Biểu đồ thể hiện hàm lượng aflatoxin trong các mẫu phân tích sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý...45 Hình 3.4.. Biểu đồ tỷ lệ giảm của hàm lượng aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng
Lý do ch ọn đề tài
Nông sản thực phẩm có chất lượng cao là những sản phẩm có hàm lượng, thành phần các chất dinh dưỡng nhiều và cân đối bên cạnh các tiêu chuẩn về màu sắc, mùi vị, hình thức… Người tiêu dùng ngày nay càng chú ý hơn đến việc liệu các sản phẩm đó có bị nhiễm nấm và độc tố của nấm mốc hay không vì chúng đã được chứng minh là có thể gây hại cho người và gia súc Trên thế giới hiện nay, việc nghiên cứu mức độ nhiễm nấm mốc và độc tố nấm trên lương thực, thực phẩm là vấn đề quan trọng nhằm bảo vệ sức khoẻ con người và vật nuôi Có rất nhiều loại độc tố nấm mốc được phát hiện Trong đó, aflatoxin là độc tố được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất.
Aflatoxin là tên gọi một nhóm chất độc, sản phẩm của quá trình trao đổi chất của một số loài nấm mà chủ yếu là loài Aspergillus flavus, Aspergillus parasiticus…
Trong đó, phổ biến nhất và độc nhất là aflatoxin B1, G1, B2 và G2, có thể gây bệnh ở mức vi lượng Aflatoxin có khả năng gây độc cấp tính và mãn tính ở người và động vật Nghiêm trọng và nguy hiểm nhất là khả năng gây xơ gan và ung thư gan Ngoài ra aflatoxin còn có khả năng phá hủy tế bào thận và các bộ phận khác, ức chế hệ miễn dịch, gây suy dinh dưỡng, chậm lớn [37] Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mức độ nhiễm nấm mốc và các độc tố nấm mốc, các biện pháp phòng trừ độc tố nấm mốc trên lương thực, thực phẩm Sự nghiên cứu về aflatoxin được bắt đầu khi ở Anh nghề nuôi gia cầm bị tổn thất nặng nề và năm 1960, lúc đầu hơn 10000 gà tây chết vì một bệnh mới gọi là “bệnh gà tây X” (Turkey X disease) Đến năm 1961 người ta đã tìm ra bản chất hoá học của độc chất này là Aflatoxin [14]. Ở nước ta, với đặc điểm khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, độ ẩm trong không khí thường cao, các phương tiện thu hoạch, phơi sấy nông sản kém, kho chứa không đảm bảo khô ráo thoáng mát là điều kiện rất thuận lợi cho nấm mốc phát triển gây nhiễm độc tố cho nông sản thực phẩm, do vậy công tác vệ sinh an toàn lương thực, thực phẩm đã có những tiến bộ rõ rệt và ngày càng được chú ý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Theo Lê Anh Phụng và cộng sự (cs) (2001) [13] thì từ những năm 1970 Nguyễn Phùng Tiến và cs đã nghiên cứu mức nhiễm nấm mốc ở một số lương thực như: Đậu, đỗ, lạc Năm 1996, Nguyễn Thuỳ Châu và cs đã nghiên cứu tình hình nhiễm độc tố nấm trong ngô như: aflatoxin, fumonixin, achotoxin A, deoxynivalenol và nivalenol… và các biện pháp phòng trừ [3]. Để tìm hiểu thêm về tình trạng nhiễm độc tố nấm mốc aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm và các biện pháp xử lý độc tố, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu thực trạng nhiễm độc tố aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm tại khu vực miền núi phía Bắc và biện pháp xử lý”.
M ụ c tiêu nghiên c ứ u
Nghiên cứu thực trạng nhiễm độc tố aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm có nguồn gốc ở một số địa phương thuộc khu vực phía Bắc và đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý aflatoxin ở mức độ phòng thí nghiệm.
N ộ i dung nghiên c ứ u
- Nghiên cứu thực trạng nhiễm aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm.
- Dùng hai phương pháp vật lý sử dụng sấy khô và phương pháp hóa học sử dụng khí
NH3 để xử lý hàm lượng aflatoxin trong mẫu nông sản thực phẩm ở mức độ phòng thí nghiệm.
- Đánh giá hiệu quả của việc xử lý các mẫu nông sản thực phẩm đã được xác định nhiễm độc tố aflatoxin bằng hai phương pháp nói trên.
- So sánh hiệu quả của hai phương pháp vật lý và hóa học trong việc xử lý hàm lượng aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm.
Ý n ghĩa của đề tài
Kết quả của đề tài, sẽ góp phần đề ra các biện pháp tốt cho việc xử lý aflatoxin trong nông sản thực phẩm, từ đó ứng dụng trong thực tế nhằm nâng cao công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe con người.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
- Một số sản phẩm là nông sản thực phẩm dùng cho người và vật nuôi như; ngô, lạc, khô dầu đậu tương, cám gạo… thu được tại một số tỉnh miền núi phía Bắc.
Hình 2.1 Mẫu cám gạo Hình 2.2 Mẫu khô đỗ tương
Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Phòng Phân tích hóa hoc Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên.
Hóa chất và thiết bị nghiên cứu
Tất cả các hóa chất đều có độ tinh sạch cần thiết, đảm bảo các tiêu chuẩn dành cho hóa chất dùng trong phòng thí nghiệm (PTN) và được sử dụng đúng theo những hướng dẫn và khuyến cáo của nhà sản xuất Một số hóa chất chính sử dụng trong nghiên cứu: Chuẩn aflatoxin mix (sigma), acetonitril (merck), methanol (merck), benzen ( merck), chlorform (merck), diclomethan (merck), hexan (merck), acetone (merck), amoniac, nước cất 2 lần khử ion (PTN)… và một số chất khác.
Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao với detecter UV và RF, cột sắc ký pha đảoC18, 150mm × 4.6mm × 5μm, cân phân tích độ chính xác ±0,1mg, cân kỹ thuật độ chính xác ± 0,01mg, tủ sấy, máy đồng nhất mẫu, máy lắc ngang, máy rung siêu âm, máy cô quay chân không, có nồi cách thủy đặt dưới và các trang thiết bị thực nghiệm cơ bản khác thuộc Phòng Phân tích hóa học, Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu
Mẫu được lấy theo TCVN 4325:2007 (ISO 6497: 2002) [17] Lấy mẫu ban đầu ngẫu nhiên từ nơi chứa, phải đảm bảo rằng tất cả các lớp đều có mẫu đại diện như nhau Sau đó, gộp và trộn đều tất cả các mẫu ban đầu lại sẽ được mẫu chung cho sản phẩm Mẫu chung được cho vào túi nilon để không làm ảnh hưởng tới chất lượng mẫu.
Từ mẫu chung chia làm 3 phần Một phần được xử lý mẫu theo TCVN 6952:
2001 (ISO 6498: 2002) [18] để phân tích hàm lượng aflatoxin và hàm lượng vật chất khô ngay Hai phần còn lại tiến hành xử lý bằng hai phương pháp khác nhau.
2.4.2.Phương pháp xử lý mẫu
Mẫu được xử lý theo TCVN 6952: 2001 (ISO 6498: 2002) [18].
- Nghiền mẫu: Sử dụng máy nghiền mẫu chuyên dụng, thao tác tiến hành càng nhanh càng tốt, để giảm thiểu sự tiếp xúc mẫu với không khí, dẫn đến làm giảm hoặc tăng độ ẩm của mẫu khi phân tích.
- Bảo quản mẫu: Mẫu sau khi được nghiền nhỏ, đựng trong túi nilon có ghi kí hiệu mẫu và các thông tin cần thiết.
2.4.3.Phương pháp xử lý hàm lượng aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm
Hiện nay có rất nhiều những phương pháp để xử lý hàm lượng aflatoxin trong nông sản và phụ phẩm chế biến Tuy nhiên do điều kiện trang thiết bị, máy móc của Viện Khoa học sự sống - Đại học Thái Nguyên nên tôi tiến hành xử lý aflatoxin bằng 2 phương pháp: phương pháp sấy khô và phương pháp sử dụng khí NH3 1.5%.
*Phương pháp sử dụng khí NH 3
- Nguyên lý: Sử dụng NH3 có khả năng làm vô hoạt aflatoxin Chất này có hoạt tính mạnh, có thể phá vỡ vòng lactone trong cấu trúc phân tử aflatoxin [28].
- Cách tiến hành: Cho nguyên liệu nhiễm aflatoxin vào trong các túi polietylen kín có chứa khí NH3 nồng độ 1,5% trong thời gian 14 ngày Mỗi mẫu được cho vào một túi riêng và để trong phòng đảm bảo thông thoáng, không ẩm ướt Mẫu sau khi xử lý xong được phân tích ngay.
- Nguyên lý: Aflatoxin là một độc tố bền vững với nhiệt độ Nhưng bằng phương pháp sấy khô có thể làm giảm được hàm lượng aflatoxin trong nông sản là nhờ vào yếu tố độ ẩm Nước trong nông sản thủy phân làm mất nhóm carboxyl trong phân tử aflatoxin Khi nhóm carboxyl mất dẫn đến nhân lactam bị phá vỡ và phân tử aflatoxin bị phá hủy.
- Cách tiến hành: Dùng tủ sấy điều chỉnh được nhiệt độ (± 0.5 o C) để sấy các nguyên liệu nhiễm aflatoxin ở nhiệt độ 160 o C trong thời gian 30 phút, tính từ khi tủ sấy đạt
160 o C, lấy mẫu để nguội đem phân tích lại.
2.4.4.Phương pháp phân tích hàm lượng aflatoxin
Phân tích hàm lượng aflatoxin trong một số nông sản và phụ phẩm chế biến được tiến hành theo TCVN 7596 - 2007 (ISO 16050 - 2003) [19] trên máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC.
* Nguyên lý của phương pháp
Dựa vào sự phân bố trên pha động và pha tĩnh khác nhau, chúng có sự tương tác khác nhau do đó mà tính chất khác nhau sẽ bị tách trong cột tách Sau đó aflatoxin được phát hiện nhờ đầu dò huỳnh quang, giới hạn phát hiện của phương pháp là 0,3ng/g cho mỗi aflatoxin.
* Hóa chất và thiết bị
- Hóa chất: Các loại hóa chất dùng cho phương pháp phân tích trên máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC: chlorform, benzen, methanol, diclomethal, acetone, hexan…
+ Dung dịch chuẩn: được cung cấp dưới dạng dung dịch chuẩn mix chứa aflatoxin B1,
G1: 0,3 ppb và aflatoxin B2, G2: 1 ppb trong ống xilanh kín màu nâu, thể tích 1ml. Chuyển toàn bộ vào vial màu nâu Bảo quản trong tủ lạnh ngăn đá dưới 0 o C và ánh sáng trực tiếp.
+ Thuốc thử: Dung môi hỗn hợp của acetonitril: methanol với tỷ lệ 1:1 trộn thật đều rồi lọc qua bộ lọc.
+ Hỗn hợp dung dịch rửa tạp: dùng hexan và diclomethan với tỷ lệ 1:1, dùng khoảng 3ml cho mỗi lần rửa.
+ Hỗn hợp dung dịch rửa giải: dùng acetonitril và chlorform với tỷ lệ 90:10, dùng khoảng 6 - 10ml cho mỗi lần rửa.
- Thiết bị bao gồm: Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC với detecter UV và RF, cột sắc ký pha đảo C18, máy rung siêu âm, máy lắc, bơm chân không và bộ hút manifod,cột chiết pha rắn SPE silicagel.
Căn cứ vào sự tương quan giữa diện tích pic và nồng độ, căn cứ vào diện tích pic mẫu tính kết quả theo công thức sau:
V: Thể tích dịch chiết cuối cùng chạy bằng máy HPLC (ml).
Cm: Nồng độ aflatoxin trong dịch chiết mẫu tính theo chuẩn (ng/ml) m: Khối lượng của mẫu phân tích (g).
X: Hàm lượng aflatoxin trong mẫu phân tích (ng/g)
K: Hệ số pha loãng (tỷ lệ dịch lấy so với lượng chiết).
Kết quả được máy phân tích tự động tính toán bằng phần mềm được lập trình sẵn trong máy.
- Điều kiện để chấp nhận kết quả:
+ Tất cả các yêu cầu về độ tương thích phải đáp ứng đầy đủ.
+ Peak của aflatoxin phải được tách ra khỏi dung môi và phải được rửa giải gần sát thời gian ra của paek chuẩn.
+ Tính toán hệ số tương quan R phải ≥ 0,9990.
Phân tích lặp lại 2 lần song song không được lệch quá 10% so với giá trị trung bình, nếu không phân tích lại để lấy kết quả lặp cao. Ít béo
Thu lớp dưới cho vào cô quay Lọc lấy dịch lọc cho vào cô quay
Nạp mẫu qua cột (2ml/phút) Rửa tạp: 3ml hexan, 3ml Diclomethal
Rửa giải ml hỗn hợp Cloroform:aceton (90:10)
Quy trình phân tích mẫu
Mẫu rắn (Xay nhỏ, trộn đều) Cân 10-20gam
Cô cạn, hòa cặn = 10ml Diclomethal
Hoạt hóa: 3ml Hexan,3 ml Diclomethal
Cô cạn, hòa cặn bằng 1ml
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
Lọc, lấy 40ml dịch lọc
Lắc, để yên đến phân lớp
Làm sạch trên cột http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 2.4 Sắc đồ aflatoxin của mẫu chuẩn
Hình 2.5 Sắc đồ aflatoxin chuẩn ở các nồng độ 5; 10; 20 ppb
Tiến hành xây dựng đường cong ở những nồng độ khác nhau: 5; 10; 20 ppb để lập đường chuẩn Qua đó thấy rằng độ tuyến tính các nồng độ khác nhau của aflatoxin
R đều đạt 0,999 trở nên Kết quả này cho thấy sự ổn định của máy HPLC là rất cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 2.6 Đường tuyến tính của các aflatoxin chuẩn
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả khảo sát thực trạng nhiễm aflatoxin trong một số loại nông sản thực phẩm
Bảng 3.1 Tỷ lệ mẫu nhiễm độc tố aflatoxin trong các mẫu phân tích
Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ mẫu nhiễm độc tố aflatoxin trong các mẫu phân tích
Qua bảng 3.1 và biểu đồ cho thấy: Trong tổng số 76 mẫu phân tích có tới 68/76 mẫu nhiễm aflatoxin B1 (chiếm tỉ lệ 89,47%), nhiễm aflatoxin B1 cao nhất 100% ở khô đỗ tương và cám gạo, ngô và lạc nhiễm 16/20 mẫu (chiếm tỉ lệ 80%).
Có 47/76 mẫu nhiễm B2 (chiếm tỉ lệ 61,84%); Trong đó mẫu lạc nhiễm aflatoxin B2 cao 14/20 mẫu (chiếm tỉ lệ 70%), mẫu ngô nhiễm 13/20 mẫu (chiếm tỉ lệ 65%), mẫu cám gạo và khô đô tương nhiễm aflatoxin B2 thấp hơn 8/16 mẫu (chiếm tỉ lệ 40%) và 12/20 mẫu (chiếm tỉ lệ 60%).
Có 19/76 mẫu nhiễm G1 (chiếm tỉ lệ 25%) Phát hiện nhiễm aflatoxin G1 ở khô đỗ tương và ngô Ở ngô có 9/20 mẫu nhiễm (chiếm tỉ lệ 45%), ở khô đỗ tương có 10/20 mẫu nhiễm (chiếm tỉ lệ 50%), còn ở lạc và cám gạo không phát hiện được nhiễm aflatoxin G1.
Không có mẫu nào nhiễm aflatoxin G2.
Như vậy mức độ nhiễm aflatoxin trong từng loại nông sản là khác nhau, trong đó mức độ nhiễm B1 là nhiều nhất gấp B2 là 1,45 lần và gấp 3,58 lần G1 Không phát
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ hiện mẫu nào nhiễm G2 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của tác giả Phan Thị Bích Trâm và cs (2004) [21].
3.1.2.Hàm lượng nhiễm aflatoxin trong các mẫu phân tích
Bảng 3.2 Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu phân tích Đơn vị: ppb
Aflatoxin B 1 Aflatoxin B 2 Aflatoxin G 1 n ( X SD) n ( X SD) n ( X SD)
Ngô Lạc Khô đỗ tương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 3.2 Biểu đồ về hàm lượng aflatoxin trong các mẫu phân tích
Từ bảng và hình trên nhận thấy hàm lượng nhiễm aflatoxin B1 của các mẫu phân tích tương đối cao Hàm lượng aflatoxin B1 ở ngô cao nhất trung bình trong 16 mẫu nhiễm là 91,083 ppb, ở lạc trung bình hàm lượng aflatoxin B1 là 74,038 ppb, còn ở khô đỗ tương và cám gạo trung bình hàm lượng nhiễm aflatoxin B1 là 35,353 ppb và 35,229 ppb.
Hàm lượng nhiễm aflatoxin B2 của các mẫu phân tích thấp hơn so với hàm lượng nhiễm aflatoxin B1 Ở ngô hàm lượng nhiễm aflatoxin B2 là 16,451 ppb thấp hơn hàm lượng nhiễm aflatoxin B1 là 5,54 lần, ở lạc hàm lượng nhiễm aflatoxin B2 là 16,009 ppb, ở khô đỗ tương là 9,356 ppb, còn ở cám gạo hàm lượng nhiễm aflatoxin
Hàm lượng nhiễm aflatoxin G2 có ở ngô và khô đỗ tương với hàm lượng thấp, ở ngô hàm lượng nhiễm aflatoxin G2 là 4,947 ppb, còn ở khô đỗ tương là 2,164 ppb.
Tóm lại kết quả phân tích cho thấy ở các loại nông sản khác nhau thì khả năng nhiễm aflatoxin là khác nhau Ở ngô và lạc hàm lượng nhiễm aflatoxin là rất cao, đặc biệt ở ngô hàm lượng nhiễm aflatoxin B1 là cao nhất Trong quá trình thu thập mẫu cùng ở địa điểm và thời gian như nhau nhưng trạng thái khác nhau: một mẫu mới thu hoạch và một mẫu được bà con bảo quản trong thời gian 3 tháng Sau khi phân tích thì thấy mẫu ngô mới thu hoạch về chưa nhiễm aflatoxin, còn mẫu được bảo quản sau thời gian 3 tháng thì có hàm lượng độc tố aflatoxin Nguyên nhân chính dẫn đến nhiễm độc tố aflatoxin chính là do phương thức bảo quản của bà con Đối với ngô và lạc bà con sau khi thu hoạch đều để thành đống ở góc nhà, có độ ẩm cao, ngoài ra quá trình phơi khô không liên tục bị ảnh hưởng bởi thời tiết Một số hộ không thu hoạch ngô ngay mà để phơi trên cây, rồi thu hoạch dần, nếu như vậy khi gặp trời mưa nước sẽ ngấm vào bi ngô Đây là lí do làm cho độ ẩm cao tạo điều kiện cho nấm mốc sản sinh.
Còn đối với khô đỗ tương và cám gạo chúng tôi nhận thấy việc bảo quản cũng chính là nguyên nhân sinh ra nấm mốc Nhưng hàm lượng nhiễm ở khô đỗ tương và cám gạo thấp hơn so với ngô và lạc Nguyên nhân là do quá trình chiết ép và nghiền đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/ làm giảm hàm lượng nước dẫn đến độ ẩm thường thấp hơn so với ngô và lạc Do vậy hàm lượng nhiễm aflatoxin ở mức thấp hơn.
Kết quả phân tích hàm lượng aflatoxin sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý và hóa học 44 1 Hàm lượng aflatoxin sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý
Sau khi xác định được hàm lượng nhiễm aflatoxin trong mỗi loại nông sản thực phẩm, chúng tôi tiến hành xử lý hàm lượng aflatoxin trong các mẫu bằng hai phương pháp: Phương pháp vật lý chúng tôi xử lý theo phương pháp sấy khô, còn phương pháp hóa học chúng tôi sử dụng khí NH3 1,5% Sau khi xử lý mẫu nhiễm aflatoxin theo đúng quy trình, chúng tôi tiến hành phân tích lại để kiểm tra hiệu quả của hai phương pháp.
3.2.1.Hàm lượng aflatoxin sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý
Bảng 3.3 Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu trước và sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý Đơn vị: ppb atoxin G 1
Trước xử lý Sa (3) u xử lý Trước xử
Hàm lượng Aflatoxin B1 Trước xử lý
Aflatoxin B1 Sau xử lý Aflatoxin B2 Trước xử lý Aflatoxin B2 Sau xử lý Aflatoxin G1 Trước xử lý Aflatoxin G1 Sau xử lý
Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện hàm lượng aflatoxin trong các mẫu phân tích sau khi xử lý bằng phương pháp vật lý
Từ kết quả phân tích các mẫu sau khi xử lý bằng phương pháp sấy khô cho thấy xử lý bằng phương pháp sấy khô hàm lượng aflatoxin trung bình đã giảm Trong đó hàm lượng trung bình aflatoxin B1 ở ngô giảm từ 91,083 ppb xuống còn 6,216 ppb Ở lạc giảm từ 74,038 ppb xuống còn 5,305 ppb Đối với khô đỗ tương giảm từ 39,353 ppb xuống còn 3,648 ppb Còn ở cám gạo giảm từ 35,229 ppb xuống còn 3,171 ppb. Đối với hàm lượng trung bình của aflatoxin B2 ở ngô giảm từ 16,451 ppb xuống còn 3,096 ppb Ở lạc giảm 16,009 ppb xuống còn 2,926 ppb Còn ở khô đỗ tương giảm từ 9,356 ppb xuống còn 1,794 ppb Hàm lượng trung bình của aflatoxin B2 ở cám gạo cũng giảm từ 9,554 ppb xuống còn 1,559 ppb.
Trong các mẫu phân tích phát hiện được ở ngô và khô đỗ tương nhiễm aflatoxin
G1 Nhưng sau khi xử lý bằng phương pháp sấy khô thì hàm lượng aflatoxin ở ngô và khô đỗ tương cũng giảm đi đáng kể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hàm lượng trung bình của aflatoxin G1 ở ngô cũng giảm từ 4,947 ppb xuống còn 0,767 ppb Ở khô đỗ tương giảm từ 2,164 ppb xuống còn 0,183 ppb.
Nhìn chung mẫu nhiễm độc tố aflatoxin sau khi được xử lý bằng phương pháp sấy khô thì hàm lượng độc tố đã giảm đi Tuy nhiên để thấy rõ tỷ lệ giảm của từng loại aflatoxin chúng ta có bảng phân tích sau đây.
Bảng 3.4 Hiệu quả xử lý aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng phương pháp vật lý
Tên mẫu Tỷ lệ giảm (%)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ giảm của hàm lượng aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng phương pháp vật lý
Chúng ta nhận thấy mức độ giảm của từng loại aflatoxin là khác nhau Tỷ lệ giảm nhiều nhất là hàm lượng aflatoxin B1, tiếp đến là hàm lượng aflatoxin G2, sau đó đến hàm lượng aflatoxin B2. Ở ngô tỷ lệ giảm của hàm lượng aflatoxin B1 cao nhất đạt 93,13% Tiếp đến là ở lạc hàm lượng aflatoxin B1 giảm 92,83%, còn ở khô đỗ tương và cám gạo giảm 90,73% và 91%.
Còn đối với hàm lượng aflatoxin G2 tỷ lệ giảm cao nhất là ở khô đỗ tương đạt 91,54% Ở ngô hàm lượng aflatoxin G2 tỷ lệ giảm chỉ đạt 84,5%.
Hàm lượng aflatoxin B2 tỷ lệ giảm thấp nhất Trung bình chỉ đạt trên 80% Tỷ lệ giảm cao nhất là ở cám gạo đạt 83,68%, tiếp đến là ở lạc giảm 81,72%, còn ở ngô giảm 81,18%, và giảm thấp nhất ở khô đỗ tương đạt 80,82%.
Tóm lại xử lý aflatoxin bằng phương pháp vật lý đã làm giảm được hàm lượng độc tố aflatoxin trong nông sản, thực phẩm Tuy nhiên mức độ giảm của từng loại
X SD) aflatoxin là khác nhau Trong đó, aflatoxin B1 giảm nhiều nhất, tiếp đến là aflatoxin G2 và cuối cùng là aflatoxin B2.
3.2.2.Hàm lượng aflatoxin sau khi xử lý bằng phương pháp hóa học
Bảng 3.5 Hàm lượng aflatoxin trên các mẫu trước và sau khi xử lý bằng phương pháp hóa học Đơn vị: ppb atoxin G 1
Trước xử lý Sau xử lý Trước xử
Hàm lượng Aflatoxin B1 Trước xử lý
Aflatoxin B1 Sau xử lý Aflatoxin B2 Trước xử lý Aflatoxin B2 Sau xử lý Aflatoxin G1 Trước xử lý Aflatoxin G1 Sau xử lý 35.229
Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện hàm lượng aflatoxin trong các mẫu phân tích sau khi xử lý bằng phương pháp hóa học
Các mẫu nhiễm độc tố aflatoxin sẽ được xử lý bằng phương pháp vật lý và hóa học Chúng ta đã có kết quả phân tích của các mẫu nhiễm độc tố aflatoxin sau khi được xử lý bằng phương pháp vật lý Và đây là kết quả phân tích hàm lượng aflatoxin sau khi xử lý bằng phương pháp hóa học Các mẫu nhiễm độc tố sau khi được xử lý bằng phương pháp hóa học hàm lượng nhiễm aflatoxin cũng đã giảm đi nhiều Hàm lượng aflatoxin B1 ở ngô giảm xuống còn có 3,362 ppb, ở lạc giảm xuống còn 2,789 ppb, hàm lượng aflatoxin B1 ở khô đỗ tương cũng chỉ còn 2,076 ppb, và ở lạc giảm còn 1,723 ppb.
Hàm lượng aflatoxin B2 sau xử lý hàm lượng còn lại cũng rất thấp Ở ngô hàm lượng aflatoxin B2 chỉ còn 0,968 ppb, ở lạc còn 0,944 ppb, khô đỗ tương và cám gạo hàm lượng nhiễm độc tố aflatoxin B2 cũng chỉ còn 0,312 ppb và 0,175 ppb.
Với hàm lượng aflatoxin G1 chỉ phát hiện ở ngô và khô đỗ tương nhưng sau xử lý hàm lượng cũng giảm đi đáng kể, ở ngô hàm lượng nhiễm aflatoxin G1 từ 4,947 ppb xuống còn 0,26 ppb Ở khô đỗ tương từ 2,164 ppb giảm xuống còn 0,062 ppb.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Như vậy sau khi xử lý bằng phương pháp hóa học hàm lượng nhiễm aflatoxin của các mẫu phân tích đều đã giảm Nhưng mức độ giảm của từng loại aflatoxin là khác nhau Điều này sẽ được làm rõ hơn khi chúng ta phân tích tỷ lệ giảm của từng loại dựa vào bảng sau:
Bảng 3.6 Hiệu quả xử lý aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng phương pháp hóa học
Tên mẫu Tỷ lệ giảm (%)
92 Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ giảm của hàm lượng aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng phương pháp hoá học
Dựa vào bảng và biểu đồ chúng ta thấy rõ hơn mức độ giảm của từng loại aflatoxin của từng mẫu nông sản, thực phẩm Đối với hàm lượng aflatoxin B1 giảm nhiều nhất là ở ngô đạt 96,31%, tiếp theo là ở lạc giảm 96,23% Ở khô đỗ tương giảm 94,73%, và ở cám gạo tỷ lệ giảm là 95,11%.
Với hàm lượng aflatoxin B2 thì tỷ lệ giảm cao nhất là 98,17% ở cám gạo, tiếp theo là ở khô đỗ tương tỷ lệ giảm là 96,67%, còn ở ngô và lạc tỷ lệ giảm gần như nhau đạt 94,12% và 94,11%.
Tỷ lệ giảm tương đối cao với hàm lượng aflatoxin G1 đạt 97,13% ở khô đỗ tương và đạt 94,74% đối với ngô.
Như vậy sau khi xử lý các mẫu phân tích bị nhiễm độc tố bằng phương pháp hóa học thì hàm lượng độc tố đã giảm đi đáng kể, tùy từng loại aflatoxin mà tỷ lệ giảm khác nhau.
So sánh hiệu quả của hai phương pháp xử lý hàm lượng aflatoxin trong nông sản thực phẩm
Sau khi xử lý các mẫu phân tích bằng hai phương pháp vật lý và hóa học Để thấy được hiệu quả xử lý của hai phương pháp trên, chúng tôi tiến hành so sánh hàm lượng aflatoxin sau khi đã xử lý bằng hai phương pháp trên với khi chưa xử lý.
3.3.1.So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Bảng 3.7 So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học Đơn vị: ppb
Phương pháp vật lý Phương pháp hóa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
0 Ngô Lạc Khô đỗ tương Cám gạo
Hình 3.7 Biểu đồ hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Kết quả ở bảng 3.7 và biểu đồ hình 3.7 cho thấy, sử dụng 2 phương pháp vật lý và hóa học để xử lý hàm lượng aflatoxin B1 trong nông sản, thực phẩm đều đem lại hiệu quả tương đối cao Cụ thể, đối với phương pháp xử lý bằng sấy khô hàm lượng trung bình aflatoxin B1 trong các mẫu từ 35,229 - 91,083 ppb giảm xuống còn 3,171 - 6,216 ppb, tỷ lệ giảm đạt từ 90,73% - 93,13% Xử lý bằng phương pháp hóa học thì hàm lượng trung bình aflatoxin B1 giảm xuống còn từ 1,723 - 3,362 ppb, đạt tỷ lệ giảm từ 94,73 - 96,31%.
Trong 2 phương pháp trên hiệu quả xử lý của phương pháp hóa học là sử dụng khí NH3 1,5% cao hơn phương pháp sấy khô, tỷ lệ giảm trung bình của phương pháp sấy khô là 91,92%, tỷ lệ giảm trung bình của phương pháp sử dụng khí NH3 là 95,60%. Hiệu quả xử lý của phương pháp hóa học cao hơn sấy khô là 3,67%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
NgôLạc Khô đỗ tương Cám gạo
3.3.2.So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 2 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Bảng 3.8 So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 2 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học Đơn vị: ppb
Phương pháp vật lý Phương pháp hóa học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hình 3.8 Biểu đồ hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin B 2 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Chúng ta nhận thấy các mẫu sau khi tiến hành xử lý bằng phương pháp sấy khô và sử dụng khí NH3 1,5% thì hàm lượng aflatoxin B2 đều giảm, mức độ giảm ở hai phương pháp là khác nhau Cụ thể, đối với phương pháp sấy khô hàm lượng aflatoxin
B2 trung bình ở các mẫu giảm từ 9,356 - 16,451 ppb xuống còn 1,559 - 3,096 ppb, tương ứng với từ 81,18 - 83,68% Xử lý bằng khí NH3 giảm xuống còn từ 0,175 – 0,968 ppb, đạt tỷ lệ giảm từ 94,11 - 98,17%.
Khi đem so sánh hiệu quả xử lý của hai phương pháp trên để khử aflatoxin trong các mẫu nhiễm ta thấy, phương pháp xử lý bằng khí NH3 cao hơn 13,92% so với phương pháp sấy khô.
3.3.3.So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin G 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Bảng 3.9 So sánh hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin G 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học Đơn vị: ppb
Phương pháp vật lý Phương pháp hóa học
NgôKhô đỗ tương Loại mẫu
Hình 3.9 Biểu đồ hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin G 1 sau khi xử lý bằng hai phương pháp vật lý và hóa học
Sau khi xử lý bằng hai phương pháp hàm lượng aflatoxin G1 trong 2 mẫu ngô và khô đỗ tương giảm nhiều Đối với phương pháp sấy khô hàm lượng aflatoxin G1 trung bình giảm từ 2,164 - 4,947 ppb xuống còn 0,183 - 0,767 ppb, tương ứng với từ 84,50 - 91,54% Xử lý bằng khí NH3 giảm xuống 0,062 - 0,26 ppb tương ứng với từ 94,74 - 97,13%.
Khi đem so sánh hiệu quả xử lý aflatoxin trong các mẫu nông sản, thực phẩm chế biến của hai phương pháp trên ta thấy, phương pháp xử lý bằng khí NH3 đạt hiệu quả cao hơn so với phương pháp sấy khô là 7,91%.
Tóm lại sau khi xử lý những mẫu nông sản thực phẩm bị nhiễm aflatoxin bằng hai phương pháp vật lý và hóa học, rồi tiến hành phân tích lại để xác định hàm lượng các aflatoxin trong mẫu, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, hiệu quả xử lý của phương pháp hóa học sử dụng khí NH3 cao hơn đối với phương pháp vật lý bằng sấy khô Cụ thể đối với phương pháp sấy khô tỷ lệ giảm trung bình của các aflatoxin trong tất cả các mẫu là 90,78%, đối với phương pháp xử lý bằng khí NH3 hàm lượng aflatoxin trung bình trong tất cả các mẫu phân tích giảm 95,70% Khi đem so sánh hiệu quả xứ lý của hai phương pháp với nhau thì thấy, phương pháp sử dụng khí NH3 đạt hiệu quả cao hơn phương pháp sấy khô là 4,92%.
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1.Thực trạng nhiễm aflatoxin trong các mẫu phân tích:
- Có 68/76 mẫu nhiễm aflatoxin B1 (chiếm tỷ lệ 89,47% số mẫu phân tích); có 47/76 mẫu nhiễm aflatoxin B2 (chiếm tỷ lệ 61,84% số mẫu phân tích); có 19/76 mẫu nhiễm aflatoxin G1 (chiếm tỷ lệ 25% số mẫu phân tích); không mẫu nào nhiễm aflatoxin G2.
- Có 68/76 mẫu phân tích nhiễm aflatoxin Trong đó, có 60/68 mẫu nhiễm aflatoxin vượt quá tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng aflatoxin trong các mẫu ở mức độ cao: có 60/68 mẫu nhiễm aflatoxin B1 vượt quá tiêu chuẩn của Bộ Y tế từ 1,04 - 40,42 lần; có 17/47 mẫu nhiễu aflatoxin B2 vượt quá tiêu chuẩn của Bộ Y tế từ 1,01 - 3,36 lần.
2.Hiệu quả xử lý hàm lượng aflatoxin trên các mẫu phân tích bằng hai phương pháp vật lý sử dụng sấy khô và phương pháp hóa học sử dụng khí NH3 1,5%.
- Xử lý hàm lượng aflatoxin bằng phương pháp vật lý sử dụng sấy khô và phương pháp hóa học sử dụng khí NH3 đều đạt hiệu quả cao Xử lý bằng phương pháp sấy khô hàm lượng B1 giảm trung bình là 91,92%; B2 giảm trung bình 81,85%; G1 giảm trung bình 88,02% Xử lý bằng phương pháp hóa học sử dụng khí NH3 tỷ lệ B1 giảm trung bình là 95,60%, B2 giảm trung bình 95,77%, G1 giảm trung bình 95,94%.
- Phương pháp xử lý hóa học sử dụng NH3 1,5% cho hiệu quả cao hơn phương pháp vật lý sử dụng sấy khô là 4,92%.
- Kết quả nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ là bước đầu, cần tiếp tục nghiên cứu để có kết quả toàn diện và khách quan hơn.
- Các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ hơn nữa vấn đề an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
- Có thể ứng dụng hai phương pháp xử lý hàm lượng aflatoxin nói trên vào thực tiễn sản xuất để xử lý nông sản và phụ phẩm chế biến nhiễm độc tố aflatoxin.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
1.Nguyễn Thị Hải, Vũ Thị Ánh, Nguyễn Thị Duyên, Đào Thuỳ Dương (2013), “Nghiên cứu hàm lượng và xử lý aflatoxin trong nông sản thực phẩm bằng phương pháp vật lý và hóa học”, Hội nghị Công nghệ Sinh học Toàn quốc năm 2013.