Năm 1953, ở miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại Thảm thựcvật rừng miền Nam Việt Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trìnhnghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được aicông bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
i
Trang 2Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn UBND thị xã Sông Công, tỉnh TháiNguyên, đặc biệt là PGS.TS Lê Ngọc Công - giảng viên trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình và bạn bè đãluôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua!
Trong quá trình thực hiện luận văn do còn hạn chế về mặt thời gian, kinhphí cũng như trình độ chuyên môn nên không tránh khỏi những thiếu sót Rấtmong nhận được những ý kiến quý báu các thầy cô giáo, các nhà khoa họccùng bạn bè, đồng nghiệp!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 04 năm
Tác giả
ii
Trang 3Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
Mục lục i
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Những điểm mới của luận văn 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan 3
1.1.1 Thảm thực vật 3
1.1.2 Thảm thực vật thứ sinh 3
1.1.3 Thảm cây bụi 3
1.1.4 Khái niệm về diễn thế thảm thực vật 4
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật 4
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới 4
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật tại Việt Nam 5
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 7
1.3 Những nghiên cứu về thảm cây bụi 11
1.3.1 Phân loại thảm cây bụi 11
i
Trang 41.3.2.Nguồn gốc của thảm cây bụi trong đai nhiệt đới 12
1.3.3.Những nghiên cứu về thành phần loài 16
1.3.4.Những nghiên cứu về năng suất của thảm cây bụi 17
1.3.5.Xu hướng biến đổi của thảm cây bụi 18
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.3.Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1.Phương pháp điều tra trong dân 21
2.4.2.Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 21
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 25
3.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.1.Vị trí địa lý 25
3.1.2 Địa hình 25
3.1.3.Đất đai 26
3.1.4.Khí hậu 26
3.1.5.Thủy văn 27
3.1.6.Tài nguyên khoáng sản 28
3.2.Khái quát điều kiện xã hội vùng nghiên cứu 29
3.2.1.Dân số 29
3.2.2 Kinh tế 29
3.2.3.Giao thông, thủy lợi 30
3.2.4.Văn hóa, giáo dục, y tế 31
ii
Trang 53.2.5.Điện, nước sạch 31
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Thực trạng hiện nay về sự phân bố của các thảm cây bụi 32
4.2.Tính đa dạng hệ thực vật 33
4.3.Thành phần loài thực vật 36
4.3.1.Điểm nghiên cứu số 1 36
4.3.2.Điểm nghiên cứu số 2 37
4.3.3.Điểm nghiên cứu số 3 38
4.3.4.Điểm nghiên cứu số 4 39
4.3.5.Điểm nghiên cứu số 5 40
4.3.6.Điểm nghiên cứu số 6 41
4.3.7.Điểm nghiên cứu số 7 41
4.3.8.Điểm nghiên cứu số 8 42
4.3.9.Điểm nghiên cứu số 9 43
4.3.10.Điểm nghiên cứu số 10 43
4.4.Dạng sống thực vật 44
4.4.1.Điểm nghiên cứu số 1 47
4.4.2.Điểm nghiên cứu số 2 47
4.4.3.Điểm nghiên cứu số 3 48
4.4.4.Điểm nghiên cứu số 4 48
4.4.5.Điểm nghiên cứu số 5 49
4.4.6.Điểm nghiên cứu số 6 50
4.4.7.Điểm nghiên cứu số 7 50
4.4.8.Điểm nghiên cứu số 8 51
4.4.9.Điểm nghiên cứu số 9 51
4.4.10.Điểm nghiên cứu số 10 52
4.5 Năng suất phần trên mặt đất của các trạng thái TTV 53
ii
Trang 64.5.1.Điểm nghiên cứu số 1 53
4.5.2.Điểm nghiên cứu số 2 55
4.5.3.Điểm nghiên cứu số 3 57
4.5.4.Điểm nghiên cứu số 4 59
4.5.5.Điểm nghiên cứu số 5 61
4.5.6.Điểm nghiên cứu số 6 63
4.5.7.Điểm nghiên cứu số 7 65
4.5.8.Điểm nghiên cứu số 8 và số 9 67
4.5.10 Điểm nghiên cứu số 10 69
4.6 Đặc tính của đất dưới các trạng thái TTV 70
4.6.1 pHKCl 71
4.6.2.Độ ẩm 71
4.6.3.Mùn 72
4.6.4 Đạm dễ tiêu 73
4.6.5 Hàm lân dễ tiêu 73
4.6.6 Hàm kali dễ tiêu 74
4.7 Xu hướng biến đổi của các trạng thái TCB 74
K Ế T LU Ậ N VÀ KI Ế N NGH Ị 76
1.K ế t lu ậ n 76
2.Ki ế n ngh ị 77
TÀI LI Ệ U THAM KH Ả O 78
Phụ lục 83
ii
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Thống kê thành phần loài trong các điểm nghiên cứu 34
Bảng 4.2: Sự phân bố các họ, chi và loài trong các trạng thái TTV 35
Bảng 4.3 Sự phân bố dạng sống thực vật trong các trạng thái TCB 45
Bảng 4.4 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 1 53
Bảng 4.5 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 2 55
Bảng 4.6 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 3 57
Bảng 4.7 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 4 59
Bảng 4.8 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu thứ 5 61
Bảng 4.9 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu thứ 6 63
Bảng 4.10 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu thứ 7 65
Bảng 4.11 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 8 67
Bảng 4.12 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 9 67
Bảng 4.13 Năng suất của TTV ở điểm nghiên cứu số 10 69
Bảng 4.14 Một số tính chất hóa học của đất dưới các TTV nghiên cứu 70
88
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Cách đếm tuổi cây bụi dựa vào vòng gốc 23
Hình 2.2: Cách đếm tuổi cây bụi dựa vào cành cây 23
Hình 4.1 Thống kê thành phần loài trong các điểm nghiên cứu 34
Hình 4.2: Phổ dạng sống thực vật trong các điểm nghiên cứu 46
vii
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Theo J Schmithusen (1959), thảm thực vật là lớp thực bì bao phủ bềmặt trái đất [44] Đây là một khái niệm chung, chưa chỉ rõ đối tượng cụ thểnào Nó chỉ có giá trị cụ thể khi có các thuật ngữ đi kèm như: thảm thực vậtcây bụi, thảm thực vật trên đất cát ven biển, thảm thực vật rừng ngập mặn
Trong 50 năm qua Việt Nam đã phải đối mặt với nạn phá rừng và thoáihóa rừng nghiêm trọng Đó là nguyên nhân làm tăng diện tích thảm thực vậtthoái hóa Thảm cây bụi là một trong những loại hình chính trong thảm thựcvật ở Việt Nam Một trong những pha trung gian của quá trình diễn thế thứsinh, quá trình phục hồi và suy thoái rừng Nó có thể có nguồn gốc nguyênsinh hay thứ sinh nhưng đều có vai trò quan trọng trong tự nhiên cho conngười Nó tham gia vào việc bảo vệ môi trường, bảo vệ đất, giữ cân bằng sinhthái và sự phát triển bền vững của sự sống trên trái đất, đặc biệt là nhữngnguồn lợi vô cùng quý giá mang lại cho con người
Nghiên cứu TCB Việt Nam còn rất ít, chưa hiểu được hết đặc điểm, đặcbiệt nguồn gốc các trạng thái trong từng vùng, xu hướng trong quá trình diễnthế (tốt lên hay xấu đi) Vì vậy cần nghiên cứu TCB để hiểu, đánh giá và đềxuất được phương hướng sử dụng tốt hơn
Thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên có diện tích rừng khá lớn nhưng
do tác động của con người nên diện tích rừng đã bị thu hẹp làm tăng đấttrống, đồi núi trọc, diện tích còn lại là thảm cây bụi, thảm cỏ, một số ít còn lạitrồng cây nông nghiệp và trồng rừng như: chè, keo, bạch đàn,
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thảm thực vật đặc biệt là thảmthực vật rừng, tuy nhiên những nghiên cứu về thảm cây bụi còn rất hạn chế
Trên thực tế đó chúng tôi đã chọn đề tài: "Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của thảm cây bụi tại một số xã ở thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên".
10
Trang 112 Những điểm mới của luận văn
Mô tả được đặc điểm hình thái, cấu trúc, xác định thành phần loài vànăng suất ở một số trạng thái thảm cây bụi đặc trưng ở vùng nghiên cứu
Xác định nguồn gốc và xu hướng biến đổi của các trạng thái thảm câybụi ở vùng nghiên cứu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Thảm thực vật
Thảm thực vật là một yếu tố cấu thành của lớp phủ thực vật Lớp phủthực vật là hiện tương tự nhiên mang tính tổng thể của các yếu tố ngoại cảnh(sống và không sống) tạo ra các kiểu thảm thực vật Nghiên cứu lớp phủ thựcvật phải xem xét nó trong 2 dạng: đó là các bậc phân loại (hệ thực vật - cácloài - các quần thể) và thảm thực vật bao gồm sinh thái sinh thái các quần xãthực vật, tập hợp các cá thể theo sinh thái dạng sống
Trong nghiên cứu các thảm thực vật, người ta sử dụng đơn vị cơ sở làcác thực vật quần hay quần xã thực vật Thực vật quần được xác định bởi một
tổ hợp thành phần loài xác định, có cấu trúc xác định và trong một điều kiệnmôi trường xác định Các thực vật quần giống nhau sẽ nhóm hợp lại thành cácbậc phân loại, bậc cao nhất là kiểu thảm Vì thế nghiên cứu Thảm thực vậtbao giờ cũng phải đi kèm một định ngữ là Kiểu thảm gì (cây bụi, cỏ )
1.1.2 Thảm thực vật thứ sinh
Thảm thực vật thứ sinh là các trạng thái thảm thực vật xuất hiện sau khithảm thực vật nguyên sinh bị tác động làm thay đổi hoặc bị phá hoại Thảmthực vật thứ sinh thường bao gồm các trạng thái sau: thảm cỏ, thảm cây bụi,rừng tái sinh tự nhiên ở các giai đoạn khác nhau (rừng non, rừng trưởngthành, rừng già, ) Nếu so sánh ta sẽ thấy thảm thực vật thứ sinh sẽ khác biệt
so với thảm thực vật nguyên sinh ở thành phần thực vật, cấu trúc tầng, nănglực phát triển, sinh khối, hoàn cảnh rừng và nhiều yếu tố khác
1.1.3 Thảm cây bụi
Thảm cây bụi chủ yếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới: hầu hết
có nguồn gốc từ thứ sinh, được phục hồi trên nương rẫy bỏ hoang, ở vùng bìa
Trang 13rừng, vùng bị tác động của con người hoặc trên các đỉnh núi nơi có gió mạnhkhô và lạnh Gồm chủ yếu các dạng cây gỗ dạng bụi cao từ 0,5 đến 5-6 m, rất
ít khi là cây bụi điển hình, thường mọc xen lẫn với cỏ ở các mức độ khácnhau
1.1.4 Khái niệm về diễn thế thảm thực vật
Diễn thế là quá trình biến đổi của quần xã thực vật này thành quần xãthực vật khác do những tác động từ bên trong và bên ngoài đưa đến Nó làmthay đổi thành phần loài, cấu trúc và ngoại mạo của quần xã, nó xóa bỏ cácmối quan hệ cũ và thiết lập các mối quan hệ mới giữa các loài với nhau và vớimôi trường
1.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật
1.2.1 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới
Trên thế giới, những nghiên cứu về kiểu thảm thực vật được tiến hành
từ khá sớm A.F.W.Schimper (1898) đã chia thảm thực vật vùng nhiệt đớithành những quần hệ khí hậu và quần hệ thổ nhưỡng
Rubel (1935) đã lập một bảng phân loại được xem như kinh điển.Nhưng cách phân chia các đơn vị của ông không dựa trên một tiêu chuẩnthống nhất và ông đã không chú ý đến tiêu chuẩn quan trọng trong cấu trúcquần lạc tức độ che nền đất của tầng ưu thế sinh thái để phân chia các thảmthực vật
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - MiếnĐiện đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ là: nhiệt đới, á nhiệtđới, ôn đới và núi cao
J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần
hệ và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần
hệ rừng xanh từng mùa, loạt quần hệ rừng khô thường xanh, loạt quần hệmiền núi, loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm
Maurand (1943) nghiên cứu thảm thực vật vùng Đông Dương đã chiathảm thực vật Đông Dương làm 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương
và vừng trung gian Đồng thời kể ra 8 loại kiểu quần lạc trong các vùng [41]
Trang 14Segova (1957) lại chia thảm thực vật theo vành đai: Vành đai ven biểnbùn lầy, vành đai núi thấp dưới 800 - 1.000 m và vành đai cao hơn.
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vậtthế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thếgiới thành 5 lớp quần hệ (Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớpquần hệ cây bụi, lớp quần hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo) [45]
1.2.2 Những nghiên cứu về thảm thực vật tại Việt Nam
Những công trình nghiên cứu thảm thực vật Việt Nam đến nay có rất ít.Năm 1918, nhà bác học Pháp Chevalier là người đầu tiên đưa ra bảngphân loại Thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam Theo bảng phân loại nàyrừng miền Bắc Việt Nam được chia thành 10 kiểu [40]
Năm 1953, ở miền Nam Việt Nam xuất hiện bảng phân loại Thảm thựcvật rừng miền Nam Việt Nam của Maurand khi ông tổng kết về các công trìnhnghiên cứu các quần thể rừng thưa của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil
[41].Bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thựcvật ở Việt Nam là bảng phân loại của cục điều tra và quy hoạch rừng (1960),theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4loại hình lớn:
Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và trảng cây bụi, trên loại đấtnày cần phải trồng rừng
Loại II: gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặctỉa thưa
Loại III: gồm những loại hình rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèokiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi nhưng cần phải xúc tiến táisinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu,chưa
bị phá hoại, cần khai thác hợp lí
Trang 15Thomasius (1965) đưa ra bảng phân loại các kiểu lập quần vùngQuảng Ninh dựa trên các điều kiện địa hình, đất đai, đá mẹ, khí hậu và cácloài cây ưu thế.
Theo Thái Văn Trừng (1970) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (Quần lạcthân gỗ kín tán, quần lạc thân cỏ kín rậm, quần lạc thảm cỏ thưa và hoangmạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật, theo ông đơn vị phân loạithực thể sinh vật tồn tại thực sự đó là kiểu thảm thực vật đã hình thành dướicác chế độ khác nhau, đơn vị tiếp theo là kiểu phụ có thành phần nhất định dongoại cảnh quy định [33]
Trần Ngũ Phương (1970) phân loại rừng miền Bắc thành các đai: đainhiệt đới gió mùa, đai á nhiệt đới gió mùa và đai á nhiệt đới mưa mùa núicao Mỗi đai ông lại chia ra các kiểu rừng Mỗi kiểu rừng ông lại phân ranhỏ hơn như loại hình khí hậu và các kiểu phụ: kiểu phụ khí hậu và kiểu phụthứ sinh [25]
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, đãxây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ,
15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 nhóm khác nhau [21]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới ViệtNam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm ngoạimạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vậtlàm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 8 kiểu thảm (5nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) Bảng phân loại này của ông
từ bậc quần hệ trở nên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO(1973) [35]
Nguyễn Thế Hưng (2003) dựa trên nguyên tắc phân loại UNESCO(1973) đã xây dựng được 8 trạng thái thảm thực vật khác nhau đặc trưng choloại hình thảm cây bụi ở huyện Hoành Bồ, thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) [17]
Trang 16Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO(1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ:rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi, và cây cỏ Ở đây trạng thái thứ sinh (đượchình thành do tác động của con người như khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làmnương rẫy ) bao gồm cả trảng cỏ, trảng cây bụi và rừng thưa [11].
Ngô Tiến Dũng (2004) dựa theo phương pháp phân loại thảm thực vậtcủa UNESCO (1973) đã chia thảm thực vật Vườn quốc gia Yok Don thành:kiểu rừng kín thường xanh, kiểu rừng thưa nửa rụng lá và kiểu rừng thưa cây
lá rộng rụng lá gồm 6 quần xã khác nhau [14]
Trong các công trình nghiên cứu về thảm thực thì chủ yếu là các côngtrình nghiên cứu về các thảm thực vật rừng và thảm thực vật đồng cỏ Cácnghiên cứu về thảm cây bụi chỉ dừng lại ở mức mô tả về số lượng và thànhphần loài
1.2.3 Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.2.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứuđược tiến hành từ lâu trên thế giới Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiêncứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933),Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hìnhthành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khácbiểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của
nó Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêuquan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật
Yucheng và cộng sự (1992), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinhthái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khinương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì
có 60 họ, 134 chi và 167 loài [46]
Trang 17Ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [33].
Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam
đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [5]
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê
số loài hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [15]
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798loài thuộc 164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [22]
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1994) nghiên cứu thành phần loài,dạng sống của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123loài thuộc 47 họ khác nhau [8]
Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trường củamột số mô hình rừng trồng ở một số tỉnh miền núi đã công bố thành phần loàigồm 211 loài thuộc 64 họ [10]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã cónhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạngthái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng câybụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta(họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chiArdisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae) [35]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) khi tổng kết các công trình nghiên cứu vềkhu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [27]
Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nươngrẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc
36 họ, 3 - 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 11
- 15 tuổi có 57 loài thuộc 31 họ [38]
Trang 18Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đãthống kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ,
468 chi, 654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây
gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[11]
Trần Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thựcvật Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khácnhau Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủyếu là cây gỗ dạng bụi cao từ 2 - 5m [32]
1.2.3.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thựcvật thích nghi với điều kiện môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với cácnhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâmnghiên cứu từ rất sớm
Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng:cách mọc được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã
I K Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh;thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặtđất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời
kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và pháttriển lâu năm G N Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớpcây nhiều năm và lớp cây hàng năm
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất
là hệ thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer(1934) [42] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong cácdạng sống đó Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khảnăng thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm Từ tổ hợp cácdấu hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ởđâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm
Trang 19Raunkiaer đã chia 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
2 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
3 Hemicryptophytes (He): nhóm cây có chồi nửa ẩn
4 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
5 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Ông đã xây dựng phổ chuẩn của các dạng sống ở các vùng khác nhautrên trái đất (SB):
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13ThBảng phân loại dạng sống cây thuộc thân thảo đã được lập ra lần đầutiên bởi Cannon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra
Braun - Blanquet (1951) đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tínhliên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ; mọc thành vạt;mọc thành dải nhỏ; mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [4]
Một số công trình nghiên cứu về dạng sống ở Việt Nam như: DoãnNgọc Chất (1969) nghiên cứu dạng sống của một số loài thực vật thuộc họHoà thảo Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hìnhđồng cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loạikiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [5]
Hoàng Chung (2003) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núiBắc Việt Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu câybụi, kiểu cây bụi thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi,kiểu thực vật có khả năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sốnglâu năm [6]
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằngkhoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vậtthành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo [11]
Trang 201.3 Những nghiên cứu về thảm cây bụi
1.3.1 Phân loại thảm cây bụi
Theo Thái Văn Trừng (1971) nước ta có trảng cây bụi khô nhiệt đớiphân bố tập chung ở Phan Rang, Phan Thiết, Cheo Reo, Đăk Lăk, MườngXén, An Châu, Tây Bắc
Nguyễn Hữu Tứ và Vũ Anh Tài khi nghiên cứu thảm thực vật ven bờBình Trị Thiên đã chia các loại thảm cây bụi:
+ Trảng cây bụi thứ sinh nhiệt đới trên đất địa đới: mọc trên đất hìnhthành đá bột kết, granit, trên đất đá bỏ hoang; cao 1 - 2 m và độ che phủ thưanơi đất mỏng hay sỏi sạn; cao 2 - 6 m và che phủ kín nơi đất dầy
+ Trên đất hình thành từ đá bazan, trảng cây bụi chỉ có diện tích nhỏ,còn trên đất dầy thì thảm cây bụi có diện tích lớn hơn
+Trảng cây bụi và trảng cỏ thứ sinh trên sườn và núi đá vôi: cao 5 - 8
m, che phủ thưa, gồm các loài cây gỗ của rừng cũ bị sót lại, dưới tầng cây bụi
là tầng cỏ
+ Trảng cây bụi thứ sinh trên cát: cao 2 - 5 m, che phủ kín, gồm cáccây gỗ nhỏ của rừng mới tái sinh Loại trảng này mọc trên cát vàng nghệ vớicác mảng nhỏ, độ che phủ tương đối kín
+ Trảng cây bụi chịu ngập thứ sinh trên dất phù sa: cao 2 - 6 m, che phủtương đối kín, thành phần loài gồm các cây bụi, cây gỗ nhỏ chịu ngập mặn
+ Trảng cây bụi chịu ngập thứ sinh trên cát ẩm nước ngọt: cao 3 - 5 mvới cấu trúc lộn xộn, cây bụi phân bố rộng, phát tán mạnh
+ Trảng cây bụi dựa biển trên các bãi biển đá: cao trên 3 m, mọc ở nơitiếp giáp với núi lấn ra sát biển, trên bãi đá, đất nhiễm mặn Dưới tán cây bụi
là các loài chịu mặn
+ Trảng cây bụi thứ sinh: chiếm diện tích nhỏ, cao hơn 8 m, che phủkín; gồm các cây bụi và cây gỗ nhỏ có bộ lá thường xanh, ngoài ra còn cótầng cỏ và dây leo [36]
Trang 21Về nguyên tắc, thảm cây bụi chỉ có thể cao dưới 5 m; một số kiểu thảmcây bụi tác giả gọi là trảng cây bụi ở đây có lẽ là không đúng.
Ma Thị Ngọc Mai và Lê Đồng Tấn (2004) đã gọi thảm cây bụi ở trạm
đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc là dạng thảm cây bụi nhiệt đới chủyếu thường xanh cây lá rộng trên đất địa đới Loại thảm cây bụi này hìnhthành do khai thác quá mức, chặt phá rừng làm nương rẫy, xử lý trắng rừngtrồng nhưng bị thất bại [23]
Trần Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) đã chia thảm cây bụi ởvườn quốc gia Ba Vì thành 2 dạng: quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh cây
lá rộng và các quần xã cây bụi thứ sinh ưu thế [32]
Nguyễn Nghĩa Thìn và Phan Thi Thúy Hằng (2009) đã phân chia trảngcây bụi ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thành trảng bụi nhiệt đớithường xanh lá cứng trên cát khô (mọc trên vùng cát cố định, có 2 tầng là tầngcây bụi và tầng cây gỗ nhỏ, độ che phủ 30 - 70 %) và trảng cây bụi nhiệt đớithường xanh cây lá rộng trên cát ẩm (mọc trên vùng cát ẩm - ngập nướcthường xuyên hay định kì, ven rừng nhiệt đới thường xanh trên cát ẩm hoặctrên các vùng trũng ngập nước định kì, loại trảng cây bụi này cũng có 2 tầng
là tầng cây bụi và tần cây gỗ nhỏ, có độ che phủ trên 85%) [28]
Nguyễn Nghĩa Thìn, Trương Ngọc Kiểm, Vũ Anh Tài (2009) khi nghiêncứu về sự thay đổi của trạng thái thảm thực vật theo độ cao ở Vườn Quốc giaHoàng Liên - tỉnh Lào Cai đã goi thảm cây bụi ở đây là: trảng cây bụi nhiệt đới(mọc ở độ cao dưới 1600 m), trảng cây bụi á nhiệt đới (mọc ở độ cao từ 1600
m đến 2600 m) và trảng cây bụi á nhiệt đới chịu hạn trên đường đỉnh (mọc ở
độ cao trên 2600 m với các điều kiện đặc biệt của địa hình, khí hậu) [29]
1.3.2 Nguồn gốc của thảm cây bụi trong đai nhiệt đới
Theo Richard P.W (1952), Vương Tấn Nhị dịch cho rằng tất cả cácquần xã thực vật do rừng mưa nhiệt đới sinh ra bao gồm cả thảm cỏ, thảm cây
Trang 22bụi, đến rừng thứ sinh nếu được bảo vệ không chặt phá, đốt lửa, chăn thảtheo thời gian qua một số giai đoạn trung gian chúng đều có thể phục hồi lạirừng cao đỉnh [43].
Theo J Vidal (1958), trong đai dưới 1000m thì có các savan bụi, ở độ
thì có các kiểu savan khác nhau như: savan bụi, savan gỗ, savan cỏ tranh vàthảo nguyên giả
Theo Cooper, Taiton (1968), Dương Hữu Thời (1981), khi nghiên cứunguồn gốc thứ sinh của các thảm cỏ trong vùng nhiệt đới khác nhau đã kếtluận: các quần xã cỏ và cây bụi trong vùng nhiệt đới đều hình thành trên quần
xã rừng bị chặt hạ
Thái Văn Trừng (1998), khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã cónhận xét về tổ thành loài thực vật của cây bụi như sau: trong các trạng tháikhác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ
yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavestta (họ Cà phê - Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi
Ardisia, Maeasa (họ Đơn nem - Myrisinaceae) [35].
Theo Hoàng Chung và cộng sự (2003), lớp quần hệ Savan được hìnhthành do khai phá rừng và đồng cỏ làm cho đất bị khô, bị đá ong hóa, khảnăng thấm và giữ nước rất kém, những cây trung sinh không thể tồn tại, chỉ cócây bụi và cây thuộc thảo hạn sinh phát triển nên hình thành Savan cỏ hoặcSavan bụi Theo tác giả, quá trình thoái hóa của của đồng cỏ Ngân Sơn qua 5giai đoạn Ở giai đoạn 4, những loài hòa thảo ưu thế biến mất, cây bụi trởthành loài ưu thế Trong thảm cỏ xuất hiện những đám cây bụi rất lớn Câybụi chưa khép tán nhưng chiếm tầng trên cao làm thay đổi ngoại mạo củađồng cỏ Khi tiếp tục tăng cường những tác động của con người thì đồng cỏxảy ra giai đoạn thoái hóa 5 là cây bụi phát triển mạnh, trở nên khép tán và
Trang 23chiếm vị trí tầng trên cùng Lúc này cấu trúc thẳng đứng của thảm cỏ vàngoại mạo của nó đã biểu hiện dạng Savan cây bụi hay thảm cây bụi Sựkhai phá đồng cỏ làm nương rẫy, chăn thả và các hình thức tàn phá tiếp theo
đã tạo ra các kiểu thảm thực vật thoái hóa khác nhau, và tột cùng là thảm câybụi hạn sinh [6]
Theo Hoàng Chung (2004), do sự tác động của con người lên lớp phủthực vật vùng nhiệt đới làm cho lớp đất bị rửa trôi mạnh, đặc biệt là hìnhthành tầng đá ong đã làm cho độ phì nhiêu của đất giảm cực đại, giảm khảnăng thấm nước của đất Kết quả là bề mặt bị đốt nóng mạnh trong thời kì khônóng Trong điều kiện đó hình thành các kiểu Savan và Savan giả khác nhauvới ưu thế của các loài hạn sinh, vùng núi thấp tồn tại cây cỏ đểm cây gỗ vàcây bụi
Cũng theo Hoàng Chung (2004), trong đai nhiệt đới, trên những vùng
đã bị chặt phá, khi đất còn khá tốt và độ ẩm còn khá cao thì sẽ hình thành ởđây một loại đồng cỏ Thảm cỏ ở đây gồm các cây có thân rễ dài, búi thưathuộc nhóm trung sinh sống lâu năm, sinh trưởng vào mùa đông Trong quátrình tác động tiếp theo của con người sẽ làm cho lớp đất bị bào mòn, khảnăng giữ nước của đất kém, đất có độ chua cao,trong thảm cỏ tỷ lệ cây hạnsinh tăng lên, cuối cùng chỉ tồn tại ở đây các loài cỏ, cây bụi hạn sinh và câyđoản mệnh, hình thành các savan cỏ, savan cây bụi hoặc thảm cây bụi hạnsinh, quá trình này có thể tóm tắt như sau:
Rừng nguyên sinh -> rừng thứ sinh -> đồng cỏ -> savan cỏ hoặc savan bụi ->thảm cây bụi hạn sinh
Trong điều kiện sống nghèo kiệt về chất dinh dưỡng, vai trò lập quầncủa các cây trung sinh sẽ bị thay thế bằng các cây khác đặc biệt là tăng tỷ lệcây bụi hạn sinh, do vậy từ dạng đồng cỏ và đồng cỏ á thảo nguyên sẽ bị biếnđổi thành các kiểu savan cây thuộc thảo, savan cây bụi và thảm cây bụi hạnsinh
Trang 24Kết quả nghiên cứu về khối lượng của nhóm cây bụi trong vùngnghiên cứu (đồng cỏ phía Bắc Việt Nam) cho thấy: khối lượng các cây bụităng theo năm.
Kiều Quốc Lập (2009), nghiên cứu đặc điểm phân hóa thảm thực vật tựnhiên tại xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai cho thấy: ở vành đai thực vật
ở độ cao dưới 1600m có trảng cây bụi thứ sinh được hình thành trên đất bỏhoang sau quá trình khai thác rừng làm đất canh tác, phân bố phía tây nam vàmột phần nhỏ trên các đồi gần trung tâm xã Tả Phìn Trên đất có tầng dày,trảng cây bụi cao 2 - 5 m, che phủ kín, nhiều dây leo tầng cỏ và cây bụi khôngphân tầng cùng một số cây rừng còn sót lại cũng như cây gỗ tái sinh tạo nêncấu trúc lộn xộn Trên đất mỏng, cây bụi cao 2 - 3 m, che phủ 60 - 70%, tầng
cỏ dầy đặc thấp hơn 0,5 m, dây leo ít Ở độ cao trên 1600 m, trảng cây bụicũng được hình thành trên đất bỏ hoang sau canh tác Giai đoạn đầu là cây cỏtái sinh thành trảng cỏ Đất dần được cải tạo và các cây bụi lai tái sinh Một sốdiện tích cây bụi được hình thành trực tiếp sau khi rừng bị khai thác cạn kiệt.Đất dưới trảng cây bụi tương đối dầy nên cây gỗ có thể tái sinh nhanh [20]
Hoàng Thị Thanh Thủy (2009), đã kết luận về trạng thái thảm cây bụi ở
xã Thần Sa huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên như sau: thảm cây bụi xuấthiện rải rác trong khu bảo tồn, loại thảm thực vật này có 2 tầng, tầng 1 gồmcác cây bụi và cây gỗ tái sinh với chiều cao trung bình 1 - 3 m; tầng 2 cóchiều cao dưới 0,5m chủ yếu gồm các cây cỏ và cây bụi Ngoài ra có một số
loài thực vật phân bố ở ngoại tầng như Bòng bong (Lygodium flexuosum), Hà thủ ô nam (Streptocaulon juventas), Sắn dây rừng (Pueraria montana), Ông lão ten (Clematis cadimia), Đồng bìa trái láng (Ventilago leiocarpa), Đồng bìa ít hoa (Ventilago paucofrora) [30].
Hoàng Thị Hải Âu (2010), khi nghiên cứu diễn thế của thảm thực vậtthoái hóa do tác động của quá trình khai thác than ở xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng
Trang 25Ninh đã cho rằng: thảm thực vật thoái hóa do tác động của quá trình khai thácthan ở xã Dương Huy, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh không còn là thảmthực vật rừng, mà là thảm thực vật cây bụi vì mật độ tập đoàn gỗ thấp (392 -
792 cây/ha) và độ tàn che cũng không vượt quá 30% [1]
1.3.3 Những nghiên cứu về thành phần loài
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997), nghiên cứu thành phần loài vàdạng sống cây bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 23loài thuộc 47 họ khác nhau [9]
Dương Thị Lan (2000), đã nghiên cứu về thành phần loài của thảm câybụi 1 - 2 tuổi trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi trênmột số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho thấy có 72 loài thuộc 36 họ thuộcthảm thực vạt cây bụi trong khu vực nghiên cứu ở Thái Nguyên Trong đó họhòa thảo chiếm số lượng lớn nhất (10 loài) [19]
Trần Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005), khi nghiên cứu một sốdẫn liệu về thảm thực vật vườn quốc gia Ba Vì đã xác định được các loài câybụi thứ sinh thường xanh cây lá rộng chủ yếu ở khu vực nghiên cứu chỉ cao từ
2 - 5 m, thường xanh, lá rộng, độ che phủ tán trên 70% Trong đó có cả cácloài thường gặp và loài xâm nhập Với dạng quần xã cây bụi ở đây rất thuậnlợi cho viêc khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên [32]
Chu Văn Bằng (2010) nghiên cứu về tính đa dạng thực vật có mạch tại
xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy: khi xét độ đa dạng
ở mức độ ngành, tác giả đã thống kê được trạng thái cây bụi có 85 họ (chiếm74,56% so với tổng số họ khu vực nghiên cứu), 235 chi (chiếm 72,75% tổng
số chi trong vùng nghiên cứu), và 243 loài (chiếm 53,29% tổng số loài khuvực nghiên cứu) Khi xét độ đa dạng ở mức độ họ, trong thảm cây bụi có 322
loài thuộc 69 họ Trong đó nhiều nhất là họ thầu dầu (Euphorbia ceae) với 39
loài Khi xét độ đa dạng ở mức độ các chi, trong thảm cây bụi có 121 loài, 56
Trang 26chi, 35 họ Tác giả cũng nghiên cứu về phổ dạng sống của thảm cây bụi gồm
5 dạng chính là cây chồi trên mặt đất, cây có chồi nửa ẩn, cây có chồi ẩn vàcây sống 1 năm Kết quả cho thấy, trong thảm cây bụi, cây có chồi trên mặtđất chiếm nhiều nhất là 49,03% Khi xét về trạng thái thảm cây bụi trong khuvực nghiên cứu, trạng thái này gồm 2 tầng: tầng 1 có chiều cao trung bình 1 -
3 m, tầng 2 có chiều cao nhổ hơn 0,5 m Trạng thái thảm cây bụi ở đây là giaiđoạn tiếp theo của của quá trình diễn thế đi lên từ thảm cỏ mà Guột
(Dicranopteris linearis) là loài chiếm ưu thế trong giai đoạn đầu [3].
Trương Thị Tố Uyên (2010), khi nghiên cứu về tài nguyên cây thuốctrong một số trạng thái thảm thực vật đã đề cập tới sự phân bố rải rác của cáctrảng cây bụi trong khu vực nghiên cứu Tác giả thống kê được 72 loài, 35chi, 23 họ [37]
1.3.4 Những nghiên cứu về năng suất của thảm cây bụi
Trên thế giới, nhiều tác giả đã nghiên cứu năng suất của các hệ sinhthái trên trái đất và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất Lieth đã giới thiệubảng giá trị hệ số tác động có ích đối với việc sử dụng bức xạ bởi thảm thựcvật trên bề mặt trái đất Williams và cộng sự đã xác định được mối quan hệgiữa năng suất đồng hóa tuyệt đối của cá thể và năng suất của quần xã thựcvật phụ thuộc vào chỉ số bề mặt lá (CM) Vareschi (1951), Larcher, Cermuca,Schmidt (1773) đã nghiên cứu về chỉ số bề mặt lá của các kiểu thảm thực vậtkhác nhau trong mối tương quan với sự phân bố năng suất tuyệt đối, chỉ số
bề mặt lá và diệp lục tố của các kiểu thực bì trên trái đất (dẫn từ Larcher W.,
1978).
Ở Việt Nam chỉ có các nghiên cứu về năng suất của cây bụi củaNguyễn Thế Hưng Tác giả đã thực hiện so sánh tốc độ tăng trưởng của cáccây gỗ trong các thảm thực vật bằng kiểm định giả thiết thống kê các tham số(2005) và nghiên cứu năng suất của thảm thực vật cây bụi và tốc độ tăngtrưởng của cây gỗ trong thảm thực vật cây bụi ở huyện Yên Bình, tỉnh YênBái bằng kiểm định giả thiết thống kê các tham số (2008)
Trang 271.3.5 Xu hướng biến đổi của thảm cây bụi
1.3.5.1 Nguyên nhân biến đổi của thảm thực vật
Theo V N Sukasốp (1954, 1964) có 3 nguyên nhân chính:
+ Nguyên nhân thuần nội tại: chủ yếu do quan hệ cạnh tranh giữa các loài.+ Nguyên nhân nội tại sinh thái: do điều kiện sinh thái biến đổi làmquần xã sinh vật biến đổi
+ Nguyên nhân bên ngoài: do khí hậu, đất đai thay đổi , diễn thế dođộng vật và con người gây ra
1.3.4.2 Những nghiên cứu về xu hướng biến đổi của thảm cây bụi
Bazzaz, F A (1968) đã nghiên cứu diễn thế phục hồi thảm thực vậttrên môi trường đất sau trồng trọt bị bỏ hoang ở vùng núi cao Shawnee, phíanam Ilinois (Mỹ) cho thấy: Ban đầu từ môi trường trống trơn sẽ phát triểnlên các loại cây thân thảo, sau 25 năm hình thành thảm cây bụi Trongkhoảng thời gian 25 - 40 năm hình thành tầng vượt tán Trong quá trình diễnthế trên có sự biến đổi về điều kiện đất đai như hàm lượng mùn, khả nănghấp thụ nước của đất [39]
T.Tiunei và cộng sự (1992) nghiên cứu về thảm thực vật thứ sinh trênnương rẫy ở Mengla - XiSuang banna (Trung Quốc) đã cho thấy: sau 10 nămrừng phục hồi có ba tầng: tầng cây gỗ ưu thế, tầng cây bụi, dưới cùng là tầng
cỏ và dây leo
Ma Thị Ngọc Mai (2007), nghiên cứu về diễn thế đi lên của thảm thựcvật ở tram đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụ cận đã khẳngđịnh: thực vật tại trạm đa dang sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc) và vùng phụcận có 4 lớp quần hệ là lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần
hệ cây bụi và lớp quần hệ cây cỏ Thảm thực vật ở đây đang trong quá trìnhdiễn thế đi lên qua 4 giai đoạn: thảm cỏ -> thảm cây bụi -> rừng thứ sinh ->rừng thành thục Như vậy trạng thái thảm cây bụi gặp điều kiện thuận lợi sẽbiến đổi theo xu hướng thành rừng thứ sinh [24]
Trang 28Theo Đỗ Hữu Thư (2000) [26], thảm cây bụi là đối tượng rất quantrọng để khoanh nuôi phục hồi rừng, bởi vì thảm cây bụi thường phát triểntrên đất chưa có rừng, nương rẫy cũ và rừng bị thoái hóa, nơi diễn ra quá trìnhdiễn thế thứ sinh và diễn thế tự nhiên mạnh mẽ cho phép hình thành rừng đápứng yêu cầu kinh tế, xã hội và môi trường với thời hạn xác định, góp phầntrong việc chống xói mòn đất và bảo vệ môi trường.
Chu Thị Hồng Huyền (2009), nghiên cứu đánh giá hiệu quả của môhình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyêncho rằng: trong điều kiện nhiệt đới mưa mùa và đất đai chưa bị thoái hóa nặngthì thảm cây bụi còn lại là các trạng thái tạm thời trong quá trình diễn thế đilên của thảm thực vật Vì vậy nếu được bảo vệ thì chúng sẽ nhanh chóng đượcphục hồi thành các quần hệ rừng tương ứng [18]
Hoàng Thị Hải Âu (2010), nghiên cứu diễn thế của các thảm thực vật ở
xã Cảm Phả, tỉnh Quảng Ninh cho thấy: do quá trình khai thác than quá mức,rừng bị tác động mạnh mẽ tới mức trở thành thảm cây bụi, tổ thành các loàicây gỗ có sự thay đổi lớn: số loài cây ưa sáng tăng lên, chất lượng rừng giảmsút Nếu độ che phủ tiếp tục giảm do thực vật tiếp tục bị phá, hình thành thảmcây bụi thoái hóa cao, thì càng tăng cường tỷ lệ cây ưa sáng mọc nhanh sốngtạm cư có chất lượng gỗ thấp Khi thảm thực vật cây bụi tiếp tục bị khai tháctrong quá trình khai thác than thì sẽ dẫn tới việc chuyển kiểu phân bố từ dạngcụm sang dạng ngẫu nhiên Càng ngày số lượng cây tái sinh bổ sung giảm dothiếu các loài cây gỗ tầng cao và sự cạnh tranh giữa các loài cây càng ngàycàng tăng lên [1]
Những nghiên cứu về thảm cây bụi ở Việt Nam còn rời rạc, chưa cótính hệ thống để so sánh giữa các thảm cây bụi trong các điều kiện khác nhau.Thuật ngữ thảm cây bụi dùng cũng chưa thật chính xác, kèm theo tính phứctạp về nguồn gốc đã làm cho việc phân loại khó thêm Xu hướng biến đổi của
nó đặc biệt là xác định vai trò của thảm cây bụi với quá trình diễn thế cácthảm thực vật ở Việt Nam cũng cần có sự nghiên cứu thêm về thảm cây bụi
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
1 Xác định hiện trạng và những đặc điểm cơ bản của các thảm cây bụi tại một
số xã thuộc thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
2 Cung cấp thêm những dữ liệu về năng suất phần trên mặt đất và những tác động của con người, động vật đến thảm cây bụi
3 Xác định nguồn gốc và xu hướng biến đổi của một số kiểu thảm cây bụi, đánh giá vai trò và hiệu quả kinh tế, môi trường từng kiểu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu là các trạng thái khác nhau về hình thái, cấu trúc và nguồn gốc của thảm cây bụi
2 Phạm vi nghiên cứu: các ô nghiên cứu được đặt trên địa bàn ba xã là Bình Sơn, Vinh Sơn, Tân Quang của thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
3 Thời gian nghiên cứu: từ 05/2011 đến 02/2012
2.3 Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu những đặc điểm sinh thái môi trường của từng kiểu thảm (địa hình, khí hậu, đất đai, tác động của con người)
2 Xác định nguồn gốc các trạng thái thảm cây bụi khác nhau tại các vùng khác nhau trong thị xã
3 Xác định khu vực phân bố của các kiểu thảm cây bụi
4 Xác định các đặc điểm đặc trưng của từng trạng thái về: thành phần loài, dạng sống, cấu trúc,
5 Xác định năng suất phần trên mặt đất
6 Xu hướng biến đổi và hướng sử dụng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Trang 302.4.1 Phương pháp điều tra trong dân
Trực tiếp phỏng vấn những người chủ rừng, ban lãnh đạo cơ sở hay cơquan chuyên môn (ủy ban nhân dân huyện, ủy ban nhân dân xã, chi cục kiểmlâm ) về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, về nguồngốc, độ tuổi, trạng thái của thảm cây bụi, tên địa phương của các loài thực vật,những tác động của con người và động vật tới thảm cây bụi
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
2.4.2.1 Nghiên cứu ngoại cảnh của khu vực nghiên cứu
Thu thập số liệu các loại bản đồ địa phương, điều tra nguồn gốc, phân
bố của các kiểu thảm cây bụi Trực tiếp đi thực địa chọn địa điểm nghiên cứu
cụ thể trong từng xã
* Phương pháp ô tiêu chuẩn
Trong từng vùng nghiên cứu và từng trạng thái TCB cụ thể, chúng tôilập các ô nghiên cứu theo phương pháp ngẫu nhiên Chúng tôi áp dụng ô tiêu
Trong các ô tiêu chuẩn chúng tôi nghiên cứu theo phương pháp điềutra của Hoàng Chung (2008) [7] Ngoài ra còn điều tra thành phần loài, dạngsống ngoài các ô
* Phương pháp thu mẫu
Đánh giá độ che phủ bằng mắt là phần trăm diện tích đất được thảmthực vật che phủ
Trong từng ô tiêu chuẩn sau khi đã mô tả hình thái, cấu trúc sẽ cắt toàn
bộ sát đất để xác định sinh khối Mẫu được phân chia ngay theo loài, cây thảo
sẽ được cân toàn bộ sau đó điếm số cá thể, lấy ¼ trọng lượng về để xác định tỉ
lệ thân lá và tươi khô, lấy cả phần chết Cây bụi cũng cân toàn bộ sau đếm số
cá thể, đếm số cành, xác định tuổi của cá thể bằng phương pháp hình thái vàvòng gỗ của Hoàng Chung (2008) [7]
Bước tiếp theo, lấy ¼ số cành (tương đương số cành trên 1m2) cântrọng lượng mang về phòng thí nghiệm phân tích
Trang 31Thu mẫu đất: trong các ô tiêu chuẩn bố trí các phẫu diện Các phẫu diệnđào sâu 15cm, sau đó trộn lẫn đất 3 ô trong một vùng nghiên cứu rồi lấy 0,5
kg mẫu đất Mẫu đất được cho vào túi nilong kín mang về phòng thí nghiệmphân tích
* Nghiên cứu đặc điểm môi trường sống của từng kiểu thảm
Điều kiện đất đai: mẫu đất mang về phân tích trong phòng thí nghiệm
về các chỉ tiêu: thành phần cơ giới, độ xốp, độ ẩm, pH, đạm dễ tiêu, lân, kali Tác động của con người và động vật: dựa vào các tài liệu ghi chép vềtác động của con người và động vật đến vùng nghiên cứu, kết hợp với phỏngvấn người dân địa phương, ban lãnh đạo cơ sở
2.4.2.2 Các phương pháp phân tích mẫu
* Phân tích mẫu thực vật
Xác định tên khoa học, tên địa phương của các loài cây thu đượctrong khu vực nghiên cứu theo các tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2];Phạm Hoàng Hộ (1991, 1992, 1993) [15]
Xác định dạng sống theo phương pháp của Raunkiaer (1934) vàHoàng Chung (2008) [7]
Phân tích năng suất - các chỉ tiêu năng suất cũng phân tích theo phươngpháp của Hoàng Chung (2008) [7]
Trong phòng thí nghiệm, từng loài cây thảo được phân thành thân, lá,phần chết cho vào túi riêng từng loài Cây bụi sẽ phân chia phần một năm vànhiều năm của từng loài Căn cứ vào vòng gỗ ở gốc thân và hình thái cànhđếm số tuổi Cây bụi trong 1 năm có 2 lần mọc cành lá Vì thế, chúng tôi đithu mẫu 2 lần trong năm là tháng 5 và tháng 10 Mẫu vật từng đợt sẽ đượcphân chia 1 năm và nhiều năm Phần 1 năm đầy đủ của 1 loài sẽ là tổng cả 2lần (xuân và thu) Sau đó, phân phần thân, lá , phần chết cho 1 năm và nhiềunăm Tăng trưởng của thân nhiều năm chưa tính được chính xác, nhưng có thểlấy tổng trọng lượng phần thân chia cho tuổi của nó, lá của phần nhiều năm
Trang 32chỉ của năm thứ 2 (thường rất ít) Sau khi đã phân chia xong đóng bao và đểphơi khô không khí trong phòng thí nghiệm Khoa Sinh-KTNN, Trường Đạihọc Sư phạm-Đại học Thái Nguyên
321
Hình 2.1 Cách đếm tuổi cây bụi dựa vào vòng gốc
1 2
Trang 33* Phân tích mẫu đất
Xác định độ ẩm của đất theo TCVN 4196 - 1995
Xác định hàm lượng mùn (%) theo phương pháp Walley - Black.
Xác định hàm lượng Nitơ dễ tiêu (mg/ 100g) theo phương pháp Chiurin
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Sông Công được thành lập năm 1985, là một thị xã trẻ của tỉnh TháiNguyên Ba mặt Đông, Tây và Nam giáp huyện Phổ Yên; phía Bắc giápthành phố Thái Nguyên
Thị xã có vị trí khá thuận lợi: cách thủ đô hà Nội 65 km về phía Bắc,cách thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Nam, cách sân bay Nội Bài 45 km,cách Hồ Núi Cốc 17 km
3.1.2 Địa hình
Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng Bắc-Nam và thấpdần xuống phía Nam Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đá phong hóamạnh tạo thành nhiều dộng và thung lũng nhỏ Phía Tây Nam có dãy TamĐảo với đỉnh cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướngTât Bắc-Đông Nam Ngoài dãy núi trên còn có dãy Ngân Sơn bắt đầu từ BắcKạn chạy theo hướng Tât Bắc-Đông Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơncũng chạy theo hướng Tât Bắc-Đông Nam Cả ba dãy núi Tam Đảo, NgânSơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi cao che chắn gió mùa đông bắc
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình lại khôngphức tạp lắm so với các tỉnh trung du miền núi khác, đây là một thuận lợi củaThái Nguyên cho canh tác lâm nghiệp và phát triển kinh tế xã hội nói chung
so với các tỉnh trung du miền núi khác
Thị xã Sông Công có địa hình tương đối bằng phẳng, mang đặc điểmcủa vùng trung du, nền dốc dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, cónhiều ngọn núi cao vài trăm mét Nơi cao nhất trong khu vực nội thị là ngọnnúi Tảo (54m), độ nền cao trung bình thường ở mức 15 - 17 m
Trang 353.1.3 Đất đai
Thị xã Sông Công có diện tích đất tự nhiên là 8.276,27 ha, gồm: đấtNông nghiệp, đất Lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng
Mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu từ 4 - 5 m
Tình hình sử dụng đất ở Sông Công:
Đất Nông nghiệp có diện tích 4.502,09 ha (chiếm 54,4%), gồm: đấttrồng lúa (2.071,61 ha), đất cỏ dùng vào chăn nuôi (59,74 ha), đất trồng câyhàng năm khác (394,09 ha) và đất trồng cây lâu năm khác (1.898,65 ha)
Đất Lâm nghiệp (diện tích đất có rừng) có diện tích 1.896,91 ha(chiếm 22,2%)
Đất ở có diện tích 423,29 ha (chiếm 5,1%), gồm: đất ở nông thôn(288,34 ha) và đất ở thành thị (134,95 ha)
Đất chuyên dùng có diện tích 1.394,09 ha (chiếm 16,8%)
Đất chưa sử dụng có diện tích 59,89 ha (chiếm 0,72%), gồm: đất bằngchưa sử dụng 18,42 ha và đất đồi núi chưa sử dụng 41,47 ha
3.1.4 Khí hậu
Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm chia làm 2 mùa rõrệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4năm sau Lượng mưa trung bình khoảng 2000 đến 2500 mm; cao nhất vàotháng 8 và thấp nhất vào tháng 1 Mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt:vùng lạnh nhiều nằm ở phía bắc huyện võ Nhai; vùng ấm gồm các huyện: Đại
Từ, Thành phố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông
1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm
Trang 36Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông,lâm nghiệp.
Thị xã Sông Công thuộc vùng trung du Bắc Bộ Nhiệt độ không khítrung bình là 230C, nhiệt độ tháng cao nhất là 280C, nhiệt độ tháng thấp nhất
là 16,10C; nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,40C và nhiệt độ thấp tuyệt đối là 30C
Độ ẩm trung bình năm (%) là 82%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất là86%, độ ẩm tháng trung bình thấp nhất là 78%, độ ẩm tháng trung bình thấptuyệt đối là 16%
Lượng mưa trung bình hàng năm là 2168 mm, số ngày mưa hàng năm
là 142 ngày, lượng mưa tháng lớn nhất 443 mm, lượng mưa tháng nhỏ nhất là
22 mm, số ngày mưa trên 50 mm là 12 ngày, số ngày mưa trên 100 mm là 2
-3 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất là -35-3 mm, lượng nưa tháng lớn nhất là
1103 mm, lượng nưa tăng dần từ đầu mùa đến cuối mùa và đạt mức lớn nhấtvào tháng Tám
3.1.5 Thủy văn
Thị xã Sông Công có dòng Sông Công chảy qua, Sông Công dài 96 km,bắt nguồn từ Định Hóa qua Đại Từ, thị xã Sông Công, Phổ Yên, rồi nhập vàosông Cầu
Trên Sông Công đã xây dựng hồ Núi Cốc với dung tích hồ 175,5 triệu
261/s.km2 Mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 10, chiếm 74,70% lượng nước cảnăm, tháng 8 có lượng dòng chảy lớn nhất chiếm 19,3% lượng nước cả năm,tháng cạn kiệt nhất chiếm 1,8% lượng nước cả năm
Trang 373.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Thái Nguyên được đánh giá là tỉnh có trữ lượng than lớn thứ 2 trongcác tỉnh thành cả nước bao gồm than mỡ, than đá được phân bố tập chung ở 2huyện Đại Từ và Phú Lương Tiềm năng than mỡ có khoảng trên 15 triệu tấn,trong đó trữ lượng tìm kiếm thăm dò khoảng 8,5 triêu tấn, chất lượng tươngđối tốt, tập chung ở các mỏ: Phấn Mễ, Làng Cẩm, Âm Hồn
Than đá với tổng trữ lượng tìm kiếm và thăm dò khoảng 90 triệu tấntập chung ở các mỏ: Bá Sơn, Khánh Hòa, Núi Hồng
Khoáng sản kim loại có nhiều ở Thái Nguyên:
- Quặng sắt: có 47 mỏ và điểm quặng trong đó có 2 cụm mỏ lớn: cụm mỏ sắt
ở Trại Cau có trữ lượng khoảng 20 triệu tấn có hàm lượng sắt khoảng 58,% 61,8% Cụm mỏ sắt Tiến Bộ nằm trên trục đường ĐT 259 có tổng trữ lượngquặng khoảng 30 triệu tấn: quặng Titan: đã phát hiện 18 mỏ và điểm quặng
-sa khoáng và quặng gốc phân bố chủ yếu ử huyện Phú Lương và Đại Từ, trong
đó có 01 mỏ đã thăm dò và khai thác (mỏ Cây Châm, Phú Lương), thành phầnchính của quặng là Ilmenít Tổng trữ lượng dự kiến khoảng 18 triệu tấn
- Ngoài ra còn có đồng, thủy ngân, thiếc, chì, kẽm, vàng,… có rải rác ở các địaphương trong tỉnh
- Khoáng sản phi kim loại có: pyrít, barít, phốtphorít… trong đó đáng chú ý
là phốtphorít ở một số điểm quặng: Núi Văn, Làng Mới, La Hiên Tổng trữlượng khoảng 60.000 tấn
- Thái Nguyên có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng trong đó đáng chú ý
là đất sét, xi măng ở 2 mỏ Cúc Đường và Khe Mo, trữ lượng khoảng 84,6triệu tấn Đá Cacbônat bao gồm đá vôi xây dựng, đá vôi xi măng.Đôlômit tìm thấy ở nhiều nơi Riêng đá vôi xây dựng có trữ lượng xấp xỉkhoảng 100 tỉ m3, trong đó 3 mỏ Núi Voi, La Hiên, La Giang có trữ lượng
222 triệu tấn, ngoài ra gần đây mới phát hiện mỏ sét Cao Lanh tại xã Phú Lạc,
Trang 38m3 Đó là vùng nguyên liêu dồi dào cho sự phát triển ngành vật liệu xây dựng,trong đó có xi măng và đá ốp lát.
Nhìn chung, tài nguyên khoáng sản tỉnh Thái Nguyên rất phong phú vềchủng loại có ý nghĩa lớn trong cả nước Tiềm năng quặng sắt tạo cho TháiNguyên một lợi thế lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim,khai khoáng… để trở thành một trong các trung tâm luyện kim lớn của cả nước
3.2 Khái quát điều kiện xã hội vùng nghiên cứu
3.2.1 Dân số
Theo số liệu thống kê của huyện Sông Công, đến năm 2010 trên địabàn huyện có 49.840 nhân khẩu Dân số trung bình của huyện tăng 0,52%trong năm 2010
Tỉ lệ dân số nam và nữ của huyện có biến động nhỏ trong những nămqua (tỉ lệ dân số nữ luôn thấp hơn nam trong vòng 5 năm từ 2005-2010)
Tỉ lệ dân thành thị tăng nhanh qua các năm gần đây và chiếm tỉ lệ caohơn dân số ở nông thôn
- Số người sống ở thành thị: 26.577 người, chiếm 53,3%
- Số người sống ở nông thôn: 23.263 người, chiếm 46,7%
- Dân số nữ: 24.560 người, chiếm 49,3%
- Dân số nam: 25.280 người, chiếm 50,7%
Dân cư huyện Sông Công phân bố không đều, ở vùng cao và vùng núidân rất thưa thớt, trong khi đó ở vùng thành thị và đồng bằng dân cư lại dày
số này thuộc loại cao so với các huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên
Trang 39764.172 triệu đồng năm 2007 tăng lên 1.609,9 triệu đồng năm 2010 Giá trịsản xuất nông nghiệp tăng chậm hơn nhưng tổng giá trị sản xuất nông nghiệp(theo giá cố định 1994) đạt 9.877,6 triệu đồng gấp 6,1 lần giá trị sản xuấtcông nghiệp là 1609.9 triệu đồng.
Các mô hình chăn nuôi quy mô, tập chung ngày càng phát triển Sốtrang trại hiện có trên địa bàn huyện tính đến 01/07/2010 là 25 trang trại (24trang trại chăn nuôi, 1 trang trại trồng cây lâu năm) Đàn lợn giảm mạnh với
số lượng hiện nay là 17.443 con, đàn trâu được duy trì ổn định ở mức 4.874con, đàn bò tăng hơn năm trước với 2002 con, đàn gia cầm tăng nhanh với sốlượng hiện nay là 377.000 con
Các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao được phát triển mạnh như: chè,lạc, đậu tương, mía, tạo ra thu nhập đáng kể cho người dân Sản lượng lươngthực có hạt giảm từ 17.345 tấn (2007) xuống 16.970 tấn (2010) Bình quânlương thực đầu người đạt 340 kg/ người/ năm Sản xuất lương thực đủ đápứng nhu cầu toàn huyện
Ngành Lâm nghiệp đã chuyển hướng khai thác sang trồng và bảo vệrừng Diện tích trồng rừng mới tập chung tính đến năm 2010 đạt 145 ha, diệntích rừng được chăm sóc là 1660 ha
Ngành công nghiệp phát triển mạnh, tập chung nhiều khu công nghiệplớn, đa dạng về thành phần và ngành sản suất Phân theo loại hình kinh tế gồm:Quốc doanh Trung ương, Quốc doanh Địa phương, Ngoài quốc doanh, khu vựckinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài Phân theo ngành công nghiệp gồm: côngnghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và phân phối điện nước
3.2.3 Giao thông, thủy lợi
Hệ thống giao thông trong thị xã rất thuận lợi, 89% xã, phường cóđường ô tô đến trung tâm xã là đường nhựa, 11% xã có đường cấp phối,không có xã nào có đường đất và đường đá
Trang 40Tổng chiều dài kênh mương nội đồng được kiên cố hóa tính đến thờiđiểm 31/21/2010 là: cứng hóa kênh nội đồng cấp 1 được 53,695 km, cứnghóa kênh nội đồng cấp 2 được 37,75 km Hệ thống kênh mương nội đồngphục vụ việc tưới tiêu cho cây trồng thuận lợi, diện tích gieo trồng cây hàngnăm được tưới tiêu là 4.500 ha, tỉ lệ diện tích được tưới tiêu cho cây trồnghàng năm là 82%.
3.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế
- Về văn hóa: Sông Công là một thị xã trẻ, có nền kinh tế phát triển mạnh,giao thông thuận lợi nên trình độ dân trí cao
- Về hệ thống giáo dục: Các xã trong thị xã đã có các trường từ mầm nonđến trung học cơ sở Toàn thị xã đã đạt phổ cập giáo dục mầm non vàtrung học cơ sở Các trường tiểu học không còn trường tạm và lớp học tranh,tre, nứa lá
- Về y tế: Trên địa bàn thị xã có 11 trung tâm y tế, trong đó có 1 bệnh viện, 1phòng khám đa khoa và 9 trạm y tế xã phường Số giường bệnh/1000 bệnhnhân là 6,5 giường Số cán bộ y tế/1000 bệnh nhân là 7,4 người Cán bộngành y, dược đều được đào tạo trong các trường trung cấp, cao đẳng, đại họcchuyên nghiệp, có 72 bác sĩ và trên đại học, 32 y sĩ và kĩ thuật viên, 246 y tá
và điều dưỡng viên, 5 dược sĩ cấp cao, 14 dược sĩ trung cấp Với độ ngũ cán
bộ y tế có trình độ chuyên môn cao, đảm bảo cho công tác chăm sóc và bảo
vệ sức khỏe người dân trong toàn thị xã
3.2.5 Điện, nước sạch
Có 100% số hộ trong thị xã được hưởng nguồn điện lưới quốc gia Hệthống nước sạch phục vụ cho sinh hoạt của người dân lấy từ nguồn nướcngầm (giếng khơi, nước khoan) và nước máy do trung tâm nước sạch của thị
xã cung cấp tương đối đảm bảo vệ sinh môi trường