Trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, sân khấu là loại hình nghệ thuật đã được hình thành và phát triển rất sớm.. Ngày nay sân khấu chèo đã phát triển trong cả nước trở thành một loại
Trang 1MỤC LỤC
Lí do chọn đề tài 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Cái đẹp 3
1.1.2 Văn hóa 3
1.1.3 Nghệ thuật 3
1.1.4 Sân khấu 3
1.1.5 Chèo 3
1.2 Khái quát chung về nghệ thuật sân khấu chèo 4
1.2.1 Tính biểu trưng ước lệ 4
1.2.2 Tính biểu cảm 4
1.2.3 Tính tổng hợp 4
1.2.4 Tính linh hoạt 4
CHƯƠNG 2: CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG 5
2 1 Vài nét về sự hình thành nghệ thuật sân khấu chèo 5
2.2 Cái đẹp trong phong vị chèo 5
2.2.1 Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn 5
2.2.2 Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài 5
2.2.3 Sự kết hợp giữa dân gian và bác học 6
2.2.4 Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại 6
2.3 Nét đẹp trong cách sử dụng văn học chèo 6
2.3.1 Sử dụng văn học dân gian và văn học bác học 6
2.3.2 Sử dụng chất liệu thư pháp 6
2.4 Nét đẹp của nội dung và hình thức 7
2.4.1 Về nội dung 7
2.4.2 Về hình thức 7
2.5 Nét đẹp trong làn điệu, múa, nhạc, trang trí của nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống 8
2.5.1 Nét đẹp trong làn điệu chèo 8
2.5.2 Nét đẹp trong múa chèo 8
2.5.3 Nét đẹp của âm nhạc chèo 8
2.5.4 Nét đẹp trong trang trí và đạo cụ 8
CHƯƠNG 3: TÌM HƯỚNG ĐI ĐỂ BẢO TỒN, GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG 10
1 Bảo lưu và phát triển nghệ thuật sân khấu chèo chuyên nghiệp 10
2 Bảo lưu và phát triển nghệ thuật chèo cơ sở 10
C Kết Luận 10
Trang 2Lí do chọn đề tài
Từ xa xưa con người đã sáng tạo ra nghệ thuật, đã biết đến sức mạnh
kỳ diệu của nghệ thuật Sân khấu là loại hình nghệ thuật vô cùng đặc sắc Đây được coi là loại hình nghệ thứ sáu của loài người Trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam, sân khấu là loại hình nghệ thuật đã được hình thành và phát triển rất sớm Từ những loại hình sân khấu đầu tiên như: tuồng, chèo, cải lương, hát bội, dân ca quan họ tới các loại hình sân khấu du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam như kịch nói Ngày nay nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu vô cùng to lớn, là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam
Nói tới tinh hoa của văn hóa dân tộc không thể không nói tới nghệ thuật sân khấu chèo Nghệ thuật sân khấu Việt Nam ra đời trong những chiếc nôi chèo đầu tiên của vùng đồng bằng Bắc Bộ tiêu biểu: chiếng chèo Nam (Nam Định – Thái Bình), chiếng chèo Đoài (Hà Tây), chiếng chèo Bắc (Bắc Ninh – Bắc Giang) Ngày nay sân khấu chèo đã phát triển trong cả nước trở thành một loại hình nghệ thuật vô cùng đặc sắc, tiêu biểu cho vẻ đẹp tinh thần của người dân Việt Nam
Đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu khoa học, nghiên cứu về văn hóa dân gian với các đề tài nghiên cứu khác nhau tìm hiểu về nghệ thuật sân khấu chèo Đó là những công trình to lớn có ý nghĩa góp tiếng nói chung trong công cuộc tìm hiểu những nét đẹp của nền văn hóa dân tộc
Tìm hiểu về vẻ đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo luôn luôn là một đề tài lớn Cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo mang nhiều sắc thái phong phú và đa dạng, nó luôn là nguồn cảm hứng cho các nhà nghiên cứu
Thái Bình là vùng đất nông thôn dân dã, tạo hóa đã ban cho nơi này đặc trưng riêng biệt và con người nơi đây cũng đã tạo ra nhiều nét văn hóa nghệ thuật mang đậm nét của quê hương Thái Bình Trong đó có loại hình sân khấu chèo Một loại hình có từ xa xưa trong nền văn hóa Việt Nam mang nét tiêu biểu trong văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam và môi trường xã hội Đó la tinh hoa văn hóa dân tộc Nghệ thuật sân khấu chèo Việt Nam ngày nay đã được phát triển trong cả nước
Chính vì những điều trên đã thôi thúc em đi phân tích một số nét đẹp tiêu biểu của nghệ thuật sân khấu chèo Bằng việc nghiên cứu đề tài tiểu luận
“ Từ những đặc điểm phạm trù cái đẹp, thử phân tích về một cái đẹp trong đời sống tự nhiên ở quê hương em”
Trang 3CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU
CHÈO TRUYỀN THỐNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Cái đẹp
Cái đẹp là phạm trù quan trọng trong khách thể thẩm mỹ - một trong ba thành phần tạo nên đời sống thẩm mỹ Cái đẹp là phạm trù quan trọng nhất vì
nó là cơ bản và trung tâm
Cái đẹp có hai quan hệ tiêu chí: chân - thiện - mỹ, tính dân tộc - tính nhân dân - tính nhân loại
Các hình thức biểu hiện của cái đẹp:
+ Trong tự nhiên như các cảnh thiên nhiên: mây, núi, gió, sông, + Trong xã hội con người: đó là văn hóa ứng xử, là lối sống,lối suy nghĩ, hành động của một cộng đồng người trong việc ứng xử, giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội từ vi mô đến vĩ mô
1.1.2 Văn hóa
Hiện nay có hơn 400 định nghĩa về văn hóa khác nhau, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và ý nghĩa khác nhau
Theo ông Federico Mayor - Nguyên Tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa là tổng thế sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội”
1.1.3 Nghệ thuật
Theo Mỹ học đại cương của TS Mỹ học Thế Hùng: “Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh đời sống xã hội bằng phương thức hình tượng Nghệ thuật là một trong những đặc trưng quan trọng nhất biểu hiện người”
1.1.4 Sân khấu
Theo TS Mỹ học Thế Hùng: “Sân khấu là loại hình nghệ thuật tổng hợp, tái hiện những hoàn cảnh, những tình huống của cuộc đời, lột tả những tính cách, số phận của con người trong các kịch bản sân khấu qua sự diễn xuất của diễn viên”
1.1.5 Chèo
Các nhà nghiên cứu khoa học đã đưa nhiều định nghĩa về nghệ thuật sân khấu chèo Nhưng tựu chung lại, Chèo được hiểu là nghệ thuật tổng hợp bắt nguồn từ kho tàng văn nghệ dân gian, lấy dân ca, dân vũ làm nền tảng, thể hiện sự hợp tác lý thú giữa văn hóa cổ điển và dân gian
Trang 41.2 Khái quát chung về nghệ thuật sân khấu chèo
Trong tất cả các loại hình nghệ thuật sân khấu, Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu xuất hiện sớm nhất và mang những đặc điểm vô cùng đặc sắc,
in đậm dấu ấn của văn hóa dân gian
1.2.1 Tính biểu trưng ước lệ
Thể hiện ở nguyên lý đối xứng hài hòa Âm nhạc trong sân khấu chèo không có nhịp lẻ mà chỉ có nhịp chẵn (2, 4 phách) từng câu nhạc cũng chia thành các ô chẵn một cách cân đối (2, 4, 8, 16, 22, 63)
Tính biểu trưng còn được thể hiện một cách xuất sắc bằng thủ pháp mô hình hóa Trong chèo các nhân vật được phân thành các loại vai: đào, kép, lão, mụ, vua, quan, hề, mỗi nhân vật được phân thành nhiều kiểu khác nhau
Ví dụ: Hề thì có hề gậy, hề áo dài,
1.2.2 Tính biểu cảm
Nghệ thuật sân khấu chèo diễn tả tình cảm nội tâm mang đậm chất trữ tình từ nhân vật, cốt truyện tới âm nhạc, làn điệu chèo
Sân khấu chèo gần gũi với làng quê, tính biểu cảm của nó còn thể hiện
ở chỗ vai trò của người phụ nữ luôn được nhấn mạnh và tô đậm Ví dụ: từ bi như Thị Kính, lẳng lơ như Thị Mầu, hiền thảo như Thị Phương,
1.2.3 Tính tổng hợp
Sân khấu chèo truyền thống không phân biệt các thể loại, có khi trong một vở diễn chất bi hay chất hài cùng tồn tại Yếu tố hài thường trực với những vai hề môi, hề gậy Yếu tố bi với những nhân vật đầy đau thương bất hạnh Ví dụ: Trong vở chèo Quan Âm Thị Kính, không có gì bi hơn là cuộc đời của Thị Kính, những cũng không có gì hài hơn những cảnh Thị Mầu lên chùa, xã trưởng, mẹ đốp,
1.2.4 Tính linh hoạt
Sân khấu chèo không đòi hỏi diễn viên phải tuân một cách chặt chẽ bài bản của lớp diễn, có thể tùy từng trường hợp mà biến báo lời diễn cho thích hợp
Tính linh hoạt còn được thể hiện ở sự giao lưu mật thiết với khán giả Sàn diễn thường là sân đình, với 4 mảnh chiếu trải ngay trước cửa chính, người xem ngồi vây kín 3 mặt sát tận mép chiếu và có thể tham gia bình phẩm khen chê xen vào những câu ngẫu hứng
Sự giao lưu mật thiết giữa sân khấu chèo với người xem còn thể hiện ở vai trò của người cầm chầu Phường chèo đến diễn ở một làng nào đó, làng đó
sẽ cử ra một người cầm chầu, ngòi sát chiếu diễn với chiếc trống chầu trong tay, giữ trịch cho đêm hát
Nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống mang đậm những nét đặc trưng tiêu biểu cho nghệ thuật dân gian Việt Nam Nó mang trong mình một vẻ đẹp của một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, một nền văn hóa Việt Nam đậm
đà bản sắc dân tộc
Trang 5CHƯƠNG 2: CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO
TRUYỀN THỐNG 2 1 Vài nét về sự hình thành nghệ thuật sân khấu chèo
Nhiều nhà nghiên cứu thời kỳ sơ khai của sân khấu dân tộc là thời đại Nhà Lý (triều vua Lý Thái Tổ Bắt đầu từ những trò diễn xướng dân gian và các hình thành ca múa Vua Lý Thái Tổ lấy ngày vua sinh làm tiết Thiện Thánh, cho làm núi bằng tre, trên núi cắm cờ xí cho người con hát ở trong núi
đó đánh sênh, thổi sáo, hát múa cho vui Phong trào hát múa được coi trọng, phong trào sinh hoạt nghệ thuật phát triển để thoả mãn nhu cầu của vua chúa hoàng tộc và quan lại Nhiều nghệ nhân bậc thầy nổi tiếng: Phạm Thị Chân, Đặng Hồng Lân, Đào Văn Sơ, Tôn Sư Từ Đạo Hạnh, Chính Vĩnh Căn v.v…
là những vị tổ của sân khấu truyền thống đã xuất hiện trong thời nhà Lý Sân khấu Chèo được hình thành và phát triển trên châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Từ những bài hát của đạo Phật, đạo Hiếu, từ sự tín ngưỡng, từ âm nhạc dân gian, từ trò hát nhại, từ tiếng trống trò trong quân ngũ Theo TS Trần Đình Ngôn thì: “nghệ thuật chèo bắt nguồn từ trò nhại và múa hát dân gian qua hình thức tế lễ, chèo thuyền bát nhã của đạo Phật rồi trở thành sân khấu dân gian” Chèo là nghệ thuật của người nông dân phía Bắc Việt Nam, được họ yêu quý - gìn giữ và phát triển qua bao thế hệ Chèo đáp ứng nhu cầu thâm mỹ của người dân lao động, nó mang phong vị mà người nông dân Việt Nam ưa thích Sở dĩ chèo vẫn trường tồn và phát triển như ngày nay vì nó tôn thờ cái thiện, cái đẹp, cái cao thượng, nó thấm đẫm chủ nghĩa nhân văn dân tộc, đồng thời nó mang đậm đà tâm hồn của người nông dân Việt Nam Những vẻ đẹp của thuần phong mỹ tục dân tộc, những mẫu mực về đạo đức truyền thống đã thực
sự tạo nên hình hài của văn hoá ứng xử “đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam”
2.2 Cái đẹp trong phong vị chèo
Phong vị chèo là thuộc tính phẩm chất, một nét đẹp riêng của chèo truyền thống Đó chính là những tính chất, đặc biệt là sự kết hợp tài tình giữa các tính chất để người xem cảm thụ được để rồi hứng thú nó, say mê nó Bốn thuộc tính phẩm chất riêng của chèo là:
2.2.1 Sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn
Đó là sự kết hợp những sự kiện, những tình tiết gần gũi với đời sống hiện thực và những sự kiện, những tình tiết đã được huyền thoại hoá, lý tưởng hoá, giả định hoá Nó vừa khắc hoạ được bản chất, cái thần của đời sống con người, vừa thể hiện được ước mơ - khao khát vươn tới cái đẹp, cái hoàn mỹ của người nông dân lao động Họ là những con người bình thường nhưng đã vươn tới những hành vi ứng xử siêu phàm: như Dương Lễ - Châu Long (trong
vở Lưu Bình-Dương Lễ), Thị Phương (trong vở Trương Viên), Thị Kính (trong vở Quan Âm Thị Kính) …
2.2.2 Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài
Trang 6Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận thấy vở chèo đều tổ chức kết cấu theo dòng sân khấu tự sự Tìm hiểu kỹ các vở diễn chèo truyền thống ta thấy kết cấu tự sự trong chèo có nét riêng, đó là sự sắp xếp các sự kiện tình tiết luôn được xen kẽ giữa cái bi và cái hài Cứ sau một chuyện đau lòng rơi nước mắt thì lại đến một trận cười hả hê Vậy mà hai yếu tố đó không hề phương hại đến nhau, trái lại đã tạo ra thế tương phản để càng được nhấn mạnh, càng gây cảm xúc cho người xem cao hơn nữa, tinh tế hơn nữa trong cuộc sống Có khi cái hài, cái bi lồng vào nhau, mới xem thì thấy hài, cảm thụ hài nhưng xem kỹ thì thấy trong đó chứa đựng một cái bi Ví dụ: lớp Thị Mầu lên chùa ghẹo chú tiểu lẳng lơ đến mức trơ trẽn, mà lại ghẹo ngay vào chú tiểu giả trai, điều đó thật đáng cười, nhưng ngay sau tiếng cười ấy lại là sự cảm thông đến sót thương cho bi kịch của một người con gái đang phơi phới xuân xanh, khát khao hạnh phúc mà là bị giam hãm trong sự khắt khe của giáo lý phong kiến
2.2.3 Sự kết hợp giữa dân gian và bác học
Sự kết hợp này làm cho chèo vừa giản dị, mộc mạc trong sáng vừa chứa đựng được những ý nghĩa tinh tế, hàm xúc, mang tính chất triết lý Sự kết hợp hài hòa giữa dân gian và bác học không dừng lại ở văn chương chèo (đối thoại và lời ca) mà còn thể hiện ở nghệ thuật biểu diễn Bên cạnh lối diễn phóng khoáng đầy chất hội hè dân giã với sự giao hòa một cách hồn nhiên giữa người diễn với người xem, là lối diễn trang nghiêm đĩnh đạc mực thước như những quy phạm cổ điển
2.2.4 Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại
Sự kết hợp này vừa tiếp tục khẳng định những chuẩn mực đạo đức vừa
đề cập đến những chuyện đời thường của người đương thời Kể chuyện xưa
mà cứ như nói chuyện nay Thuộc tính khá độc đáo vì thế mà chèo có sức sống mãnh liệt và lâu bền
Trong quá trình phát triển của chèo, các vở diễn ra đời sau bao giờ cũng
kế thừa những thành tựu nghệ thuật của các vở trước nhất là về ca hát và trò diễn, đặc biệt là những miếng trò ngoài tích Nhân vật với tính cách, số phận
và trạng thái tâm lý mới đã kéo theo những tích trò mới và làn hát mới được sáng tạo Đây là sự kết hợp ngẫu nhiên giữa truyền thống và hiện đại
2.3 Nét đẹp trong cách sử dụng văn học chèo
2.3.1 Sử dụng văn học dân gian và văn học bác học
Bắt nguồn từ văn học dân gian và chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn học bác học Văn học chèo chủ yếu sáng tác theo phương pháp nghệ thuật ca dao, tục ngữ Bên cạnh đó cũng có nhiều câu phô diễn theo lối văn chương bác học, bình dị mộc mạc trong sáng và duyên dáng như ca dao: “Thầy như táo rụng sân đình – em như gái dở đi tìm của chua”
2.3.2 Sử dụng chất liệu tư pháp
Trang 7Ngôn ngữ đối thoại của chèo thể hiện đậm đà nhất trong ca từ, với thể thơ dân tộc và độc đáo nhất là thể thơ lục bát Thơ lục bát được sử dụng trong chèo khi các nhân vật ngâm – via – hát – nói đều có cả
Song thất lục bát cũng là thể thơ dân tộc được sử dụng trong sân khấu chèo với các làn điệu: quân thừa, hoàng chiếu, chinh phụ,
Từ những câu nói lên bổng xuống trầm với các thanh huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Đối thoại trong sân khấu chèo đã tiến tới chỗ cách điệu và thể hiện bằng những câu thơ mang tính biến ngẫu, đổi ý, đổi thanh, ngắn, dài khác nhau rất linh hoạt, đảo lên đảo xuống rất nhịp nhàng, nói mà như hát, như đọc thơ, ngâm thơ
2.4 Nét đẹp của nội dung hình thức
Trong bất kỳ lĩnh vực nào con người cũng đều hướng tới cái đẹp, khát vọng vươn tới cái đẹp, cái hoàn hảo, hướng tới cái chân-thiện-mỹ Trong nghệ thuật nói chung cái đẹp là linh hồn, là mẫu số chung cho mọi tác phẩm Trên khấu chèo cái đẹp cũng mang tính chất như vậy
2.4.1 Về nội dung
Cái đẹp về mặt nội dung trong tác phẩm sân khấu chèo truyền thống cho ta thấy đây là loại hình khuyên giáo đạo đức Nội dung phần lớn các vở chèo cổ thường đưa ra các khuôn mẫu đời sống, trong đó nhân vật thư sinh hoặc một viên khoa bảng giữ vai trò cầm cân nảy mực trong gia đình, lấy tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức làm gương soi Từ đó người thân của họ
sẽ gặp những sự biến xảy ra và họ chính là người đứng mũi chịu sào, giải quyết sự biến đó Vì đề cao số phận nhân vật đạo đức mẫu mực, mà các sự biến được khai thác đủ để chứng minh cho chân lý: người tốt sẽ đạt được hạnh phúc, kẻ xấu sẽ bị trừng phạt, đọa đày, tất cả an bài trong định mệnh cố hữu Chính nó quyết định nên phương pháp “ước lệ - cách điệu” của sân khấu chèo truyền thống Cái đẹp của nội dung chèo luôn hướng con người vươn tới chân-thiện-mỹ
2.4.2 Về hình thức
Nói đến chèo phải nói đến tính tự sự của nó, có lẽ ngoài chèo ra thì không có một loại hình sân khấu nào có đặc điểm riêng độc đáo như vậy Nhân vật chèo (cổ) khi ra vào sân khấu bao giờ cũng xưng danh tôi là ai, tôi
sẽ làm gì rồi giao đãi tình huống cho thỏa đáng rồi mới vào trò diễn Một nét đẹp trong văn hóa ứng xử rất độc đáo và duyên dáng, tinh tế với nét đẹp của phong tục Việt Nam
Kịch bản ít khi được bằng văn bản mà nó thường được ghi nhớ trong trí nhớ của các ông “trùm” ông “thơ” và các nghệ nhân Vì vậy cùng một tích trò, mỗi một nôi chèo: Đông – Nam – Đoài – Bắc đều có những lớp, màn khác nhau trong một cốt lõi trò giống nhau, tạo nên phong cách riêng của từng chiếng chèo
Trang 82.5 Nét đẹp trong làn điệu, múa, nhạc, trang trí của nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống
2.5.1 Nét đẹp trong làn điệu chèo
Trong các làn điệu chèo ta thấy bóng dáng của hầu hết của hầu hết các loại dân ca Bắc Bộ Làn điệu chèo được sử dụng cho nhiều nhân vật, nhiều vở diễn, chỉ có lời hát là thay đổi sao cho phù hợp với từng nhân vật, từng tích truyện Mỗi tích trò, mỗi nhân vật đêu có sự lựa chọn làn điệu khác nhau cho phù hợp tạo thành một phong cách cho từng nhân vật, từng vở diễn Làn điệu chèo là một hình thức phổ thơ, chủ yếu là thơ lục bát, một thể thơ độc đáo của dân tộc Việt Nam Nét độc đáo trong các làn điệu hát chèo rất phong phú, hàm chứa nhiều cung bậc, tình cảm đời sống dân gian và thấm đẫm chất liệu
cổ truyền vừa đa dạng vừa độc đáo
2.5.2 Nét đẹp trong múa chèo
Bắt nguồn từ múa dân gian đồng bằng Bắc Bộ Nét đẹp tinh tế ở đây chính là sự gần gũi của múa chèo với đời sống quần chúng Từ những công việc hàng ngày rất bình thường trong cuộc sống đã được chọn lọc và sáng tạo tinh tế để trở thành cái đẹp lung linh của nghệ thuật
2.5.3 Nét đẹp của âm nhạc chèo
Nét đẹp âm nhạc chèo truyền thống thể hiện ở dàn nhạc công với các nhạc cụ gồm trống, mõ, thanh la, nhị, hồ, nguyệt, sáo Tuy không có vai trò quan trọng nhưng nó làm cho không khí đêm diễn thêm rộn rã, mang sắc thái riêng biệt Đặc biệt là tiếng trống chèo – một nhạc cụ dân tộc độc đáo Đó là bản hòa tấu thi trống trong chèo, tất cả các nhạc cụ trong bộ gõ cũng được diễn tấu tạo nên một không khí tưng bừng sôi nổi, có sức cuốn hút người đến xem hội chèo:
“Ăn no rồi lại nằm khèo Nghe tiếng trống chèo bế bụng đi xem”
2.5.4 Nét đẹp trong trang trí và đạo cụ
Sân khấu chèo xưa chỉ vẻn vẹn trải giữa sân đình, mọi người ngồi xem sát xung quanh chiếu Ngăn cách giữa chiếu chèo với buồng trò là một cánh màn dài thẫm màu hai bên mép màn trở thành cửa sinh, nơi nhân vật chèo ra vai, vào trò và các cửa tử nơi nhân vật thoát vai, hạ trò
Trang phục trong chèo truyền thống không phức tạp vì nó được khai thác dựa trên quần áo đời thường Họ coi trọng ý nghĩa cao đẹp của tích trò Tài năng của người nghệ sĩ hơn sự lộng lẫy của trang trí, phục trang vở diễn
Đó cũng chính là nét đẹp riêng của nghệ thuật chèo truyền thống, điều đó đã mang lại cho con người một cảm giác gần gũi, thân quen và thoải mái, người diễn viên và người xem hòa quyện vào nhau như không hề có khoảng cách Trang phục trong chèo thường là áo tứ thân mớ ba, mớ bảy, hay các bộ áo cánh, quần nâu sòng Nếu các nhân vật quan lại, quý tộc thì trang phục cũng giản dị, cách tân từ các bộ áo dài, đúng như trang phục vua chúa ngày xưa
Trang 9Đạo cụ trong chèo là một bộ phận không thể bỏ qua, vì nó góp phần làm nên đặc trưng cho nghệ thuật diễn chèo Đạo cụ tùy thân tuy ít xuất hiện trên sân khấu chẻo nhưng việc sử lý các đạo cụ lại mang phong cách đặc biệt,
có những giá trị nghệ thuật độc đáo và thú vị tính trung của đạo cụ tùy thân ở chỗ tuy nó là một vật cụ thể nhưng lại trở thành một vật trung gian để qua diễn xuất ước lệ của nhân vật mà nó có thể trở thành vật thể, đồ dùng khác với
sự tưởng tượng, bổ sung của khán giả chèo
Mái chèo luôn xuất hiện trên sân khấu chèo trong nhiều tích diễn Một điều đặc biệt là mọ đạo cụ trong chèo thường được cách điệu hóa và phóng đại to lên hơn so với vật dụng trong sinh hoạt đời thường Riêng mái chèo lại khác bao giờ cũng được bao giờ cũng được thu nhỏ lại về kích thước cho vừa tầm biểu diễn ước lễ của diễn viên Nó chỉ có độ dài bằng non nửa mái chèo thật mà thôi
Cái quạt trong chèo biểu hiện nhiều hình thức khác nhau Cái quạt trong tay người diễn viên khi thì là phong thư, lúc lại là quyển sách, có khi là cây bút, có lúc lại là mái chèo Cái quạt trong chèo được sử lý vô cùng linh hoạt, không gò ép vào bất cứ một hình thức cụ thể nào, thể hiện tính linh hoạt trong sân khấu chèo
Cây gậy trong chèo là một đạo cụ tùy thân gắn với các nhân vật Hề, Lão, Mụ Cây gậy gỗ trong tay anh Hề, gậy tre trong tay lão say, lão mốc, trong tay bà ăn xin, thầy bói Gậy trúc đầu rồng trong tay thần núi, tiên ông, Mỗi người một vẻ song cái gậy cũng góp phần diễn tả trạng thái, tính cách như bộ phận không thể thiếu trong hình tượng nhân vật Bằng tài năng của mình các nghệ sĩ chèo đã làm cho cây gậy có thần trong tay mình Nó là vật
vô tri mà chứa đầy sức sống mang được cả tiếng cười sảng khoái và niềm vui nỗi buồn
Tiểu kết
Trên đây là những nét đẹp tiêu biểu nhất trong nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống Nói tới cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo luôn luôn
là đề tài rộng lớn không thể một lúc, một hồi mà có thể bình luận, phân tích được Trên đây chỉ là một số nét đẹp tiêu biểu nhất gợi mở cho chúng ta hiểu thêm phần nào về nghệ thuật sân khấu chẻo truyền thống, góp một tiếng nói chung trong công cuộc tìm hiểu cái đẹp trong nghệ thuật mà các nhà nghiên cứu khoa học đang tiến hành
Trang 10CHƯƠNG 3: TÌM HƯỚNG ĐI ĐỂ BẢO TỒN, GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG
1 Bảo lưu và phát triển nghệ thuật sân khấu chèo chuyên nghiệp
Trước hết cần sắp xếp tổ chức, cơ cấu một đoàn chèo hoặc nhà hát chèo một cách ổn định Thực hiện được yêu cầu những người làm nghệ thuật phải biết nghệ thuật, có đạo đức nghệ thuật
Từng bước đổi mới chất lượng đội ngũ, diễn viên, nhạc công kế cận của các đoàn nghệ thuật bằng cách đào tạo chính quy và tại chức
Liên tục nâng cao tri thức hiểu biết chính trị - văn hóa - xã hội cho nghệ
sĩ diễn viên
2 Bảo lưu và phát triển nghệ thuật chèo cơ sở
Thường xuyên tổ chức giao lưu ca hát giữa các làng chèo và các cuộc thi của các ban ngành ở xã, phường, thị trấn
Đối với các nghệ nhân viết chèo, hát chèo, đàn chèo giỏi tại các làng chèo của các tỉnh thì Đảng và Nhà nước ta cần có chế độ chính sách xứng đáng động viên, khuyến khích học tiếp tục cống hiến tài năng của mình cho quê hương, truyền nghề lại cho con cháu
Kết Luận
Nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống là di sản văn hóa quý báu của ông cha ta Nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống mang trong mình cái đẹp của nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”
Ngày nay trong xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, thị hiếu thưởng thức nghệ thuật của người Việt Nam đặc biệt là giới trẻ đã có nhiều thay đổi Giới trẻ - họ ít còn hướng tới các loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đặc biệt là chèo
Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục bảo tồn, giữ gìn và phát triển nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống, làm sao để sân khấu chèo đi sâu vào lòng công chúng, đặc biệt là giới trẻ - người sẽ kế tục sự nghiệp của cha ông