Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên vận dụng đường lối, chủ trương của Đảng, Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vào việc hoạch định chủ trương và lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2014. Từ những thực tiễn và những đánh giá về sự lãnh đạo của Đảng bộ, luận văn bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ trong những năm tiếp theo.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Quang Hiển
Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2016 Tác giả
Trần Hồng Hải
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS
Vũ Quang Hiển – người Thầy đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình làm luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy cô trong khoa Lịch sử - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tác giả đã học
Cảm ơn gia đình, người thân đã luôn động viên, khuyến khích tác giả trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trần Hồng Hải
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sơ lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 10
1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương của Đảng bộ 10
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 10
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ 26
1.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ 29
1.2.1 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 29
1.2.2 Sự chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng 32
1.2.3 Sự chỉ đạo chuyển dịch thành phần kinh tế 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43
Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN LÃNH ĐẠO TĂNG CƯỜNG HUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2014 Error! Bookmark not defined
2.1 Yêu cầu mới đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương mới của Đảng bộ Error! Bookmark not defined
2.1.1 Yêu cầu mới đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên Error!
Bookmark not defined
2.1.2 Chủ trương mới của Đảng bộ Error! Bookmark not defined
2.2 Sự chỉ đạo của Đảng bộ Error! Bookmark not defined
2.2.1 Sự chỉ đạo chuyển dịch CCKT nghành Error! Bookmark not defined
Trang 62.2.2 Chủ trương phát triển các thành phần kinh tế Error! Bookmark not defined 2.2.3 Chủ trương quy hoạch các vùng kinh tế Error! Bookmark not defined 2.2.4 Những kết quả đạt được Error! Bookmark not defined
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM Error! Bookmark not defined 3.1 Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ Error! Bookmark not defined
3.1.1 Ưu điểm Error! Bookmark not defined 3.1.2 Một số hạn chế Error! Bookmark not defined
3.2 Bài học kinh nghiệm Error! Bookmark not defined TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 44 PHỤ LỤC 119
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 - 2000 33Bảng 1.2 Cơ cấu GTSX ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản huyện Phổ Yên giai đoạn 1997– 2000 34Bảng 1.3: Giá trị sản xuất ngành trồng trọt trên địa bàn huyện Phổ Yên theo giá hiện hành giai đoạn 1996 – 2000 36Bảng 1 4: Số lượng đàn gia súc trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 – 2000 36Bảng 1.5: Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên theo giá hiện hành phân theo ngành công nghiệp giai đoạn 1997 – 2000 39Bảng1.6: Sản phẩm công nghiệp chủ yếu trên địa bàn huyện Phổ Yên 39Bảng 1.7: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 1997 – 2000 40Bảng 2.1 : Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện phân theo thành phần kinh tế
theo giá hiện hành từ năm 2001 – 2014 Error! Bookmark not defined Bảng 2.2: GTSX nông, lâm, thuỷ sản huyện Phổ Yên giai đoạn 2001 – 2014 Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện từ năm 2001 đến
năm 2014 Error! Bookmark not defined.
-Bảng 2.4: Cơ cấu ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện Phổ Yên giai đoạn 2001 đến
2014 Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.5: Tăng trưởng công nghiệp, TTCN và xây dựng huyện Phổ Yên giai đoạn
2001 - 2014 Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.6: Giá trị sản xuất và tỷ trọng ngành thương mại, dịch vụ huyện Phổ Yên
giai đoạn từ 2001 đến 2014 Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.7: GDP phân theo thành phần kinh tế theo giá hiện hành huyện Phổ Yên giai
đoạn 2001 – 2014 Error! Bookmark not defined.
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu cần thiết và khách quan của mỗi nước trong thời kỳ CNH –HĐH, nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối giữa các nghành, các lĩnh vực và các vùng miền Tạo điều kiện để khai thác có hiệu quả các lợi thế của đất nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh và bền vững Việt Nam tiến hành CNH – HĐH trong điều kiện một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu, cơ cấu kinh tế còn chưa hợp lý đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiểu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một việc cấp bách, là con đường tất yếu để Việt Nam thoát khỏi tình trạng của một nước lạc hậu, chậm phát triển Nhận thức được tầm quan trọng đó, từ những năm 1986 Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đổi mới tư duy Nhờ đó kinh tế đất nước đã có sự chuyển dịch rõ rệt, bước đầu đạt được những thành tựu trên nhiều mặt, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tích cực
Phổ Yên là một huyện trung du miền núi có lịch sử hình thành và phát triển sớm của tỉnh Thái Nguyên Đây là mảnh đất có thế mạnh về điều kiện tự nhiên, con người, giàu truyền thống văn hóa, truyền thống cách mạng, con người Phổ Yên luôn lao động cần cù, sáng tạo Đó là những điều kiện thuận lợi để Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo nhân dây xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày một giàu đẹp, văn minh Với sự quan tâm tạo mọi điều kiện giúp đỡ của Trung ương, Tỉnh ủy Thái Nguyên, sự cố gắng của nhân dân trong huyện Trong những năm qua huyện Phổ Yên đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng cân đối, hợp lý giữa các nghành, các vùng và thành phần kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao, cơ sở hạ tầng ngày càng được nâng cấp, văn hóa xã hội ngày càng khởi sắc
Tuy nhiên, do xuất phát từ điều kiện một huyện miền núi, kinh tế kém phát triển, lao động còn tập trung quá nhiều trong nông nghiệp nên quá trình chuyển đổi
Trang 11cơ cấu kinh tế của huyện diễn ra chậm, các vùng chuyên môn hóa sản xuất chưa nhiều và cũng chưa thực sự phù hợp với các điều kiện tự nhiên, công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ phát triển không đồng đều, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện
Vì vậy đánh giá đầy đủ, khách qua, khoa học quá trình lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Phổ Yên là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế của huyện trong những năm tới và góp phần vào việc tổng kết thực tiễn lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ huyện
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn đó nên tôi chọn đề tài “ Đảng bộ
huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm
1997 đến năm 2014” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên nghành Lịch sử
Đảng Cộng Sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Khái quát các công trình nghiên cứu
2.1.1 Nhóm các sách chuyên khảo
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam.Các công trình đã đạt được những kết quả đáng kể, là
cơ sở cho hướng nghiên cứu của luận văn
GS Đỗ Đình Giao, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân (NxB Chính trị Quốc gia, H.1994) Trong công
trình nghiên cứu chuyên sâu này tác giả đã tập trung luận giải về các vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân nước ta bao gồm chuyển dịch cơ cấu nghành, cơ cấu vùng và thành phần kinh tế, những thành tựu và bài học kinh nghiệm cũng được tác giả đánh giá tương đối đầy đủ
PGS Đỗ Hoài Nam, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành và phát triển mũi
nhọn, NxB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 Tác phẩm này tác giả đã đi sâu vào nội
dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành chi tiết, bao gồm kinh tế nghành nông – lâm – thủy sản, công nghiệp – xây dựng cơ bản, thương mại – dịch vụ, song song với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành thì cũng cần tập trung quy hoạch, lựa chọn, đầu tư những nghành kinh tế mũi nhọn phù hợp với tiềm năng và lợi thế của từng vùng
Trang 12TS Đặng Văn Thắng, TS Phạm Ngọc Dũng, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
công - nông nghiệp ở đồng bằng Sông Hồng, thực trạng và triển vọng, NxB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Tác phẩm đã tập trung nghiên cứu và làm rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp của vùng trọng điểm kinh tế của cả nước là đồng bằng Sông Hồng, những thực trạng kinh tế hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai
Ngoài ra, một số tác giả cũng đề cập đến vấn đề tương tự như: Phạm Khiêm
Ích - Nguyễn Đình Phan: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam và các nước
trong khu vực (NxB Thống kê, H.1995); Trần Ngọc Hiên: Mối quan hệ giữa công - nông nghiệp - dịch vụ trong sự hình thành nền kinh tế thị trường ở nước ta (Học
viện CTQG Hồ Chí Minh, 1997… Ở tầm vĩ mô, các công trình trên đã đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực tiễn trong cơ chế chuyển dịch cơ cấu kinh tế Theo cách nghiên cứu trên, chuyển dịch là vấn đề cấp bách trên phạm vi cả nước nhằm tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng lành mạnh, phát triển và hội nhập
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, còn có các công trình khoa học đề cập đến các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội: Nguyễn
Xuân Oánh, Đổi mới – Vài nét lớn của một chính sách kinh tế Việt Nam, NxB Thành phố Hồ Chí Minh, TS Vũ Hồng Tiến, Một số vấn đề kinh tế - xã hội trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NxB Đại học sư phạm Hà Nội, Hà
Nội, 2005 Các công trình với nhiều các tiếp cận khác nhau đã đề cập tập trung, trực tiếp đến các vấn đề kinh tế - xã hội trong quá trình thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những thành tựu đã đạt được khẳng định trong thực tế chủ trương đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo và phù hợp với xu hướng phát triển
- Tác giả Nguyễn Văn Bằng với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Nông nghiệp, Hà
Nội, 2002
- Tác giả Phạm Hùng với: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn miền
Đông Nam Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NxB Nông nghiệp, Hà
Nội, 2002
Trang 13- Tác giả Nguyễn Xuân Long với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn tỉnh Khánh Hòa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NxB Nông
nghiệp, Hà Nội, 2003
- Tác giả Nguyễn Trung Quế với “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
vùng đồng bằng sông Hồng”, NxB Nông nghiệp, Hà Nội, 1995
Các tác giả đánh giá thực trạng về chuyển dịch CCKT ở nông thôn mỗi vùng, miền cụ thể đồng thời nêu lên những định hướng chủ yếu trong phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT ở nông thôn trên cơ sở chỉ ra được tiềm năng, thế mạnh của từng vùng
2.1.2 Nhóm sách là luận văn, luận án liên quan đến đề tài nghiên cứu:
Đào Thu Huyền: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo thực hiện chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2006 ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành lịch sử
Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012) Trong công trình, tác giả đã tập trung nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên kể từ khi có Nghị quyết của Trung ương về phân chia lại địa giới hành chính năm 1997 đến năm 2006, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế đó, phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đúng đắn, tích cực
Đào Thị Vân: Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn 1997-2003 (Luận văn thạc sĩ
chuyên ngành lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004)
Nguyễn Ngọc Thanh: Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo chuyển
dịch cơ cấu kinh tế (1991-2000) (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Học
viện CTQG Hồ Chí Minh, H.2004)
Đặng Kim Oanh: Đảng bộ Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từ năm 1997 đến năm 2003 (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005)
Trần Thị Thu Hằng: Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từ 1996 đến 2005 (Luận văn thạc
sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh)…
Trang 14Các nhóm công trình nghiên cứu trên đã làm rõ quá trình vận dụng đường lối, quan điểm của Trung ương, của Đảng trong thực tiễn lãnh đạo chuyển dịch CCKT ở từng địa phương, phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế, nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo chuyển dịch CCKT của Đảng bộ
2.1.3 Các công trình nghiên cứu những vấn đề về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Phổ Yên
Cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đáng chú ý nhất
là một số công trình nghiên cứu:
Nguyễn Thị Thu Phương: Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 ( Luận văn thạc sĩ
chuyên nghành lịch sử Đảng, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 Đề tài tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ những chủ trương của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nghành nông nghiệp trong 10 năm từ 2001 đến
2010, những kết quả tích cực, hạn chế và hệ thống các giải pháp của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới
Đỗ Xuân Luận: Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành kinh tế nông nghiệp, Đại học
Kinh tế Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, 2009) Đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu quá trình phát triển của nghành tiểu thủ công nghiệp ở huyện Phổ Yên trong thời gian từ năm 2001 đến 2008, bên cạnh đánh giá tổng quát bước phát triển của nghành tiểu thủ công nghiệp, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém cần khắc phục để phát triển nghành những năm tiếp theo
Ngô Thị Mỹ: Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội của huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên ( Luận văn thạc sĩ chuyên nghành kinh tế nông
nghiệp, Đại học Kinh tế Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, 2012) Đề tài, tác giả đã tập trung nghiên cứu và đánh giá tổng hợp tác động của quá trình đô thị hóa đối với phát triển kinh tế, xã hội của huyện từ năm 2009 đến 2012, bên cạnh đó tác giả cũng trình bày những thành tựu phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Trang 15huyện Phổ Yên, đề xuất những giải pháp để quy hoạch, phát triển kinh tế của huyện trong những năm tiếp theo
Ngoài một số công trình được nêu ra ở trên, còn nhiều bài viết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đăng trên các tạp chí chuyên ngành Các công trình khoa học này đã khẳng định tầm quan trọng của xây dựng và phát triển của kinh tế nói chung, chuyển dich cơ cấu nói riêng, nêu bật được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng, được thể hiện bằng các đường lối, chính sách phát triển và sự vận dụng đường lối
đó vào các địa phương cụ thể Đây là những tài liệu rất quan trọng cung cấp số liệu, nhận định đánh giá về thực trạng và phương hướng phát triển của huyện Tuy nhiên , chưa có công trình nào nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện từ năm 1997 đến năm 2014 dưới giác độ khoa học lịch sử Đảng
2.2 Những vấn đề mà các công trình nghiên cứu chưa làm sáng tỏ
Có thể thấy rằng, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở Việt Nam với những mức độ và cách tiếp cận khác nhau Những công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân hoặc cơ cấu kinh tế vùng trong một giai đoạn nhất định, có công trình đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nghành nhưng chỉ giới hạn trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc công nghiệp mà chưa thấy sự biến đổi tổng thể trong cả ba nghành kinh tế mũi nhọn là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, các luận văn, luận án của các tác giả nói trên đã làm rõ được sự biên đổi cơ cấu kinh tế ở một số tỉnh, thành trong cả nước, tổng kết những thành tựu, hạn chế và đúc rút một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với từng địa phương cụ thể Còn đối với huyện Phổ Yên, cho đến nay chỉ có một công trình nghiên cứu vế sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
Phổ Yên đó là; Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh
tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 của Nguyễn Thị Thu Phương, nhưng tác
giả mới chỉ dừng lại trong nghành nông nghiệp mà chưa đánh giá được tổng thể cơ cấu nền kinh tế của huyện Các công trình luận văn thạc sỹ kinh tế của Đỗ Xuân Luận, Ngô Thị Mỹ cũng mới chỉ nghiên cứu, đánh giá trong khoảng thời gian ngắn, trên phương diện kinh tế Hơn hết chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy
Trang 16đủ, toàn diện, có hệ thống về quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh từ năm 1997 đến năm 2014
Vì vậy, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính khái quát và chuyên môn về quá trình lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ huyện Phổ Yên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày một cách hệ thống quá trình Đảng bộ huyện Phổ Yên vận dụng chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vào việc xây dựng chủ trương và lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện từ năm 1997 đến năm 2014
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện và làm rõ nguyên nhân của những kết quả đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2014
- Quá trình thực hiện những chủ trương và biện pháp thông qua hoạt động cụ thể của các cấp đảng, chính quyền, đoàn thể và quần chúng nhân dân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên
Trang 17- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2014 Năm 1997
là năm thực hiện quyết định số 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng
bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái đồng thời thời thành lập Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Năm
2014 là thời điểm huyện Phổ Yên hoàn thành các tiêu chí và được nâng cấp thành thị xã công nghiệp trực thuộc tỉnh Thái Nguyên Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến một số nét chủ yếu về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước năm 1997, xem đó là một yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sau
- Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế có một số nội dung chính: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu nội ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và nội ngành
5 Cơ sơ lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các kỳ Đại hội, quan điểm của Đảng được thể hiện trong các Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng, các kết luận được tổng kết trong các văn kiện Đảng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra còn kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
5.3 Nguồn tư liệu
- Những văn kiện Đảng, Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
- Các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ huyện, các kế hoạch, đề án, báo cáo tổng kết về tình hình phát triển kinh tế của Đảng bộ, chính quyền huyện
- Những báo cáo khoa học, sách đã công bố có liên quan đến sự phát triển kinh tế của huyện Phổ Yên
Trang 187 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái
Nguyên về chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2000
Chương 2: Đảng bộ huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên tăng cường lãnh đạo
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 2001 đến năm 2014
Chương 3: Nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 19Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên ,kinh tế, văn hóa, xã hội
Phổ Yên là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 15 xã và 3 thị trấn Là cửa ngõ phía Nam của tỉnh Thái Nguyên với diện tích tự nhiên là 25.667 km2, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển kinh tế
Phía Nam tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 55
km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 20 km
Phía Bắc giáp với thành phố Thái Nguyên và huyện Đại Từ
Phía Đông giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và huyện Phú Bình
Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc
Với vị trí trên, huyện Phổ Yên có nhiều tiềm năng và cơ hội để thu hút các
dự án đầu tư, là cơ sở giúp quá trình CNH - HĐH diễn ra nhanh hơn
Về địa hình
Huyện Phổ Yên thuộc vùng gò đồi của tỉnh Thái Nguyên, bao gồm vùng núi thấp và đồng bằng Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và chia làm 2 vùng rõ rệt:
+ Vùng phía Đông (hữu ngạn sông Công) gồm 11 xã và 2 thị trấn, có độ cao trung bình 8 – 15 m, đây là vùng gò đồi thấp xen kẽ với địa hình bằng, có thể gọi là vùng “đồng bằng” của huyện Đây là vùng trọng điểm lúa và rau màu của huyện, có kinh nghiệm trong việc trồng lúa nước, sản xuất công nghiệp TTCN, kinh doanh dịch vụ và làm nghề truyền thống
+ Phía Tây (tả ngạn sông Công) gồm 4 xã, 1 thị trấn, là vùng núi của huyện, địa hình đồi núi là chính, cao nhất là dãy Tạp Giàng 515 m Độ cao trung bình ở vùng này là 200 – 300 m Đây là các xã vùng núi của huyện, có thế mạnh trồng cây
Trang 20công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, khai thác chế biến lâm sản, vùng trồng cây nguyên liệu cho nghề mây tre đan, chăn nuôi gia súc… Quỹ đất vùng này còn khá dồi dào
Về khí hậu
Phổ Yên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 270C, tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 là tháng lạnh nhất (15,60C) Số giờ nắng cả năm là 1.628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 kcal/cm2
Chế độ mưa: Mưa phân bố không đồng đều trong năm Mùa mưa từ tháng 5
đến tháng 10, chiếm 91,6% lượng mưa cả năm Mùa mưa trùng với mùa lũ nên thường gây úng lụt cho vùng thấp của huyện
Lượng bốc hơi: Trung bình năm đạt 985,5 mm, trong năm có 5 – 6 tháng
lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa
Chế độ thủy văn
Chế độ thủy văn các sông qua địa phận Phổ Yên phụ thuộc chủ yếu vào chế
độ mưa và khả năng điều tiết của lưu vực sông Công và sông Cầu
Mùa lũ trên 2 hệ thống sông Công và sông Cầu thường trùng vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), xuất hiện nhiều nhất vào các tháng 6,7,8,9 Bình quân mỗi năm có từ 1,5 – 2 trận lũ, năm nhiều nhất có 4 trận lũ xuất hiện
Mùa cạn ở 2 hệ thống sông kéo dài khoảng 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) Lượng nước trên các sông này bình quân chỉ đạt 1,5 – 2% tổng lượng nước cả năm Đây là yếu tố bất lợi cho sản xuất và sinh hoạt trên địa bàn huyện
Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra và tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000, huyện Phổ Yên có 10 loại đất chính Trong đó có các loại đất phù sa, bạc màu, dốc
tụ và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thường có độ dốc thấp, tầng đất dày > 100
cm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng loại đất này chỉ chiếm 35% diện tích tự nhiên toàn huyện Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất vàng nhạt trên đá cát,
Trang 21đất nâu vàng trên phù sa cổ có diện tích chiếm 61,6% diện tích toàn huyện, hầu hết
có độ dốc >250
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 25.667,63 ha Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 18.435,68 ha (năm 2014), chiếm 71,82% tổng diện tích đất tự nhiên và giảm dần do đất đai được chuyển sang xây dựng các công trình như trường học, đường giao thông, khu công nghiệp Tỷ trọng đất lâm nghiệp giảm từ 28,70% năm 2008 xuống còn 25,32% năm 2014 Nguyên nhân là do một bộ phận đất lâm nghiệp đã được chuyển sang trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn trong diện tích đất tự nhiên toàn huyện (từ 20,13% năm
2008 lên 27,24% năm 2014).[30, tr.4] Diện tích này tăng lên qua các năm do đất giao thông, đất xây dựng cơ bản tăng mạnh, đất xây dựng khu công nghiê ̣p Nhìn chung, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm nên đã gây ra sức ép phải tăng cường thâm canh trong sản xuất nông nghiệp, phát triển các ngành nghề phụ trong đó có các nghề tiểu thủ công nghiệp, nhưng nó cũng là một cơ hội cho huyện phát triển kinh tế, văn hóa và dịch vụ
Về dân số
Theo số liệu thống kê năm 2014, dân số toàn huyện Phổ Yên là 146,243 nghìn người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện khoảng trên dưới 1% (tỷ lệ sinh khoảng trên dưới 1,3%); trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao nhất là 1,06% (năm 2005) và thấp nhất là 0,88% (năm 2004) số dân trong độ tuổi lao động của Phổ Yên hiện nay là 84.298 người chiếm 59,69% tổng dân số toàn huyện, tốc độ tăng trưởng
Trang 22lao động bình quân hàng năm giai đoạn 2010- 2014 là 1,16%, nhanh hơn tốc độ tăng dân số Dân số tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 95,69% Cơ cấu lao động theo ngành có xu hướng chuyển dịch theo hướng phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế, tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp hiện nay còn 73,75%, cao hơn mức chung của toàn tỉnh hiện nay đạt 65,67% năm 2005, tốc độ chuyển dịch còn chậm, tỷ trọng cơ cấu lao động công nghiệp chiếm 7,8% thấp hơn mức chung của tỉnh khá nhiều, thấp nhất trong cơ cấu lao động của 3 nhóm ngành của huyện, năm
2014 cơ cấu lao động công nghiệp của tỉnh chiếm 13,54% và có tốc độ chuyển dịch khá nhanh, ngành dịch vụ hiện có tỷ trọng 12,97% Trong đó, năm 2014, cơ cấu lao động ngành dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên là 18,87% [30, tr.5] Tốc độ tăng trưởng lao động ngành dịch vụ thấp nhất so với các ngành khác và so với mức của toàn tỉnh Điều này giải thích trong cơ cấu thu nhập của huyện, tỷ trọng ngành dịch vụ trên địa bàn huyện Phổ Yên hiện nay mới chiếm khoảng gần 20% trong cơ cấu kinh
tế huyện
Về lao động
Theo số liệu thống kê năm 2014, toàn huyện có 91.230 lao động trong độ tuổi (chiếm 66% tổng dân số của huyện ), trong đó lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 86.000 người, trong đó lao đô ̣ng ngành nông lâm nghiê ̣p chiếm 86% Còn lại là trong công nghiệp và thương mại – dịch vụ.[ 30, tr.4]
Về giao thông
Mạng lưới đường bộ trên địa bàn huyện Phổ Yên gần trục Quốc lộ 3 dài 13
km chạy qua trung tâm huyện theo hướng Bắc Nam Từ trục Quốc lộ 3 này là các đường xương cá đi đến trung tâm các xã, thị trấn và khu vực dân cư
Tổng chiều dài đường liên huyện là 27 km, bao gồm các tuyến Ba Hàng - Tiên Phong, đường 261 (Ba Hàng – Phúc Thuận) Từ Quốc lộ 3 đi Chã và từ đường
261 đi Thành Công, các tuyến này hiện nay đều là đường cấp phối
Đường liên xã có khoảng 19 km, liên thôn 30 km Trong phong trào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn hiện nay, nhiều tuyến đã được bê tông hóa theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm
Trang 23Tuyến đường sắt Hà Nội – Thái Nguyên qua địa bàn huyện Phổ Yên chủ yếu vận chuyển than và quặng sắt, đoạn qua huyện dài khoảng 19 km, huyện đã bê tông hóa được 250 km kênh mương nội đồng, xây dựng thêm được một số trạm bơm dầu, bơm điện Từ kết quả của công tác thủy lợi đã đưa diện tích 2 vụ lên gần 4.000 ha
Hệ thống điện, thông tin, liên lạc
Tính đến 2014, 100% số xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng điện lưới quốc gia, số hộ dùng điện đạt 100% Mạng lưới điện hiện còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất và sinh hoạt
Hệ thống thông tin liên lạc và viễn thông của huyện khá hoàn chỉnh Đến nay, mạng điện thoại cố định đã phủ 18/18 xã, thị trấn, sóng điện thoại di động phủ 13/15 xã, thị trấn
Hệ thống giáo dục, y tế
Sự nghiệp giáo dục – đào tạo của huyện Phổ Yên trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS vào tháng 12/2003, sớm 1 năm so với kế hoạch
Phổ Yên luôn là đơn vị dẫn đầu của tỉnh trong công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia Số trường đạt chuẩn quốc gia là 40, đạt 60% trên tổng số Số lớp học được tầng hóa là 306 đạt 35% Chất lượng giáo dục ở các cấp học được nâng lên rõ rệt Trường Cao đẳng Công nghệ và kinh tế công nghiệp đẩy mạnh công tác đào tạo cho trên 5.200 học viên/năm Trung tâm dạy nghề huyện đào tạo nghề cho 4.700 lao động, đưa tổng số lao động qua đào tạo toàn huyện chiếm 20% nguồn lao động của địa phương
Phổ Yên là huyện có hệ thống y tế tương đối hoàn chỉnh Toàn huyện có 1 bệnh viện, 2 phòng khám đa khoa, 17 trạm y tế với tổng số 160 giường bệnh, 1.671 cán bộ y tế Hiện nay có 2 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, ngành y tế huyện đang xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã để nâng cao hơn nữa chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân Trong ba năm qua, y tế huyện đã thực hiện khám chữa bệnh cho 140.000 lượt người, giảm tỷ lệ sinh thô xuống còn 0,2‰/năm
Trang 24Tóm lại, với vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên và nhân văn tương đối phong phú, nguồn nhân lực dồi dào, hệ thống cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng đã và đang hoàn thiện Đó là những điều kiện thuận lợi để Phổ Yên phát triển một nền kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế cân đối, mở rộng thị trường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dễ dàng hội nhập với thị trường trong vùng và cả nước Nhiệm vụ của Đảng bộ huyện là làm thế nào để lãnh đạo phát triển kinh tế địa phương cho tương xứng với tiềm năng hiện có, góp phần vào sự phát triển của Thái Nguyên và sự phát triển chung của cả nước
1.1.1.2 Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH Trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, quan điểm, chủ trương về chuyển dịch CCKT của Đảng là nhất quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện qua các kỳ Đại hội, các Hội nghị Trung ương
và Bộ Chính trị từ khóa VI đến nay
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật và quyết tâm đổi mới toàn diện, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI ( 12/1986) của Đảng chỉ rõ “ muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối phải dứt khoát sắp sếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, trong đó các nghành, các vùng, các thành phần kinh tế , các loại sản xuất có quy mô và trình độ
kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm nền kinh tế phát triển ổn định” [41, tr.47]
Tháng 6 – 1991, tại Đại hội VII, sau khi tổng kết thành tựu 5 năm đổi mới, trong đó có những thành tựu bước đầu rất quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, đặc biệt
là 3 chương trình kinh tế lớn ( lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu) Trên cơ sở đó, quan điểm về chuyển dịch CCKT được Đảng ta chỉ rõ “ Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ hàng đầu nhằm ổn định kinh tế - xã hội” [ 43, tr.63]
Trang 25Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua tại Đại hội VII cũng chỉ rõ: “ Khi kêt thúc thời kỳ quá độ, hình thành về
cơ bản nền kinh tế công nghiệp với CCKT công – nông nghiệp – dịch vụ gắn với phân công lao động và hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng” [45, tr.63]
Xuất phát từ kết quả đạt được sau 10 năm đổi mới, con đường đi lên CNXH của Việt Nam ngày càng được xác định rõ hơn tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ( 6/1996) Đại hội khẳng định “ Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, CCKT hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Từ nay đến năn 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp” [47, tr.96]
Tại Đại hội, Đảng nhấn mạnh “ Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp
và nông thôn, chỉ rõ nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Hình thành dần một số nghành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thủy sản [ 48, tr.88] Bên cạnh đó Đảng cũng tập trung lãnh đạo phát triển công nghiệp theo hướng sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu và lương thực, thực phẩm: “ Phát triển công nghiệp,
ưu tiên các nghành chế biến lương thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin, phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm thương mại dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực” [48, tr.89]
Tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng ( 4-2001) đã xác định đường lối phát triển kinh tế là: “ Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [51, tr.89]
Vể chuyển dịch CCKT, Đảng chỉ rõ “ chuyển dịch CCKT, cơ cấu đầu tư dựa trên cơ sở phát huy các thế mạnh và lợi thế so sánh của đất nước, tăng sức cạnh tranh, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, nhu cầu đời sống nhân dân
Trang 26và quốc phòng, an ninh Tạo thêm sức mua của thị trường trong nước và mở rộng thị trường ngoài nước đẩy mạnh xuất khẩu” [51, tr.92]
Đối với CCKT nông nghiệp, nông thôn, Đại hội cũng xác định: “ Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương” [ 51, tr.168]
Đường lối và những quan điểm chỉ đạo quá trình CNH, HĐH của Đảng như trình bày ở trên thể hiện quá trình phát triển nhận thức và tư duy lý luận của Đảng
về CNH, HĐH cũng như chuyển dịch CCKT ở nước ta nhằm phấn đấu đến năm
2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp Chủ trương và đường lối này của Đảng đã được Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Huyện Phổ Yên vận dụng một cách linh hoạt vào tình hình phát triển cụ thể của địa phương
Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tê của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên
Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp lần thứ 10 của Quốc hội khóa IX nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định chia tách và điều chỉnh địa giới hành chính của một số tỉnh ở nước ta Tỉnh Bắc Thái được chia tách thành hai tỉnh: tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên Ngày 22/12/1996, Bộ Chính trị ra quyết định số 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái đồng thời thành lập Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Quyết định có hiệu lực từ ngày 1/1/1997 Hai tỉnh hoạt động theo đơn vị hành chính mới từ ngày 1/1/1997
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (11/1997) được tiến hành Đây là Đại hội đầu tiên của tỉnh Thái Nguyên kể từ khi tái lập theo quyết định của Bộ Chính trị Về chuyển dịch CCKT, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ “ Chuyển nền kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp và dịch vụ, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái Phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế để khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của tỉnh ” [36, tr 18-19]
Để thực hiện những mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Tỉnh ủy
đã đề ra nhiều giải pháp thực hiện:
Trang 27- Tiếp tục tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác, chuyển cơ cấu mùa vụ nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
- Tập trung quy hoạch, đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp địa phương, các cơ sở công nghiệp, nhất là các nghành thế mạnh của tỉnh như công nghiệp chế biến nông – lâm sản, thủ công nghiệp
- Huy động các nguồn lực để hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch nhanh CCKT toàn tỉnh Trọng tâm là các hạng mục điện, đường, trường, trạm
- Thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển, có chính sách ưu đãi, thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Mở rộng các chương trình xúc tiến thương mại với các tỉnh nhằm mở rộng thị trường trao đổi, tiêu thụ sản phẩm có thể mạnh của địa phương
- Tiếp tục đầu tư đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ nhằm tạo nguồn nhân lực có trình độ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế
và chuyển dịch CCKT của tỉnh.[ 36, tr.21-22]
Đại hội lần thứ XV, Đảng bộ tỉnh đã cụ thể hóa một bước Nghị quyết đường lối của Đảng, với những chủ trương chỉ đạo tương đối toàn diện trong thực hiện chuyển dịch CCKT của tỉnh tạo điều kiện thuận lợi cho các Đảng bộ huyện, thị xã trong tỉnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đặc biệt là chuyển dịch CCKT
1.1.1.3 Thực trạng cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên trước năm 1997
Trong những năm 1981- 1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân huyện Phổ Yên đã giành được những thành tựu trong việc tháo gỡ khó khăn của tình hình sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, khuyến khích sản xuất công nghiệp địa phương Nhưng về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
Đứng trước tình hình đó, Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ XX được
tổ chức Nghị quyết Đại hội nhấn mạnh: “ Trước hết là sản xuất tự túc được lương
Trang 28thực trên địa bàn huyện, bảo đảm hậu cần tại chỗ cho khu công nghiệp và tạo ra nguồn hàng xuất khẩu” Về sản xuất nông nghiệp, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “ Tập trung quản lý lao động, quản lý tư liệu sản xuất, quy hoạch để hướng đến sản xuất hàng hóa quy mô lớn, xây dựng các cụm nghiền thức ăn tổng hợp cho gia súc, mỗi HTX cần phải quy hoạch vùng sản xuất thức ăn gia súc trên đất 10 - 15%, kiện toàn
hệ thống thú y từ huyện đến cơ sở [1, tr.187]
Tiếp nối chủ trương Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX, từ 30 - 10 đến 1 - 11- 1982, Đại hội Đảng bộ huyện Phổ Yên lần thứ XXI được tổ chức, Nghị quyết Đại hội đã xác định mục tiêu và nhiệm vụ của huyện giai đoạn 1983 - 1985 là: “ Trong nông nghiệp phải giữ vững quy mô hiện nay, khắc phục những mặt yếu kém trong quản lý nhằm đưa sản xuất phát triển Tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng nghành chăn nuôi, tạo điều kiện mở rộng các HTX quy mô nhỏ, đảm bảo ổn định đối với những HTX có khoảng 200 hộ
và 150 ha đất canh tác trở lên, khuyến khích các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương đa dạng hóa các ngành nghề, chú trọng phát triển thương mại – dịch vụ quốc doanh nhăm đáp ứng nhu cầu của các đơn vị và nhân dân trong huyện.[ 1, tr 191]
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Chỉ thị 100 CT- TW, Nghị quyết lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa V), các Nghị quyết, Chỉ thị của Tỉnh ủy, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ huyện, trong giai đoạn 1981 -1985, Phổ Yên đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sản phát triển kinh tế Trong nông nghiệp: diện tích gieo trồng tăng từ 14.631 ha (năm 1983) lên 14.644 ha (năm 1985), năng suất tăng 16,3%, tổng sản lượng quy ra thóc đạt 21.591 tấn (bằng 81,6% mục tiêu Đại hội lần thứ XXI và tăng 17,6% so với năm 1983) Tốc độ tăng tổng sản lượng lương thực bình quân (1981 – 1985) là 7% [1,
tr 201] Ngoài lúa, Phổ Yên còn tăng cường trồng các loại cây khác như: Cây lạc,
đỗ, cây chè, tính đến năm 1985 huyện đã xuất khẩu được 677 tấn lạc vỏ, diện tích trồng đỗ đạt 746 ha, hàng năm cung cấp gần 100 tân đỗ hàng hóa, diện tích trồng chè đạt 213 ha, sản lượng đạt 50 tấn chè búp khô [1, tr.201]
Trang 29Chăn nuôi của huyện không ngừng phát triển, tính đến năm 1985 tổng đàn trâu có 12.752 con (bằng 79,7% mục tiêu Đại hội XXI và tăng 1,8% so với năm 1983), đàn lợn có 30.321 con (bằng 93,8% mục tiêu Đại hội XXI) Tốc độ phát triển nghành chăn nuôi bình quân (1981 – 1985) tăng 7,9% [1 tr.201]
Phong trào HTX nông nghiệp nhìn chung được ổn định, tính đến năm 1985, toàn huyện có 72 HTX nông nghiệp với 13.722 hộ ( chiếm 96,4% tổng số hộ) Qua phân loại năm 1985, số HTX khá chiếm 26,5%, HTX trung bình chiếm 54,2%, HTX yếu chiếm 19,3% [1, tr.202]
Các nghành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp địa phương gặp nhiều khó khăn do thiếu vật tư, thiếu điện và thị trường tiêu thụ, vượt lên trên những khó khăn
đó, nghành cũng có những bước phát triển khởi săc, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và một phần nhu cầu đời sống của nhân dân
Thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII ( Khóa V), Nghị quyết 28, Nghị quyết 31 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 117 của Hội đồng Bộ trưởng, huyện đã từng bước thực hiện cơ chế một giá, tăng cường quản lý, tổ chức lại thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại - dịch vụ phát triển góp phần phục vụ đời sống nhân dân
Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy và căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, huyện ủy đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp thích hợp, tập trung lãnh đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ huyện đề ra
Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII huyện Phổ Yên được tiến hành ( năm 1986), đã phân tích đánh giá tình hình kinh tế - xã hội của địa phương Đại hội đã xác định phương hướng nhiệm kỳ tới là: Phát huy truyền thống cách mạng, nêu tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 1986 –
1990, tập trung chỉ đạo thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, khai thác mọi tiềm nâng thực hiện chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của huyện [1, tr 206]