công sở và cung cách ứng xử của các cán bộ công chức bao gồm người quản lý và nhân viên thừa hành đối với các tổ chức, nhân dân - những người tìm đến công sở để giải quyết công việc có l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH LOAN
VĂN HÓA CÔNG SỞ
ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Đà Nẵng - Năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH LOAN
VĂN HÓA CÔNG SỞ
ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ v
INFORMATION PAGE OF MASTER THESIS vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ 7
1.1 Các khái niệm thuật ngữ liên quan 7
1.1.1 Khái niệm văn hóa 7
1.1.2 Khái niệm công sở 9
1.1.3 Khái niệm văn hóa công sở 10
1.2 Nội dung văn hóa công sở 15
1.2.1 Đạo đức công vụ 15
1.2.2 Tác phong làm việc 18
1.2.3 Mối quan hệ trong công sở 20
1.2.4 Điều kiện làm việc trong công sở 22
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở 24
1.3.1 Đặc tính nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động của công sở 24
1.3.2 Vị trí, quy mô công sở 25
1.3.3 Vai trò của lãnh đạo 25
1.3.4 Văn hoá dân tộc 26
1.4 Kinh nghiệm xây dựng văn hóa công sở ở một vài nước trong khu vực 27
1.4.1 Văn hóa công sở ở Singapore 27
1.4.2 Văn hóa công sở ở Malaysia 29
Trang 4Tiểu kết Chương 1 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI UBND QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
2.1 Vài nét về UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 32
2.1.1 Giới thiệu về UBND quận Hải Châu 32
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của UBND quận Hải Châu 35
2.1.3 Đội ngũ công chức, viên chức của UBND quận Hải Châu 39
2.2 Các điều kiện và việc thực thi văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 41
2.2.1 Điều kiện làm việc của cán bộ công chức UBND quận Hải Châu 44
2.2.2 Trình độ của cán bộ công chức, viên chức UBND quận Hải Châu 45
2.2.3 Tác phong làm việc của cán bộ, công chức, viên chức UBND quận Hải Châu 47
2.2.4 Các mối quan hệ của cán bộ công chức UBND quận Hải Châu 50
2.2.5 Vấn đề cải cách hành chính tại UBND quận Hải Châu 54
2.2.6 Đánh giá chung về văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu 60
Tiểu kết Chương 2 63
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI UBND QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 64
3.1 Phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 65
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng 65
3.2.1 Tăng cường vai trò người lãnh đạo 66
3.2.2 Duy trì nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức 68
3.2.3 Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính 72
3.2.4 Tổ chức văn hóa công sở thành những phong trào cụ thể 76
Tiểu kết Chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn tốt nghiệp: “Văn hóa công sở Uỷ ban nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” là do tôi tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lưu Trang Mọi số liệu trong luận văn đều do tôi trực tiếp thu thập và được sự đồng ý của lãnh đạo UBND quận Hải Châu
Để hoàn thành bài luận văn này, tôi chỉ sử dụng những tài liệu được ghi trong tài liệu tham khảo ở cuối luận văn, ngoài ra tôi không sử dụng bất cứ tài liệu nào khác Nếu có sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Học viên
Lê Thị Bích Loan
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy trong chương trình đào tạo thạc sĩ Việt Nam học, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích về đất nước và con người Việt Nam, làm cơ sở cho tôi thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lưu Trang đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND quận Hải Châu, và toàn thể cán bộ công chức làm việc tại UBND quận đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập dữ liệu, tham gia vào cuộc điều tra khảo sát giúp tôi tiếp cận được thực tế về văn hóa công sở tại UBND quận
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Trong quá trình làm luận văn, do kinh nghiệm và thời gian còn hạn chế nên những biện pháp đưa ra khó tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được
sự góp ý của thầy cô để bài luận văn của tôi hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
TTHC Thủ tục hành chính
UBND Ủy ban nhân dân
VHCS Văn hóa công sở
Trang 10UBND quận Hải Châu năm 2018 58 2.5 Kết quả việc giải quyết các hồ sơ TTHC tại UBND quận năm
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là sản phẩm của loài người, được sáng tạo và phát triển trong mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra Mọi hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có các hoạt động nhà nước sẽ có ý nghĩa hơn nếu đạt cả tới mục tiêu văn hóa Văn hóa công sở là sự pha trộn của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Công sở là cơ quan của bộ máy nhà nước đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước quy định Hoạt động của công sở nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng và thực hiện quyền lực nhà nước Công sở
có nhiệm vụ quản lý công vụ, công chức; tổ chức công tác, phối hợp công việc giữa các bộ phận; tổ chức công tác thông tin trong công sở và với các cơ quan khác Công sở tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước Đây còn là nơi tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại của công dân, tổ chức việc giao tiếp với người dân
Mọi thành công hay thất bại trong hoạt động công sở phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó yếu tố chủ yếu nhất là con người và hành vi ứng xử văn hóa nơi công sở của các cá nhân, từ cấp lãnh đạo, quản lý, điều hành cho tới các nhân viên phục vụ Biểu hiện cụ thể của văn hóa công sở là tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ công việc, ý thức chấp hành kỷ luật của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, lao động cùng với ý thức trao dồi kiến thức văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ
và trình độ hiểu biết pháp luật để thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp và hiệu quả Thực tế, văn hóa công sở được hình thành trên cơ sở văn hóa ứng xử của các thành viên trong tổ chức, nó có tính kế thừa và tiếp thu sáng tạo, có chọn lọc qua các giai đoạn pháp triển của bộ máy tổ chức và không ngừng được bổ sung hoàn thiện đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao trong chế độ công vụ và sự phát triển của tổ chức
Hiện nay, văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước ta có thể nói là còn nhiều bất ổn, chưa phù hợp Điều này thể hiện ở các điểm: bộ mặt
Trang 12công sở và cung cách ứng xử của các cán bộ công chức (bao gồm người quản lý
và nhân viên thừa hành) đối với các tổ chức, nhân dân - những người tìm đến công sở để giải quyết công việc có liên quan Tuy nhiên, sự hạn chế của văn hóa công sở chủ yếu là ở thái độ ứng xử của các công chức, viên chức đối với người đến liên hệ công việc Thái độ nặng hình thức cửa quyền, hách dịch, nhẹ thì hờ hững thiếu tận tâm của không ít nhân viên các cơ quan công quyền vẫn còn phổ biến Bên cạnh đó hiện nay không ít cán bộ công chức trong cơ quan hành chính nhà nước làm việc thiếu tích cực, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, chưa chấp hành tốt kỷ cương, trong công việc còn đùn đẩy trách nhiệm Một số cán bộ còn có hiện tượng lãng phí thời gian để chơi game, xem phim, điện thoại, vào mạng xã hội… Trước thực trạng trên việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Nhà nước đã trở nên cấp thiết
Để đảm bảo tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước” tại Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 Trên cơ sở đó nhiều địa phương đã ban hành quy chế văn hóa công sở tại địa phương Đối với UBND quận Hải Châu cũng có nhiệm vụ thực hiện văn hóa công sở nhằm góp phần thực tốt công tác cải cách hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ các tổ chức và nhân dân đến liên hệ công tác Theo đó UBND quận đã ban hành “Bảng quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc quận và UBND 13 phường trên địa bàn quận Hải Châu” tại Quyết định số 159/QĐ-UBND ngày 23/4/2015 [44] [54]
Quận Hải Châu là quận nằm ở trung tâm của thành phố Đà Nẵng, nơi tập trung chủ yếu các cơ quan ban ngành và là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị và giáo dục của thành phố Đà Nẵng Từ khi thành lập (năm 1997) đến nay, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận đã phát triển nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lĩnh vực văn hóa - xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng; quốc phòng - an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Là một đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, UBND Quận Hải Châu luôn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình và luôn tạo điều kiện tốt nhất để phục vụ nhân dân Mỗi cán bộ, công chức, viên chức của quận nỗ lực không ngừng cống hiến, học hỏi nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức xã hội Đặc biệt, việc trau dồi các kỹ năng xử lý trong giao tiếp, ứng xử tạo sự hài hòa trong các mối quan hệ, lựa chọn trang phục phù
Trang 13hợp và nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, bảo vệ môi trường xung quanh
Việc xây dựng và phát triển văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu một mặt giúp tạo dựng môi trường làm việc dân chủ, công bằng, văn minh, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, tạo ra sự đồng thuận và trách nhiệm của mọi cán
bộ, công chức Mặt khác, phát triển văn hóa công sở nên nhằm khắc phục thói quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, cửa quyền của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác nghiệp vụ, góp phần làm trong sạch đội ngũ Nhận thức tầm quan trọng và vai trò của việc xây dựng, phát triển văn hóa công sở trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của quận Hải Châu, tôi chọn đề tài “Văn hóa công sở Ủy ban nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Văn hóa với tầm quan trọng vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển,
nó luôn gắn liền với sự tồn tại phát triển của cơ quan, đơn vị hay bất kỳ một tổ chức nào Do vậy từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài này, ngoài những giáo trình, tài liệu giảng dạy, luận án, luận văn của các trường đại học, các nhà khoa học công bố những công trình về lĩnh vực này
Văn hóa công sở là một đề tài nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau Trong cuốn “Văn hóa ứng xử ở công sở” (2004), tác giả Trần Hoàng đã nghiên cứu phân tích cách ứng xử trong một số tình huống ở công sở [28, tr.45] Nguyễn Văn Thâm - tác giả cuốn sách “Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở” (2004) lại tập trung vào nghệ thuật tổ chức điều hành công sở, tác giả có đề cập đến văn hóa công sở dưới góc độ văn hóa tổ chức Ngoài ra, có một số cuốn sách viết về hành chính văn phòng có đặt ra những vấn đề đề cập đến cách tổ chức công sở, phong cách lãnh đạo tại công sở nhưng chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một cách toàn diện về văn hóa công sở [39, tr.25]
Liên quan đến xây dựng phát triển văn hóa tổ chức đã có rất nhiều bài báo, bài nghiên cứu về xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức như: bài viết “Văn hóa và đổi mới” của Phạm Văn Đồng năm 1996, bài viết “Văn hóa tổ chức - Lý thuyết, thực trạng và giải pháp phát triển văn hóa tổ chức ở Việt Nam” của Nguyễn Thu Linh năm 2004 Các nghiên cứu trên đã chỉ ra một cách khái quát và đầy đủ về lý thuyết
về văn hóa tổ chức, vai trò của tổ chức đối với việc quản lý và sự phát triển của tổ chức Tuy nhiên, khi nghiên cứu vấn đề văn hóa tổ chức, các nghiên cứu thường
Trang 14được chia theo phạm vi mà tính đặc thù khác nhau về mục tiêu tổ chức [21]
Các nghiên cứu về xây dựng văn hóa trong phạm vi doanh nghiệp cụ thể như: văn hóa Microsoft, văn hóa Honda, FPT, văn hóa Mai Linh…Các nghiên cứu này thường đi vào các khía cạnh như đặc trưng của tổ chức, phong cách lãnh đạo, chất kết dính trong tổ chức, cách ứng xử và phong cách quản lý trong hoạt động của văn hóa tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Ngoài ra còn có những nghiên cứu về văn hóa trong doanh nghiệp như: nghiên cứu về “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp cho các doanh nghiệp Việt Nam” của Đỗ Thị Thanh Tâm năm 2006, nghiên cứu về “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh” của Đỗ Minh Cường năm 2001
Các nghiên cứu về văn hóa ở phạm vi ngoài doanh nghiệp như nghiên cứu:
“Văn hóa tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh tổ chức và hội nhập” của Nguyễn Viết Lộc năm 2009 Nghiên cứu này đã nhấn mạnh văn hóa tổ chức
có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho tổ chức nhờ phát huy được nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp các nguồn lực ngoại sinh
Đối với bối cảnh nghiên cứu là một cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước
có công trình “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí văn hóa công sở đối với văn phòng cấp ủy” của tác giả Nguyễn Nguyệt Bính năm 2005 đã nghiên cứu phân tích về văn hóa công sở tại văn phòng cấp Bộ Tuy nhiên, đề tài trên lại nghiên cứu về xây dựng các tiêu chí văn hóa công sở phù hợp với đặc thù riêng trong các văn phòng cấp Bộ, vì vậy các tiêu chí này cũng không phù hợp với các công sở hành chính khác như UBND các cấp…
Tại UBND quận Hải Châu - thành phố Đà Nẵng chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về vấn đề văn hóa công sở Vì vậy nghiên cứu của tôi nhằm tìm ra điểm mới, từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng nét đẹp văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu hiện thực văn hóa công sở ở quận Hải Châu, luận văn đề xuất một số giải pháp để xây dựng văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Trang 154 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa công sở và tình hình triển khai thực hiện các quy định của Nhà nước về văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu
- Phương pháp điều tra bằng phiếu: khảo sát một nhóm đối tượng để phát hiện các quy luật phân bố và các đặc điểm của đối tượng
Tác giả đã sử dụng bảng hỏi đối với các thành viên trong cơ quan Bảng hỏi
đã được chuẩn hóa có liên quan đến các thành tố, những tác nhân bên ngoài và bên trong của cơ quan nhằm tìm hiểu thông tin, những nhận xét đóng góp ý kiến của cán bộ công nhân viên trong cơ quan để đánh giá thực trạng VHCS tại UBND quận Hải Châu
Ngoài ra luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu liên quan, đồng thời dựa vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
về lĩnh vực này
6 Đóng góp của luận văn
- Chọn lọc, tổng hợp cơ sở lý luận và những văn bản hướng dẫn liên quan đến việc hoàn thiện văn hóa công sở trong phạm vi UBND cấp quận
- Khảo sát, đánh giá được thực trạng việc xây dựng văn hóa công sở tại
Trang 16UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất giải pháp để hoàn thiện văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu ngày càng văn minh, hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa công sở
Chương 2: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu - thành phố
Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng văn hóa công sở tại UBND quận Hải Châu - thành phố Đà Nẵng
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
1.1 Các khái niệm thuật ngữ liên quan
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thường được hiểu là văn học, nghệ thuật như: thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Các “trung tâm văn hóa” có ở khắp nơi chính là cách hiểu này Một cách hiểu thông thường khác, văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử và cả đức tin, tri thức được tiếp nhận… Vì thế chúng ta nói một người nào đó là văn hóa cao, có văn hóa hoặc văn hóa thấp, vô văn hóa
Có rất nhiều nghĩa khác nhau về văn hóa Trong Từ điển tiếng Việt văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống Theo nghĩa chuyên biệt
để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống… Theo Đại Từ điển tiếng Việt “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh
thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [60]
Từ các cách hiểu này, rất nhiều định nghĩa về văn hóa được ra đời Theo giáo
sư Phan Ngọc, trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới”, trên thế giới có đến 400 định nghĩa về văn hóa, và đó chưa phải là con số cuối cùng Để có thể định nghĩa khái niệm với nội hàm vô cùng rộng lớn này, chúng ta phải nghiên cứu nghĩa gốc của nó
Theo tiếng Việt gốc Hán, văn có nghĩa là “chữ”, là “nét vẽ”; hóa là sự “biến
đổi” Nói đến nét vẽ là nói đến sự thể hiện cái đẹp ra bên ngoài, còn nói đến biến
đổi là sự biến đổi theo hướng tích cực Như vậy, văn hóa là sự biến đổi từ cái xấu thành cái đẹp, cái hỗn tạp thành cái thanh tao, tinh tế
Theo chữ La tinh, từ Culture - văn hóa, có nghĩa gốc là “canh tác”, “vun
trồng” Sở dĩ sau này nó có nghĩa là văn hóa vì hoạt động cày cấy, vun trồng là
hoạt động có ý thức đầu tiên của loài người Nó giúp con người thoát khỏi cuộc
Trang 18sống nguyên thủy, bước vào cuộc sống tập thể với những biểu hiện xã hội đầu tiên, đánh dấu sự hình thành của văn hóa
Cùng với thời gian, từ “văn hóa” đã mang thêm nhiều nội dung mới Dù hiểu
nó theo góc độ nào, theo nghĩa gốc hay theo hình thức biểu hiện thì văn hóa luôn đề cập đến vấn đề: con người, xã hội, bản sắc, sáng tạo và phát triển Ở đây, có thể đưa ra hai định nghĩa về văn hóa tiêu biểu nhất
Federico Mayor, cựu Tổng giám đốc Unesco cho biết: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sang tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [33] Cách hiểu thứ hai này đã được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa họp tại Venise năm 1970
Năm 2002, Unesco đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [58] Cũng chính vì thế văn hóa biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ Một đất nước giàu truyền thống văn hóa là một đất nước giàu có về tinh thần
Thứ hai là định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh Năm 1943, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức
sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [34]
Như vậy, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên Văn hóa gắn bó mật thiết với con người, thấm sâu vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người
Trang 191.1.2 Khái niệm công sở
Thuật ngữ công sở được sử dụng rộng rãi trong công việc và cuộc sống hàng ngày Theo nghĩa rộng công sở là những tổ chức đặt dưới sự quản lý của Nhà nước để tiến hành những công việc chuyên ngành Theo Đoàn Trọng
Tuyến: “Tất cả những cơ quan công ích được nhà nước công nhận thành lập,
chịu sự điều chỉnh của luật hành chính và các luật khác đều được gọi là công sở” [53, tr.7] Như vậy, công sở bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã
hội, các bệnh viện, trường học
Theo nghĩa hẹp hơn, công sở là các cơ quan hành chính nhà nước, là các cơ quan trong bộ máy nhà nước có chức năng quản lý hành chính nhà nước thông qua hoạt động chấp hành và điều hành thực hiện quản lý hành chính trên các lĩnh vực đời sống xã hội
Với hai cách hiểu này, công sở có nghĩa tương đồng với cơ quan Đó là bộ phận của bộ máy nhà nước, có chức năng, nhiệm vụ, có tính cơ cấu và quyền lực Theo nghĩa thông thường và phổ biến nhất, công sở là trụ sở làm việc, là nơi diễn ra các hoạt động hành chính văn phòng của các cơ quan công được nhà nước thành lập Điều đó có nghĩa là công sở phải gắn với một không gian nhất định, có diện tích cụ thể, cơ sở vật chất cụ thể Công sở là nơi diễn ra mọi hoạt động của cơ
quan “Công sở là nơi để tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, soạn
thảo, xử lý văn bản phục vụ cho công việc chung, là nơi phối hợp hoạt động của các cán bộ công chức theo một cơ chế nhất định” [39, tr 52] Nói cách khác công
sở là vỏ bọc vật chất để một cơ quan tồn tại và phát triển
Công sở nói chung đều có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, công sở là một pháp nhân Pháp nhân là một tổ chức có đủ các điều kiện sau:
Trang 20định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Như vậy Công sở là một pháp nhân được thành lập theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có trụ sở hợp
lý với vị trí pháp lý, tính chất, quy mô hoạt động của công sở, có kinh phí hoạt động và có công sản để thực thi công vụ
Thứ hai, công sở là cơ sở để bảo đảm công vụ Công sở hoạt động để thực thi quyền lực Nhà nước Các công sở quản lý hành chính Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để hoạch định và quản lý quá trình thực thi các chính sách công, trong khi các công sở sự nghiệp chịu trách nhiệm về việc cung cấp các dịch vụ công như giáo dục, y tế, …
Thứ ba, công sở có quy chế cần thiết để thực hiện các chuyên môn do Nhà nước quy định Công sở có địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về thực thi công vụ (các chính sách và các dịch vụ công) và cơ cấu tổ chức được quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật và được hệ thống pháp luật đảm bảo thi hành Trên đây là ba đặc điểm cơ bản để phân biệt công sở với các tổ chức khác trong xã hội Ngoài ra còn có một số đặc điểm khác như: công sở là đơn vị
cơ bản cấu thành hệ thống hành pháp hoạt động thường xuyên, liên tục; công sở
có mối quan hệ mang tính thứ bậc (khái niệm “cấp” trong cơ cấu thứ bậc) để đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ trong điều hành và có mối quan hệ mang tính phối hợp (khái niệm “hệ”) để đảm bảo nguyên tắc phối hợp (đồng bộ) trong hành động với các công sở khác trong hệ thống; công vụ được thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ, công chức; công sở hoạt động để phục vụ lợi ích công, lợi ích của nhân dân…
1.1.3 Khái niệm văn hóa công sở
Văn hoá là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Văn hoá là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động
Văn hóa tổ chức được quan niệm là: “Hệ thống những giá trị, niềm tin, sự mong đợi của các thành viên trong tổ chức, tác động qua lại với cơ cấu chính thức
và tạo nên những chuẩn mực hành động có tính truyền thống, tạo nên đặc điểm về cách thức làm việc của tổ chức mà mọi người trong đó đều tuân theo một cách tự nguyện” [39, tr.16] Từ cách hiểu này, trong một giới hạn nào đó, chúng ta có thể
Trang 21hiểu văn hóa công sở là cách thức điều hành công sở, các chuẩn mực về tư tưởng, hành động của nhân viên trong công sở, được hình thành một cách có định hướng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở Những giá trị văn hóa công sở tạo nên niềm tin, thái độ, phong cách làm việc của nhân viên
Nếu hiểu khái niệm văn hóa theo nghĩa thông thường, là những sáng tạo, tiến bộ tác động đến đời sống tinh thần, ý thức, tư tưởng của con người thì văn hóa công sở chính là nét đẹp trong ứng xử, phong cách làm việc, tư tưởng, thái
độ của cán bộ, công chức
Tuy nhiên, đã nói đến văn hóa thì phải nói đến cả giá trị vật chất và tinh thần Công sở là một trụ sở làm việc cụ thể, với những trang thiết bị, cơ sở vật chất cụ thể Do đó, văn hóa công sở phải gồm cả giá trị hữu hình như môi trường, cảnh quan, cách bố trí phòng làm việc, hệ thống trang thiết bị
Trên cơ sở phân tích, có thể hiểu văn hóa công sở là tổng hòa những giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm: môi trường - cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp, tác phong, mối quan hệ, ứng xử và các hoạt động tập thể do cán
bộ công chức trong công sở đó tạo nên nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch
sự, đúng luật pháp
Có thể nói văn hóa công sở là một khái niệm rất mở, nó vừa hữu hình lại vừa
vô hình, gồm cả những giá trị vật chất và tinh thần Vì thế để nhận ra những yếu tố văn hóa của một công sở không phải là dễ, để điều chỉnh văn hóa của một công sở càng không đơn giản
Giá trị văn hóa bên trong công sở là sự cộng hưởng giữa văn hóa chung của tổ chức và văn hóa của các cá nhân trong tổ chức đó, đó là nề nếp, tác phong làm việc khoa học, hợp lý, hợp pháp; là việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực công do Nhà nước cung cấp; ở đó luôn luôn tồn tại không khí dân chủ, bình đẳng; văn hóa công
sở còn là sự cạnh tranh lành mạnh, phối hợp và trân trọng kết quả làm việc của các cộng sự; là sự tự hào của cá nhân về tổ chức và sự gắn bó tự thân, tích cực của các thành viên làm việc trong công sở, là ngôi nhà chung của các thành viên mà người
ở trong không muốn bức ra và người bên ngoài có xu hướng muốn gia nhập làm thành viên; một yếu tốt quan trọng nhất đó là khát vọng cống hiến, được cống hiến
và sự hài lòng của các thành viên trong công sở…
Giá trị văn hóa bên ngoài công sở quan trọng nhất đó chính là sự đáp ứng những kỳ vọng mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân bên ngoài đặt ra cho công sở, bên
Trang 22cạnh đó văn hóa công sở còn thể hiện qua trang phục, phương thức giao tiếp của cán bộ, công chức; là cách bài trí công sở khoa học, hợp lý; là sự cạnh tranh lành mạnh, hợp tác, trân trọng kết quả làm việc của các cơ quan, tổ chức khác
Xây dựng văn hoá công sở là xây dựng hệ thống những giá trị bên trong và bên ngoài của công sở Nếu xét ở một góc độ hiệu quả, xây dựng văn hóa công sở
là xây dựng và khẳng định thương hiệu của công sở trong xã hội hiện đại
Văn hóa công sở là tổng hợp của hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần, là thành quả trí tuệ sáng tạo của con người, thể hiện bản chất nhà nước và bản sắc dân tộc của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử Chính vì vậy văn hóa công sở có những đặc trưng sau:
Tính hệ thống: Văn hóa công sở có tính tổ chức nhà nước và tổ chức xã hội; Tính giá trị: Văn hóa có giá trị thẩm mỹ, bởi nó giúp mỗi người luôn vươn tới cái hay, cái đẹp Với giá trị đạo đức, văn hóa sẽ điều chỉnh hành vi của con người Đặc trưng này làm cho văn hóa công sở có tính điều chỉnh xã hội, cộng đồng;
Tính nhân sinh: Văn hóa do con người tạo ra vì vậy nó mang tính nhân sinh; Tính lịch sử: Văn hóa công sở là sản phẩm của một quá trình, được tích lũy trong một thời gian dài, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác
Từ những đặc trưng trên, văn hóa công sở mang những bản chất cơ bản như:
- Mức độ tự quản cá nhân là trách nhiệm, mức độ độc lập và cơ hội mà các cá nhân trong công sở đó có được để thực hiện sự sáng tạo của mình;
- Tính chính quy là mức độ áp dụng quy chế, điều lệ, nội quy để kiểm soát hành vi của các cá nhân trong công sở;
- Sự hỗ trợ của cấp trên, sự nhiệt tình quan tâm của người quản lý trong việc giúp đỡ cấp dưới của mình;
- Sự hòa đồng là mức độ gắn bó giữa các thành viên với công sở, mức độ gắn
bó này phản ánh sự gắn bó và thống nhất về mục tiêu và lợi ích của cá nhân với mục tiêu lợi ích của công sở;
- Hệ thống các chuẩn mực và giá trị, nội dung của các tiêu chuẩn đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, hình thức và mức độ thực hiện;
Trang 23- Khả năng chịu đựng các xung đột nội bộ và xung đột với bên ngoài, là mức
độ các xung đột tồn tại trong các mối quan hệ cá nhân, các nhóm hoặc các bộ phận cũng như thái độ, thiện ý, sự trung thực, cởi mở, …
- Khả năng chịu đựng rủi ro, là mức độ mà các thành viên được khuyến khích sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận may rủi;
- Hình ảnh bên ngoài của công sở, là sự trang trọng, uy nghi, lịch sự, bề thế hay thiếu trang trọng, không lịch sự
Văn hóa công sở được cấu thành từ các yếu tố sau:
Thứ nhất, các yếu tố hình thành hệ thống giá trị văn hóa công sở Đó là các
yếu tố truyền thống, hiện đại, trình độ học vấn, trình độ văn minh, giá trị cấu trúc, giá trị chức năng và giá trị vật chất Các giá trị này có thể được bộc lộ chính thức hay không chính thức như: mọi thành viên trong công sở đều phải biết cư xử với nhau, đi làm đúng giờ, tôn trọng nhân cách và đời tư của đồng nghiệp, … đem lại hiệu quả giao tiếp hành chính cao Có thể nói văn hóa là nền tảng tinh thần của hoạt động công sở, nó biểu hiện sức mạnh tiềm tàng và bản lĩnh của các thành viên trong công sở
Thứ hai, giá trị truyền thống và hiện đại Tất cả những hoạt động lưu truyền từ
trong lịch sử của công sở và được lưu giữ tồn tại đến ngày nay đã tạo ra những giá trị văn hóa mang tính truyền thống Tuy nhiên văn hóa công sở không phải là bất biến, nó được phát triển và thích ứng với hoàn cảnh và môi trường, vì vậy nó mang các giá trị hiện đại
Thứ ba, trình độ học vấn và trình độ văn minh Trình độ học vấn là một yếu tố
cần và đủ cấu thành nên văn hóa công sở Trình độ học vấn là chìa khóa để con người bước vào nền văn hóa tiên tiến hơn Không ngừng nâng cao trình độ học vấn giúp cho con người vươn tới đỉnh cao của sự sáng tạo, góp phần nuôi dưỡng con người phát triển toàn diện hơn Còn trình độ văn minh là sự đánh dấu mỗi thời kỳ phát triển của lịch sử Thế giới đã trải qua ba giai đoạn lớn của nền văn minh nhân loại: nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh công nghiệp và nền văn minh trí tuệ Nền văn minh nông nghiệp xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nền văn minh lúa nước; nền văn minh công nghiệp xuất hiện khi có sự ra đời của máy hơi nước của James Watl; nền văn minh trí tuệ xuất hiện khi các “công nhân cổ cồn” xuất hiện, lúc này các chú robot được thay cho sức lao động của con người Con người được
Trang 24giải phóng sức lao động chân tay, bước vào đỉnh cao của khoa học và công nghệ, chiếm lĩnh tri thức, làm chủ tri thức, lấy tri thức cải tạo điều kiện tự nhiên, xã hội
và con người Vai trò của văn hóa càng được phát huy nếu như nó được gắn liền với văn minh ngay trong hoạt động của các công sở
Thứ tư, giá trị của Chân - Thiện - Mỹ
Một trong những yếu tố cấu thành cơ bản của văn hóa công sở được thể hiện
là nền tảng mang tính nhân bản - giá trị của “Chân”, nó được biểu hiện ở ba khía cạnh là: giá trị của cái đúng, của chân lý; giá trị của nền tảng quy phạm đạo đức, quy phạm pháp luật; giá trị của tri thức khoa học
Vai trò của văn hóa còn thể hiện nền tảng mang tính nhân ái (cái Thiện), giá trị của “Thiện” biểu hiện ở các khía cạnh: giá trị của lương tâm; giá trị của đạo đức; giá trị của của cái tốt Sự vô cảm, thiếu “cái tâm” trong hoạt động công vụ sẽ mất
đi giá trị “cái thiện” trong mỗi con người
“Cái Mỹ” thường gắn với các giá trị vật chất và hành động cụ thể trong thực tiễn hoạt động công sở Văn hóa thẩm mỹ công sở là vấn đề đem đến hiệu lực và hiệu quả cao trong hoạt động công sở Cái đẹp thể hiện qua phong thái, cử chỉ, hành vi, sắc thái tình cảm của người thừa hành công vụ, đồng thời cái đẹp còn thể hiện văn hóa công sở minh bạch, lịch sự, trang trọng
Chân - Thiện - Mỹ qua thời gian luôn sàng lọc, nâng niu những giá trị tốt đẹp còn đọng lại ở mỗi thời đại, mỗi nền văn minh, mỗi quốc gia, dân tộc và đặc biệt ở mỗi con người, đem lại những giá trị tốt đẹp nhất cho con người
Xây dựng văn hoá công sở là xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, có kỉ cương và dân chủ thể hiện qua quy chế, nội quy của công sở, ý thức làm việc và cách cư xử của nhân viên Nó đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý cũng như các thành viên của cơ quan phải quan tâm đến hiệu quả hoạt động chung của cơ quan mình Muốn như thế cán bộ phải tôn trọng kỉ luật cơ quan, phải chú ý đến danh dự của cơ quan trong cư xử với một người, đoàn kết và hợp tác trên những nguyên tắc chung, chống lại bệnh quan liêu, hách dịch, cơ hội Việc xây dựng văn hóa công sở yêu cầu chúng ta phải cương quyết loại bỏ những cách nghĩ trì trệ, tiêu cực, khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy những cái tích cực, tiến bộ Bởi văn hóa tuy mang tính bản sắc nhưng bên cạnh đó nó có tính kế thừa và phát triển theo hướng hoàn thiện hơn
Trang 251.2 Nội dung văn hóa công sở
Công sở hành chính gồm các đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, công sở hành chính là những cơ quan công quyền, là biểu hiện của
quyền lực nhà nước nên trong quá trình hoạt động, đặc biệt là hoạt động hành chính đòi hỏi rất nhiều chuẩn mực Những chuẩn mực đó vừa phải phù hợp với chuẩn mực chung của xã hội, vừa phải đảm bảo những quy định của nhà nước
Thứ hai, công sở hành chính là một tổ chức hoạt động liên tục với rất nhiều
nhiệm vụ đảm bảo điều kiện làm việc cho mọi cán bộ, công chức, cho nên mọi công việc đòi hỏi phải được thực hiện một cách khoa học, nề nếp
Thứ ba, hoạt động trong công sở chủ yếu là thực hiện các giao dịch hành
chính, giao tiếp với nhân dân nên trong lề lối làm việc, trong phong cách làm việc, ứng xử giao tiếp của công chức đòi hỏi nhiều chuẩn mực
Đặc biệt, cũng giống như bất kỳ cơ quan, tổ chức nào, mỗi công sở gồm rất nhiều đơn vị, phòng ban, nhiều cán bộ công nhân viên Tuy được giao những phần việc riêng nhưng đều nhằm phục vụ mục đích chung của toàn công sở, đều dùng chung trụ sở làm việc, phương tiện làm việc nên luôn cần sự hợp tác, hỗ trợ Mối quan hệ này làm nảy sinh rất nhiều biểu hiện văn hóa, nhất là văn hóa ứng xử
Với những đặc điểm trên, văn hóa công sở bao gồm những giá trị vô hình và hữu hình, gồm các thành tố sau
Thành tố văn hóa vô hình:
Đạo đức công vụ
Tác phong làm việc của lãnh đạo, nhân viên
Quan hệ, ứng xử trong công sở
Thành tố văn hóa hữu hình gồm:
Môi trường, cảnh quan, cách bố trí nơi làm việc
Công cụ, phương tiện làm việc
Các hình thức làm việc, sinh hoạt tập thể
1.2.1 Đạo đức công vụ
Nói đến văn hoá là phải nói đến con người vì con người là chủ thể sáng tạo ra
Trang 26văn hoá, đồng thời cũng là sản phẩm của văn hoá Một công sở văn hoá trước tiên phải có những con người, những cán bộ văn hoá Và trong mỗi con người thì vấn
đề đạo đức là một giá trị văn hoá vô cùng quan trọng Do đó đạo đức công vụ là yếu tố không thể thiếu của văn hoá công sở
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
Công vụ là thực hành nhiệm vụ công phục vụ nhà nước, phục vụ nhân dân, là một loại hoạt động mang tính quyền lực được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hoặc những người khác khi được nhà nước trao quyền, nhân dân ủy thác quyền lực nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Đạo đức công vụ là sự thể hiện đặc thù đạo đức chung của xã hội trong công
vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý các mặt của đời sống xã hội; đó là những quy tắc chuẩn mực, giá trị được xã hội thừa nhận là tốt đẹp, do quá trình tu dưỡng rèn luyện theo tiêu chuẩn
mà có được khi họ thi hành công vụ Chỉ khi thực thi công vụ thì văn hóa ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức mới bộc lộ rõ nét nhất, cụ thể hơn là đạo đức công vụ của họ mới được biểu hiện đầy đủ nhất
Trong bối cảnh hiện nay, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức không chỉ được đánh giá trong lúc thực thi công vụ, mà còn được đánh giá cả lúc
họ không thực thi công vụ, cụ thể là qua ứng xử, qua phong cách sống, sinh hoạt ở
cả cơ quan và nơi cư trú, qua các mối quan hệ xã hội Thực chất đạo đức công vụ
và văn hóa công vụ có mối quan hệ qua lại, văn hóa công vụ là nền tảng của đạo đức công vụ, ngược lại đạo đức công vụ là cơ sở để hình thành văn hóa công vụ Xây dựng đạo đức công vụ là góp phần xây dựng văn hóa công vụ Trong tình hình mới hiện nay, mối quan hệ này càng thể hiện rõ nét
Đạo đức công vụ trong xã hội hiện đại đã trở thành một điều không thể thiếu của một quốc gia phát triển, gắn liền với đạo đức phục vụ nhân dân của cán bộ,
công chức Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:” Cũng như sông phải có nguồn
nước mới, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng
Trang 27không lãnh đạo được nhân dân” [34, tr.14]
Theo Nghị định số 04/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập [14], nội dung công vụ thể hiện trong các quan hệ: [14, tr.35]
- Công vụ quan hệ với nhà nước
- Công vụ quan hệ với nhân dân
- Công vụ quan hệ với cấp trên
- Công vụ quan hệ với cấp dưới
- Công vụ quan hệ với đồng nghiệp (cùng cấp)
Đó là những mối quan hệ dựa trên nền tảng lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với xã hội
Đạo đức công vụ thể hiện trước hết ở nhận thức của cán bộ về cơ quan, về nghề nghiệp và trách nhiệm Nhận thức hình thành nên quan niệm, thái độ đối với công việc Nhận thức đúng sẽ dẫn đến những hành động đúng Khi cán bộ, công chức nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí công tác, về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thì sẽ tận tụy, hết mình trong công việc, hạn chế những hành vi nhũng nhiễu gây phiền hà cho tổ chức và nhân dân
Ví dụ: Một cán bộ văn thư phải nhận thức rõ vị trí của mình trong hoạt động
của công sở Đó là phải tiếp nhận, chuyển giao các loại văn bản đi, đến trong ngày cho các đơn vị, cá nhân có trách nhiệm giải quyết Nếu họ làm không tốt thì hoạt động của toàn công sở sẽ bị ngưng trệ, tồn đọng
Đạo đức công vụ thể hiện ở tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức khi thực thi công vụ Nó ảnh hưởng rất lớn đến tác phong và hiệu quả công việc Một cán bộ có trách nhiệm là một cán bộ thực hiện công vụ theo đúng pháp luật, tận tụy, hết lòng vì công việc Nếu không hoàn thành tốt công việc, anh ta dám chịu trách nhiệm, không đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc đồng nghiệp Mỗi cán bộ, công chức phải thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chủ tịch, là người đày tớ thật sự trung thành của nhân dân
Ví dụ: Một cán bộ hành chính văn phòng được giao nhiệm vụ giải quyết
những vướng mắc của dân Cho dù những vướng mắc đó rất khó giải quyết nhưng người cán bộ đó phải cố gắng hết sức trong phạm vi quyền hạn của mình, không
Trang 28được từ chối, nhũng nhiễu hoặc đẩy trách nhiệm đó cho người khác
Một cán bộ có đạo đức công vụ còn là có động cơ trong sáng, không vụ lợi Động cơ là yếu tố bên trong hướng con người vào những mục đích, thúc đẩy con người hành động để đạt được những mục đích đó Đối với cán bộ, công chức nhà nước, động cơ làm việc tất nhiên trước hết là để nuôi sống bản thân, nhưng phải luôn đặt lợi ích chung lên trên hết, tuyệt đối không làm tổn hại lợi ích tập thể Đạo đức công vụ đặc biệt tôn vinh những người có động cơ hướng thiện, hết lòng phục vụ nhà nước, công dân, làm việc “chí công vô tư” Nếu có động cơ tốt, lành mạnh, người cán bộ sẽ có những hành động tốt, làm việc với hiệu quả cao Ngược lại những động cơ không tốt sẽ dẫn đến những hành vi trái pháp luật hoặc trái với đạo đức
Ví dụ: Những công chức làm việc với động cơ vụ lợi, đặt lợi ích cá nhân
lên trên lợi ích tập thể sẽ có những hành vi tham ô, tham nhũng, gây tổn hại cho
cơ quan, Nhà nước
Đó là những yếu tố cơ bản tạo nên ý thức đạo đức, ý thức đạo đức đó không thể nhìn thấy mà chỉ có thể được đánh giá thông qua những hành động thực tiễn Cán bộ, công chức nhà nước ngoài phẩm chất: “cần - kiệm - liêm - chính”, “chí công vô tư”, còn phải có phẩm chất yêu lao động, sẵn sàng hợp tác với đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới
1.2.2 Tác phong làm việc
Tại Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Đề án văn hóa công vụ [48] đã quy định cụ thể về tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Tác phong là hình thức thể hiện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực làm việc Nó không đơn thuần chỉ là vẻ bề ngoài, tác phong sinh hoạt,
cá tính riêng của mỗi người Tác phong làm việc là một thành tố quan trọng của văn hoá công sở vì nó phản ánh phẩm chất, trình độ chuyên môn và cách ứng xử của con người trong công việc Tác phong làm việc vừa là sản phẩm tự nhiên (thuộc tính vốn có của con người) vừa là sản phẩm của xã hội, của tổ chức (vì nó
bị chi phối bởi quy định, quy chế )
Công sở là nơi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, là hình ảnh của Nhà nước, là nơi giao tiếp với nhân dân nên cán bộ làm việc trong công sở cần phải
Trang 29có tác phong văn minh, lịch sự trong giao tiếp; nhanh nhẹn trong công việc chuyên môn
Chất lượng cán bộ là sự tổng hợp các phẩm chất, năng lực, giá trị, thuộc tính
đạt được của từng cá nhân và cả đội ngũ, được biểu thị ở mức độ cao hay thấp,
dưới tầm, ngang tầm hay vượt tầm so với yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng đặt ra
trong từng điều kiện cụ thể Lề lối, phong cách làm việc là một bộ phận cấu thành chất lượng của cán bộ; là hình thức phản ánh phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức, năng lực được chuyển hóa thành thái độ, hành vi và phương pháp công tác của người cán bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả hoạt động Nói cách khác, lề lối, phong cách làm việc là hình thức biểu hiện bề ngoài của chiều sâu tư tưởng; là một nội dung của đạo đức công vụ; là thước đo trình độ, năng lực, phẩm chất của cán bộ trong hoạt động hằng ngày Không thể nói một người có tư tưởng tiên tiến, đạo đức tốt, trình độ nhận thức cao, nếu thái độ lao động tồi, hành vi công vụ tiêu cực, phương pháp công tác lạc hậu
Để có một tác phong làm việc khoa học, hiệu quả, mỗi cán bộ, công chức phải không ngừng rèn luyện mình, mỗi công sở phải có những quy định, quy chế điều chỉnh hành vi của công chức Cho nên có thể nói, tác phong làm việc là một giá trị văn hoá, được tạo nên bởi một môi trường văn hoá cụ thể
Thông thường nhìn vào tác phong làm việc của cán bộ, người ta có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động của toàn công sở, cách điều hành của lãnh đạo, thói quen, lề lối làm việc nói chung là đánh giá được văn hoá tổ chức công sở
Ví dụ: Một cán bộ với trang phục lịch sự, giao tiếp khéo léo, thành thạo trong
nghiệp vụ sẽ cho ta ấn tượng về một công sở hoạt động có nề nếp, có văn hoá Ngược lại một cán bộ với trang phục khiếm nhã, giao tiếp vụng về, lúng túng trong nghiệp vụ chuyên môn sẽ minh chứng cho một lề lối làm việc tuỳ tiện, một tổ chức hoạt động kém hiệu quả
Tác phong làm việc được thể hiện qua rất nhiều yếu tố, từ trang phục, đi đứng, giao tiếp đến ý thức chấp hành quy chế, các thao tác nghiệp vụ, cách xử lý công việc Trang phục nơi công sở đòi hỏi phải nhã nhặn, lịch sự, không được loè loẹt, kiểu cách Đi lại trong công sở phải nghiêm chỉnh, nhẹ nhàng, không gây ồn ào, không có những cử chỉ khiếm nhã với khách và đồng nghiệp Trong nghiệp vụ chuyên môn phải nhanh nhẹn, cẩn thận, tránh cẩu thả và bừa bộn
Trang 30Tác phong làm việc của lãnh đạo thường khác với tác phong làm việc của cán bộ, nhân viên Đối với lãnh đạo, tác phong làm việc phải khoa học, tôn trọng
kế hoạch, lịch trình công việc; quyết đoán dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; bình tĩnh, điềm đạm trong xử lý công việc
Phương pháp, phong cách công tác tạo nên nét riêng của người cán bộ lãnh đạo; có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả làm việc của bản thân
và tổ chức do họ đứng đầu Người cán bộ lãnh đạo có mối quan hệ hữu cơ với tập thể trong một thể thống nhất của tổ chức bộ máy nhưng là người đứng đầu, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tổ chức và vận hành của bộ máy, đặc biệt là trong những bước ngoặt của tổ chức, của cách mạng Đổi mới phong cách công tác của người cán bộ lãnh đạo trước tiên là thực hiện các nguyên tắc trong lãnh đạo, quản
lý, thực hiện tốt chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm người đứng đầu Phong cách công tác của cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến phong cách, phương pháp, tác phong công tác của các thành viên trong tổ chức Người cán bộ lãnh đạo có phong cách làm việc tốt sẽ tạo nên một "phong trào" mang tính xã hội cao, một "điểm tựa", một "đầu tàu", một tấm gương để các thành viên trong tập thể học tập và làm theo Đổi mới phong cách công tác của cán bộ lãnh đạo là cơ sở, điều kiện tiên quyết cho việc đổi mới phương pháp, tác phong, lề lối làm việc của tập thể tổ chức,
cơ quan Đảng, Nhà nước
Đối với nhân viên, tác phong làm việc cần khẩn trương, nhanh nhẹn nhưng thận trọng và vững chắc để đảm bảo đúng quy chế; bên cạnh đó phải khéo léo, linh hoạt, nhẫn nại trong hình thức vận dụng; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, ý kiến của lãnh đạo; khiêm tốn, hoà nhã, đoàn kết với đồng nghiệp
Để hình thành nên một tác phong làm việc văn hoá, hiện đại không phải là điều có thể làm trong một sớm, một chiều Ngoài sự nỗ lực của chính bản thân mỗi cán bộ, công chức, các công sở cần xây dựng những quy chế, những chuẩn mực để tạo nên những thói quen, những tác phong làm việc mới, hiệu quả Sao cho những thói quen ấy ăn sâu vào tiềm thức của cán bộ và trở thành một nét văn hoá trong con người họ
1.2.3 Mối quan hệ trong công sở
Nội dung này được quy định cụ thể tại Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ
Trang 31quan hành chính Nhà nước [45, tr 4]; Quyết định số 03/QĐ-BNV ngày 26/02/2007 của Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương [8, tr 20]
Một con người không thể sống một mình giữa thiên nhiên, vũ trụ Một công chức không thể tồn tại đơn lẻ trong một cơ quan, công sở Dù là ai, ở đâu con người cũng cần có những mối quan hệ xã hội và luôn tồn tại trong những mối quan hệ xã hội Chính các mối quan hệ là tiền đề của những giá trị văn hoá Nếu mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên tạo ra văn hoá tín ngưỡng, văn hoá
tư duy thì mối quan hệ giữa con người với con người tạo ra văn hoá đạo đức, văn hoá ứng xử
Mối quan hệ trong công sở chính là mối quan hệ giữa các cán bộ, công chức với nhau, giữa cán bộ công chức với lãnh đạo Rộng hơn nữa là mối quan hệ giữa
cơ quan với nhân dân, giữa cơ quan với những đơn vị, tổ chức khác Mối quan hệ trong công sở chính là môi trường làm việc bên trong tác động rất lớn đến tâm lý, thái độ, tinh thần làm việc của cán bộ, công chức Họ làm việc trong trạng thái bình yên, thoải mái hay trong tâm trạng ức chế, đố kỵ
Mối quan hệ giữa cán bộ, công chức với lãnh đạo là mối quan hệ giữa cấp dưới với cấp trên nên về cơ bản nó mang tính phục tùng Tính chất của mối quan
hệ này mang tính quy định, tính bắt buộc, được điều chỉnh bởi quy định của Nhà
nước và của chính cơ quan Lãnh đạo cơ quan là người" đứng mũi chịu sào”,
phải chịu trách nhiệm về sự thành công hay thất bại trong côngviệc nên họ có quyền chỉ huy, kiểm tra, hay khiển trách nếu cần Dù không phải là người chịu trách nhiệm chính, nhưng cán bộ công chức cần hết lòng phục tùng lãnh đạo Sự thành công của lãnh đạo là sự thành công của công sở và của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức Mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên tốt sẽ là một cỗ máy hoàn chỉnh, vận hành tốt mọi nhiệm vụ, chỉ tiêu Trong quan hệ với lãnh đạo, nhân viên cần phải có thái độ tôn trọng, phục tùng, bảo vệ uy tín cho lãnh đạo Thái độ đó xét trên khía cạnh công việc là đạo đức công vụ, xét trên khía cạnh
cá nhân là đạo đức con người Tất nhiên sự phục tùng phải mang tính dân chủ, hợp lý chứ không phải phục tùng một cách máy móc, thiếu căn cứ
Mối quan hệ giữa các cán bộ, công chức với nhau là mối quan hệ cơ bản nhất trong công sở Đây là mối quan hệ thường xuyên và bình đẳng nên có khá nhiều vấn đề phải bàn Người ta đã tổng kết thời gian mà con người ở bên đồng
Trang 32nghiệp còn nhiều hơn thời gian dành cho người thân (1/3 quỹ thời gian trong ngày) Vì thế mối quan hệ này rất quan trọng, luôn cần được cải thiện cho tốt hơn, đẹp hơn Hãy thử hình dung nếu bạn không thể quan hệ tốt với đồng nghiệp của mình, bạn sẽ cảm thấy ngột ngạt như thế nào nếu phải chịu đựng người đó suốt 8h làm việc Trước hết bạn sẽ khó có thể hợp tác ăn với người đó trong công việc, sau nữa là bạn luôn cảm thấy bực bội, ức chế, thiếu gắn bó với công
sở Trong công việc hàng ngày, có rất nhiều hoạt động mang tính dây chuyền mà chúng ta luôn cần sự hợp tác, hỗ trợ của đồng nghiệp
Ví dụ: để phát hành một văn bản cần sự phối hợp của rất nhiều người: cán bộ
chuyên môn chịu trách nhiệm soạn thảo, trình lãnh đạo cơ sở xem xét và hoàn thiện văn bản, trình thủ trưởng ký duyệt, cán bộ văn thư chịu trách nhiệm đóng dấu Như vậy, dù muốn, dù không việc hợp tác với đồng nghiệp là bắt buộc nên chúng ta cần cố gắng hết sức cải thiện mối quan hệ này Để làm tốt điều
đó, mỗi cán bộ công chức cần hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương trợ, hợp tác với nhau và cần nhất là trung thành, chân thực không nên đố kỵ, ghen ghét Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến mối quan hệ trong công việc, chưa nói đến mối quan
hệ riêng tư
Ngoài các mối quan hệ bên trong cơ quan, mỗi công sở còn có mối quan hệ với các cơ quan khác và với nhân dân Nếu mối quan hệ bên trong công sở mang tính tổ chức, tính bản chất thì mối quan hệ với bên ngoài thiên về xã giao và quy ước Trong mối quan hệ với các cơ quan khác, không có chuyện hợp tác hay không hợp tác, ăn ý hay không ăn ý, đố kỵ hay ghen ghét mà là phối hợp như thế nào để đạt hiệu quả công việc cao nhất, để lại ấn tượng tốt nhất cho đối phương
Vì mối quan hệ này vượt ra khỏi phạm vi cá nhân, bị điều tiết chặt chẽ bởi quy định của Nhà nước Trong mối quan hệ với nhân dân, vì là đại diện của quyền lực nhà nước nên mỗi công sở cần có thái độ nghiêm túc, tận tuỵ, không quan cách, hách dịch Mối quan hệ này không phải là thường xuyên (mỗi người dân chỉ tiếp xúc với cơ quan hành chính một vài lần) nên ấn tượng ban đầu luôn là
ấn tượng cuối cùng Do đó bất kỳ lúc nào, với bất kỳ đối tượng nào, mối quan hệ ngắn ngủi này cũng cần được làm cho tốt Nó phản ánh văn hoá hành chính của một công sở
1.2.4 Điều kiện làm việc trong công sở
Cũng tại Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng
Trang 33Chính phủ về ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính Nhà nước [45], nội dung này được đề cập đến
Điều kiện làm việc ở đây bao gồm cả điều kiện tự nhiên và điều kiện vật chất Đó là môi trường làm việc, khung cảnh làm việc và công cụ làm việc
Như trên chúng tôi đã nêu “công sở là vỏ bọc để một cơ quan tồn tại và hoạt
động”, do đó điều kiện làm việc cũng được xem là một thành tố của văn hoá
công sở Nó thể hiện tính thẩm mỹ, hình thức của công sở; khả năng tổ chức, bài trí công sở; đặc biệt góp phần nâng cao hiệu quả công việc, tạo phong cách làm việc cho cán bộ, nhân viên
Môi trường làm việc gồm các yếu tố như không khí, ánh sáng, nhiệt độ, tiếng ồn, Những yếu tố đó tác động rất nhiều đến sức khoẻ và tâm lý làm việc của con người Được làm việc trong một môi trường tốt sẽ đem lại hiệu quả công việc cao, giảm được những mệt mỏi, căng thẳng Người ta thường nhận ra
sự văn minh, lịch sự, hiện đại của một công sở thông qua môi trường, cảnh quan trong và ngoài công sở trước khi hiểu được lề lối làm việc, tác phong, ứng xử của cán bộ trong công sở Bởi đây là giá trị văn hoá hữu hình, tuy không phải là giá trị cốt lõi nhưng lại là giá trị rất dễ nhận thấy Thật khó có thể xây dựng môi trường văn hoá công sở khi mà môi trường tự nhiên xung quanh công sở bị ô nhiễm, ồn ào, bụi bẩn
Công cụ làm việc chính là các trang thiết bị như máy tính, điện thoại; các văn phòng phẩm như giấy, bút; và các phương tiện vật chất cần thiết khác như
tủ, bàn, ghế Đó là điều kiện vật chất không thể thiếu đảm bảo cho hoạt động của cán bộ, công chức Phương tiện làm việc hiện đại giúp công việc được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, góp phần đảm bảo sức khoẻ cho con người Việc
sử dụng các trang thiết bị còn thể hiện trình độ làm việc, ý thức sử dụng tài sản công của cán bộ, công chức Để hoạt động của công sở thực sự hiệu quả, đi vào
nề nếp, yêu cầu đặt ra đối với các phương tiện làm việc là: đầy đủ, phù hợp, tiết kiệm, không ngừng đổi mới, hiện đại
Khung cảnh làm việc bao gồm diện tích, cây xanh, bố trí nội thất Những yếu tố này đem lại sự thư thái, thoải mái trong tinh thần, và sự hưng phấn trong
công việc Có ai đó đã từng nói “Người ta không chỉ cần có bánh mỳ mà còn cần
cả hoa hồng” Điều đó có nghĩa là những giá trị tinh thần được sánh ngang cùng
với những giá trị vật chất Trong công sở hiện đại, nhu cầu nâng cao tinh thần
Trang 34làm việc là một nhu cầu tất yếu cần được đáp ứng Dọc các hành lang, thậm chí trong phòng làm việc cần được bố trí cây xanh, một số tranh ảnh, vật trang trí chuyên dụng Việc bố trí nội thất trong phòng phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị Ngoài ra cần đảm bảo về mặt diện tích, giảm thời gian di chuyển, tiết kiệm, an toàn và thẩm mỹ
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa công sở
Văn hoá được hình thành hết sức tự nhiên Nhưng văn hoá của một tổ chức, một cơ quan lại là một nền văn hoá đặc biệt, đôi khi nó chịu sự chi phối, sự định hướng của con người để tạo nên một tổ chức vững mạnh Nếu như văn hoá của một quốc gia được hình thành bởi điều kiện khí hậu, vị trí địa lý thì văn hoá của một cơ quan, công sở lại chịu sự tác động của đặc tính công việc, văn hoá truyền thống, vai trò của người lãnh đạo và đông đảo cán bộ, nhân viên
1.3.1 Đặc tính nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động của công sở
Đây là yếu tố đầu tiên tác động đến văn hoá công sở Chức năng, nhiệm vụ hay đặc tính ngành nghề có ảnh hưởng rất lớn đến tác phong làm việc của cán bộ, công chức Bởi bản năng nghề nghiệp luôn tạo cho con người một suy nghĩ, một thói quen, một phương pháp làm việc gắn liền với đặc thù công việc
Ví dụ 1: Một công sở hoạt động trong lĩnh vực tài chính - thương mại,
thường xuyên phải giao dịch với khách hàng thì sẽ có một môi trường làm việc, một không khí làm việc khẩn trương, sôi động Nhân viên trong công sở sẽ có tác phong làm việc linh động, khéo léo Cách bố trí nơi làm việc thể hiện tính hiện đại
Ví dụ 2: Công sở của một tổ chức xã hội, bảo vệ quyền lợi cho những người
tàn tật, thường xuyên phải tiếp xúc với những người có hoàn cảnh khó khăn, những nhà hảo tâm thì sẽ có một môi trường làm việc đơn giản hơn, ít phô trương hơn Thái độ làm việc của cán bộ công chức đòi hỏi sự chân thật, nồng ấm, sẵn sàng chia
sẻ với những hoàn cảnh khó khăn
Tất nhiên sự tác động này không phải lúc nào cũng diễn ra, và không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận thấy Có rất nhiều công sở dù hoạt động trong lĩnh vực tương đối thoải mái như văn hoá, nghệ thuật nhưng vẫn có một suy nghĩ, một thói quen, một phong cách làm việc khoa học, khẩn trương và hiệu quả Bởi ngoài đặc tính ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, văn hoá công sở còn bị ảnh
Trang 35hưởng bởi nhiều tác động khác
1.3.2 Vị trí, quy mô công sở
Ngày 23/5/2007, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-BXD
về việc ban hành mô hình công sở mẫu cơ quan hành chính Nhà nước [11], theo đó mục tiêu xây dựng công sở mẫu giúp cơ quan hành chính nhà nước thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ do nhà nước quy định, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa và cải cách hành chính của nhà nước; đảm bảo tính đồng bộ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, giúp cán bộ, công chức có môi trường và chỗ làm việc thuận lợi, được trang bị hiện đại, đủ điều kiện để hoàn thành tốt chức năng của cơ quan, thực hiện nhanh và có hiệu quả nhiệm vụ được giao
Đây là sự tác động mà có lẽ ít ai nghĩ tới nhưng thực tế cho thấy văn hoá công sở có bị ảnh hưởng bởi yếu tố này Một công sở với quy mô lớn, đông đảo nhân viên sẽ hình thành nên hệ thống giá trị văn hoá rõ nét, hệ thống và phổ biến Ngược lại một công sở nhỏ, ít cán bộ nhân viên sẽ có một hệ thống giá trị, chuẩn mực mờ nhạt hơn, vì đối tượng chịu ảnh hưởng của các giá trị văn hoá đó
ít hơn Vì quy mô công sở liên quan mật thiết với điều kiện vật chất, cách thức
tổ chức công việc, quy chế làm việc
Tương tự như vậy vị trí của công sở trong hệ thống bộ máy Nhà nước cũng quyết định đến thói quen, nề nếp, tác phong làm việc của công sở đó
Công sở của một cơ quan hành chính cấp Trung ương đương nhiên có các yêu cầu chặt chẽ hơn công sở của một cơ quan hành chính cấp địa phương; từ diện tích, trang thiết bị đến đội ngũ cán bộ, cách thức tổ chức công việc
Ví dụ: Khi đến UBND của một Tỉnh, Thành phố ta thấy trụ sở làm việc rất bề thế, đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, cường độ công việc rất khẩn trương
Nhưng đến UBND cấp phường, xã chúng ta thấy một trụ sở làm việc khiêm nhường hơn, cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn hạn chế hơn, cường độ công việc ít nặng nề hơn
1.3.3 Vai trò của lãnh đạo
Nghị định 157/NĐ-CP ngày 27/10/2007 quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước đang thi hành nhiệm vụ,
Trang 36công vụ nêu rõ: Người đứng đầu thực hiện đúng quy định của pháp luật về văn hóa công sở; không để xảy ra tình trạng cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý có thái độ hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ [13]
Nhà lãnh đạo hay đứng đầu một tổ chức luôn giữ một vai trò quan trọng đối với việc tạo lập bầu không khí văn hóa “khép kín” hay “cởi mở” trong đơn vị Không khí cởi mở sẽ phát huy sức mạnh của tập thể Chính vì vậy người lãnh đạo cần nhận thức đúng đắn về vai trò của văn hóa công sở cũng như việc xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh, bình đẳng, dân chủ, phát huy được tính sáng tạo, trách nhiệm của cấp dưới, nhân viên trong công việc
Lãnh đạo là người đứng đầu công sở, chỉ huy hoạt động của toàn công sở nên có ảnh hưởng rất lớn đến văn hoá công sở Người lãnh đạo có thể định dạng
lề lối làm việc, tác phong làm việc theo sự quản lý của mình một cách chủ định hoặc ngẫu nhiên
Sự điều hành của lãnh đạo tác động mạnh mẽ tới nề nếp, thói quen, kỷ luật lao động của toàn công sở Cách quản lý lỏng lẻo hay chặt chẽ sẽ ảnh hưởng đến tác phong làm việc của nhân viên Nếu lãnh đạo quản lý chặt chẽ, nhân viên sẽ làm việc nghiêm túc, ngược lại nếu lãnh đạo quản lý lỏng lẻo, nhân viên sẽ làm việc
một cách đối phó Chính vì vậy mà cổ nhân có câu “Thượng bất chính, hạ tắc loạn
” để chỉ vai trò điều hành của người lãnh đạo
Tác phong làm việc, thói quen, sở thích riêng tư của lãnh đạo đôi khi cũng ảnh hưởng nhiều đến cán bộ nhân viên Bởi tâm lý chung của nhiều cán bộ là luôn muốn “ lấy lòng” thủ trưởng, muốn có sự hoà hợp, đồng cảm trong công việc Điều này thường thể hiện rõ hơn ở các doanh nghiệp tư nhân Còn ở các công sở thì do chịu sự chi phối của quy chế nên ảnh hưởng này không rõ ràng lắm
1.3.4 Văn hoá dân tộc
Sự tác động này là hệ quả tất yếu, vì văn hoá dân tộc như là một bộ di truyền, luôn thường trực cố hữu trong mỗi con người Đặc tính của văn hoá là có tính kế thừa và phát triển nên dù muốn, dù không nó vẫn cứ tồn tại từ thế hệ này qua thế hệ khác Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào, dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không thể vượt ra quỹ đạo của sự ảnh hưởng đó
Nền văn hoá gốc nông nghiệp cùng với nền kinh tế tiểu nông, manh mún đã
Trang 37để lại một tác phong làm việc thiếu khoa học, quan hệ hợp tác yếu, tư tưởng cục bộ, bản vị Với một vị trí địa lý đặc biệt, hay phải chịu cảnh xâm lược nên con người
Việt Nam rất yêu hoà bình, dẫn đến lối ứng xử dễ hòa vi quý”, thiếu quyết đoán, không trọng luật “phép Vua thua lệ làng"
Vì vậy trước những quy định của Nhà nước, trong cơ quan vẫn tồn tại những
“luật” riêng Lối sống “duy tình” thiếu nguyên tắc là một lực cản rất lớn cho công
cuộc cải cách hành chính hiện nay Tuy nhiên bên cạnh đó, văn hoá truyền thống cũng có những tác động tích cực đối với hoạt động công sở như tôn trọng tập thể, dân chủ, dễ dung hợp
Văn hoá công sở hiện nay đang được hình thành trên cơ sở hạn chế những tác động tiêu cực của văn hoá truyền thống, phát huy những giá trị tích cực để hình thành nên những giá trị văn hoá phù hợp với cuộc sống hiện đại và công cuộc Cải
cách hành chính đúng như tinh thần của Đảng và Nhà nước: “Xây dựng một nền
văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"
1.4 Kinh nghiệm xây dựng văn hóa công sở ở một vài nước trong khu vực
Trên thế giới, tới mỗi thành phố, các Tòa thị chính như là niềm tự hào của
họ Tòa thị chính Paris, San Francisco, Tokyo hay Singapore không chỉ là những công trình mang tính sử dụng đơn thuần về mặt nào đó, chúng còn là biểu tượng cho thành phố, cho con người nơi đó Rõ ràng chúng ta không cần phải xây dựng những công trình xa hoa, lộng lẫy, nhưng ít nhất cũng cần có điểm nhấn để tạo ấn tượng trong lòng người Có thể nói, trụ sở cơ quan công quyền phải có những dấu ấn riêng Chính vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần có quan điểm rõ ràng về vấn đề trụ sở cơ quan công quyền Cần xác định những tiêu trí kiến trúc, xây dựng hết sức cụ thể cho trụ sở cơ quan hành chính Tất cả đều phải được nghiên cứu một cách khoa học để có sự thống nhất trên cả nước
1.4.1 Văn hóa công sở ở Singapore
Singapore là quốc gia theo chế độ cộng hòa Nền công vụ của quốc gia này
là nền công vụ một cấp vừa là thành phố vừa là quốc gia Chính phủ có 15 bộ và 9
cơ quan ngang bộ với khoảng 60 ngàn công chức Về cơ bản, các công chức đều
có trình độ cao Singapore xây dựng nên công vụ thế kỷ XXI với triết lý đạo đức
và phúc lợi công chức; trong đó, xoay quanh 3 vấn đề lớn là: con người, hệ thống
và khách hàng với tham vọng: khai thác tối đa tiềm năng của công chức, kiến lập
Trang 38hệ thống công vụ hoàn hảo và coi khách hàng (công dân) là trung tâm của nền công vụ
Trước hết, con người - chủ thể của nền công vụ không chỉ được tuyển chọn
theo những tiêu chuẩn tối ưu nhất mà cơ bản hơn là phải tạo ra môi trường, điều kiện để công chức phát huy hết tiềm năng của mình Biện pháp được ưu tiên là đào tạo Mỗi công chức sau khi được tuyển chọn đáp ứng yêu cầu về bằng cấp, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, một điều kiện bắt buộc là cùng với quá trình thực thi công vụ, mỗi năm công chức phải được đào tạo thêm theo chương trình quy hoạch của tổ chức Trước đây, quan niệm chỉ có cấp cao mới được xem là lãnh đạo, nhưng từ năm 1995, quan niệm này đã thay đổi: cấp nào cũng có lãnh đạo
và từ đó, đã xây dựng chương trình khung để đào tạo “nghiệp vụ” lãnh đạo ở tất
cả các cấp
Trên cơ sở đào tạo mới và đưa công chức tham gia vào mọi hoạt động của tổ chức đã khai thác và phát huy được tính chủ động tích cực và mọi tiềm năng sáng tạo của công chức Bên cạnh đó, để cổ vũ và tạo điều kiện phát huy sáng kiến của công chức, tổ chức khuyến khích việc hình thành các nhóm hoạt động và luôn sẵn sàng tài trợ tài chính với mức cao đối với các hoạt động sáng tạo Cùng với việc tạo mọi điều kiện để phát huy các khả năng sáng tạo của công chức vấn đề phúc lợi của công chức được đặc biệt quan tâm Đó thực chất là tạo lập sự cân bằng giữa công
vụ và đời sống của công chức
Thứ hai, mặc dù hệ thống công vụ từ Chính phủ xuống các cấp của Singapore được xem là khá hoàn hảo nhưng Chính phủ đã đưa ra những sáng kiến về quy chế hoạt động “thông minh” Nghĩa là, sự vận hành của hệ thống công vụ luôn luôn được xem xét và các khâu, đoạn, các quy trình được điều chỉnh thích ứng và phù hợp với hoàn cảnh mới Để thực hiện chủ trương này, Chính phủ thường xuyên thành lập các ban, các nhóm công tác, các tổ chức nhằm thiết lập, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ giữa công vụ và công vụ, giữa công vụ và doanh nghiệp, giữa công vụ và tư nhân Đồng thời, có cơ chế khung thường xuyên kiểm tra chất lượng các tổ chức của
cả hệ thống công vụ
Thứ ba, khách hàng là trung tâm của nền công vụ Singapore Công dân là khách hàng của nền công vụ là một sáng kiến đặc sắc của quốc đảo này ở những năm đầu thế kỷ XXI Từ khi sáng kiến được triển khai, hoạt động của nền công vụ
Trang 39đã thay đổi: Mọi công chức phải quan tâm, thường xuyên tham khảo ý kiến của công dân; Nền công vụ không bó hẹp trong hoạt động của công chức mà tạo lập những đối tác mới thông qua hệ thống dịch vụ có sự tham gia tích cực của các tổ chức tư nhân và công dân; Tìm kiếm và thiết lập các kênh thông tin, giao tiếp mới trực tuyến giữa công vụ và công dân như mạng điện tử, tin nhắn, điện thoại Tiêu chuẩn công vụ được xem là tiêu chuẩn của các dịch vụ cung cấp, thỏa mãn yêu cầu của khách hàng (công dân) Trên cơ sở đó, nền công vụ đã thực hiện cơ chế mới: mọi công dân có quyền đến bất cứ cơ quan công quyền nào đề xuất nguyện vọng,
và cơ quan đó phải có trách nhiệm chuyển vấn đề công dân yêu cầu đến cơ quan có chức năng giải quyết yêu cầu đó chứ công dân không phải tự tìm đến đúng địa chỉ
có chức năng giải quyết vấn đề mà công dân yêu cầu Chính vì vậy, ở Singapore không có chuyện công dân gõ nhầm cửa các cơ quan công quyền khi yêu cầu giải quyết những vấn đề của mình liên quan tới Chính phủ Đây là một sáng kiến mang tính đột phá của nền công vụ coi công dân là khách hàng và coi khách hàng là trung tâm của nền công vụ [43][52]
1.4.2 Văn hóa công sở ở Malaysia
Ngày 1 tháng 11 năm 1995, Chính phủ Malaysia đã quyết định về việc áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 cho Dịch vụ Công Chính phủ Malaysia tin rằng Tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ góp phần đáng kể vào việc cải tiến chất lượng và phát triển nền văn hoá làm việc hoàn hảo trong lĩnh vực hành chính công Hơn nữa, theo Luật Tổ chức của Malaysia, một trong những chức năng cơ bản của dịch vụ công là tạo điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực tư nhân Theo dự tính, khi Malaysia bước vào thiên niên kỷ thứ hai, tất cả các Cơ quan Công quyền đều được chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo mô hình ISO 9000
Để hỗ trợ cho quá trình triển khai, Cơ quan Hoạch định quản lý và hiện đại hóa hành chính Malaysia (MAMPU) thuộc Văn phòng Thủ tướng và Viện Hành chính Công Quốc gia (INTAN) đã được chỉ định là những đơn vị hướng dẫn áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO9000 vào Dịch vụ Công ở Malaysia Chức năng của MAMPU là: Làm Ban thư ký cho Ban chỉ đạo quốc gia về áp dụng ISO
9000 vào Dịch vụ Công Malaysia.Thực hiện các chương trình đào tạo hướng dẫn
và đánh gia cấp chứng chỉ cho các Cơ quan Công quyền về ISO9000
Chức năng chính của INTAN là cung cấp các chương trình đào tạo về Nhận
Trang 40thức chung, tìm hiểu chuyên sâu, kỹ năng về xây dựng văn bản và đánh giá nội bộ cho các tổ chức Đối với các tổ chức áp dụng thì lãnh đạo cao nhất là người chịu trách nhiệm triển khai chương trình
Cùng với sự ra đời của ISO9000 phiên bản 2000, Dịch vụ công Malaysia đang thực hiện từng bước để chuyển đổi sang áp dụng ISO 9001:2000 Văn phòng thủ tướng đã ban hành Thông tư số 2 năm 2002 về Phát triển Hành chính với nhan đề:
"Hướng dẫn áp dụng ISO9001:2000"
Việc áp dụng ISO9000 thể hiện một bước tiến mới trong quá trình nâng cao chất lượng cho ngành dịch vụ công ở Malaysia [02] Công cuộc cải cách hành chính và ứng dụng quản lý chất lượng trong cải cách hành chính luôn là bài học sâu sắc cho tất cả chúng ta