1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020

139 1,1K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác Định Sản Phẩm Chủ Lực Và Phát Triển Sản Phẩm Chủ Lực Đồng Bằng Sông Cửu Long Đến Năm 2020
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020

Trang 1

1. Lý do chọn đề tài 

Là một trong những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu bậc nhất Đông Nam Á và thế giới, ĐBSCL đã trở thành vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, thủy hải sản và cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, nó còn là vùng kinh tế trọng điểm cả nước, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước trong khu vực và thế giới. Quá trình cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc 

tế  mà  thời  gian  qua  đã  giúp  cho  các  lĩnh  vực  công  nghiệp,  dịch  vụ  và  đặc  biệt  là  nông nghiệp ở  ĐBSCL đạt được những  thành tựu to lớn. Tốc độ  tăng trưởng GDP  lập nên  kỷ lục mới, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng; cơ cấu kinh 

tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp, thương mại dịch vụ và nông  nghiệp  công nghệ cao;  thu  nhập bình quân  đầu người  tăng  lên  và  đời  sống  xã  hội không ngừng được cải thiện; một số sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp chế biến đã trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực đem về nhiều ngoại tệ cho các đại phương trong vùng và cả nước…. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế của ĐBSCL thời gian qua cũng  bộc  lộ  khá  nhiều  yếu  kém:  tăng  trưởng  xuất  khẩu  không  ổn  định,  còn  chứa  đựng nhiều  yếu  tố  không  bền  vững  và  dễ  bị  tổn  thương  bởi  những  cú  sốc  từ  bên  ngoài;  sản phẩm chủ lực còn ít và phát triển chậm, chưa chuyển dịch theo hướng tăng hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao nên chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của vùng; năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các sản phẩm còn thấp…. Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, sự phát triển kinh tế ­ xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long còn khá biệt lập, chưa có 

sự gắn kết chặt chẽ với các vùng khác của đất nước cũng như quốc tế. Đồng thời, sự phát triển  của  vùng  cũng rất  thiếu đồng bộ,  chưa cân  xứng  giữa  các ngành nghề,  lĩnh  vực  và giữa  các  địa phương; phát  triển nặng về  chiều  rộng,  chạy  theo  số  lượng nên  chất  lượng, hiệu quả và đặc biệt là tính cạnh tranh quốc tế không cao… 

Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu có thể khẳng định là thiếu vắng những sản phẩm chủ lực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, sức cạnh tranh cao và nhất là tạo được động lực thúc đẩy khai thác một cách hiệu quả tài  nguyên thiên nhiên, lao động và những lợi  thế “trời cho” mà không một nơi nào khác  có  được ngoài  vùng đất  nầy.  Vấn  đề đặt ra  ở đây  là,  làm  cách nào để  ĐBSCL  xác định được sản phẩm chủ lực hoặc hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng để tập trung đầu tư phát

Trang 2

triển;  làm cách nào để cho  sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế… 

Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở 

thời  điểm hiện nay.  Và,  đây cũng  chính  là  lý  do mà  tác  giả  chọn  đề  tài: “Xác định  sản  phẩm  chủ  lực  và  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực  Đồng  bằng  sông  Cửu  Long  đến  năm  2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân. 

2.  Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án 

2.1. Mục tiêu nghiên cứu 

Luận án tập trung vào nghiên cứu 3 mục tiêu cơ bản sau đây: 

1) Hệ thống tiêu chí  xác định  sản phẩm chủ lực phù hợp với điều kiện thực tế và tính đặc thù của ĐBSCL để làm cơ sở đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực thống nhất cho toàn vùng. 

1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn  và phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020. 

2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020. 

3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020

Trang 3

4) Phân tích, đánh giá những thành tựu cũng như tồn tại, hạn chế trong thực tế xét chọn và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua để từ đó đề xuất các giải pháp 

Trang 4

H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael 

M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công trình nghiên cứu này, Ketels đã mở rộng hơn về khái niệm cụm so với khái niệm ban đầu của Michael M. Porter và qua đó, giúp mọi người hiểu đúng và đầy đủ hơn tầm quan trọng của cụm đối với phát triển kinh tế địa phương trong môi trường cạnh tranh toàn cầu [48]. 

4) Lý thuyết điểm trung tâm của Christaller (1933). Lý thuyết này cho rằng, vùng nông thôn chịu lực hút của thành phố và coi thành phố là cực hút và hạt nhân của sự phát triển. Từ đó, đối tượng đầu tư có trọng điểm cần được xác định trên cơ sở nghiên cứu mức 

độ thu hút và ảnh hưởng của một trung tâm và cũng sẽ xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm. Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn của thị trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm. 

Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm 

là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45]. 

5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các

Trang 5

giới, đặc biệt các nhà sản xuất kinh doanh đến chiến lược cạnh tranh hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định khả năng cạnh tranh và phát triển các chỉ số định lượng thích hợp để đo lường sức mạnh cạnh tranh. Với sự nỗ lực của mình, G. Arzu INAL  đã nghiên cứu, tổng hợp và đưa ra 16 chỉ số có thể đo lường năng lực cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ. Trong đó, có nhiều chỉ số thích hợp cho việc đo lường năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ làm cơ sở xây dựng tiêu chí xác định hàng hóa, dịch vụ chủ lực của địa phương [47]. 

Ngoài các tài tiệu trên, nhiều tài liệu khác cũng có nội dung liên quan vần đề này 

được  tác  giả  tham  khảo  như:  “Regional  innovation  systems  (RIS)  in  China  của  Jon 

Sigurdson”  đăng  trên  Working  Paper  No  195,  July  2004  [49];  “Sustaining  the  Green  Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative  industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in  Japanese  alcoholic  beverages  and  fermented  foods,  Tokyo  University  of  Agriculture 

Sedagaya­ku,  Tokyo,  Japan  [54];  “Identifying  and  assessing  the  factors  that  influence 

cluster’s  competitiveness  in  Oregon, and  some  initial  suggestions”,  Luận  án  Tiến  sĩ  của 

Sam  Gi  Hong  (2007) [52] Nhìn  chung  các  tài liệu này  đều nhấn mạnh đến  vai  trò  của phát triển cụm ngành sản phẩm trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia và đề 

xuất các chính sách hỗ trợ để cụm phát triển một cách bền vững. 

4.2 Tài liệu trong nước 

1) Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh  vùng  Bắc  Trung  bộ”  của  Nguyễn  Hồng  Lĩnh  (2007).  Luận  án  đã  vận  dụng  các  lý thuyết  liên  quan,  đặc  biệt  là  mô  hình  kim  cương  của  M. Porter  để  phân  tích  tìm  ra  các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo sát thực tế; rút kinh nghiệm  phát  triển ngành công nghiệp chế biến ở một  số nước Đông Nam  Á  và  dựa  trên  tiềm  năng,  lợi  thế  của  vùng,  Luận  án  đã  xác  định  các  ngành  công nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ [9]. 

2) Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ. Theo Chương  trình,  sẽ  hình  thành  và  phát  triển  hàng  hóa  mang  thương  hiệu  Việt  Nam  bằng công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước. Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015 phải hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm dựa trên công nghệ tiên tiến và do các

Trang 6

là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng  suất, chất  lượng  cao,  chống  chịu  sâu bệnh…;  xây  dựng  các mô hình  thâm  canh  và sản  xuất  công nghiệp  trong nuôi trồng nông, lâm,  thủy  hải  sản  theo hướng bền  vững  và bảo vệ môi trường sinh thái [1] 

4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”. Theo Qui chế này, cơ sở xác định sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố là các  tiêu chí  gồm  sức cạnh tranh trên thị  trường trong và ngoài nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất  và môi  trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao,  ổn định;  hoặc  thuộc nhóm  sản phẩm  xuất  khẩu  chủ  lực, đóng  góp tỷ  trọng  lớn vào tổng  GDP  công  nghiệp.  Qui  trình  xét  chọn  có  4  bước:  đề  xuất  doanh  nghiệp  tham  gia Chương trình;  khảo sát sản phẩm công nghiệp;  tổ chức đánh giá, xét  chọn và công nhận sản phẩm chủ lực [17]. 

5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh  giai  đoạn  2002  –  2005”.  Theo  Chương  trình  này,  Hệ  thống  tiêu  chí  lựa  chọn  sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng 

ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực:  thiết  kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố [2]

Trang 7

Ngoài  ra,  Luận án  còn  tham khảo nhiều  tài liệu chương trình phát triển sản phẩm chủ  lực  tương  tự  của  các địa phương  khác  cũng như  hội  thảo, hội  nghị,   liên quan đến vấn đề phát triển sản phẩm chủ lực nói chung, như: “Xác định hàng hóa,  dịch vụ chủ lực 

Tp Cần Thơ giai đoạn 2006 – 2010, tầm nhìn 2020”; “Đánh giá thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và làng nghề quận Bình Thủy (Tp  Cần Thơ) giai đoạn 2011  –  2015, tầm nhìn  đến năm 2020” và các bài viết khác của các tác giả đăng tải trên tạp chí, báo, trang web  trong nước và quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc cả về lý luận cũng như thực tiễn việc xác định và phát triển các sản phẩm công, nông, nghiệp và thủy sản chủ lực thuộc vùng ĐBSCL. Với Luận án này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu  và giải quyết vấn 

2) Từ cơ sở lý thuyết đã xây dựng, Luận án đưa ra bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực của đồng bằng sông Cửu Long từ nay đến năm 2020 với 2 hệ thống đánh giá, xét chọn sản phẩm hàng hóa chủ lực và sản phẩm dịch vụ chủ lực. Các hệ thống này vừa bảo đảm các điều kiện cần, vừa bảo đảm đảm điều kiện đủ; vừa có tiêu chí định lượng và vừa 

có tiêu chí định tính; đầy đủ hơn, thực tế hơn nhưng đơn giản, dễ thực hiện hơn. 

3) Cũng với  cơ sở lý thuyết  đã hoàn thiện, Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc công nhận sản phẩm chủ lực ĐBSCL đối với các sản phẩm đã từ lâu giữ vị trí chủ lực một cách tự nhiên do lợi thế đặc thù của vùng như lúa gạo, trái cây và thủy sản. Thông qua 

đó, Luận án cũng chứng minh tính chủ lực không thể chối cải của các sản phẩm này bằng một số chỉ tiêu định lượng quan trọng. 

4) Dựa trên Bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực đã xây dựng, Luận án thực hiện việc xem xét, tính toán và cân nhắc đối với từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có triển vọng  trong  vùng  để  từ  đó  lập  ra  bảng  Danh mục  những  sản  phẩm  chủ  lực  ĐBSCL  đến năm 2020

Trang 8

5) Trên cơ sở lý luận và thực tiễn xác định và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua cũng như quan điểm, định hướng mục tiêu phát triển  sản phẩm chủ lực của vùng thời gian tới, Luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu, khả thi và đồng bộ 

+ Tiếp cận logic: Từ việc nghiên cứu, thu thập các dữ liệu, thông tin thông qua tài 

liệu, sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xây dựng các mô hình lý thuyết 

về sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, xem đây là giả thuyết để làm cơ sở 

chứng minh cho tính đúng đắn của nó hoặc loại trừ nó. 

+  Các  phương  pháp hỗ  trợ  khác:  Sử  dụng  các  phương  pháp  mô  hình  hóa,  sơ  đồ 

hóa, phương pháp  thống  kê,  phương pháp hồi  qui  tuyến  tính…, đặc biệt  trong phân  tích cạnh tranh sẽ áp dụng mô hình kim cương (diamond model) của Michael M. Porter để xác 

định lợi thế cạnh tranh ngành hàng. 

6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính 

Để thực hiện đề tài này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp định tính để thu thập phân tích và diễn giải dữ liệu nhằm mục đích khám phá các nhân tố và mối quan hệ đến tính chủ lực của hàng hóa, dịch vụ. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu này chủ yếu là để xây dựng  cơ  sở  lý  thuyết  một  cách  khoa  học  và  khách  quan  về  sản phẩm  chủ  lực.  Công  cụ được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là:  Khảo sát thực tế tại  các địa phương, thảo 

luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát    

6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng 

Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như: 

Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa (LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)

Trang 9

­ Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá xét chọn SP chủ lực 

­  Xây  dựng  tiêu  chí  và qui trình xác định 

­  Danh  mục  sản  phẩm chủ  lực 

­ Giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020

Trang 10

Chương 3:  Xác  định  sản  phẩm chủ  lực  và phát  triển sản  phẩm  chủ  lực Đồng 

bằng sông Cửu Long đến năm 2020 

Chương ba chủ yếu giải quyết 3 vấn đề cơ bản là: xây dựng Hệ thống tiêu chí xác định  sản phẩm  chủ lực  ĐBSCL;  đề  xuất  Danh mục  sản phẩm  chủ  lực  ĐBSCL  đến năm 

2020 và đề xuất một  số giải pháp chủ  yếu phát  triển  sản phẩm  chủ lực của ĐBSCL một 

Trang 11

Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng lãnh  thổ.  Điển  hình nhất  là Nhật  bản,  20 năm  sau  thế  chiến  thứ  2  (1951  –  1973) đã  trở thành nền kinh tế lớn của thế giới  với  GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được xem là thế mạnh cạnh tranh của Nhật  giai đoạn này là tàu biển, xe máy, máy khâu, máy ảnh, ti vi, thép, ô tô, sản phẩm hóa chất, hàng dệt,  Kế đến là Trung Quốc, trong ba thập 

kỷ (từ 1978 đến 2007) với việc chuyển đổi từ nền công nghiệp không dựa vào lợi thế sang nền công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nhân công dồi dào với các sản phẩm cấp thấp, giá rẻ  đã đưa nền  kinh tế Trung quốc tăng trưởng một  cách thần kỳ, đạt  tốc độ trung bình hàng năm 9,5%. Kết quả là từ một nước kém phát triển, Trung quốc đã vươn lên tốp bốn nền  kinh  tế  hàng  đầu  thế  giới  (WB,  2007).  Tương  tự,  thông  qua  hai  cuộc  “Cách  mạng xanh” với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), công nghiệp phục vụ nông nghiệp,  Ấn độ đã trở thành hiện tượng đặc biệt trong phát triển kinh tế nhờ vào xác định 

và phát triển các ngành sản phẩm chủ lực phù hợp với lợi thế của mình [48], [49], [53] 

Ở Việt Nam, sản phẩm chủ lực hay sản phẩm công nghiệp chủ lực là khái niệm mới 

và thường xuất hiện trong một số văn bản quản lý Nhà nước vào thập niên đầu tiên thế kỷ XXI. Lúc đầu, đây chỉ  là thuật ngữ dùng để chỉ những sản phẩm có khả năng xuất  khẩu mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Gần đây, khái  niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt. Dưới đây là những điểm khác nhau điển hình khi nói về sản phẩm chủ lực. 

v  Thể hiện trong các chủ trương, chính sách nhà nước 

+ Trước hết là khái niệm “sản phẩm chủ lực” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường  (nay  là  Bộ  Khoa  học  và  Công  nghệ)  là  sản  phẩm  giúp  gia  tăng  kim  ngạch  và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm  chế biến, sản phẩm  có hàm  lượng  công nghệ  cao,  thúc đẩy  xuất  khẩu dịch  vụ  cũng  như  tạo điều  kiện đẩy nhanh áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo phương châm lấy tiết kiệm năng lượng, giảm giá thành và nâng cao  chất lượng sản phẩm làm trọng tâm  (Quyết định

Trang 12

số: 21/2001/QĐ­bKHcnmt về việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sẩn phẩm chủ lực”) [1]. 

+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 2002­2005" đã giới hạn sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp với thuật ngữ “sản phẩm công nghiệp chủ lực”. Theo Chương trình, những sản phẩm này phải có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị  trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của Thành phố. Ngoài ra, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp  Hồ Chí  Minh giai đoạn 2002­2005 phải vừa có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động và thân thiện với môi trường (Quyết định số: 153 /2002/QĐ­UB) [2]. 

+ Một khái niệm khác có thể tham khảo là “sản phẩm công nghiệp chủ lực” của Tp 

Hà Nội ghi trong “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố 

Hà Nội”, Theo cách mô tả của Qui chế này thì “sản phẩm chủ lực” đã được giới hạn trong phạm vi ngành công nghiệp với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong  và ngoài nước;  Được tạo ra  trên dây  chuyền  thiết bị  có  công nghệ  ngang  tầm  khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định 

ở  mức  cao  và  thuộc nhóm sản  phẩm  xuất  khẩu  chủ  lực  với  tỷ  trọng  đóng góp vào  tổng GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐ­UB) [17]. 

+  Cùng  một  quan  niệm  với  Tp  Hồ  Chí  Minh  và  Tp  Hà  Nội,  tỉnh  Đồng  Nai  với 

“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006­2010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực  hiện các mục  tiêu, nhiệm  vụ đặt  ra  trong  một  thời kỳ  nhất định.  Đây  là  những  sản phẩm  công  nghiệp  chiếm  tỷ trọng  cao  trong cơ  cấu  ngành công nghiệp  có  nhịp  độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị  gia tăng cao, có vị trí chi phối và  ảnh hưởng đến sự phát  triển đối với  nhiều  sản  phẩm  công  nghiệp  khác  cũng  như  có  sức  cạnh  tranh  cao  trên  thị  trường trong  nước  và  xuất  khẩu  (Quyết  định  số  955/QĐ­UBND).  Nói  cách  khác,  đối  với  tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng 

và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước [9]

Trang 13

v  Thể hiện trong các bài viết, tác phẩm nghiên cứu 

+ Với GS.TS Võ Thanh Thu, Giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Chuyên  gia  nghiên  cứu  khu  công  nghiệp,  trong  một  bài  viết  của  mình  cũng  đã  sử  dụng khái niệm “sản phẩm chủ lực” và cho rằng nó phải có các đặc trưng như: Phải có tương lai phát  triển  mạnh  về  công  nghệ,  có  khả  năng  cạnh  tranh  trên  thị  trường  quốc  tế  và  trong nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương , là đặc trưng cho địa phương; Phải có tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao;  Có thể là hữu hình hoặc là vô hình. Ở đây GS.TS Võ  Thanh Thu đã đưa ra thêm 2 điểm khác quan trọng là sản phẩm chủ lực phải có sự lan tỏa đến các ngành khác, sản phẩm khác và lôi kéo chúng cùng phát  triển, đồng thời  sản phẩm chủ lực không chỉ  là hữu hình mà còn có thể là vô hình nữa

+  Với  TS  Lê Tấn  Bửu,  Trưởng  khoa  Thương  mại­Du  lịch­Marketing,  trường  Đại học Kinh tế TP.HCM thì sản phẩm chủ lực phải là sản phẩm trong công nghiệp chế biến nông,  thủy  sản  vì  đây  là  thế  mạnh  của  Việt  Nam  mà  trọng  điểm  là  ĐBSCL,  đồng  thời chúng còn là nguồn cung sản phẩm thiết yếu thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho toàn xã hội. 

Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi thời  kỳ khác  nhau  việc nhận  thức  về  sản  phẩm  chủ  lực  có  khác nhau.  Chính  từ  sự nhận thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau. Tuy nhiên, có một vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để tập  trung  đầu  tư  phát  triển  là  nhiệm  vụ  có  tính  chiến  lược  đối  với  mỗi  quốc  gia,  địa phương và vùng lãnh thổ. Chính vì điều này mà trước tiên, Luận án  cần đi đến một nhận 

thức chung, nhất quán về sản phẩm chủ lực. 

1.1.1.2. Nhận thức chung về sản phẩm chủ lực 

Trước  hết,  cần  bắt  đầu  với  thuật  ngữ  “chủ  lực”.  Theo  Từ  điển  tiếng  Việt  thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục 2003 thì đây là lực lượng chính, giữ vị trí nòng cốt và có tác dụng  quyết  định. Ứng  với  tiếng  Anh là  “driving  force”  (lực lượng  có tính dẫn đạo) hay 

“main force” (lực lượng chính). Thuật ngữ này được dùng phổ biến trong quân sự để chỉ lực  lượng quan trọng nhất  có  ý nghĩa  quyết  định  chiến  trường  như  “quân  chủ  lực”, “bộ đội”  chủ lực Lực lượng  này  được  sử  dụng  khi  cần  giải  quyết  các mục  tiêu  chiến lược,

Trang 14

quyết  định  đến  phạm  vi  toàn  cục.  Đặc  trưng  của  chủ  lực  là  tập  trung  với  số  lượng  lớn, được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác chiến trên diện rộng. 

Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm dùng để chỉ  sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại  hóa, tức  là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế  biến  có  thịt  đóng  hộp,  cá  đóng  hộp,  thịt  đông  lạnh,  cá  đông  lạnh ,  ngành  hóa  mỹ phẩm có bột  giặt, nước xả, chất  tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm Khi  tham khảo các tài  liệu tiếng Anh, tác giả thường thấy xuất hiện các từ hoặc cụm từ có thể được xem là tương ứng với  sản phẩm  chủ  lực  hay  ngành hàng  chủ lực  như:  key products, main products, major products  hoặc key sectors, main sectors. 

­ Main products: Là sản phẩm chính, sản phẩm chủ yếu của một công ty, giữ vị trí 

chủ yếu về sản lượng tiêu thụ, doanh thu hoặc tạo nên hình ảnh doanh nghiệp. Ví dụ main products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến), 

­ Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ 

sản  phẩm  chính  của  Sumikin  Bussan  Special  Steel  Co.,  Ltd  là:  Tubes  and  Pipes  (ống nước, ống kết  cấu cho xe ô  tô,  máy  móc  và ống  thép đặc  biệt cho  các nhà máy hóa dầu); Steel Sheets and Plates (thép tấm); Construction Materials (thép xây dựng); Bar and Wire Rods (thanh thẳng, thanh cuộn) và Raw Materials (thép nguyên liệu thô). Hay sản phẩm chính của Nhật: Xe máy, Xe hơi, Thiết bị điện và Máy vi tính…Trong đó, xe gắn máy với nhãn hiệu Honda, Suzuki, Yamha hay xe hơi  với nhãn hiệu Toyota hoặc thiết bị điện tử, 

điện lạnh của Sony… là biểu tượng, là nét văn hóa của nước Nhật xưa và nay. 

­ Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa 

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có

Trang 15

các key sectors như: Agriculture (Nông nghiệp); Commerce & Industries (Công nghiệp và thương mại);  Finance (Tài  chính);  Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình)  

Từ những  kết  quả phân tích đã  trình bày ở phần  trên,  có  thể nhận diện  sản phẩm 

chủ  lực  thông qua định  nghĩa như  sau:  “Sản  phẩm  chủ  lực  là  sản  phẩm hàng hóa  hoặc 

dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn  và năng lực cạnh  tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi  kéo các ngành nghề khác cùng phát  triển; đồng thời 

nó  còn  có  thể là  sản phẩm  thể hiện  tính đặc  thù riêng,  mang  ý nghĩa  văn hóa  của  một  quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ”  1 

lực yếu, sức cạnh tranh không cao. 

2) Sản phẩm có năng lực cạnh tranh quốc tế 

Sản phẩm chủ lực phải là những sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về mặt chất lượng, thiết  kế  kỹ  thuật, mẫu mã, kiểu dáng…theo  tiêu  chuẩn quốc  tế;  có  khả năng tiêu thụ  tốt không những trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu, đồng thời luôn chiếm được ưu thế cạnh tranh trước các đối  thủ quốc tế khác. Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường cạnh tranh không còn đơn giản với không gian nhỏ hẹp trong nước 

Trang 16

và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công nghệ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) hoặc các mối liên hệ bổ trợ (mối liên hệ tương 

hỗ tạo ra điều kiện thuận lợi  cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm). Với  tính chất lan tỏa như vậy, thực tế cho thấy khi sản phẩm chủ lực phát triển sẽ tạo ra nhu cầu hỗ trợ, 

nhu cầu liên kết…từ đó kích thích, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển theo. 

4) Sản phẩm mang tính đặc thù của quốc gia, vùng lãnh thổ 

Một  sản  phẩm  chủ  lực  còn  là  sản  phẩm  thể  hiện  lợi  thế  đặc  trưng  của  quốc  gia, vùng lãnh thổ mà không nơi nào khác có thể sánh kịp. Người tiêu dùng bỏ tiền mua sản phẩm ấy chính bởi những giá trị đặc trưng mà họ thấy được từ sản phẩm, đồng thời đối thủ cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính  lợi thế cạnh tranh của quốc  gia hay  vùng  lãnh  thổ  (vị  trí  địa  lý,  tài nguyên  thiên nhiên,  lao động…).  Ngoài  ra, nhiều  sản phẩm chủ lực còn là  biểu tượng văn hóa của quốc gia  hay vùng lãnh thổ, góp 

phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế. 

5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường 

Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi  thải bỏ  không gây hại hoặc ít  gây hại  hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc quốc tế công nhận. Hoặc, sản phẩm được tạo ra có khả năng thay thế cho các nguyên liệu 

tự nhiên mà trong quá trình tồn tại, sử dụng hoặc sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi 

trường so với sản phẩm được thay thế. 

1.1.1.4. Điểm khác cơ bản của khái niệm sản phẩm chủ lực trong Luận án 

Có thể thấy, về cơ bản Luận án đã kế thừa có chọn lọc các khái niệm mà các tài liệu trước đây đưa ra. Tuy nhiên, nếu xét ở phạm vi nội dung và ý nghĩa cũng như so sánh với 

từng tài liệu riêng rẻ thì Luận án đã đưa ra nhiều điểm mới. 

Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực 

Trang 17

trên  tiềm  năng,  lợi  thế  chung  của  vùng, 

miền quyết định một cách khách quan. 

Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và 

do doanh nghiệp quyết định theo chủ quan 

Bao  gồm  cả  sản phẩm  công nghiệp, nông 

nghiệp ­ thủy sản và dịch vụ 

Thường  chỉ  đề  cập  chủ  yếu  đến  sản  phẩm công nghiệp, hoặc nông nghiệp 

Sản  phẩm  không  những  mang  giá  trị  vật 

Xác định đúng sản phẩm chủ lực là cơ sở để tập trung nguồn lực, ưu tiên hỗ trợ đầu 

tư  phát  triển  một  cách  có  trọng  tâm,  trọng  điểm  và  theo  chiều  sâu  trên  cơ  sở  lợi  thế  so sánh, không dàn trải làm lãng phí vốn đầu tư. Qua đó, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh cho từng loại sản phẩm và qua 

đó  tạo môi  trường  thuận lợi  cho sản xuất phát  triển, đảm bảo cho những sản phẩm được chọn có điều kiện phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế ­ 

xã hội của địa phương và hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 18

2) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm lan tỏa,  nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản xuất và cung ứng, 

có tác động lôi  kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển. 

Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một  cách đầy đủ  các ngành nghề có liên quan trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa, khi tập trung đầu tư phát triển một ngành hàng chủ lực nào đó sẽ đồng thời phải đầu tư cho các ngành có liên quan khác làm cho chúng có điều kiện phát triển theo. Ngược lại, cũng thông qua quá trình xem xét này, 

có  thể  xác  định  được  những  ngành  nào  có  khả  năng  lan  tỏa  đến  nó  để  có  chính  sách 

khuyến khích đầu tư và qui hoạch phát triển một cách tương ứng và đồng bộ. 

3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh 

tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu. 

Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát  triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch 

cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững

4)  Xác  định  đúng  sản  phẩm  chủ  lực  cũng  có  nghĩa  là  xác  định  đúng  đối  tượng  khách hàng và  thị  trường  tiêu  thụ để  tăng  cường áp  dụng  các hệ  thống quản  lý  và thực  hành chất lượng phù hợp. 

Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn 

diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. 

1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực  1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723­1790) 

Adam  Smith được  coi  là  cha đẻ  của kinh  tế học hiện đại.  Tác phẩm  lớn nhất  của ông là 'The Wealth of Nations' xuất bản 1776. Trong tác phẩm, ông nhấn mạnh lợi ích của chuyên môn hoá và nhu cầu sinh ra hệ thống cơ chế thị trường, phản hồi qua hệ thống giá. 

Có lẽ tư tưởng gắn liền với ông là Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage). Trong 

mô hình kinh tế cổ điển, các nhà học giả cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm

Trang 19

A. Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá 

rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước. Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương. 

Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí nguồn lực để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Khi một nước sản xuất sản phảm có chi phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực). Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao 

sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại hiệu quả. Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước. 

Ngày  nay,  đối  với  các  nước  đang  phát  triển  như  Việt  Nam  việc  khai  thác  lợi  thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là công nghệ sản xuất với chi phí chấp nhận được mà phải nhập khẩu công nghệ. Khi  nhập  công nghệ  sản  xuất,  lao động  trong  nước  sẽ học  được  cách  sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng. Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển  (có lợi thế tuyệt đối  về công nghệ) và các nước đang phát triển  (có lợi  thế  tuyệt đối  về nguồn lực)  thông qua  bù đắp  sự  yếu  kém  về  khả  năng  sản  xuất tư  liệu sản  xuất  và  yếu  kém về  kiến thức 

công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối [55]. 

1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (1772­1823) 

Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị  lao động. Theo học thuyết này thì  ngoại thương  có  lợi  cho  mọi  quốc  gia  miễn  là  xác  định  đúng  lợi  thế  so  sánh.  Nghĩa  là  việc chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia. Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập lợi thế tuyệt đối. Toàn bộ phân tích của D. Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác  nhau  giữa  các  nước  trong công  nghệ sản  xuất  dẫn  đến năng  suất vật  chất  và  đòi hỏi lao động đơn vị khác nhau. 

Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ  như  nhau:  các  nước  phát  triển có  cung  về tư  bản nhiều  hơn các  nước  đang  phát

Trang 20

triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi  nhân công lớn hơn. Ngược lại  số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại 

ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công. 

Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế 

so sánh cao một cách  tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi  thế  so  sánh  về  những hàng  hóa này.  Điều  này  lý  giải  vì  sao Việt  Nam lại xuất khẩu nhiều  sản  phẩm  thô  hoặc  sơ  chế  như  dầu  thô, than  đá,  thủy  sản  đông  lạnh   hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép  còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển [3]

1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (1772­1823) 

Michael E. Porter là người đã đưa ra môn học về chiến lược cạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành. Về lý luận cạnh tranh, ông đã xuất bản ba cuốn sách nổi  tiếng thế giới và được sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo MBA của các nước. Đó là cuốn ''Chiến lược cạnh tranh'' xuất bản năm 1980, cuốn ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn  ''Lợi  thế  cạnh  tranh  quốc  gia”  vào  năm  1990.  Trong  tác  phẩm  Lợi  thế  cạnh  tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Kim cương”. Theo Porter thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại  phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của  quốc  gia  đó. Khi nền  tảng  của  cạnh  tranh  càng  chuyển  dịch sang  sự  sáng  tạo  và  tri thức mới  thì vai  trò  của quốc  gia càng  tăng lên. M.  Porter  cho  rằng  các nền  kinh  tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất, cạnh  tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh tranh phản ánh nguồn lợi thế đặc trưng, bản chất và quy mô của những ngành phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế. 

Việc phân chia các giai đoạn cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối và các quốc gia hay các địa phương không nhất thiết phải đi qua tất cả các giai đoạn, nhưng việc xác

Trang 21

số ưu thế vượt trội về sản phẩm  so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc tế giúp  cho  các  doanh  nghiệp  có  được  “Quyền  lực  thị  trường”  để  thành  công  trong  kinh doanh  quốc tế.  Theo  Michael.E Porter,  lợi  thế  cạnh  tranh  của quốc  gia,  địa phương hay vùng lãnh thổ có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành và sản phẩm. Một quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế cạnh tranh  tốt sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các ngành và doanh nghiệp thông qua việc sản xuất và cung ứng những sản phẩm ưu việt hơn 

so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Ông cho rằng, bí quyết mà một quốc gia gặt hái được sự thành công quốc tế trong một ngành nhất định nằm trong bốn thuộc tính lớn của một  quốc  gia.  Bốn  thuộc  tính  này  định  hình  nên  môi  trường  cạnh  tranh  của  các  doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh và được coi là các 

yếu tố quyết định của mô hình, là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, 

Nền kinh tế định 

hướng yếu tố 

Nền kinh tế định  hướng đầu tư 

Nền kinh tế định  hướng sáng tạo 

Hiệu quả nhờ 

chi phí đầu vào 

Hiệu quả nhờ  đầu tư mạnh 

Hiệu quả nhờ  đổi mới

Trang 22

các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Ông  còn  đưa ra  thêm  2  yếu  tố  bổ  sung là  vai  trò  của nhà nước  và  yếu  tố thời  cơ.  (Xem 

CÁC NGÀNH  CÔNG NGHIỆP  PHỤ TRỢ VÀ CÓ  LIÊN QUAN 

CÁC ĐIỀU  KIỆN VỀ  CẦU 

ĐIỀU KIỆN  YẾU TỐ SẢN  XUẤT 

SỰ  NGẪU  NHIÊN 

CHÍNH  PHỦ

Trang 23

v  Các yếu tố chi phối các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành: 

+  Vai  trò  của  chính phủ.  Chính phủ  có  thể tác động  tới  năng  lực  cạnh  tranh  của 

ngành thông qua cả 4 nhóm nhân tố: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan;  chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành. Các tác động của chính phủ có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực

·  Đối với các yếu tố sản xuất và các ngành hỗ trợ và liên quan; chính phủ có thể tác động thông qua chính sách thuế, vốn, trợ cấp, quy hoạch phát triển ngành,…

·  Đối với nhu cầu trong nước, chính phủ tác động bằng những quy định mang tính chất định hướng nhu cầu như quy định tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng trong ngành, các biện pháp kích thích hoặc kiềm hãm nhu cầu đối với một loại sản phẩm nhất định

·  Đối với cơ cấu và môi trường cạnh tranh, sự tác động của chính phủ thể hiện thông qua những quy định về thị trường tín dụng, chính sách thuế và các quy định về cạnh 

tranh trong sản xuất, kinh doanh của ngành hàng cụ thể. 

+ Sự ngẫu nhiên hay vai trò của cơ hội. Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan 

đến tình trạng sản xuất, kinh doanh hiện tại của ngành hàng nào đó tại quốc gia. Những cơ hội  có thể đến với  mặt hàng có thể là: những cuộc khủng hoảng  kinh tế,  thiên tai, chiến tranh ở các quốc gia, khu vực trên thế giới; sự tiến bộ về công nghệ sinh học; sự bãi bỏ các hàng  rào  thuế  quan  hay  phi  thuế  quan  của  chính  phủ  các  nước  đối  với  mặt  hàng  nào đó…làm nhu cầu ở những nơi này tăng lên, đẩy giá cả thế giới lên cao hay ngược lại. 

Hiện nay, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang đứng trước những 

cơ hội và thách thức lớn khi hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Làm thế nào để tận dụng tốt thời cơ cũng như có biện pháp ngăn chặn những tác động tiêu cực từ hội nhập là một câu hỏi  mà các quốc gia đều quan tâm. Câu trả lời  là:  mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ  cần phải 

phát huy được lợi thế cạnh tranh của mình trong mối tương quan với nền kinh tế thế giới. 

1.1.3.4  Thuyết cụm phát triển của Michael E. Porter 

Được  phát  triển  bởi  M.  Porter  (1990),  lý  thuyết  cụm  được  sử  dụng  một  các  phổ biến trong việc hoạch định các chính sách công cộng và kinh tế. Cụm được tạo thành khi các lợi thế cạnh tranh kéo theo sự gia tăng, sự bố trí lại, sự phát triển các ngành, sản phẩm tương  tự  vào  trong một  vùng  nhằm  tăng  khả năng  cạnh  tranh  bằng  việc  tăng năng  suất, khuyến khích các công ty mới cải tiến, thậm chí giữa các đối thủ cạnh tranh, tạo ra những 

cơ hội cho các hoạt động kinh doanh. “Cụm là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành sản xuất, dịch vụ nhằm  tận dụng các cơ hội  qua liên kết địa lý” (Chritian Ketels, 2003)

Trang 24

Các công ty thành viên của cụm sẽ chia sẻ các yêu cầu và các mối quan hệ bên trong với nhà cung cấp và khách hàng. Các mối quan hệ bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các nhà tư vấn, đào tạo và huấn luyện, các tổ chức tài chính, các công ty chủ chốt. Cụm sẽ tạo ra lực lượng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chất lượng cao, kết nối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu, các quỹ 

hỗ trợ và các bên hữu quan [47], [50], [51]. 

Ban  đầu,  Porter  cung  cấp  các  nguyên  lý  cụm  cho  các  cụm  quốc  gia  và  quốc  tế nhưng  sau  đó đã  nhận  ra sự  thích  hợp  cho  các cụm  vùng  kinh  tế  trong nội  bộ quốc gia. Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại: 

(1)  quan hệ  mua  ­  bán  bởi  sự  tập  trung  và  hội  nhập  dọc  giữa  quá  trình  sản  xuất chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ; 

(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và 

(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng lao động và thông tin. 

Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao chính sách phát triển cụm và phát triển kinh tế vùng. Ở cấp vùng, các chính sách phát triển cụm được hỗ trợ bởi các cơ quan phát triển vùng và gắn với các chiến lược phát triển địa phương. Trong trường hợp này, sự tiếp cận cụm về nguyên tắc được sử dụng như là công 

biến  rộng  rãi thông  qua  nội  dung  của Báo  cáo  Brundtland (còn  gọi  là  Báo  cáo Our 

Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới ­ WCED (nay là Ủy ban 

Brundtland).  Theo báo  cáo này  thì  phát  triển bền  vững  là "sự phát triển  có  thể đáp  ứng

Trang 25

CON  NGƯỜI 

SẢN  PHẨM  CHỦ LỰC 

TÀI  NGUYÊN 

LỢI  NHUẬN 

được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng  nhu cầu của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm hài 

hòa giữa phát triển kinh tế hiệu quả với xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế ­ xã hội, nhà quản lý, các tổ chức xã hội  phải  bắt  tay  nhau  thực  hiện  nhằm  mục  đích  dung  hòa  3  lĩnh  vực  chính:  kinh  tế ­ xã 

hội và môi trường. 

Sản phẩm chủ lực và sự phát triển bền vững 

Quá trình toàn cầu hóa đi đôi với tự do hóa thương mại phát triển nhanh chóng nhờ 

sự thúc đẩy bởi các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đã làm thay đổi quan trọng diện mạo của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở tất cả các nước. Quá trình này đã mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức mới với nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Do vậy, việc phát triển sản phẩm chủ lực nhất thiết phải cân nhắc đến tính bền vững, lâu dài của chúng 

Trang 26

Theo quan điểm của một số  nhà nghiên cứu thì  có thể tiếp cận vấn đề  này từ các 

+ Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi hỏi  về phía xã hội. 

Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng thương hiệu, chính

Trang 27

Có  thể nói  rằng, tiêu chí cần  là mục tiêu  cuối cùng mà một  sản phẩm  phải hướng tới, còn tiêu chí đủ là những yếu tố mà “xã hội” phải quan tâm đảm bảo để sản phẩm  đạt 

đến mục tiêu của mình. 

Hai là, khi xem xét, đánh giá lựa chọn sản phẩm chủ lực phải cân nhắc đầy đủ cả 

hai tiêu chí, tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. 

Mặc dù mọi phương pháp xác định sản phẩm chủ lực đều cố gắng lượng hóa đến mức tối đa để có thể đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể quy tất cả các yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số. Đó là chưa kể còn có nhiều biến 

số khó lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán. Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả hai loại tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu thống kê, phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính  chủ  yếu dựa trên các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia [37]. 

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt, không cứng nhắc khi sử dụng các tiêu chí. Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có thể định lượng như nhu cầu thị trường, giá trị thương hiệu, nhưng nếu không thể đo đếm, tính toán được các chỉ tiêu đo lường một cách chính xác thì đành phải sử dụng nó như là tiêu chí định tính, với vai trò đánh giá của các chuyên gia. Tuy vậy, khi xây dựng tiêu chí, cần cố gắng lượng 

tiêu chí trung gian khác làm cơ sở đánh giá. 

+  Tiêu chí phải  bảo đảm tính khách quan, khoa học. Tiêu chí  xác định sản  phẩm 

chủ lực được xây dựng dựa trên các số liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm tính hay ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của các yếu tố kinh tế, xã hội – văn hóa

Trang 28

+  Tiêu  chí  phải  bảo  đảm  tính  đặc  trưng  của  địa  phương.  Tiêu  chí  xác  định  sản 

chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương [2], [8]  

1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực 

Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể: 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của 

xã hội  cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người  ta có thể nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất lượng gì và có khả năng 

thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu. 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã hội và nhà 

quản lý. Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực. Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ 

trợ của Nhà nước. 

+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản có giá 

trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính sách  và  nhà  quản  lý.  Để  phát  triển  sản  phẩm  chủ  lực,  các  nhà  sản  xuất  phải  điều  chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ không  còn  tùy  tiện,  chủ quan xem  thường qui  chuẩn  thường  thấy  ở  đối  tượng này.  Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ 

chức thực hiện thích hợp. 

+  Tiêu  chí  xác  định  sản  phẩm  chủ  lực  là  một  bản  tuyên  ngôn  về  chất  lượng  của 

hàng hóa,  thể  hiện  sự  cam  kết  về  trách  nhiệm  của doanh nghiệp, nhà  sản  xuất với  cộng

Trang 29

đồng,  xã  hội.  Thông  qua  hệ  thống  tiêu  chí  xác  định  sản  phẩm  chủ  lực,  người  tiêu  dùng hiểu được rằng nhà sản xuất sẽ làm  gì, làm như thế nào và chịu trách nhiệm ra sao trong việc cung cấp các tiện ích để thỏa mãn nhu cầu của họ ở chính trong sản trong phẩm của 

các nhà sản xuất. 

+ Hệ thống tiêu chí  xác định sản phẩm chủ lực là bản tuyên bố sứ mạng của các 

doanh nghiệp, các nhà sản xuất  kinh doanh, có giá trị  lâu dài  về mục đích  và giúp  phân biệt được doanh nghiệp này với những doanh nghiệp khác. Có thể gọi đó là phát biểu của một doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, thể hiện niềm tin 

và tầm nhìn của doanh nghiệp [2], [8], [16], [17], [37]  

1.2.1.4. Nội dung các tiêu chí 

Xuất phát từ các vấn đề đã bàn luận trên đây, có thể thấy việc xác định sản phẩm chủ lực của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ  cần dựa trên các tiêu chí định lượng 

Trang 30

Nếu tỷ trọng này càng cao chứng tỏ sản phẩm chủ lực đang xét càng quan trọng đối với  vùng vì nó đóng góp giá trị lớn và  có sức tác động mạnh đến kết quả sản xuất  kinh 

doanh của toàn vùng. 

(2) Hệ số địa phương hóa của sản phẩm trong vùng (LQ  ir  ) 

Hệ số địa phương hóa (Location Quotient ) giúp đo lường mức độ tập trung chuyên môn  hóa  của  vùng,  miền  hay  địa  phương  về  lĩnh  vực  khu  vực  i  trong  mối  quan  hệ với vùng lãnh thổ lớn hơn R (thường là một quốc gia) và trong toàn bộ nền kinh tế (tức là, tất 

cả  các  lĩnh  vực  của nền  kinh  tế của  một  quốc  gia).  Thông qua hệ số này,  người  ta thấy được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008). 

tranh toàn cầu (Florida State University, 2010). 

(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw). 

Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng hóa chủ lực trong tương lai. 

Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa hoặc tính theo công thức : 

(1.2)

Trang 31

(4) Hệ số vượt trội của sản phẩm (C  Grw  ). 

Tiêu chí này phản ảnh khả năng vượt trội của hàng hóa chủ lực đối với toàn ngành kinh tế. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ hàng hóa chủ lực đang xét giữ vai trò quyết định trong việc hình thành mức tăng trưởng chung cho toàn ngành. 

Công thức xác định hệ số vượt trội có dạng : 

RWs 

RWi  Grw 

tốc độ tăng trưởng của ngành). 

(5) Tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm so với toàn vùng (R EX ) 

Là tỷ lệ so sánh giữa giá trị  xuất  khẩu của sản phẩm chủ lực với  tổng giá trị  xuất khẩu  của  toàn  vùng.  Tiêu  chí  này  phản  ảnh  tầm quan  trọng  của  sản phẩm  chủ  lực  trong lĩnh vực xuất khẩu thông qua mức đóng góp của nó trong tổng giá trị xuất khẩu của toàn vùng cũng như khả năng đóng góp ngoại tệ cho địa phương thông qua sự đóng góp giá trị xuất khẩu của nó vào thành tích chung của cả vùng, miền, địa phương. 

(1.4) (1.3)

Trang 32

(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCA W ) 

Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó. 

(1.6) (1.5)

Trang 33

(9) Hệ số bảo hộ hiệu dụng của hàng hóa chủ lực (EPR) 

Hệ số bảo hộ hiệu dụng của một sản phẩm là chênh lệch giữa giá trị gia tăng tính theo  giá  trong  nước  của ngành  sản phẩm đó và  giá trị gia  tăng  tính theo  giá  thế  giới  rồi chia cho giá trị  gia tăng tính theo giá thế giới. ERP Là chỉ tiêu phản ảnh mức độ bảo hộ trong nước đối với hàng hóa chủ lực hoặc nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng hóa chủ lực thông qua thuế quan. 

(1.7) 

(1.8)

Trang 34

10) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) 

DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông qua  xem  xét  tính  hiệu  quả  của  nguồn  lực  trong  nước  được  sử  dụng  để  sản  xuất  ra  sản phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đơn vị tiền tệ thu được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so sánh và ngược lại. DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao. 

Công thức tính: 

1 ( 

PV  DRC

Trang 35

Nhóm này có 5 tiêu chí gồm: 

(1) Qui mô thị trường 

Chỉ tiêu này cho biết qui mô thị trường tiêu thụ hàng hóa chủ lực rộng hay hẹp, nội địa hay quốc tế. Qui mô thị trường, đặc biệt thị trường quốc tế càng rộng lớn, nói lên khả 

quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế trong vùng. 

(4) An toàn và thân thiện với môi trường 

Sản xuất gắn với  môi  trường đang được xem là “vũ khí” tăng sức cạnh tranh của doanh  nghiệp  trên  thương  trường.  Một  ngành  sản  xuất  không phá hủy  cân  bằng hệ  sinh thái,  không  ô  nhiễm  môi  trường  tự  nhiên,  không  ảnh  hưởng  đến  sức  khỏe  cộng đồng…được xã hội thừa nhận, pháp luật bảo vệ. Đây chính là điều kiện gần như tiên quyết 

để phát triển hàng hóa chủ lực một cách bền vững. 

(5) Chính sách ưu đãi của Nhà nước 

Nội dung bao gồm ưu đãi trong sử dụng đất đai, vay vốn, thuế suất, đầu tư,…Một ngành  sản  xuất  nếu  được  nhiều  chính  sách  ưu  đãi  sẽ  có  nhiều  thuận  lợi  hơn  cho  cạnh 

tranh, tổ chức đầu tư, sản xuất cũng như cung ứng sản phẩm ra thị trường [2], [8], [16]. 

1.2.1.5 Xây dựng khung thang điểm và xác định điểm chuẩn tối đa cho tiêu chí 

Xây dựng hệ thống các tiêu chí để xác định sản phẩm chủ lực là việc làm cần thiết, 

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là cơ sở để xem xét các yếu tố lợi thế cạnh tranh, tiềm năng, nguồn lực cũng như các yếu tố liên quan đến điều kiện và môi  trường kinh doanh khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại  ở đó thì  chưa đủ, vì  chưa có cơ sở định lượng để xác

Trang 36

định mức độ đạt  được của các tiêu chí  trên. Do vậy, bên cạnh hệ thống các tiêu chí  xác định  sản phẩm  chủ  lực,  phải  xây  dựng  khung  thang điểm với  điểm chuẩn tối  đa  cho hệ 

thống tiêu chí cũng như từng tiêu chí cụ thể. 

+ Về điểm chuẩn tối đa. Đây là biểu thị mức độ đạt được của hệ thống các tiêu chí; 

là cơ sở để đưa ra quyết định việc có công nhận một sản phẩm nào đó là sản phẩm chủ lực hay không (xét về mặt định lượng). Điểm chuẩn tối đa của hệ thống có thể là 10, 20, 50 hoặc 100, tùy vào quyết định chủ quan của người xây dựng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá chính xác đến mức phần trăm (1/100), cần chọn theo thang điểm ‘bách phân’, tối 

đa là 100 điểm (thực tế nhiều địa phương trong nước đã làm). 

+ Về điểm chuẩn tối đa cho từng tiêu chí. Đây là biểu thị mức độ đạt được của một 

tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một  yếu tố nào 

đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí. 

Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5 n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo 

và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=% của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí  cụ thể nào đó chính là ∑ir. 

Từ đó, nếu gọi t là tiêu chí thứ t (với t = 1,2,3,4,5 m) thì tổng trọng số của cả hệ thống các tiêu chi được biết là ∑∑ir. Bây giờ gọi P là tổng điểm chuẩn tối đa của hệ thống và P t 

là điểm chuẩn tối đa của tiêu chí. Vậy, điểm chuẩn tối đa của một tiêu chí được tính bằng công thứcsau:

(1.11)

Trang 37

Qua nghiên cứu qui trình  đánh giá, xét chọn sản phẩm  của các địa phương tác giả nhận thấy, để đảm bảo được yêu cầu này, ĐBSCL cần thực hiện theo qui trình với 4  giai 

+ Thành lập cơ quan chỉ đạo chung về đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản 

phẩm chủ lực của toàn vùng. Để đảm bảo sự chỉ đạo một cách nhất quán, tránh việc mỗi 

địa phương chỉ đạo thực hiện theo cách riêng vì lợi ích mang tính cục bộ, cần hình thành một bộ phận chỉ đạo có tính độc lập. Bộ phận này có nhiệm vụ thống nhất về mặt hoạch định chính sách, qui trình, thủ tục pháp lý, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện đối với từng địa phương. Ngoài ra, bộ phận này phải được các địa phương thừa nhận về pháp nhân và 

đặt dưới sự quản lý chung của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ. 

GIAI ĐOẠN  CHUẨN BỊ 

Thiếu chuẩn  Không đủ chuẩn 

HOÀN THIỆN 

Đủ chuẩn  GIAI ĐOẠN CÔNG 

NHẬN TÔN VINH

Trang 38

chí này phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu như:

·  Bảo đảm tính định tính và định lượng. Cần ưu tiên xem xét các tiêu chí định lượng kết hợp cân nhắc một số tiêu chí định tính cần thiết

·  Bảo đảm cả điều kiện cần và điều kiện đủ. Tức Bộ tiêu chí phải vừa thể hiện 

rõ khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đồng thời chỉ ra được những bức xúc, đòi hỏi mà xã hội, địa phương cần hỗ trợ. 

Để bảo đảm khách quan, khoa học, thiết nghĩ công việc này cần giao cho các nhà nghiên  cứu  và  chuyên  môn  trong  từng  lĩnh  vực  như  sản  xuất,  kinh  doanh,  xuất  nhập khẩu…phối hợp thực hiện. 

+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản 

phẩm  có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng. 

Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước 

về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng. 

+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui 

định, hướng dẫn, mẫu biểu giấy tờ cần thiết…để làm cơ sở pháp lý và tạo ra tính thống nhất trong chỉ đạo cũng như quản lý hành chính trong quá trình thực hiện. 

phương tiện truyền thông phù hợp. 

+ Tiếp nhận đăng ký và sàng lọc đối tượng tham gia chương trình. Nhằm bảo đảm 

tính khả thi và tập trung, tránh dàn trải, bộ phận chỉ đạo tiếp nhận đăng ký của các doanh nghiệp và tiến hành sàng lọc với 2 nội dung sau:

Trang 39

·  Sàng lọc sản phẩm  có triển vọng. Căn cứ Phiếu đăng ký của doanh nghiệp tham  gia  Chương  trình,  bộ  phận  chỉ  đạo  có  trách  nhiệm  tổng  hợp,  phân  loại  theo  từng nhóm ngành kinh tế ­ kỹ thuật và lên kế hoạch kiểm tra, khảo sát thực tế tại doanh nghiệp, sau đó lên “Danh sách sản phẩm có triển vọng” để tiếp tục xem xét, hỗ trợ

·  Sàng lọc doanh nghiệp có năng lực. Cũng trên cơ sở Phiếu đăng ký tham gia của các doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào các điều kiện qui định ban đầu để tiến hành sàng lọc, chọn ra các doanh nghiệp có năng lực tham gia chương trình 

Danh  sách  các  doanh  nghiệp  có  năng  lực  và  Danh  mục  sản  phẩm  có  triển  vọng 

tham gia chương trình nhất thiết phải được các địa phương thông qua và phê duyệt. 

3) Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn 

Giai đoạn này, các Hội  đồng chuyên ngành  (do bộ phận chỉ đạo chung thành lập) căn cứ vào hệ thống tiêu chí (cả định tính lẫn định lượng), thang bảng điểm đã được phê duyệt để tổ chức đánh giá, xét chọn đối với các sản phẩm  có triển vọng được bộ phận chỉ đạo chung lựa chọn và các địa phương thông qua. Việc đánh giá, xét chọn ở giai đoạn này 

­ Bước 4.  Hỗ trợ để để bổ sung hoàn thiện sản phẩm chủ lực. 

Đây là bước có tính chất “dự bị” đối với những sản phẩm còn non điểm ở một vài tiêu chí đủ nào đó so với  chuẩn  qui định. Trong bước này các địa phương cần tập trung đầu tư hỗ trợ về mặt tài  chính, công nghệ, quảng bá, tiếp thị…để các nhà sản xuất nâng dần chất lượng và thương hiệu đối với sản phẩm. Sau một thời gian, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được xem xét công nhận sản phẩm chủ lực của vùng (chuyển sang bước 5), ngược lại sẽ bị loại ra khỏi Danh sách sản phẩm có triển vọng

Trang 40

Với bước cuối cúng này, Ban  chỉ đạo căn cứ đề nghị của Hội đồng chuyên ngành 

sẽ,  xem  xét  ra  quyết  nghị  công  nhận  sản phẩm  chủ  lực  của  vùng.  Quyết  nghị  này phải được UBND các địa phương phê duyệt và thông qua. Đây là căn cứ pháp lý để các doanh nghiệp và nhà sản xuất hưởng hỗ trợ theo các cơ chế đặc thù của địa phương mình. Bên cạnh đó, các sản phẩm chủ lực còn được tôn vinh và công bố, giới thiệu rộng rãi trên các 

phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17]  

1.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm chủ lực của một vài quốc gia trong  khu vực Đông Nam Á 

Nhiều  quốc  gia trên  thế  giới,  đặc  biệt  là  các  nước  Đông  Nam  Á  có  nét  tương đồng  về  nhiều  mặt  như  vùng  kinh  tế  ĐBSCL  của  Việt  Nam,  đã  rất  khó  khăn  trong phát triển kinh tế vào đầu nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây đã phát triển vượt bậc nhờ vào lựa chọn và phát triển sản phẩm/ngành sản phẩm phù hợp theo mô hình 

cụm phát triển của M. Porter. Xin dẫn chứng 3 trường hợp điễn hình nhất như sau: 

1.3.1 Kinh nghiệm của Indonesia 

Chính phủ Indonesia cho rằng, với một đất nước mà kinh tế nông nghiệp còn giữ vai trò chủ lực, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì nhiệm vụ trước hết  là phải  có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải  tổ lại  khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền trên  cơ  sở  Nhà  nước  cho  vay  vốn  với  lãi  suất  thấp,  miễn  giảm  thuế  kinh  doanh  và  cho phép  phối  hợp  với  Nhà  nước  để  thực  hiện  hợp  đồng  xuất  khẩu.  Từ  năm  1968, khuyến nông  được Indonesia  xác  định  là  nhiệm  vụ quan  trọng  hàng  đầu. Trong  đó,  việc  cung cấp lúa gạo, ổn định lương thực được xem như là mục tiêu chính  của kế hoạch phát triển. Nhờ chính sách khuyến khích sản xuất nông sản và cải tạo hệ thống lưu thông nông sản như vậy mà công nghiệp chế biến của Indonesia đã có những bước tiến căn bản. Là nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới, Indonesia bắt đầu tự túc được lương thực từ năm 1981. Các  loại  cây  công  nghiệp  được  chú  trọng  phát  triển  để  tiêu  thụ  trong  nước  và  tham  gia xuất khẩu trên thị trường như: cà phê, ca cao, cao su, hồ tiêu hạt trắng và hồ tiêu hạt đen

Ngày đăng: 08/11/2012, 16:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển cạnh tranh của Porter - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Hình 1.1 Các giai đoạn phát triển cạnh tranh của Porter (Trang 21)
Hình 1.2  Mô hình Kim cương trong năng lực cạnh tranh của M. Porter - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Hình 1.2 Mô hình Kim cương trong năng lực cạnh tranh của M. Porter (Trang 22)
Hình 1.3  Quan hệ giữa Con người – Tài nguyên – Lợi nhuận với Sản phẩm - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Hình 1.3 Quan hệ giữa Con người – Tài nguyên – Lợi nhuận với Sản phẩm (Trang 25)
Hình 1.4 Qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Hình 1.4 Qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực (Trang 37)
Bảng 2.2. Lao động đã qua đào tạo các vùng giai đoạn 2006 ­ 2010 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.2. Lao động đã qua đào tạo các vùng giai đoạn 2006 ­ 2010 (Trang 49)
Bảng 2.6  FDI cả nước được cấp phép tích lũy đến 31/12/2010 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.6 FDI cả nước được cấp phép tích lũy đến 31/12/2010 (Trang 53)
Bảng 2.11 Qui mô và cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam 2010 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.11 Qui mô và cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam 2010 (Trang 59)
Bảng 2.12  Các nước sản xuất trái cây tươi hàng đầu thế giới - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.12 Các nước sản xuất trái cây tươi hàng đầu thế giới (Trang 60)
Bảng 2.13  Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng ĐBSCL giai đoạn 2006 ­ 2010 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.13 Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng ĐBSCL giai đoạn 2006 ­ 2010 (Trang 66)
1) Hình thành và phát triển sản phẩm chủ lực trong ngành nông nghiệp - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
1 Hình thành và phát triển sản phẩm chủ lực trong ngành nông nghiệp (Trang 67)
Bảng 2.17  Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng quan trọng  ĐBSCL 2006 – 2010 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.17 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng quan trọng  ĐBSCL 2006 – 2010 (Trang 71)
6) Hình thành và phát triển sản phẩm chủ lực trong vận tải –Bưu điện - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
6 Hình thành và phát triển sản phẩm chủ lực trong vận tải –Bưu điện (Trang 72)
Bảng 2.21 Chỉ tiêu phản ảnh năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.21 Chỉ tiêu phản ảnh năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản (Trang 74)
1) Bảng tự chấm điểm xét công nhận sản phẩm công nghiệp chủ lực - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
1  Bảng tự chấm điểm xét công nhận sản phẩm công nghiệp chủ lực (Trang 78)
Bảng 2.25 Bảng tiêu chí xét chọn công nhận SPCN chủ lực đợt I, năm 2007 - Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Bảng 2.25 Bảng tiêu chí xét chọn công nhận SPCN chủ lực đợt I, năm 2007 (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w