Các loài trong 2 chi Ba chạc Euodia và Muồng truổng Zanthoxylum được bổ sung vùng phân bố cho Nghệ An...30 Bảng 3.4.. Mục tiêu của đề tài Đánh giá được tính đa dạng loài, tinh dầu của ch
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành luận văn, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân tôi cònnhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và đồng nghiệp Qua đây tôixin chân thành cám ơn Cơ sở đào tạo sau Đại học, Viện Sinh thái và Tài nguyênsinh vật, Viện Hà lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi để tôi hoàn thành chương trình đạo tạo thạc sỹ
Tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Đỗ Ngọc Đài đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện về thời gian để hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập vàthực hiện luận văn
Xin chân thành cám ơn Lãnh đạo, đồng nghiệp Viện Nghiên cứu Lâm sinh
đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cám ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã tạomọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Hà nội, ngày tháng năm
Tác giả
Trang 3Mục Lục
Lời cam đoan … i
Lời cảm ơn … ii
Mục Lục iv
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
1.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài chi Ba chạc (Euodia) và chi Muồng truổng (Zanthoxylum) 9
1.1.1 Trên thế giới 9
1.1.2 Ở Việt Nam 11
1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu 14
1.2.1 Trên thế giới 14
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã công bố về thành phần tinh dầu còn có thử hoạt tính sinh học.Đây là hướng tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác đang quan tâm 15
1.2.2 Ở Việt Nam 15
1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực nghiên cứu 16
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.3.2 Các nguồn tài nguyên 19
1.3.3 Điều kiện kinh tế, xã hội 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
22
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu tinh dầu 24
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đa dạng các loài trong hai chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An 27
3.1.1 Danh lục các loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An 27
3.1.2 Bổ sung vùng phân bố cho các loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) 30
3.1.3 Giá trị sử dụng của các loài trong chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An 32
Trang 43.1.4.Một vài đặc điểm thực vật của chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) ở Nghệ An 34
3.1.5 Đặc điểm sinh học của các loài trong chi Ba chạc (Euodia Forst & Forst.f.) và Muồng truổng (Zanthoxylum L.) ở Nghệ An 35
3.2 Thành phần hóa học tinh dầu một số loài thuộc chi Ba chạc (Euodia Forst. & Forst.f.) và Muồng truổng (Zanthoxylum L.) ở Nghệ An 44
3.2.1 Chi Ba chạc - Euodia Forst & Forst.f 44
3.2.2 Chi Muồng truổng - Zanthoxylum L 54
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Phụ lục 1 Hình ảnh một số sinh cảnh nghiên cứu các loài thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An 78
Phụ lục 2 Hình ảnh một số loài nghiên cứu thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An 79
Phụ lục 3 Sắc ký đồ của các mẫu phân tích tinh dầu 81
Trang 5Danh mục bảng
Bảng 3.1 Danh lục các loài trong chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An 26
Bảng 3.2 So sánh số loài trong 2 chi được nghiên cứu ở Nghệ An với số loài trong 2 chi đã biết ở Việt Nam 28
Hình 3.1 So sánh tỷ lệ % số loài trong 2 chi nghiên cứu với Việt Nam 29
Bảng 3.3 Các loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) được bổ sung vùng phân bố cho Nghệ An 30
Bảng 3.4 Giá trị sử dụng của chi Ba chạc (Euodia) và 32
Muồng truổng (Zanthoxylum) 32
Hình 3.2 Giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Euodia và Zanthoxylum 33
Bảng 3.5 Thành phần hóa học tinh dầu loài Bac chạc (Euodia lepta) 46
Bảng 3.6 Thành phần hóa học tinh dầu loài Dầu dấu lá hẹp (Euodia callophylla) 50
Bảng 3.8.Thành phần hoá học của tinh dầu loài Hoàng mộc sai (Z laetum) 59
Bảng 3.9.Thành phần hoá học của tinh dầu loài Hoàng mộc nhiều gai (Z myriacanthum) 62 Bảng 3.10.Thành phần hoá học của tinh dầu loài Sưng (Zanthoxylum nitidum) 66
Trang 6p :// ww w.lrc-tnu.edu v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
1 Tính cấp thiết của đề tài
hệ thực vật sinh trưởng và phát triển
Trong số các nhóm cây tài nguyên thựcvật thì nhóm cây chứa tinh dầu chiếm vị tríquan trọng Đây là nguồn nguyên liệu thiếtyếu của nhiều ngành công nghiệp như mỹphẩm, thực phẩm và dược phẩm [49].Chính
vì vậy, trong những năm gần đây nhóm câycho tinh dầu đã và đang được quan tâmnghiên cứu Trong hệ thực vật nước ta,nhóm các cây có tinh dầu rất phong phú và
đa dạng Đến nay đã thống kê được khoảng
657 loài thuộc 357 chi và 114 họ (chiếmkhoảng 6,3% tổng số loài; 15,8% tổng số chi
và 37,8% số họ) trong đó phải kể đến các cây
có ý nghĩa kinh tế thuộc các họ như họ Gừng(Zingiberaceae), họ Long não (Lauraceae),
họ Hoa môi (Lamiaceae), họ Cam(Rutaceae) [18] Trong họ Cam thì hầu hết
Trang 7p :// ww w.lrc-tnu.edu v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN
các loài và các chi đều tích
luỹ tinh dầu ở các bộ phận
16.648.729 ha, trải dài
trên địa hình miền núi,
trung du, đồng bằng, ven
biển Nghệ An được đánh
giá là tỉnh có khu hệ thực
vật khá phong phú và đa
dạng Hiện nay, công tác
điều tra, đánh giá tính đa
dạng hệ thực vật đã và
đang được tiến hành ở
nhiều khu vực khác nhau
Trang 8hoá học trong tinh dầu của một số loài ở 2 chi Ba chạc (Euodia Forst.&Forst.f.) và Muồng truổng (Zanthoxylum L.) thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An“.
2 Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được tính đa dạng loài, tinh dầu của chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) để góp phần điều tra, tìm kiếm các dữ liệu nguồn
tài nguyên về thành phần loài, tinh dầu của hai chi nghiên cứu
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài chi Ba chạc (Euodia) và chi Muồng truổng (Zanthoxylum)
A Engler, sử dụng các đặc điểm mà ông đã lựa chọn, như công trình của W T.Swingle & P C Reece (1967) [51] Trong các công trình, tác giả sắp xếp 12 họthực vật có hoa vào bộ Cam, trong đó có 4 họ có đại diện ở Việt Nam gồm: họCam (Rutaceae), họ Xoài (Anacardiaceae), họ Thanh thất (Simaroubaceae) và
họ Xoan (Meliaceae) Với những nhóm đặc điểm được sử dụng như: tính đốixứng của hoa, tính chất rời hay dính nhau của bộ nhị và bộ nhụy, sự có mặt củatuyến nhựa trong vỏ thân hay tế bào tiết trong vỏ và ruột…để sắp xếp vị trí chocác taxon Riêng họ Cam, tác giả đã chia thành 6 phân họ (subfamily), 10 tông(tribus) và 25 phân tông (subtribus), khoảng 150 chi và gần 1.600 loài trên toànthế giới
Trang 10Theo A.Takhtajan (1973) cho rằng Simaroubaceae gần gũi với Rutaceae
và Simaroubaceae được coi là nhóm nguyên thủy trong bộ Cam (Rutales) Mặtkhác, năm 1987, A.Takhtajan khắc phục được những điểm còn chưa hợp lý của
hệ thống A Engler, với bổ sung của W T Swingle và P C Reece (1967) và cáccông trình nghiên cứu trước đó, A.Takhtajan xếp bộ Cam gồm 10 họ, trong đó có
3 họ có đại diện ở Việt Nam (gồm: họ Cam, họ Xoan và họ Thanh thất; ông cũngchia thành 2 bộ, tách họ Cam thuộc cùng một nhóm với họ Thanh thất(Simaroubaceae) và họ Xoan (Meliaceae) thuộc phân bộ còn lại Đối với họCam, ông chia thành 7 phân họ[55]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu tổng thể các taxon trong họ Camtrên toàn thế giới còn có các công trình nghiên cứu riêng mỗi taxon, nhóm taxonhay các công trình Thực vật chí các nước Một số công trình thực vật chí đángchú ý: J D Hooker (1875) đã chia họ Cam (Rutaceae) ở Ấn Độ và các vùng lân
cận thành 4 tông: Ruteae, Zanthoxyleae, Toddalieae, Auratieae Tác giả đã mô
tả 23 chi và 78 loài của vùng này[38].Đây là những dẫn liệu phong phú gópphần xây dựng hệ thống phân loại họ Cam của G Bentham Tuy nhiên một sốđặc điểm mà tác giả lựa chọn để phân biệt các chi không thể hiện tính đối lập
rõ ràng, ví dụ khi phân biệt 2 chi Ruta và Peganum: đặc điểm “tràng 4-5” đều
xuất hiện ở cả hai nhóm để phân biệt 2 chi.Guillaumin (1912) đã lập khóa và
mô tả 18 chi, 63 loài ở Đông Dương [37].C A Backer & R C Bakhuizen(1965) đã công bố trong loài thực vật chí Java (Flora of Java) viết dưới dạngkhóa định loại các chi, và các loài, không có mô tả chi tiết và không có hình
vẽ minh họa, danh pháp các taxon không được trích dẫn đầy đủ, thiếu tài liệucông bố và mẫu nghiên cứu) [27].B C Stone (1972) đã công bố kết quảnghiêncứu về họ Cam trong Thực vật chí Malaysia, gồm 3 họ, 4 tông đã được lập khóađịnh loại, các taxon được xếp
Trang 11theo Reece (1967), so với các công trình Thực vật chí khác, tác giả có chỉ rõquan điểm kế thừa hệ thống phân loại của tác giả đáng tin cậy, vì vậy các taxonđược sắp xếp vào các nhóm phân loại thích hợp Các thông tin về loài như danhpháp, mô tả, phân bố đã được công bố tương đối đầy đủ;tuy nhiên, hình vẽ minhhọa còn ít, chưa có mẫu nghiên cứu[52].
C Chang và cộng sự (1993) đã biên soạn họ Cam trong Thực vật chí ĐàiLoan,tác giả không phân chia thành phân họ hay tông mà chỉ lập khóa định loại,
mô tả 13 chi và 31 loài, trong đó các chi và loài được mô tả đầy đủ về danh pháp,tài liệu công bố, mẫu nghiên cứu,… một số loài có hình ảnh minh họa đầyđủ[29].C C Huang (1997) đã biên soạn họ Cam trong Thực vật chí Trung Quốcvới 4 phân họ, 28 chi và 134 loài,mặc dù công trìnhcó nêu số lượng tông nhưngtên của taxon phân loại bậc phân họ không được nhắc đến trong khóa định loại
và mô tả, phần mô tả các loài chưa có mẫu nghiên cứu[39] Tuy vậyđây là cuốnsáchthực vật chí có giá trị khoa học lớn, là tài liệu tham khảo quan trọng chonhững ai nghiên cứu về Rutaceae sau này
1.1.2 Ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu họ Cam ở Việt Nam là Loureiro (1790).Tác giả
đã mô tả 6 chi và 12 loài có ở Việt Nam[45] Năm 1912, A Guillaumin đã mô tả
18 chi và 63 loài ở Đông Dương trong đó có 53 loài phân bố ở Việt Nam [37]
Đến năm 1970, Lê Khả Kế và cộng sự đã xây dựng khóa định loại của 12chi và mô tả 31 loài có ở Việt Nam[11
[2].Sau này, nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về họ Cam ở Việt Nam phải
kể đến công trình nghiên cứucủa , trong bộ “
Trang 12Nam”(2000)tác giả
[8
[14].
Những công trình đề cập đến giá trị sử dụng của họ Cam như: Trần Đình
Lý (1993) trong công trình “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” đã nêu danh sách
35 loài có ích thuộc họ Cam[17] Đỗ Tất Lợi (1995)trong công trình“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã trình bày 18 loài làm thuốc ở Việt Nam [16] Đặc biệt công trình “ Từ điển cây thuốc Việt Nam” (2012) của Võ Văn Chi đã đề
cập đến 61 loài thuộc họ Cam được làm thuốc [5] Gần đây nhất, năm 2012, Bùi
Thu Hà với công trình “Nghiên cứu phân loại Họ Cam (Rutaceae Juss.) ở Việt Nam” tác giả đã mô tả, vẽ chi tiết và đưa ra khóa phân loại chi tiết cho họ Cam,
đồng thời tác giả đã công bố ở Việt Nam có107 loài, 1 phân loài và 3 thứ thuộc
26 chi, 5 tông và 3 phân họ[7]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984) trong Danh lục thực vật Tây Nguyên
đã thống kê được loài và chi [1] Sau này Phùng Ngọc Lan và cộng sự (1996) khinghiên cứu hệ thực vật Cúc Phương đã công bố loài và chi [13].Năm 1997, Phan
Kế Lộc và cộng sự đã công bố loài và chi ở khu vực Sông Đà [15] NguyễnNghĩa Thìn và cộng sự (1998) công bố loài và chi ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên[25] Trong cuốn Đa dạng hệ Nấm và thực vật Vườn Quốc gia Bạch Mã đã thống
kê loài và chi [24] Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) công bố loài và chi ởVườn Quốc gia Pù Mát [23] Gần đây Lê Thị Hương và cộng sự (2012) đã công
bố loài và chi phân bố ở Pù Hoạt [10]
Trang 13Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về họ Cam (Rutaceae), tuy nhiên đây là một họ thực vật rất có giá trị về mặt kinh
tế, cung cấp nhiều nguồn gen có giá trị về mặt y dược, hoá mỹ phẩm, thựcphẩm… Vì vậy,việc thống kê một cách đầy đủ, cập nhật thành phần loài của họnày là một công việc hết sức cần thiết và quan trọng
Nghiên cứu về họ Cam ở Việt Nam có một số công trình chuyên sâu củaPhạm Hoàng Hộ (1993, 2000), Trần Kim Liên (2003) Ngoài ra, còn có một sốcông trình thống kê mang tính chất của vùng, Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồnThiên nhiên Gần đây nhất là công trình của Bùi Thị Thu Hà (2012), được xem
hoàn chỉnh nhất đến thời điểm hiện tại Trong đó, chi Ba chạc (Evodia), còn gọi
là Dấu dầu, Thôi chanh: Có khoảng 120 loài phân bố ở vùng Ấn Độ-Mã Lai đếnBắc Trung Quốc và châu Úc [53] Ở Việt Nam gặp 6 loài phân bố rộng ở các khu
vực trong cả nước Chi Muồng truổng (Zanthoxylum), còn gọi là Hạt sẻn, Hoàng
mộc: Có khoảng 250 loài phân bố ở châu Á, châu Phi, Ôxtrâylia, Bắc Mỹ trongvùng nhiệt đới và á nhiệt đới, một số ít ở ôn đới Ở Việt Nam hiện gặp 10 loài.Đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về 4 chi của họ Cam (Rutaceae) ở ViệtNam Tuy nhiên, trong công trình này, tác giả chỉ đề cập đến một số địa điểm thumẫu cụ thể, chưa mang tính chất của toàn vùng Vì vậy, cần có những nghiêncứu đầy đủ hơn nữa để đánh giá toàn diện các loài và tiềm năng ứng dụng củachúng trong tương lai
Như vậy, trên thế giới và ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu
về họ Cam (Rutaceae), tuy nhiên đây là một họ thực vật rất có giá trị về mặt kinh
tế, cung cấp nhiều nguồn gen có giá trị về mặt y dược, hoá mỹ phẩm, thựcphẩm… Vì vậy, việc thống kê một cách đầy đủ, cập nhật thành phần loài của họnày là một công việc hết sức cần thiết và quan trọng
Trang 141.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học tinh dầu
1.2.1 Trên thế giới
Hầu hết các loài trong họ Cam (Rutaceae) đều có chứa tinh dầu hoặc hươngthơm, song hàm lượng và thành phần hóa học của tinh dầu ở mỗi loài thườngkhác nhau Một số loài thì thành phần chủ yếu của tinh dầu là linalool, safrol, [34], [42], [48-49]
Trong lá của loài Euodia hylandii ở Úc được đặc trưng bởi sesquiterpen với spathulenol (12-20%) là thành phần chính Ở loài Euodia pubifolia cũng chủ yếu
là sesquiterpene với thành phần chính là spathulenol (18,3%) [28] Ở tinh dầu
Euodia rutaecarpa cho thấy có khả năng gây độc ở cá thể trưởng thành và ấu trùng của loài Sitophilus zeamais[44] Loài Euodia fargesii phân bố ở Trung Quốc
thì trong tinh dầu chủ yếu là các hợp chất terpenoids [59] Từ tinh dầu của rễ ở
loài Euodia lepta có khả năng kháng một số loài côn trùng [40].
Virendra S R và cộng sự (2008), đã công bố từ lá của loài Zanthoxylum acanthopodium chủ yếu là các hợp chất terpen với các thành phần chính là linalool
(14,3%), 9,12-octadecadien-ol (8,4%), 1,8-cineol (7,7%), 2-undecanon (7,3%),farnesol (3,6%), 9,12,15-octadecatrien-1-ol (3,2%) và β-caryophyllen (3,0%) [57]
Quả và lá của loài Zanthoxylum nitidum phân bố ở Ấn Độ, được Sanjib và cộng sự
(2009) công bố với các thành phần chính ở quả là linalool (23,3%), limonen(12,9%), -terpineol (8,3%), -pinen (7,9%), ở lá gồm limonen (33,1%), geraniol
(10,6%) và carvon (9,6%) [50] Từ lá của loài Zanthoxylum avicennae ở Trung
Quốc được S F Chen và cs (1990), công bố trong tinh dầu có khả năng khángđược
8 loại vi sinh vật gồm Aspergillus niger, A sydowi, A terreus, Penicillium chrysogenum, Paecilomyces varioti, Chaetomium globosum, Cladosporium herbarum và Trichoderma sp… [30] Gần đây, cũng ở loài này D S Zhang và
Trang 15cộng sự (2012) cho thấy trong tinh dầu có khả năng kháng được dòng tế bào ungthư K-562 với liều lượng 1,76 microg/mL, ngoài ra còn có tính kháng virus [60].Như vậy, các công trình nghiên cứu đã công bố về thành phần tinh dầu còn
có thử hoạt tính sinh học.Đây là hướng tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho cácngành công nghiệp khác đang quan tâm
chủ yếu là -pinen (55,4%) và -humulene (18,5%) [21]
Trong lá của loài Zanthoxylum alatum chủ yếu là các hợp chất monoterpen
với 1,8-cineol (41,0%), 2-undecanon (9,6%) và sabinen (8,4%) là các thành phầnchính Ở quả là 1,8-cineol (29,8%), sabinen (18,8%), limonen (12,8%) [46] Từ
lá của loài Muồng truổng (Zanthoxylum avicennae) phân bố ở Hà Tĩnh, Đỗ Ngọc
Đài và cộng sự (2012), công bố với các hợp chất chủ yếu là mono- vàsesquiterpen β-caryophyllen (17,0%), α-humulen (10,4%) và α-pinen (10,1%) là
các thành phần chính [31] Loài Zanthoxylum nitidum chủ yếu là limonen
(44,1%), neral (11,0%) và geranial (12,1%) ở quả; trong lá chủ yếu là các hợpchất sesquiterpen với các thành phần chính là -caryophyllen (24,6%), -elemen
Trang 16(14,7%) và bicyclogermacren (12,9%)[35], [47] Loài Zanthoxylum rhetsoides
với các thành phần chính được xác định là p-cymen (15,3%), limonen (27,1%)
và -phelandren (11,9%) [58] Trong khi đó, ở loài Zanthoxylum scarbrum chủ
yếu là sabinen hydrat (26,5%), -caryophyllen (9,9%) và -pinen (8,26%) [33].Cũng ở quả của loài này được Trần Huy Thái và cs (2004), công bố với linalool(72,2%) và sabinen (1l,2%) là các hợp chất chính [20]
Như vậy, ở Việt Nam chủ yếu là các công trình nghiên cứu về hàm lượng vàthành phần hóa học của một số loài trong họ Cam.Tuy nhiên, nghiên cứu chuyênsau hơn nữa về hoạt tính sinh học thì hầu như chưa có
1.3 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, trên trục giao
lưu kinh tế - xã hội chủ yếu Bắc Nam, có bờ biển dài 82 km và gần 419 km ranhgiới tiếp giáp với hai tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh và nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, Phía Đônggiáp biển Đông, Phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Tỉnh Nghệ An có tọa độ địa lý từ 18º33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ
103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông, có chiều dài lớn nhất từ Bắc xuốngNam khoảng 132 km và chiều rộng lớn nhất từ Đông sang Tây khoảng 200 km,với tổng diện tích tự nhiên là 16.490,25 km2 Nghệ An có mạng lưới giao thôngđường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không rất tiện lợi và quan trọng, tạo rathế mạnh trong giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội trong toàn tỉnh
Địa hình, địa mạo: Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa
dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối.Vềtổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Địa hình có độ dốc
Trang 17lớn, đất có độ dốc lớn hơn 8o chiếm gần 80% diệntích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt
có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn 25o Nơi cao nhất là đỉnh Pu Xai laileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện QuỳnhLưu, DiễnChâu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2m so với mặt nước biển (xãQuỳnh Thanh, Quỳnh Lưu) Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại lớn cho việcphát triển mạnglưới giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùngtrung du và miền núi, gây khó khãn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đaikhỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh
Theo đặc điểm phân bố, địa hình của tỉnh chia làm ba vùng sinh thái rõrệt: Vùng núi, vùng trung du và vùng đồng bằng
- Vùng núi: Chiếm tới 83% diện tích lãnh thổ gồm các huyện Kỳ Sơn,Tương Dương, Con Cuông, Quế Phong, Qùy Châu, Qùy Hợp và một phần củacác huyện Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Anh Sơn, Thanh Chương Khu vực này bao gồmnhiều dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam như dãy Tĩnh Gia, dãyNhọt Nhoóng ở phía Tây Bắc, dãy Trường Sơn ở hữu ngạn sông Cả từ Kỳ Sơnđến Thanh Chương ngăn cách Lào với Việt Nam và các dãy núi đá vôi từ QùyChâu, Qùy Hợp đến Con Cuông, Anh Sơn Đây là vùng có nhiều đỉnh núi caotrên 1000 m, địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh, độ dốc hai bên sườn núi lớn,phần nhiều từ 40 – 500 Xen kẽ trong vùng còn có nhiều thung lũng hẹp và sâunhư sông Hiếu, sông Cả
- Vùng trung du: Là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi và vùng đồng bằng,bao gồm một phần các huyện Anh Sơn, Thanh Chương, Nam Đàn, Nghi Lộc, ĐôLương, Yên Thành, Quỳnh Lưu Đặc điểm chung của vùng là đồi thấp, đỉnhbằng, sườn thoải, xen kẽ còn có các thung lũng rộng hơn như thung lũng vùngsông Con và Thanh Chương
Trang 18- Vùng đồng bằng: Gồm các huyện còn lại, đặc điểm đồng bằng Nghệ An
là không tập trung thành vùng lớn mà bị chia cắt thành nhiều vùng nhỏ bởi cácdãy đồi, mỗi khu vực có những nét riêng về sự hình thành độ cao cũng như mặtbằng
Khí hậu: Nghệ An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và
chia làm hai mùa rõ rệt: mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa,chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây - Nam khô và nóng (từ tháng 4 đếntháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
- Chế độ nhiệt:Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 - 24oC Nhiệt độ trungbình các tháng nóng nhất (tháng 6 đến tháng 7) là 33oC, nhiệt độ cao tuyệt đối42,7oC; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 năm trước đến tháng 2năm sau) là 19oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối - 0,5oC Số giờ nắng trung bình/năm là1.500 - 1.700 giờ
- Chế độ mưa: Nghệ An là tỉnh có lượng mưa trung bình so với các tỉnh
khác ở miền Bắc Lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200-2.000mm/năm, chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,lượng mưa chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng
1, 2; lượng mưa chỉ đạt 7 - 60 mm/tháng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất
là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 - 540mm/tháng
Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình năm dao động từ 80
-90%, độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa Chênhlệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%
- Chế độ gió: Nghệ An chịu ảnh hưởng của hai loại gió chủ yếu: Gió mùa
Đông Bắc và gió phơn Tây Nam Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùaĐông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió
Trang 19mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm cho nhiệt độ giảm xuống 5 –
100C so với nhiệt độ trung bình năm Gió phơn Tây Nam là một loại hình thờitiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung Bộ Loại gió này thường xuấthiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Gió Tây Nam gây ra khí hậukhô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống sinh hoạtcủa nhân dân trên phạm vi toàn tỉnh
Thủy văn: Tỉnh Nghệ An có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, tổng chiều dài
sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2 Sônglớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh XiengKhoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là
361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 17.730 km2) Tổnglượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3 trong đó 14,4.109 là nước mặt
1.3.2 Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất: Kết quả điều tra thổ nhưỡng theo nguồn gốc phát sinh, có thể
phân đất đai Nghệ An thành 2 nhómchính: Đất thủy thành (gồm nhóm đất phù sa
và dốc tụ) và đất địa thành (gồm đất Feralit đỏ vàng vùng đồi, đất Feralit đỏ vàngtrên núi thấp (từ 170 - 200 m đến 800 - 1000m) và đất mùn vàng trên núi (800 -
1000 m đến 1700 - 2000m)
Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt chủ yếu là nước mưa và
nước của hệ thống các sông suối, hồ đập Nghệ An có hệ thống sông suối dàyđặc, địa hình dốc từ tây sang đông nên các sông suối đều có khả năng xây dựngcác công trình thuỷ điện lớn nhỏ, đáp ứng nhu cầu năng lượng tại chỗ cho nhândân vùng cao và hoà lưới điện quốc gia Tổng trữ năng thuỷ điện qua tính toán
có thể lên tới 1.200 MW
Trang 20Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm qua điều tra sơ bộ được đánh giá làkhá phong phú Trừ vùng đất bazan ở Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, khả năng nướcngầm ở các nơi còn lại đều đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt.
Tài nguyên rừng: Với diện tích đất lâm nghiệp có rừng (2013) là 911.808 ha
(chiếm 7 % diện tích rừng cả nước), Nghệ An là tỉnh có diện tích rừng cao nhất cảnước Đặc biệt, đa dạng sinh học ở NghệAn được đánh giá là một điểm nóng đadạng sinh học của Thế giớivới khu dự trữ sinh quyển MiềnTây Nghệ An đượcUNESCO công nhận năm 2007 với tổng diện tích 1.303.285 ha là khu dự trữ sinhquyển lớn nhất ĐôngNam Á Đây là khu vực duy nhất miền Bắc còn lại một diệntích lớn rừng nguyên sinh đang được bảo vệ tốt, đặc biệt là khu vực biến giớiViệt- Lào Độ che phủ của rừng trong toàn khu vực là trên 70% với nhiều đỉnhnúi cao như Pù Xai Lai Leng, Pù Đen Đinh, Pù Mát, Pù Hoạt, Khu Dự trữSinh quyển Tây Nghệ An có tính đa dạng sinh học rất cao, mang tính đặc trưng
và đại diện cho hầu hết các kiểu rừng mưa nhiệt đới của Bắc dãy Trường Sơn
Đa dạng thực vật: Theo thống kê hiện có gần 3000 loài thực vật, trong đó
có hơn 80 loài được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam Rừng tập trung ở cácvùng đồinúi với hai kiểu rừng phổ biến là rừng kín thường xanh, phân bố ở độ cao dưới700m và rừng kín hỗn giao cây lá kim, phân bố ở độ cao lớn hơn 700m
Đa dạng độngvật: Cùng với sự đa dạng của địa hình, cảnh quan sinh thái
đã tạo cho hệ động vật ở Nghệ An cũng đa dạng phong phú Theo thống kê độngvật Nghệ An hiện có 241 loài của 86 họ và 28 bộ Trong đó: 64 loài thú, 137 loàichim, 25 loài bò sát, 15 loài lưỡng thê, trong đó có 34 loài thú, 9 loài chim, 1 loài
cá được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam Tổ chức Văn hoá, khoa học và Giáo dụcLiên hợp quốc (UNESCO) đã công nhận và xếp hạng khu dự trữ sinh quyển Tây
Trang 21Nghệ An là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Á và được đánh giá làđiểm nóng về đa dạng sinh học của thế giới với tổng diện tích1.303.258 ha.
1.3.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
Dân số và Lao động: Theo điều tra năm 2009 dân số NghệAnlà 2.919.214 người
(Mật độ dân số trung bình: 177 người /km2), trong đó dânsố đô thị là 368.513người, dân số nông thôn 2.550.701 người Tốc độ tăng trưởng dân số tự nhiêngiai đoạn 2006 – 2010 là 9,5 %o Nghệ An là tỉnh có nhiều đồng bào dân tộcthiểu số sinh sống, với trên 41 vạn người, gồm các dân tộc như: Kinh, Thái, Thổ,Mông, Khơ Mú, Ơ đu, Đan Lai, Tày Poọng,…
Tổng lao động năm 2009 của tỉnh là 1.609.432 người, trong đó: Lao độngnông lâm nghiệp và thủysản 1.064.871 người, chiếm 66,16 %, Lao động côngnghiệp và xây dựng chiếm 225.978 người, chiếm 14,04 % Lao động dịch vụ là346.243 người, chiếm 19,79 %
Tăng trưởng kinh tế: Trên địa bàn toàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng (GDP) trong
khoảng thời gian 2006 đến 2010 đạt trung bình 9,54 %/năm, trong đó: Côngnghiệp – xây dựng tăng 15,13 %/năm, dịch vụ tăng 22,90 %/năm, nông lâm thủysản tăng 5,26 %/năm
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế của NghệAn đã có sự chuyển dịch
theo hướng công nghiệp với sự gia tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp xâydựng trong tổng sản phẩm tỉnh (từ 14,2 % năm 1995 lên 18,6 % năm 2000 và30,4 % năm 2005 Năm 2010 cơ cấu kinh tế theo ngành: Công nghiệp xây dựng33,47 %, dịchvụ 37,66 %, nông lâm thủy sản 28,47%)
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bao gồm tất cả các loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) và chi Muồng
truổng (Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An và tinh dầu của chúng.
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Tính đa dạng thành phần loài phân bố và giá trị sử dụng của hai chi đượcnghiên cứu ở Nghệ An
- Xác định hàm lượng, thành phần hóa học tinh dầu của một số loài trong hai chi này phân bố ở Nghệ An
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.1 Phương pháp điều tra thực địa
Thu mẫu theo nguyên tắc của Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [22]
Mẫu thực vật được thu theo tuyến, chạy qua tất cả các sinh cảnh đặc trưng của thảm thực vật ở các vùng nghiên cứu được xác định trên bản đồ
Mỗi cây ít nhất thu 2-3 mẫu tiêu bản, kích cỡ phải đạt 29 x 41cm có thể tỉabớt cành, lá, hoa và quả nếu cần thiết
Sau khi thu mẫu đánh số hiệu vào mẫu Đối với mẫu cùng cây đánh cùngmột số hiệu Đặc biệt, phải ghi ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiênnhiên vào phiếu ghi thực địa vì những đặc điểm này dễ bị mất khi mẫu khô: nhựa
mủ, màu sắc, hoa, quả, lá Khi thu và ghi nhãn xong gắn nhãn vào mẫu, cho vàobao ni lông bỏ vào bao tải buộc lại mới đem về nhà xử lý
Trang 232.3.1.3 Phương pháp định loại
Mẫu đã được thu ở các khu vực khác nhau của Nghệ An (chủ yếu là cácVườn Quốc gia: Pù Mát; Khu Bảo tồn Thiên nhiên: Pù Huống, Pù Hoạt; Khu vựcnúi đá vôi Quỳnh Lưu; Khu vực Puxailaileng,…) được so sánh với các mẫu vật ởPhòng tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Đại họcquốc gia Hà Nội (UHN), Tổng số mẫu thu được là 100 mẫu, số mẫu đã phântích 80 mẫu Mẫu hiện được lưu trữ ở phòng mẫu Thực vật, khoa Sinh học,trường Đại học Vinh (VU)
Để xác định tên khoa học của các loài, chúng tôi sử dụng phương pháp sosánh hình thái Các tài liệu chính được sử dụng trong quá trình định loại là:Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, Quyển II [8], Thực vật chí TrungQuốc (1979) [39], Nghiên cứu phân loại họ Cam ở Việt Nam của Bùi Thu Hà(2012) [7] và các tài liệu liên quan khác
2.3.1.4.Tìm hiểu về giá trị sử dụng của các loài
Tìm hiểu sơ bộ về giá trị sử dụng của các loài trong họ Cam qua phương
pháp Tiếp cận cộng đồng (PRA: Participatory Rural Appraisal - đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân) Sưu tầm các loài cây có giá trị sử dụng
Trang 24làm thuốc, làm cảnh, cho tinh dầu… (theo kinh nghiệm dân gian) Ngoài ra, còn
sử dụng các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước về các loài nghiên cứu để bổsung vào giá trị sử dụng của các loài như: Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ VănChi, 2012) [5], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi 1999) [16],Cây Cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi- Trần Hợp, tập I-1999, tập II-2002) [6]
2.3.1.5 Đánh giá về tính đa dạng của các loài trong chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An
Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài, giá trị sử dụng, phân bố của chi
Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) theo phương pháp của
Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [22] và các tài liệu liên quan khác
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu tinh dầu
2.3.2.1 Thu mẫu cho chưng cất tinh dầu
Mẫu nguyên liệu tươi để chưng cất tinh dầu (lá, cành, vỏ, hoa tươi), từ
0,5-3 kg, được thu khi trời khô ráo Mẫu xác định tinh dầu được ghi số hiệu, ký mãhiệu, ngày tháng thu,…
2.3.2.2 Phương pháp định lượng tinh dầu
Tinh dầu của các bộ phận khác nhau được định lượng theo phương pháp Icủa Dược điển Việt Nam I [3] Các mẫu lá đã lấy được cho vào bình cầu, đổ 100-
200 ml nước, đun sôi trên bếp điện, tinh dầu được kéo theo hơi nước, sau khi qua
hệ thống làm lạnh được ngưng tụ trên buret, tiếp tục đun cho đến lúc tinh dầukhông tăng thêm nữa, đọc lượng tinh dầu theo số mililit (ml) được thể hiện trênburet có chia độ; tách tinh dầu bằng ống hút
Các công thức tinh toán hàm lượng tinh dầu theo lá tươi và theo lá khô được áp dụng như sau:
- Hàm lượng tinh dầu tính theo khối lương lá tươi (Hlt%) bằng công thức
Hlt% = 0,9 Mx x 100
Trang 25t
Trong đó: M là lượng tinh dầu tính theo mililit (ml)
Wt là khối lượng mẫu lá tươi đưa vào chưng cất tính theo gram (g)
0,9 là hằng số áp dụng cho tinh dầu có tỷ trọng nhẹ hơn nước (0,9)
- Hàm lượng tinh dầu trong lá khô tuyệt đối (Hlk) tính theo công thức
là tỷ lệ nước trong lá (đã gồm cả tinh dầu)
Wt là khối lượng lá tươi
Wk là khối lượng lá khô sau khi sấy ở nhiệt độ 105oC đến khi khối lượng không đổi
2.3.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học tinh dầu
Hoà tan 1,5 mg tinh dầu đã được làm khô bằng Na2SO4 khan trong 1mlhexan tinh khiết loại dùng cho phân tích sắc ký phổ
Sắc ký khí (GC): Được thực hiện trên máy Agilent Technologies HP 6890N
Plus với detectơ FID của hãng Agilent Technologies, Mỹ Cột sắc ký là cột maoquản HP-5MS với chiều dài 30 m, đường kính trong (ID) = 0,25 mm, lớp phimmỏng 0,25 m Khí mang là He Nhiệt độ buồng bơm mẫu là 250oC Nhiệt độDetectơ là 260oC Chương trình nhiệt độ buồng điều nhiệt là: 60oC (2min), tăng
4oC/phút cho đến 220oC, dừng ở nhiệt độ này trong 10 phút
Sắc ký khí-khối phổ (GC/MS):Việc phân tích định tính được thực hiện
trên hệ thống thiết bị sắc ký khí khối phổ liên hợp GC/MS của hãng AgilentTechnologies HP 6890N Agilent Technologies HP 6890N/ HP 5973 MSD đượclắp với cột tách mao quản và vận hành sắc ký như ở trên với He làm khí mang
Trang 26Việc xác định định tính các thành phần của tinh dầu được thực hiện trên cơ
sở so sánh các chỉ số RI (Retention Indices) của chúng với giá trị RI của các thànhphần tinh dầu đã biết được tập hợp trong các ngân hàng dữ liệu như (NIST 08 vàWiley 9th Version) cũng như trong các sách chuyên khảo (Adam, 1995; Joulain &Koenig, 1998) Hàm lượng của từng hợp chất trong tinh dầu được tính toán trựctiếp từ điện tích hoặc chiều cao của píc trên sắc ký đồ GC (detector FID), không
có hiệu chỉnh [26], [41], [51], [54]
Trang 27Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đa dạng các loài trong hai chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
3.1.1 Danh lục các loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An
Quá trình điều tra và nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau của Nghệ
An, đã thu thập được hơn 50 mẫu tiêu bản của các loài trong 2 chi Ba chạc
(Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam (Rutaceeae) Qua phân
tích, xác định tên khoa học các mẫu vật thu được, đã xác định được 11 loài thuộc
2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) thuộc họ Cam
(Rutaceeae) Kết quả được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Danh lục các loài trong chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) phân bố ở Nghệ An
sống
Giá trị sử dụng
Trang 28TT Tên khoa học Tên Việt Nam Dạng
sống
Giá trị sử dụng
3 Euodia oreophilla Guillaum* Dấu dầu háo ẩm Gn M,Eo
4 Euodia simplicifolia Ridl. Dấu dầu lá đơn Bui M,Eo
Gen.2 Zanthoxylum Chi Muồng truổng
Chú thích: dấu * loài bổ sung cho Nghệ An
M: làm thuốc, Eo: Cho tinh dầu, U: Công dụng khác
Để thấy được tính đa dạng trong 2 chi này ở Nghệ An, kết quả được so sánh với tổng số loài hiện biết ở Việt Nam (Bùi Thu Hà, 2012) (bảng 3.2) [9]
Bảng 3.2 So sánh số loài trong 2 chi được nghiên cứu ở Nghệ An với số loài
trong 2 chi đã biết ở Việt Nam
Trang 29TT Chi Số loài ở
Nghệ An (1)
Số loài ở Việt Nam (2)
Tỷ lệ % giữa (1) và (2)
(2) theo Bùi Thu Hà (2012) [9]
Kết quả trình bày trong bảng 3.2 cho thấy, chi Ba chạc (Euodia) có 4 loài
trên tổng số 6 loài chiếm 66,67% tổng số loài hiện biết ở Việt Nam; chi Muồng
truổng (Zanthoxylum) với 7 loài so với 10 loài chiếm 70,00% tổng số loài và thứ
hiện biết ở Việt Nam So với tổng số loài của 2 chi thì ở khu vực nghiên cứu có
11 loài trên tổng số 16 loài chiếm 68,75% Như vậy, với kết quả trên cho thấy
thành phần loài của 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum)
thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An khá đa dạng
Hình 3.1 So sánh tỷ lệ % số loài trong 2 chi nghiên cứu với Việt Nam
Trang 303.1.2 Bổ sung vùng phân bố cho các loài trong 2 chi Ba chạc
(Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum)
So với danh lục các loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) của họ Cam (Rutaceae) của Bùi Thu Hà (2012) [9], kết quả nghiên cứu đã bổ sung thêm vùng phân bố của 7 loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) của họ Cam (Rutaceae) vào danh lục thực vật Việt Nam.Trong đó, có 2 loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) và 5 loài thuộc chi Muồng truổng (Zanthoxylum) Danh lục các loài được tìm thấy ở Nghệ An bổ sung vào
danh lục thực vật Việt Nam được trình bày trong bảng 3.3
Bảng 3.3 Các loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng
(Zanthoxylum) được bổ sung vùng phân bố cho Nghệ An
Việt Nam
Phân bố ở Nghệ An
Phân bố ở Việt Nam trong các công trình
đã có [7], [4]
1 Euodia calophylla
Guill.*
Dấu dầu láhẹp
Đà Nẵng, BìnhĐịnh, Kon Tum,Gia Lai, ĐăkNông, Lâm Đồng,Khánh Hoà
2 Euodia oreophilla
Guillaum*
Dấu dầu háo
Lai, Đăk Lăk,Lâm Đồng, ĐồngNai
Trang 31TT Tên khoa học Tên
Việt Nam
Phân bố ở Nghệ An
Phân bố ở Việt Nam trong các công trình
6 Zanthoxylum
myriacanthum*
Wall ex Hook.f
Hoàng mộcnhiều gai Pù Mát, Pù
Hoạt, ThanhChương, TânKỳ
Cao Bằng, LàoCai, Phú Thọ, HàNội, Lâm Đồng,Đồng Nai
7 Zanthoxylum rhetsa
(Roxb.) DC.*
(Pù Mát), QuếPhong (ChâuThôn)
Cao Bằng, ĐàNẵng, Đăk Lăk,Lâm Đồng, KhánhHoà
* theo Bùi Thu Hà (2012) [7], Lê Trần Chấn và cộng sự [4]
Phân tích chi tiết về phân bố của 11 loài trên cho thấy: loài Hoàng mộc
nhiều gai (Zanthoxylum myriacanthum Wall ex Hook.f) và loài Sẻn Hôi (Zanthoxylum rhetsa (Roxb.) DC.) thường phân bố khắp cả nước; loài Sẻn Gai (Zanthoxylum armatum DC.) và loài Hoàng mộc sai (Zanthoxylum laetum Drake) phân bố chủ yếu ở Miền Bắc, còn loài Dấu dầu lá hẹp (Euodia calophylla), Dấu
Trang 32dầu háo ẩm (Euodia oreophilla) và loài Sẻn (Zanthoxylum acanthopodium) lại
phân bố chủ yếu ở Miền Nam
3.1.3 Giá trị sử dụng của các loài trong chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
Giá trị sử dụng của các loài thực vật trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An được tìm hiểu sơ bộ qua người dân địa phương
ở các địa điểm nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn dựa vào các tài liệu nghiên cứu
đã công bố của: Võ Văn Chi (2012) [5], Đỗ Tất Lợi (1999) [16], Bùi Thu Hà(2012) [7] và các tài liệu liên quan khác [6], [17] Cả 11 loài trong 2 chi Ba chạc
(Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum)thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An
được nghiên cứu đều có giá trị sử dụng Hầu hết các loài đều có thể sử dụng mộthoặc nhiều bộ phận vào các mục đích khác nhau như làm thuốc, cho tinh dầu,làm gia vị Trong đó, 100% số loài nghiên cứu đều có tinh dầu; sau đó là nhómcây sử dụng làm thuốc với 9 loài và nhóm cây cho gia vị với 3 loài được thể hiệnqua bảng 3.4
Bảng 3.4 Giá trị sử dụng của chi Ba chạc (Euodia) và
Muồng truổng (Zanthoxylum)
TT Giá trị sử dụng Ký hiệu Số loài Tỉ lệ (%)
Trang 33Hình 3.2 Giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Euodia và Zanthoxylum
- Nhóm câ y cho ti nh d ầu (Eo) :Hầu như tất cả các loài, các bộ phận khác
nhau của các loài thuộc 2 chi được nghiên cứu đều cho tinh dầu Tuy nhiên, tùyvào từng loài mà sự tích lũy tinh dầu khác nhau.Hiện đã phân tích được 19 mẫu
tinh dầu của 6 loài trong 2 chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum)
thuộc họ Cam (Rutaceae) ở Nghệ An Một số loài rất có triển vọng nhân rộng đểtạo nguồn cung cấp tinh dầu thương phẩm như: Hoàng mộc nhiều gai
(Zanthoxylum myriacanthum),
- Nhóm câ y l àm thuố c (M) : với 9 loài; trong đó đa số các loài trong
chi Zanthoxylum được sử dụng để chữa các bệnh về xương như chữa tê thấp,
đau nhức xương, đó là các loài Zanthoxylum acanthopodium, Zanthoxylum myriacanthum, Zanthoxylum rhetza, Zanthoxylum nitidium, Zanthoxylum avience,
ngoài ra các loài còn được sử dụng để chữa các bệnh đau bụng, đầy hơi, ỉa chảy,
mụn nhọt, mẩn ngứa, ho, viêm họng như các loài: Zanthoxylum myriacanthum, Zanthoxylum rhetza, Zanthoxylum nitidium, Euodia lepta
- Nhóm câ y cho g ia vị (Gv) : 3 loài Zanthoxylum myriacanthum,
Zanthoxylum rhetza, Zanthoxylum acanthopodium cho hạt hoặc lá làm gia vị trong
cuộc sống hàng ngày của các dân tộc ít người
Trang 34Như vậy, trong giá trị sử dụng của một số loài nghiên cứu thì cây cho tinhdầu chiếm tỷ lệ lớn nhất và giá trị sử dụng này cũng được ứng dụng nhiều nhất.Chính vì vậy, hiện nay các nhà khoa học trên thế giới và trong nước đang rất chútrọng phân tích các đặc tính tinh dầu của họ Cam (Rutaceae) nói riêng và các họcây có tinh dầu nói chung để cung cấp các hợp chất cần thiết có thể ứng dụngtrong dược liệu, mỹ phẩm…
Ngoài ra Giá trị khoa học của các loài trong Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) Có 2 loài đặc hữu và 1 loài cận đặc hữu Việt Nam, trong
đó 2 loài thuộc chi Ba chạc (Euodia) là Euodia calophylla và Euodia oreophilla
và 1 loài chi Muồng truổng (Zanthoxylum) là Zanthoxylum laetum
3.1.4 Một vài đặc điểm thực vật của chi Ba chạc (Euodia) và Muồng truổng (Zanthoxylum) ở Nghệ An
3.1.4.1 Chi ba chạc Euodia Forst & Forst.
Các loài trong chi này chủ yếu là cây gỗ hay cây bụi, không có gai Lákép, mọc đối, có nhiều tuyến nhỏ, rõ Cụm hoa gồm nhiều hoa nhỏ, hoa mẫu 4.Hoa đơn tính khác gốc Đài gồm 4 thuỳ hình tam giác nhọn Tràng gồm 4 cánhhoa, màu trắng Hoa đực: Bộ nhị gồm 4 nhị, bộ nhuỵ thoái hoá dạng vảy, vòinhuỵ không xẻ hoặc xẻ 4 thuỳ Hoa cái: Bộ nhị thoái hoá có dạng vảy hoặc baophấn không chứa hạt phấn, bộ nhuỵ gồm 4 lá noãn rời nhau, mỗi lá noãn có 1noãn, vòi nhuỵ dính nhau (1 vòi nhuỵ), đầu nhuỵ phồng dạng đầu, quả nang khichín mở theo khe bụng ngang, gồm 4 phân quả, khi quả nang mở các hạt dính lạitrên các mảnh nang, mỗi phân quả chứa một hạt, vỏ ngoài có nhiều tuyến Hạthình tròn, đính trên cuống noãn phình to, vỏ ngoài nhẵn bóng, rốn hạt dạng sợingắn, nội nhũ nạc, phôi thẳng, lá mấm hình trứng dẹp
3.1.4.2 Chi Muồng truổng Zanthoxylum L.
Trang 35Cây gỗ, cây bụi hay bụi trườn Thân và cành có gai Lá mọc cách, lá képlông chim lẻ, một số ít có 3 lá chét, các lá chét mọc cách hoặc mọc đối, lá mépnguyên hay có răng nhỏ, khe các răng thường có điểm tuyến tinh dầut]ơng đối
to Cụm hoa hình chuỳ hoặc ngù, mọc ở đỉnh hoặc ở nách lá Hoa đơn tính Baohoa xếp 1-2 vòng Bộ nhị gồm 4-10 nhị, đỉnh trung đới có một điểm tuyến Bộnhuỵ gồm có 2-5 lá noãn rời, mỗi lá noãn có 1-2 noãn và không dính nhau hoàntoàn Vòi nhuỵ hợp hoặc rời nhau, hơi cong, núm nhuỵ dạng đầu Quả nang, vỏngoàu có nhiều tuyến tinh dầu, khi chín vở quả trong rời nhau, mỗi mảnh quả có
từ 1-2 hạt, dính trên cuống noãn phình to, rốn hạt dạng sợi ngắn, phẳng, vỏ hạtdòn, màu nâu đen, bóng Lá mầm dẹp, phôi rất ngắn
3.1.5 Đặc điểm sinh học của các loài trong chi Ba chạc (Euodia Forst.
& Forst.f.) và Muồng truổng (Zanthoxylum L.) ở Nghệ An
3.1.5.1 Chi Ba chạc - Euodia Forst & Forst.f.
1 Euodia calophyla Guillaum - Dầu dấu lá hẹp
Guillaum 1944 Suppl Fl Gen Indoch.: 599 Phamh 1993 Illustr Fl Vietn.2(1): 514; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 411
Mô tả: Cây gỗ nhỏ, cao đến 20 m, phân cành nhiều, cành non có lông dày màu
vàng Lá kép 3 lá chét, cuống lá dài 8-14cm Lá chét hình bầu dục, kích thước
5-9 x 13-24cm; đỉnh nhọn, kéo dài, mặt trên có tuyến tinh dầu ở giữa lá rõ, mặtdưới có 13-18 cặp gân bên, có lông thưa trên hệ gân, gốc tròn, hơi lệch; cuống láchét dài 5-10mm Cụm hoa ở nách lá, dài 15cm, nhiều hoa, trục cụm hoa cólông, lá bắc nhỏ, có lông; cuống hoa dài 1-2mm, có lông mịn, dày Hoa mẫu 4,đơn tính.Đài 4 thùy hình tam giác tù, dài 0,5mm, mặt trong và ngoài có lôngmềm, dày Tràng gồm 4 cánh hoa, màu trắng, thơm, dài 2mm, nhẵn, hình trứngngược Hoa đực 4 nhị, chỉ nhị, nhẵn, dài bằng cánh hoa; bầu thoái hóa rất nhỏ, có
Trang 36lông, 1 vòi nhụy, nhẵn, đầu nhụy dẹt Hoa cái: chỉ nhị ngắn hơn cánh hoa (<1mm); bầu gồm 4 lá noãn rời, chỉ dính nhau ở gốc, có lông dày, 1 vòi nhụy cólông ở gốc, dài 2mm, đầu nhụy phình Quả nang, 4 mảnh vỏ, có nhiều tuyến nhỏ
rõ, có lông thưa rải rác.Hột tròn, đen, dài 2mm
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4, ra quả tháng 5.
Phân bố: Nghệ An (Pù Mát, Pù Hoạt), Bình Định (Quy Nhơn), Khánh Hòa (NhaTrang, Ninh Hòa), Kon Tum (Đắk Glây, Kon Plông), Gia Lai (Mang Yang), ĐắkLắk (Đăk Nông), Lâm Đồng (Đà Lạt, Bảo Lộc)
Giá trị sử dụng: Lá, quả, thân cho tinh dầu; lá làm thuốc cho phụ nữ sau khi sinh.
2 Euodia lepta (Spreng.) Merr - Ba chạc, Chè đắng, Chè cỏ, Dầu dấu ba lá
Merr 1935 in Trans Amer Philos Soc 23: 219; Huang, 1957 in ActaPhytotax Sin.6: 91; Phamh 1993 Illustr Fl Vietn 2(1): 514; Huang, 1997.Flora Reip Pop Sin 43(2): 59; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 411
- Ilex lepta Spreng 1824 - Zanthoxylum pteleaefolium Champ ex Benth 1851.- Euodia pteleaefolia (Champ ex Benth.) Merr 1913 - Melicope pteleifolia(Cham ex Benth.) Hartl 1993 - Lepta triphylla Lour 1790 (FC: 82) [non Euodia triphylla (Lamk.) DC 1844, nec Melicope triphylla (Lamk.) Merr.
1913]
Mô tả: Cây gỗ thường cao 4-5 (12)m Cành và lá non thường có dạng ép dẹp,
không có lông, vỏ cây có màu xám trắng hay xanh xám Lá kép gồm 1-3 lá chét,cuống lá dài 5cm, gốc cuống lá hơi phồng Lá chét hình thuốn-trứng ngược, cókích thước 2-8 x 6-20cm, cuống lá chét dài 6mm, đỉnh và gốc lá thuôn-nhọn,mép lá nguyên, mặt đưới có 15-20 cặp gân bên, có nhiều tuyến nhỏ rõ Cụm hoathường ở nách lá, thường dài 4-12cm, nhiều hoa; có lá bắc nhỏ, có lông; cuốnghoa dài 1-1,5mm.Hoa mẫu 4, đơn tính.Đài 4 thùy hình tam giác tù, mặt ngoàinhẵn, ở mép đài đôi khi có lông thưa, dài 0,5mm.Cánh hoa màu trắng-vàng nhạt,
Trang 37có nhiều tuyến rõ Hoa đực: 4 nhị, chỉ nhị nhẵn hoặc có lông thưa ở gốc, dài gấp
2 lần cánh hoa; bầu thoái hóa, có nhiều lông dày, ngắn Hoa cái: bầu gồm 4 lánoãn rời, chỉ dính nhau ở gốc, có lông; 1 vòi nhụy nhẵn, đầu nhụy phình Quảgồm 4 nang, vỏ ngoài của nang có tuyến rõ, nhẵn, mỗi nang chứa 1 hạt.Hạt màuxanh-đen, bóng, dài 3-4mm
Sinh học và sinh thái: Cây ưa sáng, mọc trên các đồi cây bụi, bìa rừng và trong
rừng thưa, thường ở độ cao 100-500 m Ra hoa tháng 4-5, có quả tháng 6-7
Phân bố: Mọc phổ biến khắp nơi ở Việt Nam Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung
Quốc, Vùng lãnh thổ Đài Loan, Lào, Campuchia, Philippin, Niu Ghinê
Giá trị sử dụng: Toàn cây cho tinh dầu; lá làm thuốc tắm cho phụ nữ sau khi sinh.
3 Euodia oreophila Guillaum - Dầu dấu háo ẩm
Guilaum 1944 Suppl Fl Gen Indoch.: 597; Phamh 1993 Illustr Fl Vietn.2(1): 514; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 412
Mô tả: Cây gỗ nhỏ, cao 2m, cành non không lông Lá mang 3 lá chét, cuống lá
dài 3-10cm Lá chét hình thuôn, mỏng, có nhiều tuyến nhỏ, rõ, khi non có lôngmàu vàng, sau nhẵn, kích thước 2-6 x 8-20cm, đỉnh nhọn, mặt dưới có 5-9 đôigân bên Cụm hoa ở nách lá, cao 5-7cm; lá bắc nhỏ, hẹp, có lông.Hoa mẫu 4,đơn tính, cuống hoa dài 2mm, có lông mịn.Đài 4, hình tam giác nhọn, mặt ngoài
có lông Cánh hoa 4, màu trắng, hình trứng, dài gấp 2-3 lần đài, nhẵn, dài 2mm, mặt trong có gân dạng mạng lưới rõ Hoa đực: 4 nhị, dài gấp 2 lần cánhhoa Hoa cái: bầu gồm 4 lá noãn rời, có lông; 1 vòi nhụy ngắn, đầu nhụy thuôn.Quả nang, mặt ngoài vỏ nang có nhiều tuyến rõ.Hạt tròn, xanh đen, dài 3mm
1,5-Sinh học và sinh thái: Mọc trên núi cao, có thể ở độ cao 2400 m.
Trang 38Phân bố: Nghệ An (Kỳ Sơn: Nậm Càn, Na Ngoi; Pù Hoạt (Châu Kim, hạnhDịch),Đắk Lắk (Buôn Ma Thuột, Chư Yang Sin), Lâm Đồng (Braian, LangBian), Bình Dương, Đồng Nai.
Giá trị sử dụng: Lá, quả cho tinh dầu
4 Euodia simplicifolia Ridley - Dầu dấu lá đơn
Ridley, 1908.in Journ Linn.Soc Bot 38: 306; in Lecomte, 1910 Fl Gen.Indoch.: 633; Guillaum 1944 Suppl Fl Gen Indoch.: 599; Phamh 1993.Illustr Fl Vietn 2(1): 515; Huang, 1997 Flora Reip Pop Sin 43(2): 62;Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 412
- Euodia viticina Wall ex Kurz 1873
Mô tả: Cây gỗ nhỏ hay bụi, cao tới 5 m, cành nhỏ màu xanh xám, không lông.
Lá kép, thường 1 lá chét, đôi khi có 2-3 lá chét, cuống lá dài 5cm Lá chét hìnhbầu dục-trứng hay bầu dục-thuôn dài, cỡ 2,5-6 x 8-15cm, mép nguyên, có nhiềutuyến nhỏ rõ, đỉnh lá nhọn hay nhọn kéo dài, mặt trên nhẵn hoặc có lông thưatrên gân chính, mặt dưới nhẵn hay có lông, gân bên 7-11 đôi, gốc lá tròn hoặcnhọn, cuống lá chét 1-2cm Cụm hoa ở nách lá, dài đến 4cm; lá bắc nhỏ, có lông;cuống hoa ngắn hoặc gần như không cuống Đài 4, hình tam giác tròn, mặt ngoài
và mép có lông Tràng 4 cánh hoa, màu trắng, dài 1,5-2mm, nhẵn, có nhiềutuyến Hoa đực: 4 nhị, chỉ nhị dài bằng cánh hoa; bầu thoái hóa, có lông; vòinhụy ngắn, đầu nhụy phồng Hoa cái: bầu hình cầu tròn, nhẵn, vòi nhụy nhẵn,dài bằng hay dài hơn bầu, đầu nhụy phồng Quả nang, dài 5mm, vỏ nang cótuyến rải rác, mỗi nang có chứa 1 hạt.Hạt dài 4,5mm, màu đen
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 4-6, ra quả tháng 8-10.
Trang 39Phân bố: Thanh Hóa, Ninh Bình, Nghệ An (Kỳ Sơn: Na Ngoi; Quỳ Châu; Quỳ Hợp: Bình Chuẩn; T ư ơng D ư ơng: Nga My ), Thừa Thiên-Huế Còn có ở Ấn Độ,Lào, Thái Lan.
Giá trị sử dụng: Lá, hoa, quả cho tinh dầu.
3.1.5.2 Chi Muồng truổng (Zanthoxylum)
1 Zanthoxylum acanthopodium DC – Sẻn
Mô tả: Cây gỗ nhỏ, thân cao 4 m, cành có gai nhọn thẳng, dài đến 2 cm, gốc gai
rộng và dẹt, cành có lông tơ ngắn, màu nâu đỏ Lá rất thơm, lá kép có (3) 5-9(11) lá chét, trục mang lá chét có cánh 1 mm, lá chét hình thuôn trứng hoặc mũidáo, kích thước 6-10 x 2-4cm, mép có rằn, gân bên 10-15 đôi, mặt trên màu nâu,không lông; mặt dưới màu nâu vàng, không lông Cụm hoa ở nách lá, rất ngắn,dài đến 3cm; trục cụm hoa không có lông; cụm hoa cái ngắn hơn cụm hoađực.Bao hoa chưa phân hóa, gồm 6-8 mảnh, hình tam giác nhọn, màu xanh vàng.Hoa đực: bộ nhị gồm 5 nhị, dài 1-2,5 (3) mm; bao phấn màu đỏ tím; bộ nhụythoái hóa Hoa cái: bộ nhụy gồm 3-5 lá noãn rời, mỗi lá noãn chứa 1 noãn; vòinhụy dài bằng bầu, có triền mật Qủa khô tự mở, gồm 1-5 nang, khi chín có màu
đỏ tím, vỏ quả ngoài có các tuyến tinh dầu rõ, nhẵn; mỗi nang chứa 1 hạt, màuđen, bóng
Sinh học và sinh thái: Phân bố trên các đồi, núi thấp hoặc ven rừng, ở độ cao
1500-2500 m Ra hoa tháng 12, có quả tháng 4-5
Phân bố: Hòa Bình (Mai Châu, Hang Kia), Nghệ An (Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt),Kon Tum (Kon Plong: Kron Pak, Đăk Glei; Mãng Cành), Gia Lai (Kbang,Măng Yang), Lâm Đồng (Lạc Dương: Lang Bian; Bidoup, Di Linh), Đồng Nai.Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc (Vân Nam), Lào, Thái Lan
Trang 40Giá trị sử dụng: Cành, lá sử dụng làm thuốc chữa tê thấp, đau nhức khớp xương.
Lá, quả, vỏ cho tinh dầu
2 Zanthoxylum armatum DC – Sẻn gai
Mô tả: Cây gỗ, thân cao 3-5 m, phân nhánh nhiều; cành nhiều gai; gốc thân có
gai rộng và dẹt; gai trên cành nhỏ, thẳng Lá kép, mọc cách; trục mang lá chét cócánh lõm rộng 2 mm; gồm 3-7 (9) lá chét mọc đối gần như không cuống, những
lá chét ở phía đỉnh cành thường có kích thước lớn nhất; lá chẻ hình mũi mác,hình mũi dáo hoặc thuôn dài, kích thước 3-12 x 1-4,5 cm; hai đầu lá chét nhọn,đôi khi có gốc hơi tròn; mép lá có răng thưa hoặc nguyên, khi khô cong về phíamặt dưới Cụm hoa ở nách lá, dài 2-5 cm; trục cụm hoa có lông.Hoa màu trắnghoặc xanh-vàng nhạt, cuống hoa có lông mịn Bao hoa chưa phân hóa, gồm 6-8mảnh, dài 1,5 mm Hoa đực có 5-6 nhị; chỉ nhị hình sợi chỉ; bao phấn hình tráixoan, màu vàng; bộ nhụy thoái hóa, đầu nhụy xẻ 2-3 thùy Hoa cái có bộ nhịthoái hóa dạng sợi ngắn; bộ nhụy gồm 2-3 lá noãn rời, chỉ dính nhau ở gốc bầi.Quả nang, khi chín có màu đỏ tím, vỏ quả ngoài có những tuyến rõ, rất thơm,mỗi nang chứa 1 hạt, đường kính 3-4 mm, màu đen nhánh
Sinh học và sinh thái:Thường gặp ven suối, mọc rải rác ở độ cao 1300 m Ra
hoa tháng 4-6, có quả tháng 8-10
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hòa Bình (Mai Châu: Pà Cò, Hang Kia), Cao Bằng
(Nguyên Bình, Trà Lĩnh: Quốc Toản; Trùng Khánh), Hà Giang (Quản Bạ, BắcQuang), Nghệ An (Pù Huống) Còn có ở Ấn Độ, Himalaya, Trung Quốc, ĐàiLoan, Triều Tiên, Nhật Bản, Lào, Thái Lan, Philippin
Giá trị sử dụng: Quả trị đau răng, lá dùng trị tổn thương bên ngoài.Lá, quả cho
tinh dầu
3 Zanthoxylum avicannae (Lamk.) DC – Muồng truổng