1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tiểu luận: Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam

32 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Sự Phát Triển Kinh Tế Và Thực Tiễn Tại Việt Nam
Tác giả Nhóm 6, Lớp CH K7.1 TCNH
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 544 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG

  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 – 2014

    • Là công cụ định hướng hình thành cơ cấu nền kinh tế mới, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm:

    • Điều tiết, ổn định thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát.

    • Là công cụ tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.

    • Góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hòa nhập nền kinh tế thế giới:

  • CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

  • MỤC LỤC

Nội dung

Ngân sách Nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo cho các chi tiêu của Nhà nước, và là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đảm bảo cho sự ổn định, phát triển đồng đều giữa các nền kinh tế, và đảm bảo thu nhập cho người dân. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này mời các bạn cùng tham khảo Bài tiểu luận: Vai trò của Ngân sách Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế và thực tiễn tại Việt Nam.

Khái niệm NSNN

Trong hệ thống tài chính thống nhất, ngân sách nhà nước (NSNN) là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ đạo NSNN cũng là khâu tài chính được hình thành sớm nhất, nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ Song quan niệm về NSNN thì lại chưa được thống nhất.

Theo quan niệm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, mô tả các khoản thu và chi cuả chính phủ, được thiết lập hàng năm. Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đưa ra nhiều định nghĩa Các nhà kinh tế Nga cho rằng: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước

Luật NSNN đã được nước CHXHCN Việt Nam khoá XI, thông qua tháng 12 năm 2002 ghi: NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.

Thu ngân sách Nhà nước

a Khái niệm thu NSNN Để có kinh phí chi cho mọi hoạt động của mình, nhà nước đã đặt ra các khoản thu (các khoản thuế khóa) do mọi công dân đóng góp để hình thành nên quỹ tiền tệ của mình Thực chất, thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Ở Việt Nam, đứng trên phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của mình.

Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp Theo Luật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm:

- Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;

- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước;

- Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;

- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Cần lưu ý là không tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật NSNN(Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và Thông tư59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu NSNN các khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại thực chất là các khoản vay ưu đãi không được tính vào thu NSNN. b Đặc điểm thu NSNN

Thu ngân sách nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Mọi khoản thu của nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước;

Thu ngân sách nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất… Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu. c Nội dung thu NSNN

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật quy định đối với các pháp nhân và thể nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Thuế phản ánh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội,thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước với các pháp nhân và thể nhân trong phân phối các nguồn tài chính và là công cụ cơ bản thực hiện phân phối tài chính.

Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn nhiều Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân.

- Các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của nhà nước

Các khoản thu này bao gồm:

+ Thu nhập từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế có vốn góp thuộc sở hữu nhà nước;

+ Tiền thu hồi vốn tại các cơ sở của nhà nước;

+ Thu hồi tiền cho vay của nhà nước.

- Thu từ hoạt động sự nghiệp

Các khoản thu có lãi và chênh lệch từ các hoạt động của các cơ sở sự nghiệp có thu của nhà nước.

Thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu nhà nước: Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và có một phần mang tính chất phân phối lại, vừa có tính chất phân phối lại, vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản quốc gia vừa tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Các nguồn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản, tài nguyên, thiên nhiên; thu về bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Thu từ phạt, tịch thu, tịch biên tài sản: Các khoản thu này cũng là một phần thu quan trọng của thu ngân sách nhà nước và được pháp luật quy định… d Yếu tố ảnh hưởng đến thu NSNN

Tổng thu nhập quốc nội ( GDP ) :đây là nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN;

Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế: đây là chi tiêu phản ánh hiểu quả của đầu tư phát triển kinh tế, tỉ suất này càng lớn thì nguồn tài chính càng lớn,do đó thu NSNN phụ thuộc vào mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước;

Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên:đây là yếu tố làm tăng thu NSNN, ảnh hưởng đến việc năng cao tỉ suất thu;

Tổ chức bộ máy thu NS: nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thu.

Chi ngân sách Nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. b Đặc điểm chi NSNN

Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ;

Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước, mang tích chất pháp lí cao;

Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô; Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu;

Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, (các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ). c Nội dung chi NSNN

- Căn cứ vào mục đích, nội dung

Nhóm 1: Chi tích lũy của ngân sách nhà nước là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác.

Nhóm 2: Chi tiêu dùng của ngân sách nhà nước là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh

- Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý

Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước;

Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;

Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế;

Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính. d Yếu tố ảnh hưởng đến chi NSNN

Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản;

Sự phát triển của lực lượng sản xuất;

Khả năng tích lũy của nền kinh tế;

Mô hình tổ chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ, sự biến động của các phạm trù giá trị (giá cả, tỷ giá hối đoái, tiền lương, )

Đặc điểm của NSNN

Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể:

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước và công dân;

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp;

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội;

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế. Đặc điểm của ngân sách nhà nước

+ Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;

+ Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước;

+ Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng;

+ Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho những mục đích đã định;

+ Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.

Vai trò của NSNN

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội.

Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. a Huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN

Mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế đòi hỏi phải hợp lí nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. b Quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.

Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững.

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. c Về mặt kinh tế

Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp.ngoài ra nhà nước còn dùng ngân sách nhà nước đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động d Về mặt xã hội

Vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu,các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. e Về mặt thị trường

Nhà nước sẽ sử dụng ngân sách nhà nước như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tính chất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động:thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: Cùng với ngân hàng trung ương với chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.

THỰC TRẠNG VỀ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN

Vai trò của thu NSNN

NSNN là một khâu then chốt trong hệ thống tài chính Có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thị trường Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở các chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và duy trì quyền lực nhà nước.

Vai trò của thu NSNN được thể hiện qua các mặt sau: a NSNN là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Đây là vai trò lịch sử mà trong bất kỳ cơ chế nào, thời đại nào ngân sách nhà nước cũng cần thực hiện, gắn chặt với sự tồn tại của bộ máy Nhà nước, giúp cho Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước trong mọi hoạt động, mọi lĩnh vực của nhà nước để thực hiện mục tiêu xác định đều cần đến nguồn tài chính từ việc thu thuế và các hình thức thu ngoài thuế Hay nói cách khác, Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Ở nước ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

NSNN được xem là quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của Nhà nước được dùng để giải quyết những nhu cầu chung của Nhà nước về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, hành chính, an ninh và quốc phòng Tuy nhiên, việc huy động nguồn tài chính này cần phải quan tâm đến ba vấn đề cơ bản Đó là:

Một, mức động viên vào ngân sách nhà nước đối với các thành viên trong xã hội bằng hình thức thu thuế và ngoài thuế cần phải hợp lý Mức thu cao hay thấp đều có tác động tiêu cực.

Hai, tỷ lệ động viên vào ngân sách nhà nước đối với GDP vừa đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng, tái sản xuất.

Ba, các công cụ kinh tế được sử dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và thực hiện các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước. b NSNN là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm khắc phục những khuyết điểm của kinh tế thị trường, giúp cho nền kinh tế phát triển cân đối và hợp lý

Là công cụ định hướng hình thành cơ cấu nền kinh tế mới, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm:

NSNN được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu kỳ kinh doanh Để thực hiện vai trò này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Nội dung điều tiết của thuế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh – một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường.

Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng.

Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất.

Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng.

Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi,giảm nhẹ hoặc miễn thuế nhằm khuyến khích phát triển những ngành nghề hoặc vùng cần ưu tiên phát triển, ví dụ các ngành kinh tế mới (công nghệ sinh học, tin học), các ngành trọng điểm (sản xuất hàng xuất khẩu), các vùng kinh tế ở vùng sâu vùng xa cần hỗ trợ phát triển để đảm bảo đời sống người dân ở đó.

Thực hiện miễn thuế cho các doanh nghiệp mới thành lập đi vào hoạt động nhằm hỗ trợ, kích thích nền kinh tế phát triển.

Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội

Ví dụ: để hạn chế nhập khẩu hàng xa xỉ, Nhà nước đánh thuế nhập khẩu cao kèm theo thuế tiêu thụ đặc biệt đối với mặt hàng ô tô, máy bay… hoặc với các mặt hàng đặc biệt như: rượu, bia, thuốc lá … nhằm hạn chế sự tiêu thụ, hạn chế các tác hại tiêu cực với người tiêu dùng Nhờ đó không những có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế mà còn góp phần quản lý các vấn đề về an sinh xã hội. Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.

Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất Chính sách thuế có định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn định. Điều tiết, ổn định thị trường, bình ổn giá cả, chống lạm phát

Chi Ngân sách Nhà nước 19 1 Tình hình chi NSNN 2013-2014

DT NĂM 2015 Đơn vị: % Chi khác Chi trả nợ và viện trợ Chi đầu tư phát triển Chi thường xuyên

BIỂU ĐỒ: CƠ CẤU DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Dựa trên bảng và biểu đồ ta có thể thấy trong cơ cấu dự toán chi ngân sách của nước ta chi thường xuyên có tỷ trọng lớn nhất, sau đó là chi đầu tư phát triển, chi trả nợ và viện trợ, tỷ trọng thấp nhất là chi khác như chi cải cách tiền lương, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi dự phòng

Cụ thể như sau: dự toán chi thường xuyên chiếm tỷ trọng qua các năm là 60,02% năm 2012; 67,37% năm 2013; 69,97% năm 2014 và 66,86% năm 2015; chi cho đầu tư phát triển có cơ cấu lớn thứ 2, dự toán chi đầu tư phát triển năm

2012 là 19,93%; năm 2013 là 17,89%; năm 2014 là 16,19%, năm 2015 là 17%.Tiếp theo là chi trả nợ và viện trợ, chiếm tỷ trọng 11,07% năm 2012; 10,74% năm 2013; 11,92% năm 2014; 13,08% năm 2015 Cuối cùng, chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong dự toán chi ngân sách nhà nước là các khoản chi khác, các khoản chi khác chiếm tỷ trọng 8,98% vào năm 2012; chiếm 4% vào năm 2013; chiếm 1,92% vào năm 2014; chiếm 3,06% vào năm 2015.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng khoá XI, kế hoạch phát triển KT-XH và

NSNN 5 năm 2011-2015,mục tiêu tài chính – ngân sách là kiềm chế và tiến tới kiểm soát được lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bền vững, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại NSNN theo hướng ưu tiên đầu tư cho con người, cải cách tiền lương, các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và an ninh tài chính quốc gia, tăng cường công tác đối ngoại Dự toán thu chi NSNN trong những năm qua đã được điều chỉnh như số liệu phân tích ở bảng sau:

BẢNG 5: DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO CƠ CẤU CHI

NĂM 2012-2015 Đơn vị tính: Tỷ đồng (Nguồn: số liệu ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn)

STT Chỉ tiêu Dự toán năm 2012 Dự toán năm 2013 Dự toán năm 2014 Dự toán năm 2015

A TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN

I Chi đầu tư phát triển 180.000 175.000 163.000 195.000

1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 30.174 30.015 28.984 33.756

2 Chi khoa học, công nghệ 6.008 6.136 5.986 7.600

II Chi trả nợ và viện trợ 100.000 105.000 120.000 150.000

1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 135.920 164.401 174.480 184.070

2 Chi khoa học – công nghệ 7.160 7.733 7.680 9.790

IV Chi thực hiện cải cách tiền lương 59.300 15.600 0 10.000

V Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 100 100 100

B CHI TỪ CÁC KHOẢN THU

NGOÀI NƯỚC VỀ CHO VAY

Dự toán chi NSNN tăng đều qua các năm về con số tuyệt đối: Năm 2012 là

903.100 tỉ đồng; 2013 là 978.000 tỉ đồng; năm 2014 là 1.006.700 tỉ đồng; năm

Trong đó dự toán chi cho đầu tư phát triển thay đổi liên tục 180.000 tỉ đồng năm 2012; 175.000 tỉ đồng năm 2013; 163.000 tỉ đồng năm 2014 và 195.000 tỉ đồng năm 2015

Mặt khác dự toán chi trả nợ và viện trợ cùng chi thường xuyên tăng liên tục từ 2012-2015 Dự toán chi trả nợ và viện trợ năm 2012 là 100.000 tỉ đồng; năm 2013 là 105.000 tỉ đồng; năm 2014 là 120.000 tỉ đồng; năm 2015 là 150.000 tỉ đồng

Như vậy từ 2012 đến 2015, dự toán chi trả nợ tăng 50.000 tỷ đồng

Dự toán chi xuyên tăng nhanh trong giai đoạn này, con số tuyệt đối của chi thường xuyên năm 2012 là 542.000 tỷ đồng; năm 2013 là 658.900 tỷ đồng; năm

2014 là 704.400 tỷ đồng; năm 2015 là 767.000 tỷ đồng

Dự toán số chi cho chi thường xuyên tăng đến 225.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2012-2015 Việc tăng mạnh của số chi thường xuyên có thể gây áp lực lớn cho chi đầu tư và chi trả nợ

Tuy nhiên chi thường xuyên vẫn được điều chỉnh tăng lên về số lượng trong dự toán của ngân sách nhà nước vì trong chi thường xuyên có những lĩnh vực quan trọng phục vụ cho sự phát triển của đất nước như chi cho giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ … Do vậy, việc tăng lên về số tuyệt đối của chi thường xuyên là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội nhưng cũng cần xác định rõ khoản chi thường xuyên dự toán tăng lên được đưa vào phục vụ cho những lĩnh vực cụ thể nào, có cần thiết hay không?

Bên cạnh việc đánh giá dự toán chi ngân sách nhà nước qua các con số tuyệt đối, việc phân tích tỷ trọng các thành phần của dự toán ngân sách nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khái quát tình hình của ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2012-2015 Tỷ trọng các thành phần của dự toán ngân sách nhà nước được thể hiện qua bảng sau:

Chỉ tiêu Dự toán năm 2012 Dự toán năm 2013 Dự toán năm 2014 Dự toán năm 2015

TỔNG CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ

I Chi đầu tư phát triển 19.93% 17.89% 16.19% 17.00%

II Chi trả nợ và viện trợ 11.07% 10.74% 11.92% 13.08%

BẢNG 6: CƠ CẤU DỰ TOÁN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NĂM 2012-2015 Ở Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nướcnhu cầu an sinh xã hội, y tế và giáo dục là rất lớn Cho nên tỷ lệ chi thường xuyên là chiếm tỷ trọng rất cao Điều này dẫn đến áp lực cho chi đầu tư, chi trả nợ lớn, đây là vấn đề quan tâm Vì nếu như không tăng tỷ trọng chi đầu tư thì sẽ hạn chế tăng trưởng và phát triển, đồng thời việc chi trả nợ cũng là cần thiết Do vậy, cần tái cơ cấu theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước xuống Tuy nhiên, việc giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống, trước hết cần ban hành các chính sách cụ thể, lĩnh vực nào cần giảm một cách quyết liệt, lĩnh vực nào cần tăng chi để phục vụ cho sự ổn định và phát triển đất nước.

BẢNG 7: PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 2012 – 2014

(Nguồn: Số liệu công khai ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn) Đơn vị: Tỷ đồng

Quyết toán Tỉ lệ Dự toán

Quyết toán Tỉ lệ Dự toán Ước thực hiện Tỉ lệ Chi theo dự toán Quốc hội 903,100 978,463 108.34% 978,000 1,088,153 111.26% 1,006,700 1,060,681 105.36%

I Chi đầu tư phát triển 180,000 268,812 149.34% 175,000 271,680 155.25% 163,000 208,040 127.63%

II Chi trả nợ và viện trợ 100,000 105,838 105.84% 105,000 112,055 106.72% 120,000 52,068 43.39% III Chi thường xuyên 542,000 603,372 111.32% 658,900 704,165 106.87% 704,400 800,573 113.65%

1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 135,920 127,136 93.54% 164,401 155,604 94.65% 174,480 178,689 102.41%

2 Chi khoa học – công nghệ 7,160 5,918 82.65% 7,733 6,593 85.26% 7,680 7,945 103.45%

IV Chi thực hiện cải cách tiền lương 59,300 0 15,600 0 0.00% 0 0

IV Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 100 441 441.00% 100 253 253.00% 100

2 Vai trò của chi NSNN

Chi ngân sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Chi NSNN được quản lý, điều hành chặt chẽ, tiết kiệm, kỷ cương tài chính được nâng cao kịp thời xử lý các nhiệm vụ cấp thiết phát sinh về khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội được đảm bảo.

Chi NSNN để thực hiện vai trò Nhà nước là người đảm bảo hệ thống Luật pháp, sản xuất một phần hàng hoá dịch vụ cá nhân, cung ứng hàng hoá dịch vụ công cộng và phân phối lại thu nhập

Như vậy chi NSNN là công cụ để Nhà nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh như giảm bớt sự chênh lệch giầu nghèo, giải quyết công bằng xã hội và khắc phục khiếm khuyết của thị trường

Chi NSNN chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận và không trực tiếp thu được lợi nhuận, vì vậy không được hoàn trả trực tiếp Việc hoàn trả được thông qua hệ thống luật pháp về thuế và một phần được thu lại từ phí.

Chi ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của bộ máy nhà nước vì đây là chức năng đầu tiên và là tiền đề cho các chức năng khác bởi vì bất kỳ quốc gia nào, thời đại nào, chi ngân sách trước tiên cung cấp nguồn tài chính để đảm bảo cho bộ máy nhà nước tồn tại, hoạt động, từ đó mà thực hiện được chức năng quản lý xã hội của mình Nền kinh tế thị trường với sự phân công lao động xã hội ở cấp độ cao, kinh tế phát triển, tạo ra nhu cầu hưởng thụ xã hội trên mọi lĩnh vực đều ở mức cao, bộ máy nhà nước càng cần tăng cường cả về số lượng và chất lượng để tương đồng với nhu cầu đòi hỏi đó. a Chi đầu tư phát triển

Phần chi này đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Chi NSNN cho đầu tư phát triển năm 2014 ước khoảng 169.000 tỷ đồng, bằng 103,7% dự toán Chi NSNN cho đầu tư phát triển đã được tập trung cho các công trình, dự án quan trọng, đồng thời được bổ sung từ nguồn dự phòng NSNN để thực hiện các dự án cấp bách về quốc phòng, an ninh, khắc phục sự cố đê, kè xung yếu để chủ động phòng tránh và giảm nhẹ thảm họa thiên tai, bổ sung tăng dự trữ quốc gia để bù lượng hàng dự trữ đã xuất cấp…

Những điều NSNN đạt được và chưa đạt được 31 1 Những điều NSNN đã đạt được 31 2 Những điều NSNN chưa đạt được 31 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 32

1 Những điều NSNN đã đạt được

- Đảm bảo sự hoạt động cho bộ máy Nhà nước, xây dựng cơ sở hạ tầng để đất nước ngày càng phát triển.

- Thực hiện khá tốt chức năng điểu tiết kinh tế vĩ mô trong thời gian qua.

- Thực hiện phân phối lại thu nhập, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.

- Thực hiện như công cụ kiềm chế lạm phát và góp phần phục hồi nền kinh tế trong và sau giai đoạn khủng hoảng.

- Thúc đẩy sự phát triển của 1 số ngành nông nghiệp thế mạnh của quốc gia.

2 Những điều NSNN chưa đạt được

- Vấn đề bội chi NSNN

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, quản lý và sử dụng hợp lý ngân sách nhà nước cân đối giữa thu và chi có tác dụng vô cùng quan trọng, sẽ góp phần kiềm chế lạm phát, chống suy giảm kinh tế, kích cầu đầu tư và tiêu dùng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Để thực hiện được mục tiêu và nhiệm vụ của NSNN đó là: huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính quốc gia; từng bước cơ cấu lại NSNN; đảm bảo an ninh tài chính; góp phần tích cực giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát, đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý; giải quyết các vấn đề xã hội, quốc phòng an ninh trong tình hình mới thì nhà nước ta cần thực hiện một số giải pháp về thu chi NSNN như sau:

1 Giải pháp tăng thu NSNN

Khai thác các khoản thu đặc biệt là thu thuế, giảm mức bội chi, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, hạn chế phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế chính sách thu; tăng cường công tác quản lý thu NSNN, tập trung chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất dự toán thu NSNN:

+ Rà soát, hoàn thiện các cơ chế, chính sách thu theo hướng vừa khuyến khích sản xuất trong nước và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, vừa động viên hợp lý nguồn thu, chống thất thu ngân sách.

+ Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành các cấp chính quyền địa phương trong việc phối hợp với các ngành để nâng cao chất lượng công tác quản lý thu ngân sách.

+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế, kết hợp thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về giá; kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thuế, phí, lệ phí và thu khác vào NSNN.

+ Tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch, đồng thời tăng cường hậu kiểm; đẩy mạnh việc thực hiện khai, nộp thuế điện tử, rút ngắn thời gian thông quan,… để giảm số lần, thời gian nộp thuế của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.

+ Tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ động thuế, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, chống gian lận, trốn thuế, chống chuyển giá.

Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phục hồi tăng trưởng, tạp điều kiện cho sản xuất kinh doanh phát triển.

Trong điều kiện nguồn vốn từ NSNN dành cho đầu tư có hạn, chưa đáp ứng được các nhiệm vụ cấp bách phát sinh nên Chính phủ cần triển khai áp dụng nhiều giải pháp để huy động nguồn lực ngoài NSNN, tăng cường huy động vốn đầu tư toàn xã hội, phát hành vốn Trái phiếu Chính phủ, thu xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất, vốn ODA, các khoản vay ưu đãi nước ngoài, vốn từ nguồn cổ phần hóa DNNN đều dành cho đầu tư phát triển…

2 Giải pháp giảm chi NSNN

Thắt chặt chi tiêu từ Trung ưng đến địa phương đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu ngân sách Cắt giảm các khoản đầu tư không hiệu quả cao và các khoản chi phúc lợi vượt quá khả năng của nền kinh tế

Cải tiến bộ máy nhà nước gọn nhẹ hơn.

Tiết giảm mạnh chi thường xuyên, cần rà soát, đánh giá kỹ hơn hiệu quả của nhiều chương trình, dự án để có giải pháp tiết kiệm chi thường xuyên một cách triệt để hơn Cần bố trí tăng chi cho việc duy tu, bảo trì hạ tầng giao thông do vừa qua đầu tư rất lớn, nhưng bố trí vốn duy tu, bảo dưỡng rất thấp;

Tăng cường kiểm soát chi NSNN, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và hiệu quả:

- Chủ động rà soát, sắp xếp lại các nhiệm vụ chi thường xuyên; cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các nhiệm vụ chi chưa thực sự cấp thiết, các khoản chi mua sắm trang thiết bị, xe ô tô; hạn chế tối đa tổ chức hội nghị, hội thảo quốc gia, lễ khởi công, khánh thành, công bố quyết định…Triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; đảm bảo các chính sách an sinh xã hội.

- Tiết giảm tối thiểu 20% chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu…

- Đảm bảo nguồn thực hiện các chế độ, chính sách đã ban hành và chính sách an sinh xã hội, hạn chế tối đa bổ sung kinh phí ngoài dự toán.

- Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN, nâng tỷ trọng chi đầu tư phát triển.

- Bố trí tăng chi trả nợ, quản lý chặt chẽ các khoản vay và trả nợ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

- Thực hiện chống lãng phí và thực hành tiết kiệm:

+ Chống lãng phí và thất thoát trong chi đầu tư xây dựng: Tăng cường quản lý đầu tư và xây dựng bằng các nguồn vốn có tính chất NSNN nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư theo hướng thực hiện đúng tiến độ và chất lượng công trình; đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng trong xây dựng cơ bản. + Chống lãng phí và thực hành tiết kiệm trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản công và chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước

+ Chống lãng phí ngày, giờ công trong lao động, hoạt động sản xuất – kinh doanh khu vực Nhà nước

+ Chống lãng phí và thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng của nhân dân

- Quản lý chi NSNN chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả:

+ Tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN; nâng tỷ trọng chi đầu tư phát triển; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; đảm bảo các chính sách an sinh xã hội

+ Bố trí tăng chi trả nợ; quản lý chặt chẽ các khoản vay và trả nợ, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Ngày đăng: 26/04/2021, 13:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w