Có nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức với các tham luận nghiên cứu về lễ hội truyền thống ở Việt Nam và Bình Định như: Lễ hội và du lịch Việt Nam của Trương Thìn 1993, Một số công
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Chuyên ngành : VIỆT NAM HỌC
Mã số: 8310630
Bình Định - Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG
Trang 3B inh Dinh, ngay 05 thdng 02 ndm 2020
Tac gia luan van
~ Dao Van T6t
Toi xin cam doan luan van nay la k~t qua n hien CU'U cua ca nhan toi Cac s 6
lieu va tai leu duoc trich ddn trong luan van la kha quan trung thuc K~t qua
nghien CUU nay khong trung VO'i b§t CU Cong trinh nao da dUQ'C Cong b5 trUO'C d6
Toi chiu trach nhiem voi loi cam doan c a minh
Trang 4L u an v a n c u yS u t ~ p trun g v ao b a c hiron g Khai qu a t v€ ti n h Bln h Dinh , t 6 ng quan IS h i Viet
N a m v a I S h9i tru ye n t h n g t i nh B inh D i nh t ~p trun g a chir ong mot; ti€ m n ang va t h trc trang khai t h ac
I S hQ i tru ye n th o g tr o g h oa t d 9 g d u li c h a Binh Dinh t ~ p tr u ng a c hir ong hai; va chuong ba la d i nh hiron g v a g i ai ph a p ph a t tri € n du l ic h I S h9i tru ye n th o g a ti nh Bi nh D i nh
D€ tai dir a tr e n C<J sa l y lu ~ n v ! I S h Qi tru ye n tho n g d a ph an t ic h gia tr] va va i tro I S hQi truyen
th o g d6i vo i d u li c h t i nh Binh Din h, kh ao sat t h uc tr ang khai t h ac cac I S h9 i nay vao hoa t d9 n g d u
li h c a tinh B i nh D i n h h i~ n n ay, t u d 6 d€ x u § t m 9 t s6 g i ai p ha p ph a t tri€n du l ich IS h9i dia phuong
n hu hu y d9 n g n guo n v 6 n d ! u tu , x u c t i S n qu ang b a t iS p thi, h op tac li n kSt, va ph at t r ie n nguon n h a n
l ire , th o g qu a d 6 g6 p ph ! n b ao t 6 n v a ph at hu y c ac I S h i tr u ye n t h ong cua tinh Bi n h D i nh trong b 6 i
c anh h ien n ay
T u kh6 : + Co hQi ph a t tri € n - T h ac h t h irc p h a t tri €n - Di€ m ma nh - Di€m y~u - P at huy va bao
Trang 5DAO VAN TOT
Who made the subject Confirmation of intructors
Summary:
The thesis mainly focuses on three chapters An overview of Binh Dinh province an o erview of Vietnamese festivals and traditional festivals in Binh Dinh province is concentrated in c apter one, the potential and reality of exploiting trditio al festivals in tourism activities in Binh Dinh are concentrated in chapter two, and chapter three is the orientation in Binh Dinh province
The thesis is based on the theory of traditional festivals, analyzing the value and role of traditional festivals for tourism in Binh Dinh province, surveying the status of exploiting thes e festi al s into tourism activities of the province Currently, Binh Dinh has proposed some s olutio s to develop local tourism tousism such as mobilizing investment capital, promoting marketing, cooperation, cooperation and human resource development ,thereby contributing to preserving and promoting the traditional festivals of Binh Dinh province in the current context
Key word: Development opportunities - Develo ment challe g e s - Stren gt h s - Weaknesses - Promoting and preserving
Major: Vietnamese Studies
Student's nam: Dao Van Tot
The scientific instructor: Assoc Prof Dr Luu Trang
Training facility: Danang University of Education
SUMMARY OF THE TOPIC TOPIC: EXPLOITED TRADITIONAL FESTIVAL FESTIVAL OF BINH DINH PROVINCE
FOR TOURISM DEVELOPMENT
Trang 6UBND: Uỷ Ban Nhân Dân
TTXTDL: Thông tin xúc tiến du lịch
VH – TT – DL: Văn Hóa – Thể Thao – Du lịch
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU, ĐỒ THỊ
Số hiệu
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu
Trang 8MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận văn 3
6 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÌNH ĐỊNH VÀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TỈNH BÌNH ĐỊNH 5
1.1 Khái quát về tỉnh Bình Định 5
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 5
1.1.2 Văn hóa – Dân cư 6
1.1.3 Sơ lược lịch s hình thành và phát triển 7
1.2 Tổng quan về lễ hội Việt Nam 10
1.3 Lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định 19
1.3.1 Một số lễ hội truyền thố ng tiêu biểu của tỉnh Bình Định 19
1.3.2 Giá trị của lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định 39
Tiểu kết Chương 1 44
CHƯƠNG 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG KHAI THÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH 45
2.1 Tiềm năng khai thác các l ễ hội truyền thống để phát triển du lịch ở tỉnh Bình Định 45
2.2 Thực trạng khai thác các giá trị lễ hội truyền thống trong hoạt động du lịch ở tỉnh Bình Định 47
2.2.1 Tổ chức ho ạt động du lịch lễ hội 47
2.2.2 Khách tham quan du l ịch lễ hội 48
2.2.3 Giá cả và doanh thu 51
2.2.4 Công tác quảng bá xúc tiến tham quan lễ hội 52
Tiểu kết Chương 2 54
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở B ÌNH ĐỊNH 55
3.1 Định hướng 55
3.2 Giải pháp phát tri ển du lịch lễ hội truyền thống Bình Định 57
3.2.1 Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch lễ hội 57
3.2.2 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch lễ hội 57
Trang 93.2.3 Xúc ti ến quảng bá, tiếp thị mở rộng thị trường 59
3.2.4 Hợp tác liên kết quốc gia 59
3.2.5 Phát tri ển ngồn nhân lực du lịch lễ hội 61
3.2.6 Phát tri ển du lịch lễ hội gắn với phát triển cộng đồng 61
3.2.7 Quản lý tốt vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự trong mùa lễ hội 62
3.2.8 Xây dựng và đưa vào khai thác các tuyến du lịch lễ hội mới 63
3.2.9 Giải pháp bảo tồn và phát huy l ễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định 65
Tiểu kết Chương 3 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch đã trở thành một xu thế toàn cầu hóa, là xu hướng phát triển tất yếu khách quan của thời đại đối với mỗi quốc gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển Hòa nhập vào xu thế chung của thế giới,Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển nhanh trong thập niên qua, tiềm năng du lịch của Việt Nam hiện nay khá phong phú và đa dạng, tài nguyên du lịch dồi dào cả về tự nhiên lẫn nhân văn Vừa qua Tổng Cục du lịch cũng đã lựa chọn slogan “ Việt Nam – sự khác biệt Á Đông”, qua đó cũng phần nào thấy được sức hút, vẻ đẹp bất tận của du lịch Việt Nam
Ở Việt Nam, bên cạnh nh ng loại hình như du lịch sinh thái, du lịch khám ch a bệnh, du lịch giáo dục, du lịch mạo hiểm gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế trong đó có du lịch lễ hội truyền thống Với sự phong phú của hệ thống lễ hội tại Việt Nam (khoảng hơn 8.000 lễ hội) với sự trải dài cả về không gian và thời gian của các lễ hội (ở mọi miền đất nước, ở mọi thời điểm), sức hấp dẫn của lễ hội đối với du khách quốc tế với nh ng nét văn hóa đặc sắc, độc đáo Lễ hội truyền thống của Việt Nam là một tài nguyên vô giá đối với sự phát triển của du lịch
So với các tỉnh khác trong cả nước, tiềm năng của du lịch lễ hội truyền thống ở Bình Định không nhiều, song nơi đây có nh ng lễ hội rất đặc sắc thu hút khách du lịch khá nhiều mà nh ng địa phương khác không có Với truyền thống hàng trăm năm xây dựng, kế thừa nét văn hóa của nhiều dân tộc Bình Định là nơi diễn ra nhiều lễ hội đặc sắc, hấp dẫn thu hút đông đảo người dân và khách du lịch như: Lễ hội Cầu Ngư, Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn, Lễ hội Chợ Gò, Festival võ cổ truyền Bình Định, Lễ hội chùa Ông Núi, Lễ hội Đèo Nhông, Lễ hội đua thuyền, Lễ hội Đổ Giàn trong đó có nh ng
lễ hội thu hút hàng ngàn lượt khách như lễ hội Đống Đa – Tây Sơn ở Thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, lễ hội chùa Ông Núi ở thôn Phương Phi, xã Cát Tiến, huyện Phù Cát, Festival võ cổ truyền Bình Định
Trong nh ng năm qua, vấn đề khai thác phát triển du lịch lễ hội truyền thống ở Bình Định bước đầu có nh ng quan tâm, tính tích cực của du lịch lễ hội đã được các cấp các ngành quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên sự phát triển du lịch lễ hội truyền thống nơi đây vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập và chưa tương xứng với tiềm năng vốn
có của tỉnh, mặc dù du lịch lễ hội truyền thống đã được xem là rất thuận lợi do có
nh ng nét đặc trưng văn hóa riêng biệt nhưng vẫn chưa phát huy được hiệu quả, chưa thu hút được du khách như mong muốn
Trang 11Do đó việc đánh giá đúng tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch và trên cơ sở
đó có nh ng đề xuất các giải pháp về mặt bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống, định hướng và giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch lễ hội truyền thống ở Bình Định trong thời gian tới là hết sức cần thiết
Xuất phát từ nh ng ý nghĩ trên, tôi chọn vấn đề “ Khai thác lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định phục vụ phát triển du lịch” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
tốt nghiệp
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu các lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch dù chỉ nổi lên trong thời gian gần đây nhưng đã được các nhà khoa học quan tâm đặc biệt
Có nhiều hội thảo khoa học đã được tổ chức với các tham luận nghiên cứu về lễ
hội truyền thống ở Việt Nam và Bình Định như: Lễ hội và du lịch Việt Nam của Trương Thìn ( 1993), Một số công trình nghiên cứu về văn hóa truyền thống ở Bình Định của tác giả Th.S Trần Thị Thu Thủy (2016), Dấu ấn của những công trình văn hóa dân gian của Báo Điện Tử Bình Định (2015) Ngoài ra còn có một số tham luận nghiên cứu về du lịch lễ hội là: Lễ hội dân gian và du lịch Việt Nam trong giai đoạn hiện nay của Nguyễn Phương Thảo (1993); Hội lễ đạo Mẫu và triển vọng du lịch của Đặng Văn Lung (1993) Lễ hội dân gian và hoạt động du lịch ở các tỉnh miền núi, dân tộc thiểu số hiện nay của Vũ Trọng Bình ( 2007 )
Gần đây hội thảo quốc tế với chủ đề “ Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại – trường hợp Hội Gióng” (2010) với các tham luận:
Khai thác lễ hội một cách hợp lý để đẩy mạnh phát triển du lịch của TS Nguyễn Văn Lưu ( 2008 ), Khai thác lễ hội đảm bảo vấn đề môi trường để gìn giữ nét truyền thống
và giá trị lễ hội Việt Nam của Lê H u Mạnh ( 2019)
Tuy nhiên, trên đây chỉ là các tham luận trong các hội thảo khoa học với các nghiên cứu rất khái quát chứ chưa đi sâu Còn các sách xuất bản về giá trị lễ hội truyền thống hiện nay chủ yếu giới thiệu tổng hợp chung về các lễ hội ở Việt Nam, tập trung vào phần giá trị văn hóa của các lễ hội ở Bình Định, hoặc hiện nay có các đề tài của các tác giả chỉ nghiên cứu về vấn đề văn hóa và tâm linh của tỉnh, chứ chưa đề cập sâu đến vấn đề giá trị lễ hội và về vai trò của nó đối với phát triển du lịch của vùng đất võ này
Với thực trạng các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi có một vài nhận xét nhƣ sau:
Thứ nhất, đề tài này chưa có công trình nào đề cập đến nhưng các công trình gần giống và có liên quan chỉ nói chung chung, chỉ khai thác một mặt nào đó, hoặc là
đi sâu vào lĩnh vực văn hóa du lịch truyền thống của tỉnh
Trang 12Thứ hai, một số công trình nghiên cứu chuyên sâu lại khai thác ở một phạm vi
hẹp
Thứ ba, các công trình nghiên cứu có liên quan chưa chỉ ra được thực trạng và
định hướng phát triển du lịch lễ hội của tỉnh
Trên cơ sở tham khảo và kế thừa các công trình của các tác giả đi trước, luận
văn Khai thác lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định phục vụ phát triển du lịch sẽ đi
sâu tìm hiểu tiềm năng và thực trạng phát triển lễ hội truyền thống của tỉnh để phục
vụ phát triển du lịch một cách chi tiết, đầy đủ nhất Trên cơ sở đó, định hướng phát triển giá trị lễ hội truyền thống Bình Định phục vụ phát triển du lịch trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khai thác lễ hội truyền thống ở tỉnh Bình Định phục vụ phát triển du lịch
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tỉnh Bình Định hiện nay
- Về thời gian: Các lễ hội truyền thống đã được hình thành trong các giai đoạn lịch sử và còn tồn tại, phát triển cho đến ngày nay
4 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm nh ng mục tiêu chủ yếu sau:
Đề tài nghiên cứu về các lễ hội truyền thống của tỉnh Bình Định, thực trạng khai thác các lễ hội, định hướng và giải pháp phát triển du lịch lễ hội tỉnh Bình Định
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện công trình này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp khai thác tư liệu thành văn, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại hệ thống lý thuyết, phương pháp thu thập và xử lý tài
liệu, phương pháp thực địa
5 Đóng góp của luận văn
Đề tài có nh ng đóng góp chính sau:
- Giới thiệu các lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định
- Đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch lễ hội ở Bình Định
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khai thác hợp lý tiềm năng giá trị lễ hội
ở Bình Định phục vụ phát triển du lịch
Trang 136 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Bình Định và lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác lễ hội trong hoạt động du lịch ở Bình Định
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch lễ hội truyền thống ở Bình Định
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÌNH ĐỊNH VÀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG TỈNH BÌNH ĐỊNH
1.1 Khái quát về tỉnh Bình Định
Bình Định là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam Tỉnh lỵ của Bình Định là thành phố cảng Quy Nhơn nằm cách thủ đô Hà Nội 1.070 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 652 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A
Năm 2018, Bình Định là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 17 về số dân, xếp thứ 25 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 28 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 43 về tốc độ tăng trưởng GRDP Với 1.534.800 người dân, GRDP đạt 74.729 tỉ Đồng (tương ứng với 3,2460 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 48,69 triệu đồng (tương ứng với 2.115 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,32%
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài
110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10'' Bắc, 108°55'4'' Đông) Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10'' Bắc, 108°54'00'' Đông) Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông) Phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông) Bình Định được xem là một trong nh ng cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào
- Địa hình
Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm
ra biển Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng gi a 2 hướng sườn đông và tây
Trang 15- Khí hậu
Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều
1.1.2 Văn hóa – Dân cƣ
Bình Định có vị trí địa kinh tế đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu với các quốc gia ở khu vực và quốc tế; nằm ở trung điểm của trục giao thông đường sắt và đường bộ Bắc - Nam Việt Nam, đồng thời là cửa ngõ ra biển Đông gần nhất và thuận lợi nhất của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái Lan thông qua Quốc lộ 19 và cảng biển quốc tế Quy Nhơn Ngoài lợi thế này, Bình Định còn có nguồn tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn phong phú và nguồn nhân lực khá dồi dào Trong Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến
năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (theo Quyết định số TTg ngày 14/4/2009), Bình Định được xác định sẽ phấn đấu trở thành tỉnh có nền công
54/2009/QĐ-nghiệp hiện đại và là một trong nh ng trung tâm phát triển về kinh tế - xã hội, đóng góp tích cực vào sự phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh và quốc phòng luôn bảo đảm
Bình Định có diện tích tự nhiên 6022,6 km², dân số 1.486.465 người, mật độ
dân số 389 người/km² (số liệu năm 2009)
Theo tổng điều tra dân số tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh có 1.486.918 người, trong đó nam chiếm 49,2%, n chiếm: 50,8% Dân số ở thành thị chiếm 31,9%, nông thôn chiếm 68,1%, mật độ dân số là 246 người/km² và dân số trong độ tuổi lao động chiếm khoảng chiếm: 58.8% dân số toàn tỉnh Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 2,5 vạn dân
Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh, từng là cố
đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu gi là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo Đây cũng là nơi xuất phát phong trào nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ 18 với tên tuổi của anh hùng áo vải Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân,Nguyễn Đăng Lâm, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Ngô Mây, Tăng Bạt Hổ, Diệp Trường Phát , và các văn thi nhân Nguyễn Diêu, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan,Quách Tấn, Nguyễn Thành Long, Phạm Hổ, Phạm Văn Ký Bình Định còn được biết đến với truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật như bài chòi, hát bội, nhạc võ Tây Sơn, hò bá trạo của cư dân vùng biển cùng với các lễ hội như: lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc
Trang 16miền núi
Thành phố Quy Nhơn có trường Đại học Quy Nhơn, Đại học Quang Trung (tư thục), Cao đẳng Bình Định (trước kia là Cao đẳng sư phạm Bình Định), Cao đẳng Nghề Quy Nhơn, Cao đẳng Nghề cơ điện nông lâm Trung bộ, Cao đẳng Y tế Bình Định hàng năm đào tạo hàng chục ngàn sinh viên khoa học kỹ thuật cho tỉnh và khu vực miền trung Tây Nguyên
Bình Định là vùng đất trung tâm của miền Trung Việt Nam với gần 5 thế kỷ gi vai trò trung tâm của nhà nước Chăm-pa, mặc dù có nhiều bước thăng trầm, chiến tranh xảy ra liên miên, nhưng văn hóa Chăm-pa ở đây vẫn phát triển cho đến khi nhà nước Chăm-pa mất vai trò lịch sử Dấu tích văn hóa của thời kỳ nhà nước Chăm-pa tồn tại trên đất Bình Định còn để lại vô cùng phong phú, đa dạng về loại hình, nhiều về số lượng và trở thành đối tượng quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu khảo cổ về Bình Định
Phù Ly và Tuy Viễn Từ đó người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên vùng đất Bình Định ngày nay Năm 1490 (chưa đầy 20 năm sau), theo Thiên nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, Phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và 100 xã
và Quảng Nam lúc bấy giờ có cả phủ Hoài Nhơn
Quy Ninh Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn và vẫn được gọi suốt thời kỳ Tây Sơn Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn gi nguyên Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị Phủ lỵ được dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay thuộc xã Nhơn Thành, An Nhơn)
Trang 17Từ thời các chúa Nguyễn, ở Đàng Trong nói chung, Bình Định nói riêng đã có
sự phân hóa giàu nghèo, địa vị khác nhau và các tầng lớp trong xã hội Đặc biệt vào đầu thế kỷ XVII, vấn đề trên càng trở nên mâu thuẫn sâu sắc Cho đến trước cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn 1771, ở Bình Định đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Chàng Lía: cướp của nhà giàu, chia cho dân nghèo, trừng phạt quan lại hống hách bức hiếp dân Nhưng tồn tại chẳng được bao lâu, cuộc khởi nghĩa của Lía bị thất bại
Nhạc đứng đầu đã phát triển xuống Tây Sơn hạ đạo, chiếm lĩnh đất Kiên Thành (nay là Kiên Mỹ) nơi đã từng sinh ra các thủ lĩnh Tây Sơn Nguyễn Nhạc tự xưng là đệ nhất trại chủ cai quản hai huyện là Phù Ly và Bồng Sơn Cùng trong năm đó (1773), nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn
đổi tên là thành Hoàng Đế, tự xưng Tây Sơn vương, cho đúc ấn vàng, phong cho Nguyễn L làm Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phụ chính, các tướng lĩnh khác đều được phong chức cho tương xứng với một chính quyền Trung ương mới được thành lập Năm 1793, sau khi vua Quang Trung chết, Nguyễn Ánh đem quân đánh thành Hoàng
Đế Nguyễn Nhạc bị bệnh sai con là Nguyễn Bảo chỉ huy kháng cự Quân của Nguyễn Bảo bị thua, bỏ chạy Vua Quang Toản sai thái úy Phạm Công Hưng, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại tư lệ Lê Trung, Đại tư mã Ngô Văn Sở cùng tướng thủy quân là Đặng Văn Chân từ Phú Xuân vào cứu viện, đánh quân Nguyễn Ánh Quân Nguyễn Ánh thua chạy Quân Quang Toản vào thành, Nguyễn Nhạc mang vàng bạc ra khao quân Phạm Công Hưng và các tướng lĩnh ra lệnh tịch thu châu báu và binh giáp các kho rồi chiếm thành Nguyễn Nhạc phẫn uất hộc máu chết
triều Cảnh Thịnh, cũng là bước đường suy yếu của Tây Sơn
làm thành Bình Định và suốt chiều dài lịch sử, đây là trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong nh ng năm đầu thế kỷ XIX
Lai, Kon Tum còn thuộc về Bình Định
Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách khỏi Bình Phú, Bình Định lại trở thành tỉnh độc lập
Một nửa đất đai của tỉnh này cho sát nhập trở lại vào tỉnh Bình Định
Trang 18Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú
dài cho đến năm 1945
khởi nghĩa dành chính quyền thắng lợi UBND cách mạng lâm thời mới của tỉnh lấy tên tỉnh Bình Định là tỉnh Tăng Bạt Hổ Tuy nhiên tỉnh Tăng Bạt Hổ thay cho tỉnh Bình Định chưa được Trung ương công nhận, trên các văn bản chính thống của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không thay đổi tỉnh Bình Định, do đó tỉnh Tăng Bạt
Hổ tồn tại không được bao lâu
Định là tỉnh tự do hoàn toàn, là hậu phương chiến lược trực tiếp của chiến trường khu
V, Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia Chín năm kháng chiến gian khổ
và anh dũng đó, nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã góp công, góp sức cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, buộc chúng phải ký Hiệp Định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam
miềm: miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, trong đó có tỉnh Bình Định còn phải chịu dưới ách thống trị của bọn tay sai đế quốc, chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước
Quốc Mỹ hất cẳng Pháp nhảy vào miền Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ
Chính quyền Ngô Đình Diệm chia miền Nam Việt Nam thành hai miền: từ Bình Thuận trở vào gọi là Nam phần; từ Bình Thuận trở ra vĩ tuyến 17 gọi là Trung phần Trung phần lại chia thành hai khu vực, gọi là Trung nguyên Trung phần và Cao nguyên Trung phần Tỉnh Bình Định thuộc Trung nguyên Trung phần và vẫn gi là một đơn vị hành chính cấp tỉnh như trước đây cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975)
Minh và Trung ương Đảng về đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, quân và dân tỉnh Bình Định đã vượt qua vô vàn hi sinh, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, bám đất, bám dân góp phần cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn đế quốc
Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương yêu dấu của mình vào ngày 31/3/1975
Trang 19lấy tên là tỉnh Nghĩa Bình Trong 15 năm hợp nhất nhân dân Bình Định cùng với nhân dân Quảng Ngãi ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo và phát triển kinh tế-xã hội; gi v ng an ninh quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân
nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, nhân dân Bình Định đã ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, có nhiều đổi mới về nếp nghĩ trong phát triển kinh tế, tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống của mỗi người dân Một cuộc sống mới tốt đẹp ở tương lai: ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh đã và đang được nhân dân Bình Định cùng với cả nước phấn đấu xây dựng
1.2.Tổng quan về lễ hội Việt Nam
Khái niệm về lễ hội
- Khái niệm về “Lễ”
“Lễ” theo tiếng việt là nh ng nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch
sử hình thành khá phức tạp Ch “lễ” được hình thành và biết tới từ thời kỳ Chu (thế
kỷ 12 trước công 8 nguyên), lúc đầu ch “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ Dần dần, ch “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn, nhỏ, thân, sơ trong
xã hội khi đã phân hoá thành đẳng cấp Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa…
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội
Lễ ở trong hội không đơn lẻ, nó là một hệ thống liên kết có trật tự, cùng hỗ trợ nhau thường gồm:
1 - Lễ rước nước: trước khi vào đám một ngày, làng cử hành lễ lấy nước từ gi a sông, gi a giếng nước về đình (về đền) Nước thường đựng vào chóe sứ hay bình sứ
đã lau chùi sach sẽ Người ta múc nước từ gáo đồng, lúc đổ nước phải qua miếng vải
đỏ ở miệng bình, miệng chóe Sau đó, bình nước đưa lên kiệu rước về nơi thần linh an ngự
2 - Lễ mộc dục: Ngay sau lẽ rước nước làng cử hành lễ mộc dục (tức là lễ tắm rửa tượng thần) Công việc này thường giao cho một số người có tín nhiệm Họ thắp hương, dâng lễ rồi tiến hành công việc một cách thận trọng Tượng thần được tắm 2 lần nước (lần thứ nhất được tăm bằng nước làng vừa rước về, lần 2 bằng nước ngũ vị
đã chuẩn bị trước)
Trang 203 - Tế gia quan: Là lễ khoác áo, mũ cho tượng thần, bài vị Cũng có thể là áo
mũ đại trào được triều đình ban theo chức tước, phẩm hàm lúc đương thời hoặc là áo
mũ hàng mã đặt làm (theo sắc phong) thờ ở nơi thần an ngự
4 - Đám rước: Đón thần vị từ nơi ngài ngự (đền, miếu, nghè…) về đình 9 (gọi là phụng nghênh hồi đình) được tổ chức để ngài xem hội, dự hưởng lễ vật được dâng từ tấm lòng thành kính của toàn thể dân làng
5 - Đại tế: Là nghi thức lễ trang trọng nhất khi bài vị vừa rước ra đình Tại lễ này, làng thường mổ trâu, mổ bò làm lễ vật dâng cúng thần linh
6 - Lễ túc trực: Là lễ trông nom, canh gi bài vị hoặc tượng thần lúc rước từ đền, miếu, ra đình, chùa… tùy theo thời gian mở hội dài hay ngắn mà tượng thần sẽ ngự tại đình lâu hay mau
7 - Lễ hèm: Ở nh ng hội làng có thần tích không bình thường thì trong hội có thêm tục hèm Hèm là một hành động nghi lễ nhằm diễn lại một quãng đời “đặc biêt” của thần lúc sinh thời (hoặc một chi tiết hành động mang tính cá biệt rất tiêu biểu)
- Khái niệm về “Hội”: “Hội’’ là đám vui đông người gồm hai đặc điểm là đông người, tập trung trong một địa điểm và vui chơi với nhau Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khi chưa thành “Hội” phải bao gồm các yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: “Hội” phải được tổ chức nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng dân tộc; “Hội” đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng mang tính cộng đồng cả tư cách tổ chức lẫn mục đích của nó “Hội” có nhiều trò vui đến mức hỗn độn Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau nh ng ngày tháng lao động vất vả với nh ng khó khăn trong cuộc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải qua
Đến với “Hội” mọi người sẽ được giải toả thăng bằng trở lại Vậy khái niệm
“Hội” đươc tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn hoá tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng dòng họ, từng gia đình Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của nh ng mùa màng mà bao đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với bốn ch “Nhân - Khang - Vật - Thịnh”
Theo thư tịch cổ lễ hội của người Việt xuất phát từ thời nhà lý (thế kỷ XI) có quan điểm cho rằng lễ hội của dân tộc Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc, của đất nước biểu hiện qua trống đồng Đông Sơn 10 mà tiêu biểu
là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - Cái nôi của dân tộc Việt Nam, đó là nh ng hội mùa, hội làng Tuy thời điểm ra đời của lễ hội có nhiều tranh cãi nhưng đến nay ngày hội cấu kết cộng đồng biểu trưng nh ng giá trị của đời sống tâm linh, đời sống xã hội và văn hoá cộng đồng Dù có nh ng lễ hội mang tính toàn quốc, có nh ng lễ hội mang tính
Trang 21vùng miền địa phương trong thời gian gần đây các hoạt động tìm hiểu khôi phục lễ hội
kế thừa các sinh hoạt lễ hội truyền thống đã thu hút được sự quan tâm của toàn thể xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xây dưng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tóm lại, “Hội” là để vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái Nó không bị rang buộc bởi nghi lễ tôn giáo, đẳng cấp, tuổi tác Sau nh ng tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một niềm tin vui cộng đồng Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện Ngoài vui chơi giải trí, ngoài gặp gỡ ban bầu, mọi người về dự hội đều cảm thấy hình như mình còn được thêm một cái gì n a Phải chăng đó là “lộc thánh”, “lộc thần” Hay tất cả gọi chung là lộc hội Thứ quyền lợi vô hình ấy chỉ có trong ngày hội và ai muốn được thì phải đến tận nơi mà nhận chứ không ai có thể ai nhận thay cho ai Chính vì vậy mà hội rất đông, rất nhộn nhịp Nh ng ngày làng vào đám, nhịp sống thôn dã tưng bừng hẳn lên Đó là một thực tế ai cũng thấy, cũng cảm nhận được
Như vậy ta có khái niệm về lễ hội như sau: “Lễ hội” là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, mỗi hình thức sinh hoạt tập thể của người dân sau nh ng nh ng ngày lao động vất vả, là dịp mọi người hướng về
nh ng sự kiện trọng đại hoặc liên quan đến nh ng tín ngưỡng hay vui chơi giải trí
Khái niệm về lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng dân tộc
Lễ hội là dịp để con người trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên, hay nguồn cội của dân tộc điều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người
Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng, xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ
nh ng giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết gi gìn, kế thừa và phát huy nh ng giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp gi a yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí
Lễ hội là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua nh ng thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn
Phân loại lễ hội
- Căn cứ theo mục đích tổ chức của lễ hội
Trang 22Ở nước ta Lễ hội là sinh hoạt văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng, mà lại thường đan xen hoà lẫn vào nhau về cả nội dung lẫn hình thức Vì vậy việc phân loại
lễ hội càng trở nên cần thiết trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu Tuy nhiên, mỗi lễ hội đều có nh ng tín ngưỡng riêng và với nhiều mục đích khác nhau như: Lễ hội Nông nghiệp, Lễ hội Thi tài,… Khi phân loại lễ hội theo mục đích thì cách thức tổ chức cũng
có nhiều sự khác nhau nhưng dựa trên phân tích và ý nghĩa và cội nguồn của hội làng Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại:
- Lễ hội Nông nghiệp: Là loại lễ hội mô tả lại nh ng lễ nghi liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp mang tích chất cầu mùa như: lễ hội Cơm mới, lễ hội Lồng tồng,…
- Lễ hội Phồn thực Giao duyên: là loại lễ hội gắn với sinh sôi nảy nở cho con người và vật nuôi, cây trồng mang tính chất tín ngưỡng phồn thực như: Lễ hội chọn rể Tây Bắc, Chợ tình Khau Vai (Hà Giang),…
- Lễ hội văn nghệ: Là loại lễ hội hát dân ca nghệ thuật như: Hội Lim ở Bắc Ninh, Hát chèo ở Thái Bình,…
- Lễ hội thi tài: Là loại lễ hội thi thố các tài năng như Bắt trạch trong chum, thi thổi cơm, bắt vịt trong ao,…
- Lễ hội lịch sử: Là loại lễ hội diễn tả lại các trò nhắc lại hay biểu dương công tích các vị thành hoàng và nh ng người có công với đất nước như: lễ hội Đền Hùng, lễ hội Cổ Loa,… Trong 5 loại lễ hội trên thì lễ hội lịch sử luôn gắn liền với nh ng chuyến đi của một hướng dẫn viên vì tất cả nh ng nhân vật lịch sử đều gắn liền với các nhân vật có thật như Vua Hùng, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo… Năm 1989, Đinh Gia Khánh cũng đưa ra quan điểm chia lễ hội thành hai loại đó là căn cứ vào lễ hội có nguồn gốc tôn giáo hay không tôn giáo Tôn Thất Bình khi khảo sát lễ hội truyền thống ở vùng Thừa Thiên Huế lại chia lễ hội ở đây ra làm 4 loại:
- Lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh
- Lễ hội tưởng nhớ các sư tổ lành nghề
- Lễ hội tín ngưỡng tôn giao
- Lễ hội cầu mùa theo vụ Ngoài ra, dưới góc độ xã hội học người ta còn phân loại thêm các hoạt động lễ hội mang tính chất quốc gia, dân tộc hay quốc tế và nh ng
lễ hội thuộc từng nhóm, từng vùng và các tôn giáo độc thần cụ thể
Qua đó ta có thể rút ra mấy nhận xét sau: Nh ng cách phân loại như trên chưa rút ra được nh ng nhận xét chung mà mới phản ánh được nh ng đặc điểm của lễ hội từng vùng, từng địa phương Vì vậy, theo tác giả Hoàng Lương trong cuốn “Lễ hội truyền thống của các dân tộc Việt Nam khu vực phía Bắc - NXB Đại học quốc gia Hà Nội’’, chỉ có thể phân lễ hội ra làm 2 loại chính:
Trang 23- Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa: Đây là loại lễ hội phổ biến nhất ở tất cả các dân tộc Tuy ở một địa phương, mỗi dân tộc có nh ng nghi thức, nghi lễ khác nhau nhưng đều cùng chung một nội dung cầu mùa Nh ng nội dung đó được thể hiện một cách sinh động ở các nghi thức sau:
- Lễ thức liên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp, bao gồm các lễ hội tái hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp như săn bắn, hái lượm, lễ mở của rừng, hội đánh cá và các lễ thức tái hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp như hội cấy, trình nghề nông
- Lễ thức cầu đảo: Cầu cho mưa thuận gió hoà thờ cá ông, cầu cho trời yên bể lặng - Lễ biểu dương: Dâng cúng các thành phần nông nghiệp như rước lợn xôi, lễ ăn cơm mới - Lễ rước thờ cúng hồn lúa: Phổ biến ở các dân tộc thiểu số
- Lễ rước trinh nghề: Liên quan đến vị tổ sư lành nghề
- Lễ hội thi tài và các trò bách hí: Như thi nấu cơm, thi bắt dê
- Lễ tín ngưỡng phồn thực: Nhằm biểu dương kết hợp âm dương cho con người
và sự vật sinh sôi nảy nở như hội cướp kén,…
- Lễ thức hát giao duyên: Hát xoan, hát ví dặm, quan họ Nh ng lễ hội trên đều mang tính chất tín ngưỡng cầu mùa mong sao mùa màng phong đăng hoà cốc, người
an vật thịnh, ngành nghề phát triển Vì vậy không thể tách chúng ra thành các lễ hội khác nhau Lễ hội liên quan đến việc tượng niệm công lao các vị danh nhân văn hoá, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thánh phật Loại lễ hội này đều thờ cúng di tích liên quan đến các vị nhiên thần và nhân thần đã có công khai sơn phá thạch, xây dựng gìn gi bảo vệ làng xóm và các chư vị thánh phật có công khai minh, khai mang đền chùa giúp dân diệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện Lưu ý ở đây là sự thờ cúng của các dân tộc miền núi chủ yếu là lực lượng nhiên thần Còn ở đồng bằng thì chủ yếu là lực lượng nhân thần đó là: Các lễ thức thờ cúng các thần thổ địa, rừng cây, thần cây đa, bến nước như sơn thần, giang thần ở miền xuôi Lễ rước các vị danh nhân văn hoá, anh hùng lịch sử như Tản viên sơn thánh, Chư vị thánh…lễ hội thờ Hai Bà Trưng, Thánh Gióng, Vua Hùng… Lễ hội diễn ra liên quan đến các vị anh hùng có công với cách nước như hội đền Kiếp Bạc Qua đó ta thấy được mục đính của lễ hội thể hiên được nh ng chuẩn mực nh ng niềm tin về một lực lượng nhiên thần
- Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội
Mỗi lễ hội đều có một sự kiện quan trọng và người ta thường lấy chính ngày đó làm ngày lễ hội để biểu hiện lòng biết ơn của mình với một đấng siêu nhân hay người
có công với đất nước Cuộc sống con người ngày càng phát triển, đời sống ngày một nâng cao thì lễ hội cũng phát triển và đổi mới Vì qua lễ thức đã thể hiện rõ đạo lí
“uống nước nhớ nguồn” của nhân dân các dân tộc nước ta Từ đạo lí đó đã được khái
Trang 24quát và siêu linh hoá các vị có công với dân với nước Vì vậy, vị trí của các vị đã chiếm phần quan trọng trong tâm linh nhân dân ta, tuy nhiên nghi thức lễ hội của cả hai loại lễ hội trên đây diễn ra có thể khác nhau ở từng nơi, từng dân tộc Nhưng dù ở góc độ nào nội dung chính của nh ng lễ hội đó vẫn mang ý nghĩa cầu mùa người an vật thịnh, uống nước nhớ nguồn, cầu mong nh ng điều may mắn trong một năm Đó chính là khát vọng, là đạo lí, là ước mong muôn đời của nhân dân các dân tộc nước ta Theo thời gian hình thành và phát triển người ta chia thành hai loại: Lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại
Đặc điểm lễ hội truyền thống ở Việt Nam
- Về thời gian
Lễ hội ở Việt Nam được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùa thu Hai khoảng thời gian trên là lúc người dân nhàn rỗi Mùa xuân tiết trời ấm áp, mùa thu tiết trời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội Hai yếu tố 16 cơ bản tạo nên sự thoải mái, vui vẻ cho người đi dự hội
- Về không gian linh thiêng
Việc chọn nh ng không gian linh thiêng thuộc về tự nhiên là nơi mở lễ hội hàng năm như các khu rừng cấm, đầu nguồn nước, đình làng,… chính là một trong nh ng cách ứng xử của con người Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên chính là một trong nh ng cách ứng sử khôn ngoan của con ngưòi Xét đến cùng đó là thái độ trân trọng thế giới
tự nhiên của con người Trong lễ hội có nh ng không gian linh thiêng tự nhiên mà còn
có cả không gian linh thiêng xã hội Đây là các quần thể kiến trúc gắn liền với các địa điểm thiên nhiên linh thiêng, quần thể kiến trúc đó có thể to nhỏ và có các kiểu loại khác nhau Tuỳ tưng nơi, từng dân tộc và từng đối tượng khác nhau
Nhưng nhất nhất chúng đều gắn với một khoảng không gian nhất định, hơn n a các quần thể kiến trúc đó thường gắn với trình độ phát triển của từng thời kỳ lịch sử Nhưng dù là không gian tự nhiên hay nhân tạo đều bắt nguồn từ niềm tin linh thiêng của con người nên nhưng không gian đó đều mang tính chất linh thiêng Nh ng nơi đó
là nơi của thần thánh, của Phật nên nh ng gì quý báu nhất, đẹp nhất hay nhất đều tập trung về đây, khiến không gian đó càng linh thiêng quan trọng hơn Con người đã tạo
ra một không gian đạt tới để con người cầu khấn, đặt niềm tin, hy vọng Từ tiền án đến hậu chảm, thương gia hạ trì…Nh ng không gian linh thiêng mang tính chất xã hội hay
có thể gọi khác đó là nh ng không gian linh thiêng nhân tạo của các dân tộc Việt Nam như: Đền, Miếu, Đình, Chùa…
- Về quy trình lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội đều tiến hành theo ba bước sau:
* Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn chuẩn bị
Trang 25cho mùa lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hành ngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt
cử mọi việc để đón mùa lễ hội năm sau Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục) cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ 17 cho thần
* Vào hội : nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế
lễ, lễ rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ nh ng hoạt động chính có
ý nghĩa nhất của một lễ hội Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay ít khách đến với lễ hội, diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trong
Lễ hội ở Việt Nam bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng liêng cần suy tôn là nhân thần hay nhiên thần Đó chính là hình ảnh hội tụ nh ng phẩm chất cao đẹp nhất của con người, giúp con người nhớ về nguồn cội, hướng thiện và nhằm tạo dựng một cuộc sống tốt lành, yên vui
Phân cấp lễ hội
Khác với các di tích Việt Nam đã được kiểm kê và phân cấp theo quy định, các
lễ hội ở Việt Nam chưa được quy định phân cấp bài bản Có nh ng lễ hội bị biến tướng, trần tục hoá, mở hội tràn lan nhiều ý kiến đề xuất việc kiểm kê các lễ hội trên toàn quốc để tiến tới phân cấp lễ hội theo các cấp: lễ hội cấp quốc gia, lễ hội cấp tỉnh,
lễ hội cấp huyện và lễ hội cấp làng Theo bà Lê Thị Minh Lý - Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá, điểm yếu trong việc quản lý lễ hội hiện nay đó là chưa có cơ sở d liệu khoa học và quan điểm tiếp cận đúng Không nên đánh đồng gi a lễ hội và festival
Tùy vào từng thời điểm, vào chủ thể mà lễ hội hiện nay được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau Ví dụ như lễ hội đền Hùng được tổ chức ở quy mô quốc gia 5 năm/ lần
Nh ng năm số lẻ thì lại được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh Các lễ hội thường được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh như hội Lim, lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền Trần (Nam Định) Các lễ hội ở quy mô cấp huyện tiêu biểu như lễ hội đền Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) để tưởng niệm người chiêu dân thành lập huyện Các lễ hội diễn ra ở đình Làng là lễ hội cấp nhỏ nhất, chỉ với quy mô làng, xã
Trang 26Lễ hội là di sản văn hóa quốc gia
Việt Nam có khoảng 27 lễ hội được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia gồm:
+ 12 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 5079/QĐ-BVHTTDL ngày 27/12/2012 là:
Hội Gióng đền Phù Đổng và đền Sóc (Hà Nội), hội Lim (Bắc Ninh), Lễ hội Thổ
Hà (Bắc Giang), Lễ hội Nhảy lửa của người Pà Thẻn (Hà Giang), Lễ hội Kiếp Bạc (Hải Dương), Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn (Hải Phòng), Lễ hội Cầu Ngư ở Khánh Hòa (Khánh Hòa), Lễ hội Gầu Tào (Lào Cai, Hà Giang), Lễ hội Kỳ Yên ở đình Gia Lộc (Tây Ninh), Lễ hội Tháp Bà (Ponagar) Nha Trang (Khánh Hòa), Lễ hội Lồng Tông của người Tày (Tuyên Quang)
+ 4 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 3084/QĐ-BVHTTDL ngày 9/9/2013:
Lễ hội Phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định; Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang và Lễ hội Nghinh Ông, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, hội làng Đồng Kị (Bắc Ninh)
+ 2 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 3820/QĐ-BVHTTDL ngày 31/10/2013:
Lễ hội Roóng poọc của người Giáy (Tả Van, Sa Pa, Lào Cai) và Lễ Pút tồng của người Dao đỏ (Sa Pa, Lào Cai)
+ 10 lễ hội được công nhận theo Quyết định số 4205/QĐ-BVHTTDL ngày 22/12/2014:
Lễ hội Đền Trần Nam Định, Lễ hội Hoa Lư Ninh Bình, Lễ hội miếu Bà Chúa
Xứ núi Sam An Giang, Lễ hội Lồng tồng Ba Bể Bắc Kạn, Lễ hội làng Lệ Mật Hà Nội,
Lễ hội Khô già của người Hà Nhì đen, Đại lễ Kỳ Yên đình Tân Phước Tây - Long An,
Lễ hội vía Bà Ngũ hành Long An, Lễ làm chay (Long An), Lễ hội Rước cộ Bà chợ Được (Quảng Nam)
Căn cứ vào nội dung của lễ hội mà các nhà nghiên cứu chia lễ hội thành:
Lễ hội dân gian: Là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh nh ng người có công
với đất nước, làng xã, cộng đồng; thờ cúng các vị thần, thánh và các biểu tượng có tính truyền thống tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho các giá trị truyền thống đạo đức, văn hóa, lịch sử xã hội… Cấp độ và phạm vi lễ hội dân gian có thể ở một tỉnh, một vùng, miền hoặc mang tính quốc gia Chẳng hạn như Lễ hội Đền Hùng trở thành ngày hội của cả nước
Lễ hội lịch s cách mạng: Loại hình lễ hội này có vị trí quan trọng trong đời
sống văn hóa tinh thần của dân tộc ta, gắn với lịch sử đấu tranh dựng nước và gi
Trang 27nước Lễ hội lịch sử cách mạng nhằm ghi lại nh ng dấu ấn lịch sử, nh ng sự kiện quan trọng của đất nước để tôn vinh nh ng danh nhân, nh ng vị anh hùng dân tộc, nh ng sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc Hình thức tổ chức lễ hội này thường mang tính tri
ân, thành kính, giáo dục lòng yêu nước, ý thức tự cường dân tộc và đề cao giá trị truyền thống cách mạng của dân tộc
Lễ hội tôn giáo: Là hình thức lễ hội được tổ chức có nghi thức, lễ tiết chặt chẽ
theo quy định của các tôn giáo, nhằm đáp ứng nhu cầu tôn giáo của cộng đồng xã hội, nhu cầu tâm linh, nhu cầu thưởng ngoạn, thăm quan du lịch và văn hóa của con người, đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng của nhân dân
Lễ hội du nhập từ bên ngoài vào nước ta: Loại lễ hội do tổ chức của Việt
Nam hay tổ chức người nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam tổ chức nhằm giới thiệu nh ng giá trị đặc trưng văn hóa của nước ngoài tới công chúng người Việt Sự du nhập của các lễ hội này phải bảo đảm yêu cầu không trái với thuần phong
mỹ tục Việt Nam.Chẳng hạn như “Ngày tình yêu”(Valentins”s Day), Lễ hội Haloween (lễ hội hóa trang)…
Lễ hội Văn hóa, thể thao và du lịch: Là lễ hội được tổ chức để quảng bá về
văn hóa, thể thao, du lịch như festival, liên hoan văn hóa, thể thao, du lịch; Tuần văn hóa thể thao và du lịch; Tháng văn hóa, thể thao và du lịch…Mục đích của các lễ hội này là nhằm quảng bá, phát triển du lịch thành ngành nghề kinh tế mũi nhọn, tiếp thị sản phẩm du lịch, xúc tiến du lịch, mời gọi đầu tư, mở rộng giao lưu văn hóa…
Lễ hội ngành nghề: Là lễ hội được tổ chức theo từng ngành nghề nhất định
nhằm giới thiệu, tôn vinh thương hiệu, sản phẩm đặc trưng của ngành nghề hoặc vùng miền nào đó trong đất nước
Trong một năm, sáu loại hình lễ hội như trên đã tạo nên diện mạo lễ hội nước ta hết sức đa dạng, nhiều bản sắc, thường tập trung vào nh ng tháng đầu năm hoặc cuối năm
Trang 281.3 Lễ hội truyền thống tỉnh Bình Định
1.3.1 Một số lễ hội truyền thống tiêu biểu của tỉnh Bình Định
1.3.1.1 Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn
Là lễ hội lớn nhất nhì cả nước, hằng năm vào chiều ngày mùng 4 và ngày mùng
5 tết âm lịch người dân Bình Định và du khách cả nước lại náo nức du xuân lễ hội tết Đống Đa tại Bảo tàng Quang Trung, thị trấn Phú Phong – Tây Sơn để tưởng nhớ tới công tích lẫy lừng các thủ lĩnh của phong trào Tây Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ và kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, đánh thắng 29 vạn quân Thanh xâm lược
Hội tết Đống Đa – Tây Sơn Bình Định là một trong nh ng lễ hội lớn nhất cả nước nh ng ngày đầu xuân Lễ hội được tổ chức trọng thể, hoành tráng từ ngày mùng
4 đến ngày mùng 5 tháng giêng âm lịch Ngoài nghi lễ truyền thống, lễ hội còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa dân gian như biểu diễn võ thuật Tây Sơn, trống trận Tây Sơn, đua thuyền, trò chơi dân gian, hát tuồng…diễn lại trận đánh lịch sử với nh ng y phục, voi trận như ngày xưa vua Quang Trung ra trận…thu hút đông đảo khách nước ngoài, nhân dân cả nước và đặc biệt là người dân đất võ tham dự
Chương trình tế lễ Đống Đa diễn ra từ chiều mồng 4 tết với nhiều nghi lễ cổ truyển đặc sắc được tổ chức tại điện Tây Sơn Lễ tế được tổ chức tôn nghiêm, cả khu vực rộng lớn, cờ lộng, nghi trượng rợp trời, chiêng trống rền vang…Người dự lễ như cảm thấy lòng mình hòa nhập vào hồn thiên sông núi địa linh nhân kiệt
Chương trình hội ngày mồng 5 tuy có thay đổi hàng năm nhưng các mục chính thì năm nào cũng có, đó là diễn văn ôn lại lịch sử Tây Sơn được các võ sư, võ sĩ, nghệ nhân tên tuổi hàng đầu Bình Định biểu diễn các bài quyền truyền thống nổi tiếng của nhà Tây Sơn như: Lão mai độc thọ, Hùng kê quyền, các bài võ sử dụng binh khí: Lôi long đao, Song phượng kiềm, Tuyết hoa song kiềm hay các bài roi như Roi Thái Sơn, Roi Hắc đảnh ô sơn…được người xem tán thưởng nhiệt liệt
Tiết mục nhạc võ Tây Sơn là môn nghệ thuật độc đáo của tỉnh Bình Định, người biểu diễn phải có tâm hồn nghệ sĩ, vừa là bậc võ sĩ siêu đẳng và luyện đôi tay thần diệu để tác dụng lên lòng trồng, vành trống và thân trống và cả 2 bàn tay, cổ tay, cánh tay…
Màn biểu diễn Nhạc võ Tây Sơn làm cho người xem dễ dàng cảm nhận nh ng tiếng gươm khua, tiếng binh khí, tiếng hò reo của binh sĩ, tiếng súng nổ, tiếng voi gầm, ngựa hí hòa lẫn vào tiếng súng, người xem có cảm giác như đang đứng gi a trận tuyến, không gian như vang vọng hồn thiên sông núi, và được trở về với lịch sử
Ngày nay, đi dự lễ hội tết Đống Đa đối với người dân đất võ đã trở thành niềm tự hào và cũng là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu được trong nh ng ngày đầu xuân
Trang 29Cách đây tròn 228 năm, vào ngày Mùng 5 Tết Kỷ Dậu, năm 1789, nhà Tây Sơn Tam Kiệt và các văn thần, võ tướng với khí thế thần tốc, hùng dũng đã đánh đuổi 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ra khỏi đất nước ta, thu non sông về một mối Để tưởng nhớ và tri ân công đức của Tây Sơn Tam Kiệt cùng các Văn thần, Võ tướng Ngày 28/12/2016 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch tổ chức Lễ
kỷ niệm 228 năm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (1789 – 2017)
Ngược theo dòng lịch sử năm 1788, trong bối cảnh bị đe dọa bởi các cuộc khởi nghĩa của nhân dân diễn ra khắp nơi và để củng cố ngôi vị và quyền lực của mình, vua
Lê Chiêu Thống đã cho người sang cầu cứu nhà Thanh Vua nhà Thanh lúc đó là Càn Long vốn có mưu đồ sang xâm chiếm nước ta từ lâu Được sự cầu cứu của vua nước Nam, vua Càn Long đã lập tức cử Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh 29 vạn quân chia làm 4 mũi ồ ạt tiến vào thành Thăng Long xâm lược nước ta Quân Thanh tiến vào kinh thành Thăng Long không gặp phải sự kháng cự lớn nào từ quân dân nước Việt, Tôn Sĩ Nghị đã ngạo mạn tuyên bố: Đến ngày mùng 6 Tết sẽ kéo quân vào thẳng sào huyệt Tây Sơn
Nhận được tin cấp báo, ngày 22/12/1788 tức ngày 25/11 âm lịch, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã xưng vua, lấy tên hiệu là Quang Trung thống lĩnh đại quân tiến ra Bắc chống trả quân Thanh xâm lược Đêm mùng 4, rạng mùng 5 tết Kỷ Dậu (tức ngày 29, 30 tháng 2 năm 1789) đại quân Tây Sơn đã bất ngờ tiến về Hà Nội đánh tan đồn trại giặc Khương Thượng khiến tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi Ốc (Loa Sơn) gần chùa Bộc bây giờ Trận đánh đã mở đường cho đại quân Tây Sơn từ Ngọc Hồi thừa thắng tiến vào Thăng Long
Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn đã trở thành nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Bình Định, là dịp để nhân dân trong tỉnh và khách phương xa ôn lại truyền thống quật khởi của phong trào nông dân Tây Sơn và tinh thần bách chiến bách thắng của Hoàng
đế Quang Trung, góp phần động viên giáo dục các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế
hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời dấy lên phong trào thi đua thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà
Lễ hội được tổ chức vào ngày 31/01 (nhằm mùng 4, mùng 5 Tết hàng năm) tại Bảo tàng Quang Trung, Đài Kính Thiên và Đền thờ song thân Tây Sơn Tam kiệt tại Di tích Gò Lăng (huyện Tây Sơn) Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn là lễ hội được đánh giá lớn nhất Việt Nam trong nh ng ngày đầu năm mới, mang ý nghĩa lịch sử rất quan trọng
Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn cho đến nay vẫn bảo toàn được các nghi thức truyền thống Chính các nghi lễ này đã góp phần chuyển tải giá trị lịch sử đến với tất cả nh ng người tham gia lễ hội
Trong khuôn khổ Lễ hội sẽ diễn ra 2 phần: Phần lễ và Phần hội
Trang 30- Tổ chức Hội đánh Bài chòi cổ dân gian
Diễn ra trong 03 ngày ( từ 30, 31/01 và ngày 01/02/2017 (từ mùng 3 đến chiều mùng 5 tết) trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung
- Chương trình biểu diễn của Đoàn Ca kịch Bài Chòi Bình Định
Từ 19h00 ngày 31/01/2017 (nhằm mùng 4 tết) tại sân khấu trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung
- Chương trình biểu diễn nghệ thuật của Nhà hát Tuồng Đào Tấn
Từ 19h00 ngày 01/02/2017 (nhằm mùng 5 tết) tại sân khấu trong khuôn viên Bảo tàng Quang Trung
- Hoạt động của các Đoàn trò chơi dân gian
Từ ngày 30/01 đến ngày 01/02/2017 (từ mùng 3 đến mùng 5 tết) tại khu C (góc Đông – Nam) và bên trong Bảo tàng Quang Trung
- Các hoạt động văn hóa, thể thao khác
Từ sáng ngày 01/02 (mùng 5 tết) tại khu vực Nhà Rông trong Bảo tàng Quang Trung; tổ chức các môn thi thể thao truyền thống (kéo co, đẩy gậy, múa Lân-Sư-Rồng…)
- Các hoạt động tại Khu tưởng niệm cụ Nguyễn Sinh Sắc tại di tích Huyện đường Bình Khê
- Một số hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra trên địa bàn huyện Tây Sơn
Ngày nay, đi dự hội Đống Đa – Tây Sơn đối với người Bình Định cũng như khách du xuân đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong nh ng ngày đầu xuân Lễ hội Đống Đa – Tây Sơn chính là một nét văn hóa tinh thần đặc biệt nuôi dưỡng tình yêu với quê hương đất nước trong tâm hồn nh ng người dân nước Việt
Trang 311.3.1.2 Lễ hội Đổ Giàn An Thái, thị xã An Nhơn
Ngày rằm tháng 7 (âm lịch), nhân dân ở nhiều vùng nô nức rủ nhau về An Thái (An Nhơn, Bình Định) xem hội đổ giàn Một chú heo quay để ở gi a đài cao, nhóm võ
sĩ làng nào giật được coi như làng đó thắng cuộc Đổ giàn là một lễ hội văn hóa đặc sắc của miền đất võ Bình Định Sau gần 60 năm “tuyệt tích gian hồ”, từ năm 2005, cùng với chủ trương bảo tồn văn hóa dân tộc, Bình Định cho khôi phục lại hội đổ giàn
An Thái thuộc xã Nhơn Phúc, An Nhơn là mảnh đất ven sông Côn, từng nổi tiếng là một trong nh ng cái nôi võ Bình Định Từ bờ bên này, là đã qua bên An Vinh (thuộc huyện Tây Sơn) – một địa danh cũng từng lừng lẫy về võ thuật Ngày đó,
nh ng người Hoa “phản Thanh phục Minh”, trôi dạt đến vùng đất ven sông này sinh sống đan xen với cộng đồng người Việt đã làm cho đời sống văn hóa trong đó có võ thuật ở đây thêm phong phú
Hội đổ giàn được khởi xướng từ một số dòng họ người Hoa, Chùa Ngũ Bang Hội Quán là nơi diễn ra lễ hội đổ giàn, từ ngày rằm đến 16 và 17 tháng 7 âm lịch, cứ 4 năm tổ chức một lần Giàn là một cái đàn cúng cao khoảng mười mét, bằng tre, gỗ Trên đó đặt đàn cúng thần gồm, hương, hoa, trà, quả và một chú heo quay, khi nghi lễ chuẩn bị kết thúc, nh ng toán võ sĩ và nh ng người khỏe mạnh đại diện cho các làng tiến vào , sẵn sàng trong tư thế lao lên, vác heo quay rồi…phóng chạy “xô giàn” – khi
vị chủ tế hô lên,cuộc tranh tài bắt đầu, các võ sĩ tài nghệ cao, phi thân lên giàn tìm cách cướp lấy chú heo quay Sau đó phải luồn lấy, lao ra khỏi đám đông, mang chú heo quay chạy về địa điểm an toàn đã định Để giật được chú heo, các toán tranh tài cũng đã có sự phân công người trước, người sau, người bảo vệ, người “ cản địa” để ngăn nh ng đối thủ lợi hại khác có thể giật lại ngay trên tay
Theo tục lệ, chú heo quay chiến lợi phẩm sẽ được đem xẻ ra để khao chung cho tất cả nh ng võ sĩ cùng có mặt trong cuộc tranh tài Nh ng võ sĩ, hay làng võ có người giành được phần thắng được mọi người hoan nghênh và nở trọng và họ tin rằng năm
ấy họ sẽ gặp hên vì được “lộc của thần” Thường thì nh ng lò võ ở An Thái và An Vinh hay giảm được chiến thắng Vì vậy mới có câu:
Tiếng đồn An Thái, Bình Khê Nhiều tay, võ sĩ có nghề tranh heo
Hội đổ giàn không chỉ là một cuộc tranh tài lý thú và hấp dẫn, mà còn là nét văn hóa đặc sắc của một vùng quê giàu tinh thần thượng võ.Trong nh ng ngày diễn ra hội
đổ giàn còn có nhiều hoạt động phong phú khác Theo các cụ cao niên ở An Thái, hội
đổ giàn lần nào cũng kèm theo hát bội, phóng sanh, múa lân Nh ng ngày đó, nhà nào
ở An Thái cũng treo đèn kết hoa, trống giọng cờ mở rộn rã suốt ngày đêm Ở Bình Định vẫn còn lưu truyền câu ca mô tả về hội đổ giàn:
Trang 32Đồn rằng An Thái, chùa Bà Làm chay, hát bội đông đà quá đông Đàn bà cho chí đàn ông
Xem xong ba Ngọ, lại trong đổ giàn Giờ đây, lễ hội này đã được khôi phục theo định kì, cứ 5 năm tổ chức một lần
Đó là một tin vui đối với nh ng ai yêu mến miền đất võ Bình Định, để đến rằm tháng
7 lại “ trông đổ giàn”
1.3.1.3 Lễ hội Xuân chợ Gò
Hội Xuân chợ Gò nhóm họp mỗi năm một lần vào sang mồng một tết tại chợ
Gò thuộc thôn Phong Thạnh, thị trấn Tuy Phước, Bình Định Trong tâm thức của người dân Tuy Phước nói riêng và người Bình Định nói chung, hội xuân Chợ Gò là nơi vui chơi, cầu lộc trong ngày đâu năm mới
Trời rạng sáng, chợ bắt đầu nhóm họp Người dân từ các vùng phụ cận mang đến nh ng sản vật từ địa phương của mình Nhưng nhiều nhất vẫn là trầu cau, việc mua – bán không nặng tính kinh doanh Bên cạnh việc mua bán cầu lộc, người đến chợ còn được thưởng thức các món đặc sản ẩm thực địa phương như chả cá, nem chua, bánh ít lá gai…Và tham gia các trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa truyền thống của đất và người Bình Định như: hô bài chòi, lô tô, đánh cờ người, múa lân…
Sản vật trầu cau lấy lộc đầu năm tại chợ Gò: Theo các bậc cao niên thì Hội xuân chợ Gò xuất phát từ thời Tây Sơn Quân Tây Sơn khi ấy đóng quân án ng khu này, ngày Tết sợ quân lính buồn, nhớ nhà nên vua cho mở hội chợ Gò để nhân dân và quân
sĩ vui chơi
Trải qua gần 300 năm tồn tại, đến nay Lễ hội Chợ Gò cơ bản vẫn gi được nét truyền thống vốn có và có chiều hướng phát triển phong phú hơn, bên cạnh các hàng quán ăn uống phục vụ cho người trải hội, nhân dân địa phương vẫn duy trì việc đem bán các loại hàng hóa, tạp phẩm,và thực phẩm tươi sống hải sản các loại để phục vụ cúng kính, ăn uống trong ba ngày tết Du khách về dự hội chợ Gò có dịp mua nhiều món quà mang ý nghĩa trao nhau chút lộc đầu xuân, mong trong năm được may mắn Cùng chúc phúc cho mọi người, mọi nhà năm mới an khang, thịnh vượng
Người ta quen gọi là Chợ Gò, nhưng thực tế là không thấy sự tấp nập của một ngôi chợ bình thường mà thay vào đó là nh ng trò chơi dân gian, hàng hóa được buôn bán với mục đích chúc phúc, cầu nhiều tài lộc Không một túp lều, chợ chỉ là một bãi đất bằng phẳng, cao ráo, rộng chừng hai mẫu tây, thời Minh Mạng thuộc thôn Phong Ðăng tổng Tuy Hà, huyện Tuy Phước phủ An Nhơn tỉnh Bình Ðịnh, nay là thôn Phong Thạnh thuộc thị trấn Tuy Phước Nơi đây, địa thế hiểm yếu, phong cảnh lại h u tình; phía đông và nam có núi Trường Úc ôm choàng, phía tây giáp quốc lộ 1 cũ, phía bắc
Trang 33có nhánh sông Tọc, thuộc nguồn Hà Thanh, chảy qua với bờ cao dốc, có hàng cây san sát lòa xòa soi bóng
Tương tuyền thời Tây Sơn, nơi đây dùng làm chỗ tập trận của quân đội Bộ binh đóng đồn trên núi Trường Úc, thủy quân từ đầm Thị Nại vào cửa Làng Sông rồi ngược dòng sông Tọc đổ bộ lên Trường Úc, hai bên thủy bộ giáp chiến Ðể khuây khỏa nỗi nhớ nhà trong dịp tết, các tướng Tây Sơn tổ chức cuộc vui ngay trên bãi thao trường vào sáng mồng 1 và mồng 2 tết, nhưng khi trời vừa xế bóng thân nhân phải ra về để binh sĩ chuẩn bị canh phòng nghiêm nhặt về đêm Vì vậy, hàng năm các gia đình binh
sĩ theo lệ đến nơi đây thăm chồng con Dân địa phương mang hoa quả, thức ăn, nước uống ra bán, lâu năm thành lệ Khi quân Tây Sơn tan rã, nơi đây trở thành Hội Tết Chợ
Gò, mỗi năm chỉ hội hai ngày mồng 1 và mồng 2 tháng giêng và cũng quen lệ tan chợ vào lúc xế trưa Chợ Gò có tính cách hội vui xuân dân gian hơn là phiên chợ Từ người bán đến khách hàng đều mặc quần áo mới, nói cười vui vẻ, mặt tươi như hoa, các bà các cô phấn son trang sức lộng lẫy như dự lễ cưới
Người đi hội chợ mua bán lấy may không mặc cả, không cò kè bớt một thêm hai như chợ hàng hoá ta thường thấy Trong khi hầu hết các chợ Tết quê nơi khác nay
đã vắng bóng hình ảnh ông đồ già viết, bán câu đối trên giấy đỏ thắm thì ở chợ Gò tục viết, bán câu đối Tết vẫn còn nguyên vẹn Năm 1990, báo Bình Ðịnh phát động cuộc thi câu đối về chủ đề Bác Hồ, chỉ trong 30 ngày đã có 136 vế đối của 72 tác giả thuộc
đủ mọi thành phần trong xã hội tham gia Cả nh ng cụ cao niên 79 tuổi đến nh ng em thiếu nhi 11 tuổi cũng có nh ng vế đối rất hay Nh ng chiếc chiếu hoa được trải ra lối cổng chợ cùng các cụ già râu tóc bạc phơ quần thâm, khăn xếp, thảo nh ng nét ch kỳ tài diệu bút trên giấy đỏ Người xem, người mua đều trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp của nét
ch , ý hay thâm thuý của câu đối Ở đây, nghệ thuật chơi ch và viết ch đủ cả bốn lối: Triện (vuông), lệ (nghiêng), chân (rõ ràng), thảo (viết thoắng) là sở trường của
nh ng nhà nho, ông đồ văn hay ch tốt Nhưng lối viết câu đối thảo vẫn được nhiều người ưa thích nhất Mỗi một vế đối như một bức tranh nghệ thuật độc đáo
Nếu ở Bắc Bộ, hội cờ xuân thường diễn ra ở sân đình thì ở đây hội cờ lại diễn ra ngay tại chợ Các tay cờ hoàn toàn mang tính giải trí thuần tuý Song như thế không có nghĩa là nước cờ thấp Họ lên xe, xuống pháo như thần kém gì các tay cờ gạo cội trong làng cờ người Việt Nếu bạn có dịp chơi hội chợ Gò mời bạn hãy thử chơi một ván, người dân ở đây rất nồng nhiệt đón tiếp Hội Chợ Gò diễn ra tuy ngắn ngủi nhưng ý nghĩa rất lớn, vì nó tạo ra không khí vui tươi thoải mái sau một năm miệt mài lao động vất vả và đi vào ký ức người dân nơi đây như một mảng tâm hồn tươi sáng và tìm về với bản sắc dân tộc, tìm về với cội nguồn
Trang 341.3.1.4 Lễ hội làng Rèn Tây Phương Danh
Trong suốt 3 ngày, từ ngày 2 đến 4-3 (nhằm các ngày 12-13 và 14 tháng hai âm lịch), không chỉ nh ng người dân địa phương mà cả nh ng người con xuất thân từ làng rèn Tây Phương Danh (thị trấn Đập đá, An Nhơn) dù có làm ăn xa đến đâu cũng trở về quê để tham dự lễ hội làng rèn được tổ chức long trọng và trang nghiêm Đây là một lễ hội mang tính truyền thống, thể hiện đạo đức "uống nước nhớ nguồn" của nh ng
người thợ làng rèn đối với cụ tổ sáng lập và nh ng bậc tiền hiền trong nghề
Làng Tây Phương Danh hiện có 436 hộ dân thì đã có đến 300 hộ đang làm nghề rèn Đây là một nghề truyền thống có từ lâu đời, từng làm nên một diện mạo khởi sắc khá sớm cho một vùng nông thôn Đến đời hậu duệ thứ tư của ông Huỳnh Lân thì tại đây phát triển lên được khoảng 10 lò rèn và sản phẩm vẫn chủ yếu là các loại nông cụ thô sơ Khi phong trào Tây Sơn nổi lên, làng rèn Tây Phương Danh trở thành lò luyện binh khí và cùng với nghĩa quân Tây Sơn "hành phương Bắc" làm nên chiến thắng lịch
sử Ngọc Hồi - Đống Đa Đến thời kỳ tiền khởi nghĩa (trước 1945), do nhu cầu về binh khí để trang bị cho nhân dân kháng Pháp nên số lượng lò rèn ở Tây Phương Danh phát triển rất nhanh lên đến 30 lò Lúc ấy, sản phẩm của làng rèn không còn chỉ đơn thuần
là nh ng loại nông cụ mà đã phát triển thêm nhiều chủng loại như: búa, rìu, rựa, dao găm, mã tấu…
Bên cạnh đó, người sản xuất vẫn tranh thủ thời gian sản xuất thêm nông cụ và binh khí cung cấp cho các vùng Tây Nguyên, nhất là nông cụ để đổi thực phẩm giải quyết cuộc sống hằng ngày Với tốc độ đó, 9 năm sau, làng rèn Tây Phương Danh phát triển đến 50 lò Đến trước ngày giải phóng (1975) đã là 100 lò và đến bây giờ là hơn
300 lò, mỗi lò có từ 2-3 lao động tham gia làm nghề với mức thu nhập bình quân 500 ngàn đồng/người/tháng
Làng rèn không chỉ phát triển về số lượng mà chất lượng sản phẩm cũng ngày được nâng cao và đa dạng hóa các chủng loại để đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay
Có lò còn nhận cả hợp đồng sản xuất đinh ốc dùng để đóng tàu biển Sản phẩm của làng rèn Tây Phương Danh hiện có mặt khắp nơi, nhất là các vùng đất Tây nguyên Cũng từ nghề này, người dân làng rèn đã có cuộc sống ổn định, không ít hộ đã trở nên giàu có
Để nhớ ơn người khai sinh ra nghề rèn trên đất này, hằng năm, người dân Tây Phương Danh đã đồng tâm hợp lực tổ chức một lễ hội gọi là Lễ hội làng rèn, kéo dài suốt 3 ngày kể từ ngày 12-2 âm lịch! Lễ hội này không nh ng quy tụ nh ng hộ đang hành nghề tại địa phương mà còn lôi cuốn cả nh ng người đang hành nghề rèn trên toàn tỉnh Ngoài ra lễ hội còn thu hút sự tham gia của nh ng nghề có liên quan đến nghề rèn như nghề sắt Có nhiều hộ đã mang nghề truyền thống của làng mình đi lập
Trang 35nghiệp phương xa cũng không bỏ lỡ dịp này, sắp xếp về quê để kịp trẩy hội cùng bà con
Đúng 4 giờ sáng ngày 12-2 âm lịch, các vị bô lão trong làng nghề trang trọng trong nh ng bộ lễ phục truyền thống với sự có mặt của hàng ngàn người dân trong nghề, tất cả đều trang nghiêm đứng trước bàn thờ Tổ và các bậc tiền hiền khai sinh ra nghề, đồng thanh khấn nguyện cho quốc thái dân an, bày tỏ lòng biết ơn của nh ng thế
hệ được thừa hưởng nghề đối với tiền nhân và cầu xin cho sự phồn vinh luôn ưu ái với nghề rèn Sau đó, cả một vùng nông thôn tưng bừng hẳn lên trong suốt 3 ngày đêm với nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật sôi nổi như: Hát bộ truyền thống, các trò chơi dân gian (kéo co, đập ấm ) và các chương trình văn nghệ quần chúng của lực lượng thanh niên
Về Phương Danh trong nh ng ngày này, khách thăm sẽ được nhìn thấy một vùng quê rạng rỡ với nh ng con đường làng được dọn dẹp phong quang, tất cả mọi căn nhà đều tinh tươm, nam thanh n tú với nh ng bộ trang phục đẹp rộn ràng khắp các nẻo đường đi trẩy hội Và đặc biệt, nhà nào cũng hương khói ấm áp tưởng nhớ cụ
tổ của nghề rèn Nhận thấy đây là một lễ hội đáng trân trọng và gìn gi nên vào năm
2003, ngành Văn hóa tỉnh đã đầu tư kinh phí cho làng rèn cũng như hướng dẫn cách tổ chức lễ hội nên năm nay nh ng hoạt động của lễ hội đã diễn ra quy mô hơn
Để nhớ ơn người khai sinh ra nghề rèn trên đất này, hằng năm, người dân Tây Phương Danh đã đồng tâm hợp lực tổ chức một lễ hội gọi là Lễ hội làng rèn, kéo dài suốt 3 ngày kể từ ngày 12/2 âm lịch! Lễ hội này không nh ng quy tụ nh ng hộ đang hành nghề tại địa phương mà còn lôi cuốn cả nh ng người đang hành nghề rèn trên toàn tỉnh, ngoài ra lễ hội còn thu hút sự tham gia của nh ng nghề có liên quan đến nghề rèn như nghề sắt Có nhiều hộ đã mang nghề truyền thống của làng mình đi lập nghiệp phương xa cũng không bỏ lễ dịp này, sắp xếp về quê để kịp trẩy hội cùng bà con
1.3.1.5 Lễ hội Đô thị Nước Mặn
Là một trong nh ng lễ hội truyền thống có quy mô lớn và ra đời rất sớm ở Bình Định, từ cách đây gần 4 thế kỷ, lễ hội được tổ chức tại chùa Bà, thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước Lễ hội được tổ chức hàng năm từ mồng 1 – 3 tháng
2 âm lịch Lễ hội Đô thị Nước mặn đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh
Khoảng 4000 năm trước, khu vực thôn An Hòa là cảng thị Nước Mặn nổi tiếng sầm uất Người Hoa từ Quảng Đông , Phúc Kiến di cư sang mở phố buôn bán Lễ hội nước Mặn ra đời và được tổ chức ở chủa Bà vừa đánh dấu một cảng thị ở vùng đất trong thời kỳ phồn vinh, vừa thể hiện tinh thần dung hợp văn hóa Việt – Hoa khi biên
Trang 36giới Đại Việt mới tới núi đá bia ( đèo cả - Phú Yên),và cứ thế duy trì, phát triển, thăng trầm theo nhịp sống của cảng thị này
Cho đến ngày nay, tuy cảng thị đã suy tàn, biến dạng thành một vùng quê yên tĩnh nhưng chùa Bà vẫn còn, lễ hội Nước Mặn vẫn còn như một hoài niệm như một đô thị thương cảng đã từng là trung tâm thương mại, văn hóa một thời của Bình Định, là biểu tượng của tình giao h u cùng người Việt lập chùa Ông và chùa Bà để thờ cúng
Điểm đặc biệt của Lễ hội là người dân ở đây thắp đèn lồng vào các ngày lễ, các nhà đều chuẩn bị đồ ăn thức uống trong nhà để sẵn sàng chào đón khách thập phương đến với lễ hội và xem đây như Tết thứ hai trong năm
Chùa Bà nơi thờ Thiên Hậu thánh mẫu, là người có công cứu vớt thuyền bè mắc cạn nơi vùng cảng thị thuở xưa
Lễ hội phục dựng nhiều hoạt động văn hóa đặc trưng vùng thương cảng nước mặn như: rước linh thần ở miếu Thành Hoàng; miếu Thánh Quán – Thiên Hậu thánh mẫu; miếu Bà mụ (tức bà chúa Thai sinh) Đây là nh ng vị thần có công khai sáng che chở cho đời sống tinh thần, vật chất của người dân cảng thị, ban phước lành cho làm
ăn phát đạt, bảo hộ việc sinh sản mẹ tròn con vuông, con cháu đông đúc, cảng thị ngày một phát triển; rước biểu tượng Ngư, Tiều, Canh, Mục với nh ng hình tượng: kẻ đốn cây phá rừng ngập mặn, người vỡ ruộng đắp bờ, kẻ bủa lưới đánh cá, người chăn nuôi gia súc để tưởng nhớ, suy tôn công lao khai sáng của cha ông đã biến vùng đầm lầy ven biển thành một đô thị thương cảng sầm uất
Ngoài ra Lễ hội có nhiều trò chơi dân gian, thi đấu thể thao, hát tuồng, đánh bài chòi cổ, biểu diễn võ thuật, múa lân, múa cờ đã thu hút đông đảo khách thập phương đến cúng lễ, cầu nguyện, cầu tự, chiêm bái, vui chơi, giải trí suốt 4 ngày từ 29 tháng Giêng đến 3/2/2018 âm lịch
Nghi lễ được tái hiện trang trọng với hơn 100 người tham gia gồm ban tế lễ là các cụ cao niên, đội nhạc lễ, đội lân, đội cờ và 16 phu kiệu
Tương truyền chùa Bà là nơi thờ Thiên Hậu thánh mẫu, là người có công cứu vớt thuyền bè mắc cạn nơi vùng cảng thị thuở xưa Trước thế kỷ 17-18, vùng đất An Hòa ở xã Phước Quang, huyện Tuy Phước là vùng đầm lầy nước mặn, chưa có người dân sinh sống Theo thời gian, vùng đât trở thành một trong nh ng thương cảng nhộn nhịp, sầm uất lớn nhất xứ Đàng Trong có tên trên bản đồ hàng hải của người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha do người Việt và người Hoa (Minh Hương) sinh sống Nh ng mặt hàng được trao đổi nhiều nhất ở nước mặn là vây cá, tôm khô, sáp ong, gỗ Ngoài ra còn có nh ng làng nghề làm thuốc bắc, giấy, nhang, tò he đã góp phần tăng thêm sự phồn vinh cho cảng thị
Chùa Bà đã được UBND tỉnh Bình Định công nhận Di tích Lịch sử- Văn hóa
Trang 37Theo các bậc cao niên trong làng, lễ hội cầu ngư là lễ hội quan trọng của ngư dân địa phương, được tổ chức nhằm bày tỏ tín ngưỡng dân gian với công ơn của cá Ông (tức cá voi - ngư dân gọi là thần Nam Hải), cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu
Theo đó, phần lễ diễn ra với các nghi lễ: Nghinh thần Nam Hải (Cung nghinh thủy lục rước cá Ông) nhập điện, lễ tế thần Nam Hải (có múa gươm hầu thần), lễ tế cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa; lễ ra quân đánh bắt hải sản
Phần hội được tổ chức với các hoạt động thể dục thể thao như: Kéo co, bơi thúng đôi nam, lắc thúng, ngoáy thúng Ngoài ra còn tổ chức 4 đêm hát tuồng và 1 đêm ca nhạc tại Lăng Ông Nam Hải và bãi biển để phục vụ nhân dân địa phương và du khách
Lễ hội cầu ngư Nhơn Hải được tổ chức gắn với các hoạt động tổ chức Đại hội Thể dục thể thao lần thứ V của xã nên nên thu hút rất đông du khách trong và ngoài tỉnh về dự
Để phong phú và hoành tráng, tạo điểm nhấn hơn trong lễ hội cầu ngư ở địa phương Năm 2013, UBND xã Nhơn Hải đã thành lập thêm Đội chèo bá trạo gồm 23 người, trong đó có 3 nhân vật chính: Tổng lái (thuyền trưởng), tổng thương (người lo việc tát nước, kéo neo, theo dõi thời tiết trên thuyền…), tổng sanh (dẫn dắt lính chèo thuyền), 2 bộ hổ ( phó tướng, đội trưởng 2 đội chèo), 2 lồng đèn (phao tiêu) và 16 quân trạo (lính chèo thuyền)
Bá trạo là một tuồng hát bội kể về công đức cá Ông cứu giúp ngư dân gặp hoạn nạn trên biển và phù hộ ngư dân đánh bắt bội thu tôm cá; đồng thời kể về nh ng khó khăn, hoạn nạn mà ngư dân phải gặp trên biển như: Giông bão, thuyền chìm, hải tặc…
Ở Bình Định, ngoài các lễ hội miền xuôi hay miền núi còn có ngày hội cầu ngư của nhân dân các xã ven biển Tồn tại từ lâu đời, lễ hội cầu ngư là nét đẹp văn hóa truyền thống vô cùng độc đáo của ngư dân Nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần phong phú và nh ng tín ngưỡng mang màu sắc huyền bí trên sông nước
Xuất phát từ cuộc sống lênh đênh sóng gió, luôn phải đối chọi với bão tố, phong
ba bằng nh ng phương tiện thô sơ thiếu thốn, người dân vùng biển đành phải tin vào
Trang 38cõi thần linh Lễ hội cầu ngư thường được tổ chức ở lăng thờ cá voi vào dịp mùa xuân Đây là nơi cải táng hài cốt của cá voi (cá ông), chết trôi dạt vào bờ, lễ hội cầu ngư thường được tiến hành theo hai phần là: Lễ nghinh (đưa linh), tức là rước hồn các
“Đức ông” cùng nh ng người chết sông chết biển về nơi yên nghỉ, tiếp theo là phần khởi ca với nhiều hoạt động vui chơi như múa hát, đua thuyền,thi bơi các hoạt động ở phần này phản ánh nh ng sinh hoạt, lao động của ngư dân trên sóng nước
Nét đặc sắc trong lễ hội cầu ngư là loại hình múa hát bả trạo Bả trạo như một hoạt cảnh múa hát, thể hiện nh ng sinh hoạt, lao động của ngư dân như: chèo thuyền, kéo lưới hoặc cảnh đưa linh của một đoàn thuyền chuyên chở nh ng linh hồn oan uổng đến cõi siêu linh
Sáng 16.5, người dân từ khắp nơi đổ về vùng cửa biển Đề Gi (xã Cát Khánh, huyện Phù Cát) để tham dự Lễ hội Cầu ngư
Theo sách sử kể lại rằng: Vào khoảng năm 1805, triều Gia Long ngũ niên, bỗng
có một con cá lớn bị chết và trôi dạt vào bờ biển Đề Gi Dân làng không biết cá gì, liền trình tấu lên quan huyện Phù Ly Hôm sau, tự nhiên có một ông lão râu tóc bạc phơ không rõ từ đâu tới, ôm con cá mà rằng: “Ta là người ở dưới Thủy cung, đã có công với triều đình Khi Đức Thế tổ lâm nạn, ta đã đưa người ra khỏi Mũi này!” Từ đó, dân làng lập lăng thờ cá, gọi là Lăng Ông Nam Hải Trải qua thời gian nhiều đổi thay nhưng trong Lăng hiện vẫn còn ngai, tráp, sắc phong, tro cốt Ông (xương cốt cá voi)…
Từ đó đến nay, cứ vào ngày mùng 10.4 (Âm lịch) hàng năm, ngư dân nơi đây tưng bừng tổ chức Lễ hội cầu ngư Trong nh ng ngày diễn ra lễ hội cầu ngư, bên ngoài sân, trước cửa Lăng Ông được dựng rạp Lễ chính được tiến hành trong 3 ngày Ngày đầu tiên là lễ Rước Ông (còn gọi là lễ Nghinh Ông), lễ An Vị và hát múa Bả Trạo Ngày thứ hai là lễ Cầu Siêu (phù hộ cho nh ng người không may bị chết trôi) Ngày thứ ba của lễ hội diễn ra Hát án Sau 3 ngày lễ chính, nh ng ngày sau của Lễ hội Cầu ngư diễn ra khá nhiều chương trình, tiết mục: Hát Bội, hát múa Bả Trạo…
Trong nh ng ngày diễn ra Lễ hội Cầu ngư, ngoài khách thập phương, ngư dân vùng cửa biển Đề Gi dù có đi làm ăn xa ở trong Nam, ngoài Bắc cũng trở về tụ hội cùng với bà con quê hương, làng xóm, gia đình Đây cũng chính là dịp để bà con ngư dân gặp gỡ, trao đổi về tình hình sinh sống, làm ăn, khai thác, đánh bắt hải sản…
Theo ông Dương Chí Bích, Trưởng ban tổ chức, Vạn trưởng Ngư nghiệp Đề
Gi, Lễ hội cầu ngư năm nay được tiến hành trong 7 ngày, từ mồng 10 đến 16.4 Âm lịch (14 - 21.5) Ngoài phần lễ, phần hội diễn ra khá nhiều hoạt động như Hát Bội, hát múa Bả Trạo, múa lân, đua thuyền, lắc thúng, bóng đá, kéo co, bóng chuyền…
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng Lễ hội Cầu ngư ở Đề Gi vẫn được gìn gi và lưu truyền cho đến ngày nay
Trang 391.3.1.7 Lễ hội đâm trâu mừng nhà rông mới
Đâm trâu để ăn mừng lúa mới, ăn mừng khánh thành nhà rông là lễ hội vui tươi, đặc trưng của các làng đồng bào dân tộc thiểu số của miền núi Bình Định, cũng như khu vực Tây Nguyên với các lễ tục vẫn còn gi mãi nhưng không tiến hành vì còn nhiều ý kiến về lễ hội này
Được tổ chức vào ngày 15.1, tại làng K8 (xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh) tưng bừng tổ chức lễ hội đâm trâu khánh thành nhà rông văn hóa của làng Buổi lễ diễn ra trong không khí nhộn nhịp âm vang cồng chiêng cùng hàng trăm người dân
đến dự
Bình Định là miền đất của nh ng lễ hội, là miền đất của văn hóa truyền thống, nơi gắn kết văn hoá, con người từ mọi miền quê về đây tụ hội trong nh ng ngày hội, lễ
hội đậm chất văn hóa - lịch sử
Đặc biệt lễ hội đâm trâu mừng nhà mối là nét văn hóa, một lễ hội truyền thống đặc trưng của người dân tộc thiểu số Bình Định nói riêng hay Tây Nguyên nói chung
Lễ hội đâm trâu mừng nhà mới được tổ chức mỗi khi dân làng, dân bản hoàn thành xong ngôi nhà rông cho riêng mình, đây tương tự như lễ mừng nhà mới của người miền xuôi song về quy mô cũng như các tập tục tuyền thống vẫn được người dân nơi đây gìn gi khá nguyên vẹn và tổ chức thường xuyên
Lễ hội bắt đầu khi nh ng chiếc mái lá, nh ng chi tiết cuối cùng của nhà rông hoàn thành Dân bản sẽ chọn ra nh ng con trâu to khoẻ nhất để tiến hành nghi lễ truyền thống, tôn nghiêm này
Trâu sẽ được trai bản, nh ng thanh niên khỏe mạnh của làng dẫn vào và cột chặt trong gưng, nôi diễn ra màn ăn mừng cho ngôi nhà sẽ mang đầy may mắn cho gia chủ
Nh ng tiếng cồng, tiếng chiêng - di sản văn hóa phi vật thể của nhân lọai - sẽ được các nghệ nhân thể hiện qua đôi tay tài hoa của mình
Cùng với tiếng cồng, tiếng chiêng, các cô gái sẽ diện cho mình nh ng trang phục truyền thống để nhảy muá bên cạnh gưng nôi con trâu hiến tế sắp được tiến hành Điệu nhảy này được tiến hành suốt đêm bên ánh lửa bập bùng, bên cây nêu truyền thống để xua đi nh ng cái xấu, đem điều may mắn đến
Khi già làng tuyên bố bắt đầu nh ng nghi thức đầu tiên của buổi lễ thì nh ng trai làng khỏe mạnh nhất sẽ vung nh ng nhát dao mạnh mẽ tiến hành nghi lễ đâm trâu truyền thống này
Sau khi đâm trâu xong, dân làng vẫn tiếp tục nhảy múa, ca hát bên ánh lửa hồng bên con trâu chứng minh cho sức trai của thanh niên bản Cây niêu chính là địa điểm tập trung nhiều người dân nhất sau khi đâm trâu hoàn tất
Trang 40Kết thúc lễ hội đồng bào cùng nhau tụ họp bên trong nhà rông để cùng nhau uống rượu cần, ê a nh ng câu chuyện xưa, cùng già làng kể lại sự tích hùng vĩ của
nh ng người con núi rừng hùng vĩ
1.3.1.8 Lễ hội vía bà
Với nh ng câu chuyện truyền thuyết đầy tính nhân văn về bà Ðỗ Thị Tân, Lễ hội Vía Bà (thôn Liêm Ðịnh, xã Nhơn Phong, TX An Nhơn) ngày càng thu hút du khách Không chỉ dự hội với tấm lòng tri ân đối với tiền nhân, nhiều người đã tự nguyện đóng góp để di tích này ngày càng thêm khang trang, lễ hội ngày càng ý nghĩa
Theo truyền lưu trong dân gian, bà Đỗ Thị Tân sống ở thế kỷ XVII, là người làm nghề hộ sinh (dân gian gọi là bà mụ) cho dân làng trong vùng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi mọi người cần đến, bà đều tận tâm giúp đỡ không quản ngại khó khăn Bà được vua Tự Đức tặng sắc phong “Ân Đức Độ Nhân” Sau khi bà qua đời, tưởng nhớ công ơn, dân làng đã lập miếu thờ và gọi là Miếu Bà
Năm 2001, kẻ góp công người góp của, người dân cùng nhau xây lại cổng miếu khang trang 5 năm sau, người dân lại tiếp tục ủng hộ xây lại miếu, nhờ vậy, mọi người
có nơi thờ cúng, tưởng nhớ như hôm nay Cũng trong năm 2006, Miếu Bà được Nhà nước công nhận là di tích văn hóa - lịch sử cấp tỉnh
Theo cổ truyền, chính lễ của Lễ hội Vía Bà thường diễn ra chính vào khuya 16 sáng 17 tháng Giêng Tuy nhiên tổ chức cúng vào đêm khuya thì chỉ nh ng người già mới tham gia, còn lớp trẻ không chịu khó thức đến đó được
Về sau, Ban Quản lý di tích nhận thấy tổ chức như vậy không phù hợp với cuộc sống hiện tại nên đã dời lễ cúng chính vào trưa 16 tháng Giêng Ông Đào Ngọc Anh, Phó Ban quản lý di tích Miếu Bà cho biết: “Chúng tôi mất 3 năm để thuyết phục mọi người, đến năm thứ 4 mọi người mới đồng ý Lễ tục, công chuyện liên quan đến phong tục tập quán tín ngưỡng là chuyện của cả cộng đồng dân cư, một mình Ban Quản lý thì không có quyền tự quyết một việc lớn như thế Chậm một chút nhưng chắc và gi gìn được sự đoàn kết Theo tôi, cái gì thay đổi để phù hợp, thuận bề con cháu thì làm Hơn
n a, cúng khuya hay cúng ban ngày cốt là ở lòng thành, cúng vào ngày 17 cũng là điều kiện để du khách có dịp tưởng vọng đến Bà”
Cùng với đó, Lễ hội cũng mở rộng, chào đón mọi người ở khắp nơi về tham gia Trước kia, các hoạt động văn nghệ thể thao chỉ dành cho nh ng thôn trong xã Nhận thấy để mở rộng tầm ảnh hưởng của Lễ hội, năm nay, địa phương nào trong tỉnh muốn tham gia cũng đều được mời gọi đăng ký Đồng thời địa điểm thi đấu thể thao cũng thay đổi phù hợp với người xem, đó là sân bóng chuyền ở chợ Cảnh Hàng, khu vực cầu nối gi a nhiều địa phương trong vùng, để người dân thuận tiện theo dõi
Theo đó, Lễ hội Vía Bà năm nay sẽ được tổ chức lớn hơn, khai hội từ ngày 19 -