chính xác Chính vì đặc thù đó mà bên cạnh chỉ tiêu cho thấy tình hình hoạt động kinh doanh, các chuyên gia kinh tế cũng luôn quan tâm đến mức độ rủi ro của ngân hàng thể hiện qua việc tổng hợp các chỉ tiêu
Chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro thể hiện qua chỉ tiêu sau:
CAR =
Vốn tự có Tổng tài sản có rủi ro Chỉ tiêu này được dùng để xác định khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi
ro vận hành Theo quy định hiện tại của Ngân hàng Nhà nước thì tỷ lệ tối thiểu là 9%
Ngoài ra một số chỉ tiêu khác cũng cho ta thấy mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng như: Tỷ lệ nợ quá hạn (Nợ quá hạn / Tổng dư nợ); Tỷ lệ
nợ xấu (Nợ xấu / Tổng dư nợ)
Các chỉ tiêu trên sẽ cho ta một phân tích đầy đủ, toàn diện về năng lực tài chính của một ngân hàng Tuy vậy không phải bao giờ quá trình phân tích nào cũng đem lại một kết quả chính xác do trong các ngân hàng thương mại thì con số nợ quá hạn, nợ xấu là một con số nhạy cảm mà không phải ngân hàng nào cũng có thể cung cấp một số liệu đúng kể cả những số liệu đã được các ngân hàng thương mại chuyển
Trang 24lên Ngân hàng Nhà nước Do vậy để phân tích tài chính của ngân hàng đòi hỏi trình
độ, khả năng quan sát cao của nhà phân tích
c Chi phí, giá cả và lãi suất
Như chúng ta đã phân tích về đặc trưng sản phẩm của ngân hàng trong phần trên: Bất cứ một sự thay đổi nhỏ nào về chi phí dịch vụ và lãi suất của ngân hàng mình so với ngân hàng đối thủ cạnh tranh Đồng thời các ngân hàng cũng buộc phải quan tâm đến cơ cấu cho vay – huy động; lượng tiền cần thiết trong thời gian tới, cũng như lãi suất có khả năng cho vay ra Để thu hút khách hàng bằng lãi suất, các ngân hàng thường tăng lãi suất tuy vậy cũng không thể tăng lãi suất huy động cao hơn cho vay vì như vậy các ngân hàng cũng không nhận được gì cho hoạt động của mình
Phí dịch vụ cũng được ngân hàng tính toán cho đủ bù đắp những chi phí đã
bỏ ra như: chi phí thu hút khách hàng, chi phí thông tin, chi phí cho nhân viên phục vụ để tính được biểu phí hợp lý đảm bảo kế hoạch cũng phải có lợi khi thực hiện nghiệp vụ và mức phí này cần thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh Tuy vậy việc giảm phí phục vụ thường rất khó thực hiện tại các ngân hàng có quy mô nhỏ khi mà lượng khách hàng ít, từ đó đẩy chi phí dịch vụ trên một khách hàng lên cao và việc giảm chi phí là rất khó mà bản thân các ngân hàng đó cũng không thu được lợi nhuận cao Tuy vậy thực tế hiện nay với các ngân hàng nhỏ thì việc hướng thị phần vào các khách hàng tiêu dùng là việc nên làm bởi phần lớn vốn tiết kiệm để tái sản xuất nền kinh tế nằm trong bộ phận khách hàng này và họ không quan tâm quá nhiều đến lãi suất mà quan tâm đến độ an toàn khi gửi tiền cũng như thực hiện các dịch vụ và thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng Cùng với đó việc hoàn thiện đội ngũ nhân viên và quy trình nghiệp vụ các ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể giành được lợi thế cạnh tranh so với ngân hàng lớn và có được năng lực cạnh tranh tốt
1.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Trang 25Chất lượng dịch vụ ngân hàng là năng lực của dịch vụ được ngân hàng cung ứng và được thực hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng mục tiêu
Tìm hiểu các đặc tính của chất lượng dịch vụ nói chung với các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ theo quan điểm khách hàng theo các tiêu chuẩn cảm nhận
để từ đó có thể áp dụng (nhìn nhận với dịch vụ ngân hàng)
Các yếu tố hữu hình: Đó là các yếu tố vật chất của dịch vụ như các phương tiện thiết bị phục vụ, dụng cụ tiến hành dịch vụ, giấy tờ tài liệu, bầu không khí giao dịch khách hàng thường cảm thấy tin tưởng và hãnh diện khi giao dịch tại một ngân hàng nghiêm trang, không khí văn minh lịch sự, trang thiết bị máy móc hiện đại hơn là phải làm việc trong trụ sở nhỏ hẹp, thiết bị lạc hậu Chính vì vậy mà ngay từ khi bắt đầu thành lập, các ngân hàng thường rất quan tâm đến diện mạo của ngân hàng mình và đầu tư chủ yếu vốn của chủ vào trang thiết bị văn phòng, cơ sở vật chất Đây chính là nhân tố đầu tiên thu hút khách hàng đến với ngân hàng Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ: Với thái độ sốt sắng, sẵn sàng cung cấp dịch vụ đúng lúc kịp thời và vẻ ngoài thân thiện nhân viên là yếu tố quan trọng để “đánh gục” khách hàng và giữ quan hệ lâu dài với khách hàng Trong một ngân hàng thì bất cứ một nhân viên nào cũng phải làm nhiệm vụ marketing cho ngân hàng mình Mỗi nhân viên của ngân hàng chính là hình ảnh của ngân hàng trong con mắt khách hàng Do vậy yếu tố này cực kỳ quan trọng và là lợi thế cạnh tranh mà các ngân hàng đều mong muốn hướng đến Chất lượng của nhân viên còn được thể hiện qua tác phong làm việc, khả năng giao tiếp, thấu hiểu khách hàng và năng lực chuyên môn cao Sự lịch thiệp tôn trọng khách hàng, quan tâm và thân thiện của nhân viên ngân hàng đối với khách hàng Khả năng giao tiếp thông tin bằng chính ngôn ngữ của họ, lắng nghe ý kiến khách hàng, giải thích về quy trình nghiệp vụ, chi phí và tại sao phí của ngân hàng mình lại cao hoặc thấp hơn đối thủ cạnh tranh
Trang 26Tính tiếp cận được: Dịch vụ ngân hàng cung cấp có thể và dễ dàng gần tiếp cận về thời gian, địa điểm như thời gian có thể tiến hành sử dụng dịch vụ, thời gian chờ đợi, địa điểm cung ứng dịch vụ có thuận tiện không? Yếu tố này tác động trực tiếp đến mạng lưới phân phối dịch vụ của các ngân hàng cho khách hàng
Độ an toàn và chính xác: Không có nguy hiểm hoặc rủi ro ngờ vực, an toàn
về vật chất và tài chính, giữ bí mật cho khách hàng trong quá trình cung ứng dịch
vụ Đây là điểm đáng lưu tâm bởi các thông tin tài chính là thông tin mang tính nhạy cảm và ảnh hưởng lớn tới khách hàng Đối với ngân hàng thông tin về khách hàng là thông tin mang tính tuyệt mật chỉ có ngân hàng nắm được
Bản thân dịch vụ cung ứng: là trung tâm của sự quan tâm khách hàng Gồm hai thuộc tính kỹ thuật và sử dụng Thuộc tính kỹ thuật là phương thức vận hành dịch vụ như các quy định, tốc độ xử lý giao dịch nhanh chóng và chính xác, tuân thủ theo các yếu tố pháp lý Thuộc tính sử dụng là sự thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng một cách tối ưu
Để đo lường những yếu tố trên các ngân hàng thương mại có thể phải sử dụng các công cụ nghiên cứu marketing như làm bảng hỏi khách hàng, phỏng vấn trực tiếp khách hàng, tổ chức toạ đàm theo chuyên đề, tổ chức hội nghị khách hàng hoặc sử dụng hòm thư góp ý của khách hàng từ đó xác định rõ năng lực cạnh tranh của ngân hàng mình trong lĩnh vực dịch vụ để có phương hướng phát triển tốt hơn
1.2.4.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh áp dụng công nghệ thông tin vào trong hoạt động ngân hàng
Một trong những yếu tố quan trọng của chất lượng dịch vụ ngân hàng là tính
an toàn, nhanh chóng, chính xác Để thực hiện được điều này thì không có một công
cụ nào giúp sức đắc lực hơn là công nghệ thông tin Tuy nhiên mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong mỗi ngân hàng lại khác nhau và phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tài chính của ngân hàng đó Việc áp dụng công nghệ thông tin tạo nên chất
Trang 27lượng cho sản phẩm trong các dịch vụ là điều kiện then chốt tạo nên lợi thế cạnh tranh trong điều kiện hội nhập hiện nay của hệ thống ngân hàng
Hiện nay hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có tới khoảng 80% các sản phẩm tin học được tin học hoá Việc áp dụng công nghệ thông tin đã làm cho hoạt động ngân hàng đặc biệt hệ thống thanh toán phát huy ưu thế của mình Thời gian thực hiện giao dịch thanh toán thông qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng còn không quá 10 giây Tất cả các ngân hàng trong nước đều đang sử dụng mạng diện rộng (WAN), các phương thức truyền thông như: đường thuê bao (Leased lines) và kênh thuê riêng, đường trục cáp quang
Vì vậy trong bối cảnh hiện nay khi mà tất cả các ngân hàng đều có trình độ
áp dụng công nghệ thông tin tương đối đồng đều thì việc nổi bật hẳn lên trong lĩnh vực này để giành lợi thế cạnh tranh là việc rất khó Nhưng nếu làm được thì số lượng khách hàng thu hút được sẽ tăng lên đáng kể
Để đánh giá trình độ áp dụng công nghệ thông tin trong ngân hàng có thể thông qua các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ các sản phẩm ngân hàng được tin học hoá trong ngân hàng
- Số máy vi tính trong ngân hàng và số máy tính trung bình cho một nhân viên trong ngân hàng
- Áp dụng công nghệ thông tin tạo ra các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách hàng
Tuy nhiên việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động ngân hàng phải tính đến khả năng tiếp nhận của khách hàng Nếu áp dụng sản phẩm với công nghệ tiên tiến hiện đại thì khách hàng sẽ không thể hiểu hết được tính năng của sản phẩm
và sẽ gây ra lãng phí lớn cho ngân hàng do việc đầu tư mua sắm thiết bị không phải nhỏ Ví như máy ATM hiện nay thường được dân chúng hiểu là máy rút tiền tự động, nhưng ATM có thể thay cho cả một ngân hàng nhỏ để thực hiện các giao dịch
Trang 28cho khách hàng Nó có khả năng cung cấp mọi tiện ích từ rút tiền, gửi tiền và thanh toán
1.2.4.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh cung ứng dịch vụ mới trong hoạt động ngân hàng
Quá trình cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các ngân hàng liên tục đổi mới trong hoạt động nhằm cung ứng sản phẩm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng Với
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật cũng như nhu cầu ngày càng tăng cao của khách hàng làm cho thị trường luôn luôn thay đổi Chính vì vậy tính đổi mới linh hoạt trong hoạt động trở thành chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Thực tế cho thấy không phải bao giờ các ngân hàng cũng luôn đi đúng hướng
và việc đổi mới trong hoạt động không hẳn sẽ mang lại thành công Song trên thị trường với các đối thủ luôn luôn vận động, tự đổi mới thì nếu giữ nguyên hoạt động các ngân hàng đã tụt hậu và tự kỳm hãm sự phát triển của ngân hàng mình Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực này bao gồm:
- Số lượng dịch vụ mới được cung ứng
- Mở rộng mạng lưới chi nhánh
- Sự thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ
Để có thể xác định được chỉ tiêu đó các ngân hàng phải có phòng phụ trách riêng thống kê thông tin trong nội bộ ngân hàng mình và cập nhật thông tin từ đối thủ cạnh tranh để nhanh chóng nắm bắt thông tin tránh tụt hậu Một sản phẩm chỉ có thể gọi là mới và mang tính cạnh tranh cao khi các đối thủ cạnh tranh chưa có
1.2.4.5 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thị phần hoạt động ngân hàng
Để đánh giá được chỉ tiêu chất lượng dịch vụ ngân hàng áp dụng công nghệ thông tin và sự đổi mới trong hoạt động ngân hàng thì cần phải dựa vào chỉ tiêu mức độ tăng trưởng thị phần của ngân hàng Đây được coi là một chỉ tiêu đánh giá kết quả của việc thực hiện nỗ lực trên Việc xác định thị phần có tầm quan trọng đối với hoạt động ngân hàng để đánh giá ưu việt và sai sót trong các chỉ tiêu trên Kết
Trang 29quả thị phần của ngân hàng được so sánh với thị phần của đối thủ và trên thị trường
để thấy rõ được vị thế trong hoạt động của ngân hàng mình Thị phần ngân hàng cũng cho ta biết khả năng chiếm giữ thị trường của một ngân hàng cụ thể từ đó cho thấy một sự phát triển ổn định, bền vững của ngân hàng Vậy để tăng thị phần luôn
là mục tiêu được các nhà quản trị ngân hàng quan tâm và tìm mọi cách mở rộng hơn
so với đối thủ cạnh tranh
1.2.5 Mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Để đánh giá được năng lực cạnh tranh của ngân hàng này so với một ngân hàng khác là việc vô cùng phức tạp Có ngân hàng có lợi thế cạnh tranh này mạnh nhưng điểm khác lại yếu Bên cạnh đó năng lực cạnh tranh lại là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp cao, chính vì vậy để xác định được năng lực cạnh tranh của ngân hàng thì trước hết phải xem xét ngân hàng đó có gì? chúng ta phải xem xét về nguồn lực ngân hàng khi thực hiện đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Để xác định năng lực cạnh tranh và từ đó tìm kiếm thị trường mục tiêu có rất nhiều mô hình: mô hình Diamond, mô hình GAP Nhưng trong phạm vi và quy mô của luận văn tôi xin trình bày mô hình phổ biến nhất - mô hình SWOT
Nguyên tắc của mô hình là tập trung kết quả vào 4 nhóm:
- Strength: Ưu thế – điểm mạnh: được xem là bất cứ kỹ năng đặc biệt hay khả năng cạnh tranh của ngân hàng có tác dụng giúp họ đạt được mục tiêu đã đề ra một cách nhanh chóng Điểm mạnh thường liên quan tới những kinh nghiệm có được trong kinh doanh hoặc những kỹ năng đặc biệt trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ, trong hoạt động nghiên cứu và triển khai kỹ thuật marketing Đó cũng có thể là hình ảnh hay truyền thống văn hoá kinh doanh của ngân hàng; Hoặc danh tiếng của một ngân hàng về chất lượng sản phẩm và chăm sóc khách hàng, một cơ
sở dữ liệu tốt về khách hàng
- Weakness: Hạn chế - Điểm yếu: là những mặt hạn chế của bản thân ngân hàng trong việc thực hiện các mục tiêu cụ thể hay có thể là thiếu kinh nghiệm trong hoạt động nghiệp vụ hoặc công nghệ ứng dụng nào đó Những điểm mạch và điều
Trang 30yếu nằm ngay trong bản thân hoạt động của ngân hàng Những điểm yếu của ngân hàng này có thể là điểm mạnh của ngân hàng kia và ngược lại Nhưng điều quan trọng là phải xác định điểm mạnh yếu của mình và đối thủ để có thể phát huy thêm điểm mạnh của mình từ đó có chiến lược phát triển đúng đắn
- Opportunities: Cơ hội: là bất cứ yếu tố nào của môi trường bên ngoài có thể tạo ra các điều kiện mang lại lợi thế cho ngân hàng về một đối tượng hay khách hàng cụ thể
- Threat: Thách thức: là bất cứ sự thay đổi nào đó của môi trường có thể gây
ra khó khăn cản trở cho hoạt động kinh doanh và hạn chế thành công của ngân hàng
Thường thì sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là “cơ hội” cho ngân hàng này nhưng lại là “thách thức” đối với ngân hàng khác
Ví dụ: Chính phủ cho phép công ty tiết kiệm bưu điện được phép cung cấp dịch vụ tiền gửi tiết kiệm trong dân cư là thách thức với ngân hàng thương mại về
sự co hẹp lại của thị phần trên thị trường tiền tệ
Thực tế khi sử dụng mô hình SWOT trong xác định thị trường mục tiêu cần chú ý:
- Phân tích mô hình SWOT không chỉ đơn giản là yêu cầu nắm bắt thông tin
mà phải cụ thể hoá từng điểm và phải được đánh giá toàn diện cả 4 yếu tố có tầm quan trọng khác nhau
- Những điểm mạnh của ngân hàng phải được khách hàng coi trọng và nhận thức đầy đủ Điểm mạnh ngân hàng sẽ không thể phát huy tác dụng nếu khách hàng không coi trọng và rất ít quan tâm đến nó
- Phải biết phối hợp hiệu quả giữa điểm mạnh của ngân hàng & cơ hội kinh doanh, tạo lợi thế để chuyển thách thức thành cơ hội mà ngân hàng có khả năng đáp ứng nhờ thế mạnh đáng có
Trang 31- Mô hình SWOT của từng đoạn thị trường khác nhau sẽ khác nhau do vậy mỗi đoạn thị trường, ngân hàng cần thiết phải lập 1 một hình SWOT tương ứng
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
1.3.1 Những nhân tố bên trong
Đây là những nhân tố thuộc về chính bản thân ngân hàng Đối với các NHTM hoạt động trong cùng một môi trường thì nhân tố có sức ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh chính là các nhân tố bên trong của ngân hàng đó Nguồn nhân lực, chiến lược kinh doanh, thương hiệu, công nghệ ngân hàng, kênh phân phối… có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh nói chung và năng lực cạnh tranh của NHTM
1.3.1.1 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của một NHTM trong nền kinh tế thị trường Chất lượng nguồn lao động được thể hiện ở hai tiêu chí chính: phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động đối với cả đội ngũ lãnh đạo quản lý và người lao động
Để phát triển sản phẩm ngân hàng, mở rộng khách hàng, gia tăng thị phần đòi hỏi những điều kiện nhất định: mạng lưới rộng khắp, chi phí cố định (thuê địa điểm, đầu tư hạ tầng công nghệ) lớn, đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp và phù hợp Trong ba điều kiện chủ yếu nêu trên, hai điều kiện đầu có thể nhanh chóng thiết lập nếu có đủ nguồn lực vật chất Tuy nhiên, điều kiện thứ ba lại không dễ dàng tạo ra bởi chúng liên quan đến yếu tố con người – nhân tố quan trọng nhất cho quá trình cải cách và phát triển Nhân lực tốt không những làm chủ mạng lưới, công nghệ mà còn là nhân tố quyết định việc cải tiến mạng lưới, công nghệ, quy trình… và điều quan trọng hơn là tạo ra và duy trì các mối quan hệ bền vững với khách hàng Một NHTM chỉ có thể phát triển bền vững nếu có một nền tảng khách hàng bền vững Máy móc, công nghệ, thiết bị không thể làm thay con người trong lĩnh vực này
Trang 32Do vậy, các NHTM phải tập trung vào việc đào tạo nâng cao trình độ toàn diện cho nhân viên ngân hàng, đưa ra những chính sách về tiền lương, đãi ngộ khuyến khích nhân viên làm việc tích cực, bố trí công việc hợp lý, từng bước xây dựng phong cách văn hóa riêng của ngân hàng mình - văn hoá kinh doanh ngân hàng
1.3.1.2 Cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng
Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng đã dẫn đến việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ như địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín của ngân hàng,… Do vậy, cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng là một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đối với việc mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và phương thức phân phối dịch
vụ đến khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh
Thông qua công nghệ, sẽ đem đến cho khách hàng sự hài lòng nhờ vào những dịch vụ ngân hàng nói chung và các sản phẩm huy động vốn nói riêng có chất lượng tốt, thời gian giao dịch được rút ngắn, an toàn, bảo mật Cho dù khách hàng đến bất cứ địa điểm giao dịch nào của ngân hàng đều cảm nhận được sự ổn định chất lượng của dịch vụ Với NHTM, công nghệ hiện đại sẽ tạo ra đột phá trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, gián tiếp khẳng định được đẳng cấp tên tuổi hình ảnh của ngân hàng Dưới góc độ quản lý, nhờ có công nghệ mà việc quản lý nội bộ trong ngân hàng sẽ chặt chẽ hiệu quả hơn, quản trị rủi
ro tốt hơn
Như vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh, để phát triển dịch vụ có chất lượng, ngoài khả năng quản trị điều hành, khả năng quản lý của cán bộ, ngân hàng còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở vật chất và công nghệ
1.3.1.3 Năng lực tài chính
Trang 33Năng lực tài chính của một NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy
mô vốn tự có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh Yếu tố tài chính quan trọng nhất của ngân hàng thương mại là vốn Vốn ngân hàng là điều kiện cơ bản đảm bảo tiền gửi của khách hàng và cơ sở cho việc phát triển mạng lưới, đầu tư vào công nghệ mới, đa dạng hoá danh mục sản phẩm Vốn đầu tư là điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với ngân hàng trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, mua sắm trang thiết bị hiện đại, đào tạo cán bộ và mở rộng màng lưới hoạt động nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng Nếu vốn nhỏ sẽ không đủ lực để đa dạng hoá các sản phẩm dịch
vụ cũng như nâng cao hiệu quả của các dịch vụ hiện có
Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng Năng lực tài chính của một NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường càng cao
Do vậy, NHTM phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện năng lực tài chính
và đây là điều kiện không thể thiếu được bất cứ một NHTM nào
1.3.1.4 Thương hiệu của ngân hàng
NHTM được biết đến với hoạt động xương sống là đi vay để cho vay Điều
đó có nghĩa là một NHTM chỉ có thể hoạt động được nếu như có những khách hàng tin tưởng gửi tiền vào các ngân hàng và tạo lập các quan hệ giao dịch Vậy tại sao khách hàng lại chọn ngân hàng này mà không chọn ngân hàng kia để gửi tiền và đặt quan hệ giao dịch? Thương hiệu của ngân hàng sẽ quyết định đến sự lựa chọn của khách hàng Một thương hiệu ngân hàng tốt là một thương hiệu có uy tín, được sự tin cậy của nhóm khách hàng mục tiêu
Để có thương hiệu tốt, không phải chỉ ngày một ngày hai mà NHTM có đạt được Thương hiệu chỉ được hình thành sau một thời gian trải nghiệm nhất định về tất cả những gì (chất lượng của hàng hóa, dịch vụ, tiềm lực tài chính,…) mà NHTM
đó hứa hẹn với thị trường
Trang 34Chính vì vậy, các NHTM cần phải quan tâm đến việc tạo dựng thương hiệu cho mình, bên cạnh việc khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường, cần thiết lập tầm nhìn, sứ mệnh, mục tiêu, thiết lập hệ thống nhận diện thương hiệu thống nhất cho ngân hàng và các chi nhánh, đã xây dựng quy chế quản lý thương hiệu, đã thiết lập bộ phận đồ họa phục vụ mục đích truyền thông và nội dung nhận diện thương
hiệu
Các NHTM cần phải chú trọng các hoạt động truyền thông và marketing Từ
đó để khách hàng biết những tính năng ưu việt và lợi ích của sản phẩm Ngoài ra, NHTM cần xây dựng mối quan hệ với khách hàng và duy trì mối quan hệ này Từ
đó góp phần thu hút khách hàng, tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
1.3.1.5 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Bất kỳ một tổ chức nào hoạt động cũng phải có mục tiêu rõ ràng Trong từng giai đoạn cụ thể, để đạt được mục tiêu đề ra các tổ chức phải xây dựng chiến lược với phương án, kế hoạch cụ thể rõ ràng Chiến lược kinh doanh của NHTM có sự phụ thuộc vào môi trường và mục tiêu của chính ngân hàng Khi chiến lược có sự thay đổi sẽ tác động ngay đến chính sách của ngân hàng Như vậy sẽ ảnh hưởng đến
sự năng lực cạnh tranh của NHTM đó
Đối với ngân hàng việc phát triển khách hàng, mở rộng thị phần phải có lộ trình, cần có kế hoạch dài hạn, bám sát vào thực tế và dự đoán nhu cầu của thị trường để chủ động triển khai có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng
1.3.2 Những nhân tố bên ngoài
Đây là những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế, các nhân
tố này là các nhân tố bên ngoài của một NHTM và ngành, và ngành phải chịu các tác động của nó đem lại như một nhân tố khách quan Các NHTM dựa trên các tác động sẽ đưa ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp
1.3.2.1 Môi trường pháp lý
Trang 35Môi trường pháp lý có tầm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, tác động đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ một tổ chức hay cá nhân Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều chịu ảnh hưởng nhất định của môi trường pháp
lý, cụ thể là chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá, chính sách giá cả
Trong môi trường pháp lý, trước hết xem xét về sự ổn định của thể chế Nếu thể chế ổn định sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ
Tiếp theo, đó là hệ thống các đạo luật, các văn bản dưới luật Nếu hệ thống các văn bản pháp quy đồng bộ, chi tiết rõ ràng sẽ có tác dụng làm cho các hoạt động của Ngân hàng đi vào quỹ đạo luật hoá phát huy các hiệu quả, bằng các quy định cụ thể rõ ràng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tạo niềm tin cho các mỗi cá nhân cũng như thúc đẩy họ tham gia vào các quan hệ giao dịch với ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản phẩm của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu của cá nhân Ngược lại, với hệ thống pháp luật không phù hợp, thiếu đồng bộ, sẽ gây khó khăn cho các các NHTM trong hoạt động kinh doanh và chưa tạo được niềm tin cho các cá nhân trong việc giao dịch với ngân hàng Mặt khác, các văn bản pháp luật còn rườm rà, nặng về thủ tục hành chính, can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của các NHTM trên thị trường Không những thế, trong tác nghiệp có thể phải tham chiếu nhiều văn bản hướng dẫn của các cơ quan quản lý khác nhau Chính vì vấn đề này đã kỳm hãm sự phát triển các NHTM nói chung cũng như chưa phản ánh thực
tế năng lực cạnh tranh của từng NHTM nói riêng
Ngoài ra, các chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ sẽ có tác động đến năng lực cạnh tranh như trần, sàn lãi suất huy động cho vay, hạn chế huy động vàng…
1.3.2.2 Môi trường kinh tế
Nền kinh tế phát triển là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động kinh doanh các NHTM và là môi trường để các NHTM phát huy năng lực
Trang 36cạnh tranh Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu nhập, thanh toán, chi tiêu và nhu cầu về vốn và tiền gửi của dân cư bao gồm: Thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân, chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ, sự ổn định của nền kinh tế… Môi trường kinh tế có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng Do vậy nó chi phối đến hoạt động của ngân hàng đặc biệt là công tác huy động vốn Khi nền kinh tế tăng trưởng, lạm phát duy trì ở tỷ lệ thích hợp, các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất, thu nhập
và tích lũy của ngưới dân tăng lên, ngân hàng sẽ có cơ hội để tăng số dư tiền gửi, phát triển sản phẩm dịch vụ Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát cao, người dân sẽ phải chi tiêu nhiều hơn, do đó làm giảm tích lũy, vốn huy động và nhu cầu sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng giảm tương ứng
Ngoài ra, tình hình kinh tế thế giới cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động ngân hàng của từng quốc gia Ví dụ khi giá vàng thế giới tăng, làm giá vàng trong nước tăng theo, người dân sẽ chuyển sang giữ vàng thay vì gửi tiền vào ngân hàng
1.3.2.3 Môi trường văn hoá – xã hội
Hành vi của khách hàng và đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phối nhiều bởi các yếu tố văn hoá Hành vi tiêu dùng bị chi phối với các yếu tố văn hoá,
do đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng Vì vậy, trình độ văn hoá là một yếu tố được các nhà kinh doanh ngân hàng nghiên cứu kỹ trong chiến lược hoạt động và quá trình cạnh tranh
Môi trường văn hoá xã hội được hình thành từ những tổ chức và nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ dân trí, lối sống, thói quen, văn hoá, tập quán và sự hiểu biết dân chúng về hoạt động ngân hàng Nếu một ngân hàng có áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong khu vực có trình độ dân trí thấp thì cũng chỉ là một sự phí phạm vô ích, trình độ văn hoá, tiêu dùng và thói quen của người dân sẽ ảnh hưởng lớn đến hành vi và nhu cầu
về sản phẩm ngân hàng Ví dụ như ở Việt nam, người dân có thói quen tiêu tiền mặt
Trang 37do vậy các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không phát triển Mặt khác hàng tiêu dùng cũng ảnh hưởng lớn đến quyết định chi tiêu của khách hàng Nếu không có sự tin tưởng vào ngân hàng thì họ sẽ không gửi tiền vào ngân hàng mà quay sang đầu
tư khác hay cất trữ dưới dạng vàng, bạc
Do vậy, khi nghiên cứu hoạch định chiến lược phát triển cho một ngân hàng thì yếu tố này được đặt lên hàng đầu Điều này đòi hỏi họ luôn phải điều chỉnh các
kỹ thuật marketing cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường - điều kiện bảo đảm
cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động ngân hàng theo cơ chế thị trường
1.3.2.4 Môi trường công nghệ
Đây là loại nhân tố ảnh hưởng lớn và trực tiếp cho chiến lược kinh doanh của các lĩnh vực và đặc biệt trong ngành ngân hàng Thực tế trên thế giới đã chứng kiến
sự biến đổi công nghệ làm chao đảo nhiều nhưng cũng làm hoàn thiện hơn trong lĩnh vực hoạt động Những thay đổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động ngân hàng công nghệ mới không cho phép ngân hàng đổi mới không chỉ quy trình nghiệp vụ mà còn là cách thức phân phối, đặt biệt là phát triển sản phẩm dịch vụ mới như sự phát triển trong mạng lưới máy tính cho phép ngân hàng cung cấp các dịch vụ 24/24
Những thay đổi trong công nghệ vừa tác động tới phương thức sản xuất ngành sản xuất, vừa tác động tới cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của dân cư, tạo ra những nhu cầu đòi hỏi về sản phẩm mới Do vậy nghiên cứu môi trường công nghệ - kỹ thuật ảnh hưởng đến kỹ năng sáng tạo của những sản phẩm dịch vụ mới và cả kỹ thuật liên lạc giữa ngân hàng và khách hàng nhằm khai thác cơ hội thị trường từ đó đưa ra cạnh tranh thích hợp Đây là sức mạnh mãnh liệt nhất của hoạt động kinh doanh ngân hàng như chuyển tiền nhanh máy gửi, rút tiền
tự động ATM Trong môi trường cạnh tranh gay gắt thì chỉ cần một ngân hàng đưa
ra một dịch vụ mới áp dụng khoa học kỹ thuật hàm lượng cao thì sẽ tạo ra sự chạy đua giữa các ngân hàng khác nhằm thoả mãn khách hàng và phá bỏ lợi thế cạnh tranh của đối thủ
Trang 38Với những phân tích ở trên cho thấy các nhà chiến lược phải thường xuyên quan tâm tới sự thay đổi cũng như đầu tư cho tiến bộ công nghệ Coi đó như là một
nhân tố quyết định trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.2.5 Môi trường cạnh tranh và hội nhập
Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào muốn tồn tại và phát triển đều có cạnh tranh, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra mạnh mẽ, hoạt động của các ngân hàng chịu sự cạnh tranh gay gắt Hiện nay các khách hàng chủ động lựa chọn Ngân hàng để quan hệ giao dịch, một khách hàng cùng một lúc có thể quan hệ với nhiều ngân hàng khác nhau, đồng thời các ngân hàng cũng chủ động tiếp cận khách hàng và đưa ra nhiều hình thức khuyến mại khác nhau Vì vậy chất lượng dịch vụ của ngân hàng nào tốt hơn, giá cả phù hợp đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì sẽ thu hút được khách hàng
Ngoài ra, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, các ngân hàng trong nước sẽ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn bao giờ hết với các ngân hàng nước ngoài có nhiều thuận lợi về tiềm lực tài chính mạnh, lượng vốn dồi dào, trình
độ công nghệ cao, có bề dày kinh nghiệm quản lý Điều này tạo ra sức ép lớn buộc các ngân hàng thương mại trong nước phải tăng tốc thực hiện các kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua những thách thức sống còn bằng nhiều cách, như: đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ hiện đại; đa dạng hóa các loại hình dịch vụ với nhiều tiện ích và chất lượng; đổi mới phong cách giao dịch, thái độ phục vụ khách hàng; đưa ra các hình thức khuyến mãi hấp dẫn, mức phí phù hợp; nhất là phải có sự thay đổi mô thức quản trị kinh doanh phù hợp với thông lệ quốc tế và phát triển cơ chế chính sách của Nhà nước Vì vậy, cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng là một trong những nhân tố thúc đẩy việc mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng
Kết luận Chương 1
Chương 1 đã hệ thống hoá những vấn đề cơ bản liên quan đến năng lực cạnh tranh của NHTM Từ đó thấy được vị trí, tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh, ý
Trang 39nghĩa của nâng cao năng lực cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Để thấy rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu đối với mỗi ngân hàng Đồng thời, nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM để làm tiền đề cho việc đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của BIDV Phú Thọ
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Lịch sử xây dựng, trưởng thành của BIDV Phú Thọ là một chặng đường đầy gian nan thử thách gắn với từng thời kỳ lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam Dù ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, các thế hệ cán bộ nhân viên BIDV Phú Thọ cũng luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình – là người lính xung kích của Đảng trên mặt trận tài chính tiền
tệ, phục vụ đầu tư phát triển của đất nước
Ghi nhận những đóng góp của BIDV Phú Thọ qua các thời kỳ, Đảng và Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã tặng BIDV nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập hạng Ba, Kỷ niệm chương Hùng Vương…
a) Thời kỳ Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam (1957 – 1981)
Ra đời trong hoàn cảnh cả nước đang tích cực hoàn thành thời kỳ khôi phục
và phục hồi kinh tế để chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế có kế hoạch, xây dựng những tiền đề ban đầu của chủ nghĩa xã hội, chi hang hàng Kiến thiết Phú Thọ
đã có những đóng góp quan trọng trong việc quản lý vốn cấp phát kiến thiết cơ bản,
hạ thấp giá thành công trình, thực hiện tiết kiệm, tích luỹ vốn cho nhà nước… Trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết đã cung ứng vốn cho các công trình