Tuy nhiên với trình độ nhận thức và hoàn cảnh lịch sử của mỗi tộc người, mỗi vùng trong từng giai đoạn không tránh khỏi những hạn chế và tiêu cực, thâm trí có những yếu tố mê tín, dị đoa
Trang 1BÀI BÁO CÁO ĐÃ SỬA.docx
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Đề tài: Tìm hiểu bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Dao Họ
thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai
Trang 2Mục lục
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Bố cục đề tài
PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1: Vài nét khái quát về phong tục tập quán của người dân tộc Dao Họ thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai.
1.1 Phong tục tập quán
1.1.1 Phong tục liên quan tới sinh đẻ
ễ đổi tên “oăn bủ”
1.2 Các phong tục lễ cưới của người Dao Họ
1.2.1 L
ễ đi hỏi “nình ai áu”
Trang 3ễ ăn hỏi “nhin chay á”
1.2.3 L
ễ cưới “ai con”
1.2.4 T
ổ chức lễ cưới ở nhà gái
1.2.5 T
ổ chức lễ cưới ở nhà trai
1.2.6 L
ễ lại mặt “hui lâu”
1.3 Các phong tục tang ma của người Dao Họ
1.4 Tục làm nhà
1.5 Tôn giáo tín ngưỡng
1.5.1 Q uan niệm về thần thánh
1.5.2 T
hờ cúng tổ tiên
1.5.3 H
ệ thống các loại ma
1.6 Văn hóa gia đình, dòng họ
Chương 2: Thực trạng việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
của dân tộc Dao Họ
2.1 Cơ sở của công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thồng của ngươì Dao Họ
2.1.1 Cơ sở pháp lí
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.2 Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc người Dao Họ
2.2.1 Tết Nguyên Đán “phám san rú”
2.2.2 Rằm tháng riêng “xí nhân nhẩu rú”
2.2.3 Tết 3/3 âm lịch
Trang 42.2.4 Tết rằm tháng bảy âm lịch
2.3 Hội hè – những lễ cúng không theo chu kì một năm
2.3.1 Lễ cúng làng “ang láy”
2.3.2 Lễ cơm mới “nhin xàng hằng”
2.3.3 Lễ lập tỉnh “chay”
2.3.4 Lễ chay “áy chay”
2.3.5 Cúng giải hạn “cháy hoan”
2.4 Các trò chơi dân gian
2.4.1 Trò đánh đu (đu tay)
2.4.2 Trò đánh quay (quay khắng)
2.4.3 Đánh khăng (nỏ khăng)
2.5 Văn hóa ẩm thực
2.5.1 Ăn trong ngày thường
2.5.2 Uống trong bữa ăn ngày thường
2.5.2 Các loại bánh ngày thường
2.5.3 Đồ hút của người Dao Họ
2.5.4 Các món ăn trong ngày Tết
2.5.5 Một số món ăn chính trong Lễ cưới
2.5.6 Các món ăn trong tang ma
2.5.7 Các món ăn mang tính đặc trưng riêng của người Dao Họ
2.6 Ngôn ngữ dân tộc
2.7 Nghệ thuật ngôn từ
2.7.1 Dân ca dân tộc
2.7.2 Các thể loại và các bài hát dân ca
2.7.3 Truyện cổ dân gian
2.7.4 Câu đố tục ngữ
2.8 Nghệ thuật biểu diễn và các loại hình dân gian mang bản sắc văn hóa người Dao Họ
2.8.1 Múa
2.8.2 Nghệ thuật tạo hình
2.9 Y học
Trang 52.10 Những biến đổi hiện nay về văn hóa
Chương 3: Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ
3.1 Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ
3.1.1 Tích cực
3.1.2 Hạn chế
3.1.3 Cơ hội
3.1.4 Thách thức
3.2 Biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của người Dao Họ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta rất phong phú và đặc sắc Với 54 thành
phần dân tộc cư trú rải rác ở khắp các vùng trên cả nước, tuy có những đặc điểm nhưng mỗi dân tộc lại có bản sắc riêng của mình
Trong sự đa dạng ấy, văn hóa của các dân tộc có nhiều nội dung mang ý nghĩa nhân văn, lành mạnh với nhiều hình thức biểu hiện độc đáo Tuy nhiên với trình độ nhận thức và hoàn cảnh lịch sử của mỗi tộc người, mỗi vùng trong từng giai đoạn không tránh khỏi những hạn chế và tiêu cực, thâm trí có những yếu tố mê tín, dị đoan cản trở sự phát triển của từng tộc người trong từng vùng
Hiện nay, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở nước ta đang đứng trước
sự tác động của nhiều yếu tố đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống xưa như: xu hướng đồng hóa tự nhiên về văn hóa đang làm mai một văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Ngày nay cơ sở hạ tầng thông tin, phương tiện đi lại đã đảm bảo một phần cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các vùng, các dân tộc thuận lợi nhanh chóng Việc học hỏi nhau trên mọi phương tiện diễn ra
Trang 6phổ biến ở các dân tộc, ở nước ta các dân tộc thiểu số có xu hướng ngày một “kinh hóa”,
họ coi việc học hỏi mọi mặt của người Kinh là mốt thời thượng
Một khuynh hướng khác tác động không nhỏ đến văn hóa truyền thống đó làquá trình toàn cầu hóa Với cuộc cách mạng công nghệ hóa cùng với sự phát triển củacông nghệ thông tin truyền thống đã xuất hiện quá trình “thâm nhập” của văn hóa ngoạilai với những mặt tích cực và tiêu cực của nó
Trong quá trình giao lưu không tránh khỏi có một số bộ phận các dân tộc thiểu
số tự ý tiếp thu văn hóa của người ngoài không có chọn lọc Vì vậy sẽ ảnh hưởng ít nhiều
xa rời văn hóa truyền thống dân tộc của mình
Trong một vài năm gần đây, ở các khu sinh sống của các dân tộc thiểu số vùngcao của nước ta bị lợi dụng trình độ dân trí thấp, bị trói buộc về tinh thần một số phần tửhành nghề tôn giáo đã thực hiện truyền đạo trái phép, lôi kéo người dân tộc thiểu số cả tin
từ bỏ tín ngưỡng, phong tục tập quán của mình, từng bước mất dần đi bản sắc văn hóariêng của dân tộc mình
Vì vậy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số muốn được bảotồn và phát huy trong cuộc sống thì cần sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chínhquyền, sự quản lý của pháp luật nhà nước và cả ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc mình củamỗi cá nhân Trong những năm qua, Đảng đã tiếp tục đề ra chính sách dân tộc, Nhà nướccũng đã có nhiều văn bản, quyết định nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng đồngbào dân tộc thiểu số trong đó, rất chú ý đến việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Dân tộc Dao Họ ở thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh LàoCai có rất nhiều bản sắc văn hóa riêng và của các tộc người trên cả nước nói chung Bảnsắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ nơi đây cũng đã có nhiều ngành hay các tổchức nghiên cứu đề cập đến nhưng việc khảo sát nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết vềbảo tồn và phát triển thì chưa có ngành nào làm được
Là một người con gái dân tộc Dao Họ không sinh sống ở nơi đây, hiện đangtheo chuyên ngành quản lý văn hóa nghệ thuật của Trường Đại học văn hóa Hà Nộimuốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của dân tộc mình và bản sắc dân tộc mình đang có để
có những ý kiến, tìm ra những bất cập và những biện pháp riêng với mong muốn đượcđóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá
Trang 7trị văn hóa truyền thống của người dân tộc Dao Họ ở Lào Cai nói riêng và dân tộc Dao
Họ ở cả nước nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Khái quát được môi trường địa lí, kinh tế,văn hóa và các hoạt động, cách thức
tổ chức văn hóa truyền thống và công tác quản lý bản sắc văn hóa truyền thống củangười Dao Trên cơ sở đó có thể đánh giá được những mặt tích cực và hạn chế, đưa rađược ý kiến đề xuất để phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Họ
Thông qua việc tìm hiểu về bản sắc văn hóa của dân tộc người Dao Họ và côngtác quản lý, tôi mong muốn được góp một phần tư liệu nhỏ làm cơ sở cho việc giữ gìn,bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Dao Họ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc Dao Họ
* Phạm vi nghiên cứu: thôn Khe Mụ I - xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnhLào Cai
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp sau:
• Phương pháp nghiên cứu tư liệu
• Khảo sát điều tra thực tế kết hợp với phỏng vấn
• Phương pháp thống kê
5.Bố cục của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và kết luận báo cáo gồm có 3 chương
Chương 1: Vài nét khái quát về phong tục, tập quán của người Dao Họ
thôn Khe Mụ I – xã Sơn Hà – huyện Bảo Thắng – tỉnh Lào Cai.
Chương 2: Thực trạng về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của người Dao Họ.
Chương 3: Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả và công tác bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao Họ.
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG
Chương 1
VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ PHONG TỤC, TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI DAO
HỌ THÔN KHE MỤ I – XÃ SƠN HÀ – HUYỆN BẢO THẮNG – TỈNH LÀO CAI
1.1 Phong tục tập quán 1.1.1Phong tục liên quan tới sinh đẻ
Khi mang thai người Dao Họ ở xã Sơn Hà có những phong tục, những cách
kiêng kỵ riêng để cho thai nhi phát triển tốt Những phong tục với ý nghĩa mong muốncho người mẹ sinh được con an toàn đứa trẻ ra đời khỏe mạnh
Trong thời gian mang thai, khi thai nhi được từ 4 tháng trở lên người mẹ kiêngkhông ăn ngon, chỉ ăn những thức ăn lành tính vì người Dao Họ cho rằng nếu ăn ngonquá đứa trẻ sẽ to và bị khó đẻ
1.1.2 Lễ cúng giải hạn trước khi sinh (cháy hoàn)
Trang 9Theo phong tục vào tháng mang thai thứ 9 (trước khi sinh nở) người Dao Họ
phải tổ chức một lễ cúng giải hạn Lễ cúng này nhằm mục đích cầu xin tổ tiên gìn giữthai nhi và cầu mong cho người mẹ sinh đẻ con được dễ dàng, tùy thuộc vào kinh tế củagia đình mà người dân sẽ chọn ngày cúng Ngày cúng giải hạn không quy định cụ thểmiễn là tổ chức cúng trong tháng thứ 9 trước khi sinh nở Gia chủ mời thầy mo tới đểcúng trong vòng một tiếng, thông thường lễ cúng được cúng vào buổi tối Lễ cúng gồm
ba con gà, một chút giấy bản làm tiền, gạo rượu Thầy cúng xem tuổi của người mẹ nằm
ở con giáp nào trong 12 con giáp để cúng con giáp đó để đứa trẻ sinh ra được dễ dàng Trước đây khi sinh nở họ thường sinh tại nhà, những người đỡ đẻ thường là bànội hoặc bà ngoại (nếu nhà bà ngoại ở gần) hoặc những người là nữ giới có kinh nghiệm,hay đỡ đẻ Họ dùng cật nứa để cắt rốn cho trẻ họ không bao giờ dùng dao hay kéo để cắtrốn bởi họ sợ làm nhiễm trùng cho đứa trẻ Ngày nay trong các trung tâm y tế gần thônbản cho nên khi sinh mọi người đều tới các cơ sở y tế
Sau khi sinh 3 ngày (trước đây là 7 ngày) gia đình sẽ tổ chức làm lễ đặt tên chotrẻ Trong lễ đặt tên này, gia đình phải mời thầy mo về nhà cúng, nhằm thông báo với tổtiên về việc gia đình, dòng họ mình có thêm thành viên mới Tùy thuộc vào điều kiện củatừng gia đình mà họ tổ chức lễ đặt tên cầu kỳ hay đơn giản Những gia đình khá giả sẽ
mổ lợn mời bà con hàng xóm, anh em trong bản tới dự, mừng cùng gia đình, mổ thêm 3con gà làm lễ cúng Những nhà có điều kiện bình thường chỉ cần mổ 3 con gà để cúng vàmời các cụ già trong dòng họ tới dự và đặt tên cho con Tên đứa trẻ được các cụ già trongdòng họ đặt trước (tên được đặt không được trùng với các tên trong dòng họ) Nhiềungười đặt và chọn lấy một tên vừa đẹp lại không trùng với ai trong dòng họ mình
Theo phong tục của người Dao Họ,, khi gia đình mà chưa tổ chức lễ đặt tên chocon trẻ thì bố con anh em trong gia đình đó không được bước vào bất kỳ nhà ai tronglàng Người dân cho rằng cái nhà đó đang có người đẻ do vậy nếu vào nhà khác sẽ mang
“cái bẩn” của nhà mình vào nhà hàng xóm, tổ tiên của nhà hàng xóm đó không chấpnhận vì chưa làm lễ đặt tên
1.1.3 Lễ mừng trẻ tròn một tuổi (pòong tai)
Đối với người Kinh khi còn trẻ tròn một tuồi sẽ được tổ chức lễ sinh nhật cho
con cái mình, còn người Dao Họ ở đây sẽ có một buổi làm lễ mừng con trẻ
Trang 10Lễ pòong tai của người Dao Họ tổ chức rất to, hầu như các gia đình khá giả hay
trung bình đều tập trung tổ chức lễ này Họ mổ lợn, mổ gà mời mọi người trong làng vàanh em ở những làng khác về mừng cho con trẻ
Lễ pòong tai được tổ chức vào tháng 12 sau khi sinh đứa trẻ, không nhất thiết
phải tổ chức vào ngày sinh mà tùy thuộc vào mỗi gia đình tự chon ngày tổ chức Trongngày này, gia đình mời thầy cúng về, mổ 3 con gà làm lễ cúng để thầy cúng cầu xin với
tổ tiên phù hộ đứa trẻ để đứa trẻ mau lớn Khách tới tham dự thường mừng tuổi cho đứatrẻ cùng với lời chúc cho đứa trẻ đó
Ngoài ra người Dao Họ còn có thêm thủ thục đổi hoa “ oăn phăng” Đối với trẻ
nhỏ, sau khi sinh ra hay ốm yếu, kém ăn,…gia đình thường đi xem bói để biết nguyênnhân nếu thầy bói thấy đứa trẻ mang “ngược hoa” thì gia đình sẽ phải làm lễ “đổi hoa” đểcho trẻ được khỏe mạnh trở lại Người Dao thường quan niệm rằng con trai thường mang
7 hoa và con gái thường mang 9 hoa, khi con trai mang hoa của con gái hoặc ngược lạithì người đó luôn bị ốm đau, bệnh tật muốn khỏe lại thì phải làm lễ “đồi hoa” Gia đìnhphải mời thầy cúng về để cúng Lễ vật cúng bao gồm 1 con gà, 3 cành hoa bằng giấymàu xanh và màu đỏ nếu là con trai phải làm 3 cành mỗi cành có 9 bông hoa, nếu là congái thì mỗi cành có 7 bông hoa Thầy cúng sẽ xin tổ tiên đổi lại hoa cho đứa trẻ đúng với
số hoa ban đầu để đứa trẻ được khỏe mạnh
1.1.4 Lễ đổi tên (oăn bủ)
Người Dao Họ từ khi sinh ra cho tới lúc chết có hai lần đặt tên, một tên sử
dụng ngày thường và một tên sử dụng khi chết Bởi vậy, khi được 10 – 11 tuổi họ sẽ làm
lễ đổi tên để tổ chức lễ cúng tổ tiên, đặt tên khác và báo với tổ tiên để mai sau sử dụng tên
đó, chứ không dùng tên cũ
Gia đình sẽ mời thầy cúng về rồi mổ lợn, mổ gà và họ cũng mời anh em tới để
dự lễ cúng đổi tên Nghi lễ được làm vào buổi tối, sau khi anh em và gia đình ăn cơm tốixong, thầy cúng sẽ cử hành các nghi thức của lễ đặt tên Người được đổi tên phải cần cómột tên mới không trùng với bất kỳ ai trong dòng họ, kể cả bên nội và bên ngoại vàkhông được trùng với tên các cụ đã mất cách đây 3 – 4 đời (tam đại, tứ đại) Họ sẽ đặt 4tên và chọn lấy một tên để dùng, người đặt tên gồm 4 người là ông bà (nếu ông bà nộimất sẽ do ông bà ngoại đặt) và bố mẹ
Trang 11Vào 3h-4h sáng ngày hôm sau thầy cúng làm lễ cúng chọn tên, thầy cúng sẽmời tổ tiên về để thông báo và chứng kiến Nếu tên nào phù hợp thì sẽ sử dụng tên đó.Bốn cái tên do ông bà, bố mẹ đặt sẽ được ghi vào bốn mẩu giấy nhỏ và vo tròn lại rồi đặtbốn mẩu giấy đó lên chốc một chiếc mẹt có cho khoảng 0,5kg gạo vào Thầy cúng sẩygạo trong vài lần để cho một mẩu giấy rơi xuống đất, nếu như trong các lần sẩy tên nàorơi xuống đất 3 lần thì tên đó sẽ được sử dụng để thay thế tên cũ Tên được chọn sẽ mangđốt thành tro, tro được hòa tan với nước và cho người đổi tên uống Tới sáng gia đình mổ
gà, mổ lợn mời anh em, bà con lối xóm tới để mừng cho đứa trẻ đã có tên mới
1.2 Các phong tục liên quan tới lễ cưới của người Dao Họ
1.2.1 Lễ đi hỏi (nình ai áu)
Khi muốn lấy vợ, chàng trai đã tìm cho mình một người ưng ý (hoặc bố mẹ
tìm) thì gia đình nhà trai sẽ tổ chức lễ ăn hỏi Nhà trai phải nhờ một người gọi là ông mốitrung tuổi người này có thể là anh em trong gia đình hoặc những người hay làm côngviệc mai mối để cùng đi với bố mẹ hoặc mẹ chàng trai sang nhà gái để hỏi vợ cho contrai mình
Lần đi hỏi vợ này chỉ có hai người, khi đi không phải mang theo nhiều lễ vật,
họ chỉ mang hai hào bạc trắng được đặt trong một chiếc đĩa nhỏ, khi tới nhà gái sẽ để nênbàn và nói chuyện về việc hỏi vợ cho chàng trai Thời gian đi thường vào buổi chiều, trênđường đi họ thường kiêng gặp rắn nằm ở giữa đường hay gặp con dúi, người trong làng
đi săn được bất kì con thú nào, trong làng có vật nuôi để hay có người đẻ Nếu gặp cáctrường hợp trên họ cho rằng không may mắn trong ngày hôm đó họ sẽ phải quay về vàđợi ngày hôm khác đi hỏi vợ Nếu họ không găp các trường hợp trên thì người nhà trai sẽtới nhà gái hỏi vợ rồi trình đĩa vật lên bàn thờ và trình bày việc hỏi vợ cho người con trai Gia đình nhà gái đồng ý gả người con gái cho người con trai thì nhà gái mổ
gà mời cơm hai người của nhà trai ở lại ăn cơm cùng với gia đình Trường hợp khôngđồng ý hoặc chưa đồng ý thì hai người của nhà trai sẽ ra về nhà trai luôn
Đối với gia đình nhà gái đồng ý gia đình nhà trai thì trong ngày hôm đó nhàgái cũng phải kiêng kỵ như nhà trai như trong làng nhà gái có ai sinh nở hay có ngườinào săn được thú rừng về thì kết quả đó sẽ bị hủy
Bước tiếp theo của nghi lễ là khi nhà gái đồng ý gả con gái cho gia đình nhàtrai thì nhà trai sẽ tổ chức lễ ăn hỏi
Trang 121.2.2 Lễ ăn hỏi (nhin chay á)
Sau khi đi hỏi về, gia đình sẽ mời các cụ già trong làng, hoặc thầy mo, thầy
cúng xem ngày tốt để tổ chức lễ ăn hỏi Lần này nhà trai phải hẹn và thông báo ngày ănhỏi trước với nhà gái để cho nhà gái chuẩn bị
Nhà trai ăn hỏi lần này cũng không phải mang theo lễ vật mà được nhà gái mổ
gà tiếp đón Trong khi ăn cơm sẽ diễn ra nghi thức ăn hỏi, hai gia đình bàn bạc, hỏi têntuổi của chàng trai, cô gái và được thầy cúng do nhà gái mời về so tuổi cho 2 người trong
lễ ăn hỏi Khi bắt đầu ăn cơm, nhà trai sẽ lấy hai đồng xu đen có lỗ xỏ vào một sợi dâysau đó xiên một đôi đũa qua sợi dây đó thả hai đồng tiền xu vào bát cơm và để đôi đũalên miệng bát sau đó nhà trai bắt đầu vào câu chuyện bàn bạc cho lễ cưới và lễ so tuổi Nhà trai cung cấp tên tuổi, ngày tháng năm sinh của chàng trai cho thầy cúngrồi so với tuổi của cô gái Nếu thầy cúng so thấy tuổi của hai người hợp nhau thì hai giađình sẽ bàn tới chuyện lễ cưới Còn nếu hai tuổi không hợp nhau mà hai người vẫn muốnlấy nhau thì nhà gái phải mổ một con gà để thầy cúng xin tổ tiên, để bói về tương lai củahai người bằng cách bói chân gà Sau khi bói mà chân gà tốt theo quan niệm của ngườiDao Họ ở đây thì mai sau cuộc sống của hai người vẫn tốt không ốm đau bệnh tật Còntrường hợp chân gà mà xấu thì hai người đó sẽ không lấy được nhau
Tiến hành nghi lễ so tuổi xong, hai nhà sẽ bàn bạc tới ngày cưới và lễ tháchcưới Nhà gái sẽ được thách cưới và đồ lễ thách cưới thường là:
•Một con lợn 10kg trở lên
•Ba đôi gà (phải có 2 đôi gà thiến)
•Hai đồng bạc trắng (đánh vòng)
•12kg bánh rán
•Pháo nổ 1 bánh (ngày xưa thường có)
•Năm bao thuốc lào
•1 lít rượi
•2kg miến
•Trầu cau, thuốc lá
Hai gia đình bàn bạc về ngày tổ chức lễ cưới Tuy nhiên việc chọn ngày cưới
sẽ do gia đình nhà gái quyết định và mời thầy cúng trong làng xem ngày cưới, chọn được
Trang 13ngày đẹp sẽ thông báo cho nhà trai sau Nhà trai sẽ nghỉ lại nhà gái đêm hôm đó, sánghôm sau sẽ trở về nhà mình và chuẩn bị cho lễ cưới và đợi nhà gái sẽ thông báo ngày tổchức lễ cưới
Khi đã chọn được ngày cưới, nhà gái sẽ cử hai người mang thư thông báo ngàycưới đến cho nhà trai có thời gian chuẩn bị (người đưa thư gồm 2 người thường là bố mẹ
cô gái) Trên đường đi nhà gái cũng kiêng gặp những điều kiêng kỵ như ở lễ đi hỏi củanhà trai, nếu gặp trường hợp nào đó nhà gái sẽ quay về để hôm khác sẽ đi Tới nhà trai,thì cũng được nhà trai mổ gà tiếp đón, họ nghỉ tại nhà trai một đêm và sáng hôm sau mớitrở về nhà để chuẩn bị cho lễ cưới
1.2.3 Lễ cưới (ai con)
Tổ chức lễ ăn hỏi xong hai nhà bước vào các công việc để chuẩn bị cho lễ
cưới, chuẩn bị rượu, gạo, thịt và chuẩn bị quần áo, trang phục cưới
1.2.4 Tổ chức lễ cưới ở nhà gái
Vào ngày cưới nhà trai chuẩn bị một đoàn đón dâu để đi đón dâu, lễ đón dâu sẽ
được khởi hành vào buổi chiều, trước khi gia chủ phải làm lễ cúng khấn với tổ tiên thôngbáo về việc tổ chức lễ cưới ngày hôm đó và đoàn đón dâu lên đường đi xin tổ tiên phùhộ
Đoàn đi đón dâu bao gồm 11 người, trong đó: một ông mối chính, một ôngmối phụ, chú rể, 8 người phụ giúp cho người đón dâu mang lễ vật đi và tổ chức làm cỗbên nhà gái Khi đi đón dâu ngoài đồ lễ thách cưới còn mang theo hai chiếc ô, phía đầuchóp của ô được buộc một sợi dây đỏ Chiếc ô của người Dao Họ mang theo có ý nghĩa
là biểu tượng cho sự xum họp Khi kết thúc lễ cưới ông mối cho một nắm gạo vào trong
ô khi đi lại mặt sẽ xòe ô ra, đôi vợ chồng trẻ sẽ đứng dưới ô để đón những hạt gạo rơi từtrên đầu xuống
Trên quãng đường đón dâu trong ngày cưới, đoàn đón dâu không còn phảikiêng những điều không may như những lần trước nữa Khi đi đón dâu sẽ xuát hiện cáchình thức hát giao duyên – đối đáp với các bài hát những bài hát xin mở đường đi thì các
cô gái đó mới cho họ qua làng của mình Đoàn đưa dâu tới cửa nhà gái sẽ gặp hai cô gáicầm hai chiếc khăn màu xanh, đỏ nối vào nhau đứng chắn đường (hai chiếc khăn tượngtrưng cho cầu vồng 7 sắc) muốn qua được cổng, đoàn đón dâu lại phải hát đối đáp xinqua cổng trong khoảng thời gian từ 30 phút tới 1 tiếng Hát xong ông mối phải đặt 6.000
Trang 14đồng vào trong chiếc khăn đó để mở cầu vồng thì hai cô gái mới bỏ khăn để cho đoànchuẩn bị vào nhà
Theo phong tục tổ chức lễ cưới người Dao Họ ở đây, khi vào nhà chú rể phảivào thẳng một chiếc buồng nhà gái làm sẵn riêng cho chú rể, chú rể sẽ ăn uống nghỉ ngơi
ở đó cho tới sáng hôm sau sẽ tiến hành các nghi thức xin dâu Còn mọi người trong đoàn
sẽ ăn uống và hát giao duyên, giao lưu với khách, anh em của nhà gái trong suốt đêmhôm đó Sáng hôm sau, tại nhà gái đã diễn ra các nghi thức xin dâu nhà gái tổ chức cúngkhấn với tổ tiên Tam đại, Tứ đại Sau đó, làm cỗ mời anh em họ hang tới ăn uống chiavui cùng cô dâu, chú rể
Ăn cơm gần xong hai gia đình lại hát đối đáp với nhau, ông mối hát xin dâu vànhà gái đáp lại, trao dâu cho nhà trai Trước khi xin dâu về nhà trai, chú rể phải quỳ lạy tổtiên Tam Tứ đại, quỳ lạy hát chào ông bà, bố mẹ các cô dì chú bác với những người hơntuổi tới tham dự lễ cưới đưa cô dâu về nhà trai
1.2.5 Lễ cưới tổ chức ở nhà trai
Đoàn đón dâu cùng cô dâu trở về nhà trai – trên đường về cũng diễn ra như lúc
đi Khi đến nhà trai, tại cửa nhà trai đoàn phải dừng lại hát hoàn thành nhiệm vụ do haiông mối hát với người trong nhà Vào buổi tối hôm đó chỉ ăn uống và hát dân ca, đếnsáng hôm sau nhà trai tổ chức lễ cúng khấn thông báo với tổ tiên về cô dâu mới là thànhviên của gia đình Sau khi cúng bái xong, nhà trai lại tổ chức ăn uống và giao lưu ca hátđến đêm khuya Kết thúc lễ cúng nhà trai trả công cho hai ông mối mỗi người một đùilợn
1.2.6 Lễ lại mặt (hui lâu)
Lễ lại mặt của người Dao Họ có ý nghĩa giới thiệu cô dâu chú rể với gia đình
dòng họ và được tổ chức hai lần ở cả nhà trai và nhà gái
Lễ lại mặt được tổ chức ở nhà gái trước vào ngay sau hôm lễ cưới, khi đi gồm 4người (cô dâu, chú rể, hai người nhưng không phải bố mẹ cô dâu) Khi trở về lại mặtkhông phải mang theo bất kì lễ vật gì nữa, bởi lễ tổ chức ở cả hai gia đình do vậy khi lạimặt tại gia đình nhà trai hay nhà gái thì gia đình đó sẽ làm cơm mời an hem trong dòng
họ để giới thiệu về vai vế và tên tuổi của từng người cho cô dâu và chú rể biết để xưnghô
1.3 Các phong tục liên quan tới tang ma người Dao Họ
Trang 15Người Dao Họ quan niệm, khi chết đi con người sẽ về với tổ tiên bởi vậy ngườiDao Họ chỉ chôn xác một lần và tiến hành các nghi thức tiễn đưa linh hồn về với tổ tiêncủa họ Khi gia đình có người qua đời, người đầu tiên họ nghĩ tới là cử người đi mời thầycúng trong làng về để lo các nghi thức theo phong tục tập quán của dân tộc mình và báocho anh em trong dòng họ và bà con trong thôn bản để cùng tổ chức tang lễ cho người đãmất Nhà có đám tang kiêng không cho mượn đồ dung hay vay mượn bất cứ thứ gì củahàng xóm để tổ chức tang lễ vì họ quan niệm rằng gia đình có tang đen không nên mượn
đồ của của nhà khác vì sẽ mang sự đen đủi cho tới gia đình hàng xóm Trường hợpnhững người hàng xóm thân thiết, nếu có mượn đồ khi đi mượn nhà có tang phải mangtheo một con dao cũ hay một lưỡi rìu cài vào vách nhà định mượn để chặn sự đen đủi củamình không lây sang nhà hàng xóm
Thời gian niệm xác tùy thuộc vào thời gian đóng áo quan, ở đây không quy định cụthể về thời gian Con dâu, con rể và con cái trong gia đình cùng với các anh chị em dướituổi của người chết mới phải đội tang còn bố mẹ, các cháu và anh chị hơn tuổi khôngphải đội tang người đã mất Xác được để làm ma trong ngày hôm đó và một đêm, lễcúng cho người mất gồm một mâm cúng đặt thường xuyên trên nóc áo quan gồm mộtbát cơm và một đôi đũa cắm vào bát cơm (bát cơm này thường được cúng ngay sau khingười đó qua đời), một bát gạo và một ống cắm hương Vào 12h đêm hôm đó, thầy cúng
sẽ làm lễ cúng cắt khẩu cho người mất Thầy cúng Tam thanh, Tam nguyên cắt khẩu trêntrần vào thời điểm này sẽ đánh chiêng và chũm chọe (không đánh trống trong đám ma)
Từ sau lễ cúng cắt khẩu những phải đeo tang sẽ kiêng ăn, kiêng uống cho tới khichôn xác xong mới được ăn uống Điều này thể hiện sự thương xót sự hiếu thảo củangười dưới đối với người ở trên, của con cái đối với bố mẹ
Tiếp theo là lễ cúng thắp đèn cho người mất, cúng vào thời điểm này thầy cúnglấy bát cho mỡ và một chiếc bấc vào thắp đèn và cúng gửi cho người mất Người Dao Họquan niệm rằng khi người chết về thế giới bên kia thì cũng cần có đồ dùng như lúc cònsống, cũng cần có ánh sáng, do vậy họ phải cúng đèn cho người mất Sáng hôm sau, vàokhoảng 6h sáng họ mang xác đi chôn, chôn xong gia đình sẽ đặt một đồng bạc trắng ngàynay là 50.000đ để thầy cúng, cúng lập gia đình cho người đã mất Trong lời cúng củathầy cúng sắm sửa đồ dùng sinh hoạt từ nhà cửa, quần áo cho người mất sang thế giớibên kia sinh sống
Trang 16Trở về nhà, gia đỡnh mổ một con gà để làm lễ vật cho thầy cỳng cắt khẩu với tổtiờn trong dũng họ với Tam Tứ Đại Sau khi ăn cơm xong thầy cỳng cắt giấy đỏ thànhnhững miếng hỡnh chữ nhật cú khổ khoảng 9 x 15cm dỏn vào tất cả những đồ dựng củagia đỡnh, họ cho rằng làm như vậy để phõn biệt của cải của người sống với người chết.Những đồ dựng đú khụng cũn là của người chết nữa cho nờn khụng được mang theo Người Dao Họ khụng làm lễ sửa mả 3 ngày Trong vòng 3 ngày kể từngày mất, con cháu anh em trong nhà ngời chết kiêng không đợc tớibất kỳ nhà nào trong làng vì sẽ mang sự đen đủi tới gia đình nhà
đó
Trong năm đó, nếu gia đình cha tổ chức “làm chay” cho ngờichết đợc thì ngày tết thanh minh 3/3 âm lịch, rằm tháng giêng,rằm tháng giêng, rằm tháng bảy - gia đình phải sắm lễ gồm mộtcon gà, một lít rợu và ba quả bánh cúng (loại bánh cúng tuỳ thuộc vàotừng ngày lễ tết hôm đó) cúng cho ngời chết, để ngời chết có đồ
ăn nếu cha làm chay đợc thì cũng phải cúng ba lần là từ đó khôngphải cúng bất kỳ một lần nào nữa kể cả tết thanh minh năm saucũng không cần phải cúng Trong vòng khoảng 3 năm, khi gia đình
có điều kiện sẽ tổ chức làm chay cho ngời chết – lễ chay nh mộtnghi thức tắm gội cho linh hồn ngời chết để linh hồn đợc về hẳnvới tổ tiên, với Tam Đại, Tứ Đại từ đó gia đình chỉ thờ chung với Tam
Đại, Tứ Đại mà không phải cúng riêng nữa
1.4 Tục làm nhà.
Trong các phong tục liên quan tới dựng nhà, thì việc đầu tiên vàquan trọng nhất mà bất kỳ gia đình nào trong ngời Dao họ ở đâulàm nhà mới đợc thực hiện, đó là việc xem ngày dựng nhà sau khi
đã tập hợp đủ nguyên vật liệu
Gia chủ sẽ mời thầy cúng xem hộ – trớc hết phải xem bói cho ngờichủ ngôi nhà sẽ dựng đó xem năm đó có phải là năm hạn hay không.nếu không phải năm hạn các thầy bói sẽ xem ngày dựng nhà vàongày nào hợp với tuổi của chủ nhà
Trang 17Việc xem ngày giờ dựng nhà đã có những nguyên tắc nhất
định đợc ghi trong sách cổ ngời Dao họ bằng chữ Nôm Dao
Ngời Dao họ kiêng dựng nhà vào các tháng 3, tháng 7, tháng 9
âm lịch, trong ba tháng này ngời Dao họ ở đây không ai đợc dựngnhà cả
Sau khi đã nhờ thầy cúng xem ngày dựng nhà, thì gia chủ lạinhờ thầy cúng xem hớng nhà, ngời Dao họ vẫn giữ phong tục chọn h-ớng đất tuy nhiên việc chọn hớng lại phải kết hợp với thế đất để có h-ớng nhà phù hợp Nếu hớng tốt nhng thế đất lại không phù hợp với hớng
đó, dựng nhà lên đi lại, ăn ở không tiện ngời dân cũng khôngnhất thiết phải theo hớng đó
Nhà ngời Dao họ ở đây thờng là nhà ba gian, mái lợp bằnggianh, vách nhà đợc làm bằng thân nứa (nứa đập dập đan thànhphên để làm vách nhà) một số gia đình ngày nay đã thay máigianh bằng mái ngói và đã thay vách nứa bằng gỗ (lịa ván)
Trớc khi dựng nhà, gia đình phải tập kết đợc nguyên vật liệu từtrớc Mời thợ làm nhà về làm trớc các vì nhà, tới ngày dựng sẽ mời anh
em họ hàng và hàng xóm tới giúp gia đình cùng dựng nhà
Nóc nhà sẽ do ngời chủ gia đình, (ngời đợc xem tuổi đặt).Trong ngày dựng nhà, gia chủ sẽ mời thầy cúng đến để làm lễ cúngthổ công, cúng báo với tổ tiên về việc dựng nhà mới của gia đình,
để tổ tiên và thổ công chứng giám và phù hộ cho công việc của gia
đình
Mâm cúng bao gồm một con gà, ba chén rợu hoặc là một conlợn
Ngày dựng nhà, ngời Dao họ chỉ dựng khung nhà và lợp mái, sau
đó gia đình sẽ mổ lợn, mổ gà làm cỗ thiết đãi mọi ngời tới giúp vànhững ngời tới mừng cho gia chủ có một ngôi nhà mới Các phần nềnnhà và tờng, vách cha làm ngày trong ngày hôm đó hôm đó mọingời cùng ăn uống, ca hát mừng cho gia chủ Ngời Dao họ ở đây
Trang 18không có tục lên nhà mới do vậy trong ngày dựng nhà cũng đợc xem
nh là ngày lên nhà mới Hôm đó trong bữa rợu mọi ngời các nam nữhát đối đáp, giao duyên hát các bài hát mừng nhà mới, các bài hátchúc mừng gia đình hạnh phúc và làm ăn phát đạt
Vào những ngày hôm đó, gia đình và những ngời thợ làm nhà
sẽ dần dần hoàn thành nốt những phần còn lại (nh trên, vách) Thôngthờng ở đây sau khi dựng nhà, ngời Dao họ chuyển dần lên ở trênnhà mới và họ vừa ở vừa hoàn thiện nốt những phần còn lại thiếu củangôi nhà
1.5 Tôn giáo tín ngỡng:
1.5.1.Quan niệm về thần thánh
Đối với ngời Dạo họ, ngời ta quan niệm có một ông thánh, gọi là
ông thánh trời “nhạu tay” hay còn gọi là ông thần sấm “con hoan” vềthần thánh trên trời trong tâm thức của họ chỉ có một ông thầnsấm
Dới đất họ quan niệm có thần thổ công thổ địa (hay cũng gọi
là Táo quân), Táo quân đợc cúng vào ngày 23/12 âm lịch trùng vớingày cúng Táo Quân của ngời Kinh
Ngoài các thần thánh trên ngời Dao họ còn thờ 2 ông thánh TamThanh và Tam nguyên, đây là hai ông thánh tổ của ngời Dao họ, hai
ông này ngày xa khi còn nhỏ không có mẹ, phải bú nhờ con chó(theo quan niệm của ngời dân), bởi thế để nhớ ơn con chó đã cứu
tổ tiên mình mà ngời Dao họ ngày nay kiêng không bao giờ ăn thịtchó
1.5.2 Thờ cúng tổ tiên.
Gia đình ngời Dao họ nào cũng có bàn thờ tổ tiên, thờ cúng tổtiên mình là tín ngỡng thờ cúng chính ở đây khi chết sau khi đợcgia đình tổ chức làm chay, thầy cúng sẽ cúng tiễn đa linh hồn vềvới tổ tiên, về với Tam Đại, Tứ đại và đợc thờ cúng nơi bàn thờ tổ tiên,bởi vậy ngời dân không làm lễ giỗ cho từng ngời chết nữa
Trang 19Bàn thờ của ngời Dao họ làm giống nhau, gồm một bàn thờ
đợc đóng bằng gỗ (giống nh chiếc tủ chạn bát) gồm hai tầng.Tầng trên dùng để thờ cúng tổ tiên, tầng dới để các đồ vật đilàm lễ cúng của mình nh các nhạc cụ chuông, chiêng và thanh
la hay các bức tranh thờ, kiếm thờ
Hàng tháng vào ngày lễ tết, hội hè, rằm đợc chủ nhà cúng khấnvới tổ tiên tại đây bàn thờ của ngời Dao họ bao giờ cũng đợc để tạigian giữa của ngôi nhà chính
1.5.3 Hệ thống các loại ma.
Ma đói: Ngời dân trong làng thờng phải cúng ma đói, theoquan niệm của họ ma đói hay làm hại ngời dân, khi không đợc cúng
ma đói sẽ về làm cho ngời ốm đau, bệnh tật nếu trong gia đình
có ngời ốm đau, bệnh tật, chữa không thấy khỏi gia đình sẽ mờithầy cúng về bói Nếu thầy cúng bói ra ma đói thì gia đình sẽphải làm lễ cúng ma đói để cho bệnh nhân đợc khoẻ mạnh
Lễ cúng ma đói là các vật dụng quần áo bằng giấy, đồ ăn nhcúng cơm, cúng gà để cho ma không còn đói và không làm hạingời ốm đau
Ma cờ trắng: theo ngời dân ở đây cho biết tên ngọn đồi cao ởKhe Thìn còn vết tích nơi đóng quân của giặc cờ trắng trớc đây.ngày xa có nhiều giặc cờ trắng chết ở đó cũng nh ma đói, ma cờtrắng cũng là một dạng ma đói nhng không những xin ăn mà xin cảsúng, đạn, ngựa Khi trong làng có ngời ốm đau, thầy cúng bói rathấy ma trắng về làm hại thì gia đình đó phải làm lễ cúng ma cờtrắng Lễ vật cúng gồm gà, vịt, lấy giấy xanh đỏ gấp thành hìnhcác khẩu súng, quần áo và ngựa, gơm, dao cúng sau đó đốt cho ma
cờ trắng nhận để không về hại dân nữa Về các loại ma, ngời Dao
họ ở đây chỉ quan niệm có hai loại ma trên khi ma đói về làm hạidân (nếu thầy bói bói thấy) thì ngời dân mới tổ chức lễ cúng chonhững loại ma đó, còn trong ngày thờng họ không cúng ma đói
Trang 201.6 Về cỏc loại tụn giỏo – đạo giỏo.
Ở đây không xuất hiện các loại đạo giáo hay tôn giáo nàokhác tuy ở gần đền Bảo Hà với Lăng Cô (cách Lăng Cô khoảng 0,5km) nhng ngời dân ở đây không tin theo hay thờ cúng các loại tôngiáo hay đạo giáo khác họ chỉ có tín ngỡng thờ cúng tổ tiên mình
là chính
1.6.1 Văn hóa tín ngỡng - tôn giáo:
Tranh thờ: Các thầy cúng ngời Dao họ thờng có các bức tranh,tranh này chỉ đợc mang ra treo khi tổ chức làm lễ chay hay lễ cấpsắc “lập tỉnh”
Tranh thờ có khổ 30 x 120 cm đợc vẽ bằng bột màu nớc với rấtnhiều màu sắc đợc vẽ trên nền giấy đỏ, ngày nay họ vẽ cả lên giấy ximăng nội dung của tranh miêu tả tất cả các cảnh sinh hoạt của bathế giới – Thiên – Nhân - Địa và chân dung của một số thần thánh,
tổ tiên
Ngời Dao họ không sử dụng tợng thờ, trong bàn thờ tổ tiên củamỗi gia đình đều có các hình quần áo đợc cắt bằng giấy dán trênbàn thờ Ngời dân cho biết áo này đợc làm trong lễ làm chay, mộtphần đốt cho các cụ và một phần dán lên bàn thờ tổ tiên, quần áo cókhổ 5 x 7 cm
1.6.2 Múa nghi lễ (múa thiêng).
Về múa nghi lễ, trong các nghi lễ lập tỉnh và lễ chay, ngời Dao
họ có hình thức múa thiêng, múa trong nghi khi cúng Ngời múa lànhững thầy cúng phụ giúp cho thầy cúng còn các thầy phụ múa theonhịp gõ của thanh la và trống
Đạo cụ của điệu múa thiêng trong lễ lập tỉnh và chay lễ là mộtthanh kiếm gỗ dài 50 cm, và dây dải tua rua nhiều màu sắc mỗitay thầy cúng phụ sẽ cầm một đạo cụ
Ở những điệu múa thiêng này khi múa ít nhất là hai ngời, đônghơn là 4 hay 6 ngời, không múa lẻ vì khi múa từng đôi một sẽ đứng
Trang 21đối diện để múa với nhau Tất cả những ngời tham gia múa đềuphải mặc áo của thầy cúng.
1.6.3 Nhạc lễ.
Nhạc cụ phục vụ cho các nghi lễ cúng, khấn của ngời Dao họ(các lễ lập tỉnh, chay, tang ma ) chỉ sử dụng những nhạc cụthuộc bộ gõ, không có những nhạc cụ thuộc bộ hơi hay bộ dây(bộ theo cách phân chia nhạc cụ trong âm nhạc)
Những nhạc cụ phục vụ trong nghi lễ của ngời Dao họ ở đâygồm có:
Trống, chiêng, chuông, thanh la, chũm choẹ, lão bạt
Ở mỗi gia đình, mỗi dòng họ của ngời Dao họ ở đây luôn giữ
đợc những nét truyền thống tốt đẹp trong cách ứng xử của mốiquan hệ của các thành viên trong gia đình, trong dòng họ
Mỗi ngời ở ngôi vị thứ bậc nào thì họ cũng đều làm tốt vai tròcủa mình ở thứ bậc đó từ trong chính cuộc sống thực tế củamình mà họ tự giáo dục con cháu sống hoà thuận thơng yêu đoànkết giúp đỡ lẫn nhau Không chỉ ở trong mỗi dòng họ mà nó còn lanrộng ra cả một làng chỉ một gia đình trong làng có công việc gì
là cả làng sẵn sàng bỏ việc gia đình nhà mình để giúp đỡ nhau.Trong gia đình dòng họ của ngời Dao họ ở đây ít khi xảy raxích mích, mất lòng nhau Mọi ngời đều tôn trọng các cụ già trongnhà, kính trọng lễ phép với ngời cao tuổi
Về mối quan hệ giữa anh em trong gia đình, dòng họ cũnggiống nh ngời Dao họ ở nơi khác, trong cách xng hô đối với anh em
Trang 22con chú con bác ở đâu thì ai sinh ra trớc ngời đó đợc gọi là anh,không có sự lẫn lộn về thứ bậc, dù là anh rất xa nhng khi đã nhận đợcnhau là anh em thì họ coi nhau nh anh em ruột thịt cùng cha cùng
mẹ vậy
Mọi ngời ở đây đều chăm chỉ làm ăn, cần cù trong lao động.Ngày thờng khi ngời lạ vào làng ngời Dao họ chỉ thấy các cụ già vàtrẻ con ở làng làm những công việc nhỏ, còn hầu hết tất cả mọi ngời
đều đi làm từ sáng sớm cho tới khuya mới về
Ngày nay ngời Dao họ ở đây vẫn còn giữ đợc những nét vănhóa truyền thống tốt đẹp đó, cho dù cuộc sống xã hội phát triểnngày nay càng phức tạp
địa phơng Có thể nói nên văn hoá Việt Nam là sự phong phú, đadạng của những sắc thái văn hoá riêng biệt mà thống nhất của vănhoá các dân tộc ở Việt Nam
Trang 23Văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số tồn tại và phổbiến chủ yếu ở văn hoá dân gian với các loại hình tiêu biểu nh: Ngônngữ, văn học, dân vũ, kiến trúc, lễ hội, phong tục, tập quán Văn hoátruyền thống còn thể hiện ở sinh hoạt văn hoá nh lễ hội, cới, tang lễ,
sự hợp tác trong lao động, vui chơi đã hình thành nên thuần phong
mỹ tục và trở thành nếp sống đặc trng cho mỗi dân tộc Trong sự
đa dạng ấy, văn hoá của các dân tộc có nhiều nội dung mang ýnghĩa nhân văn, lành mạnh Nhng ở đây từng vùng, từng giai đoạnkhông tránh khỏi những hạn chế và tiêu cực làm cản trở sự phát triểncủa từng tộc ngời trong từng vùng
Vì thế mà hiện nay cho đến sau này văn hoá của các dân tộcthiểu số đợc bảo tồn và phát huy trong cuộc sống của nhân dân cácdân tộc theo sự hớng dẫn và quản lý của pháp luật Nhà nớc
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã liên tục để ra cácchủ trơng, đờng lối, chính sách về vấn đề dân tộc Có nhiều vănbản, quyết định nhằm phát triển kinh tế – xã hội ở các vùng đồngbào dân tộc thiểu số, đặc biệt chú ý đến việc bảo tồn và pháttriển văn hoá dân tộc, đó là:
+ Trong hiến pháp năm 1992 của Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã ghi: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết,giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục tập quán,truyền thống về văn hoá tốt đẹp của mình”
+ Trong Nghị quyết số 22 ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị vềmột số chủ trơng, chính sách lớn phát triển kinh tế xã hội có đoạn
đề cập đến công tác văn hoá nh: “Tôn trọng và phát huy nhữngphong tục, tập quán và truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dântộc Nền văn minh ở miền núi phải đợc xây dựng trên cơ sở mỗidân tộc phát huy bản sắc của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoácủa các dân tộc khác và góp phần phát triển nền văn hoá chung của
Trang 24cả nớc Tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam”
+ Trong Nghị quyết TW V – Khoá VII của Ban Chấp hành TW
Đảng đã nói về văn hoá các dân tộc thiểu số: “Coi trọng và bảo tồnphát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phtt những giátrị mới về văn hoá, văn học nghệ thuật của các dân tộc thiểu số.Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết của các dân tộc đi
đôi với việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết phổ thông, khuyến khíc cácthế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết
và sử dụng thành thạo tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình Pháthiện và bồi dỡng, tổ chức lực lợng sáng tác, su tầm, nghiên cứu vănhoá nghệ thuật là ngời dân tộc thiểu số”
“Chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hoá dân tộc hớng vàocả văn hoá vật thể và phi vật thể Tiến hành sớm việc kiểm tra, sutầm, chỉnh lý vốn văn hoá truyền thống (bao gồm văn hoá bác học
và văn hoá dân gian) của ngời Việt và các dân tộc thiểu số”
+ Quyết định của Thủ tớng Chính phủ số 124/2003/QĐ-TTgngày 17/6/2003 về phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá cácdân tộc trong thời kỳ mới”
+ Quyết định số 431/QĐ-BVHTT ngày 16/12/2002 của Bộ trởng
Bộ Văn hoá - Thông tin về việc phê duyệt tiêu chí điều tra, bảo tồnlàng, bản, buôn truyền thống của các dân tộc thiểu số
Nh vậy trên tinh thần định hớng của Nhà nớc, của các cấp Uỷ
Đảng, văn bản quản lý của Chính quyền địa phơng đã tạo cơ sởpháp lý cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá truyền thốngcủa dân tộc
2.1.2 Cơ sở thực tiễn.
“Văn hoá là những hoạt động sáng tạo, mang bản chất của conngời, nhằm tái tạo lại mối quan hệ giữa con ngời với thiên nhiên, với xãhội và thể hiện sự định vị của mỗi cá thể ngời trong các quan hệ