Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Trang 11. Lý do chọn đề tài
Là một trong những đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu bậc nhất Đông Nam Á và thế giới, ĐBSCL đã trở thành vùng sản xuất, xuất khẩu lương thực, thủy hải sản và cây ăn trái nhiệt đới lớn nhất Việt Nam. Hơn thế, nó còn là vùng kinh tế trọng điểm cả nước, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, hợp tác đầu tư và giao thương với các nước trong khu vực và thế giới. Quá trình cải cách kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc
tế mà thời gian qua đã giúp cho các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và đặc biệt là nông nghiệp ở ĐBSCL đạt được những thành tựu to lớn. Tốc độ tăng trưởng GDP lập nên kỷ lục mới, xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài không ngừng gia tăng; cơ cấu kinh
tế chuyển dịch dần từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp, thương mại dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao; thu nhập bình quân đầu người tăng lên và đời sống xã hội không ngừng được cải thiện; một số sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp chế biến đã trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực đem về nhiều ngoại tệ cho các đại phương trong vùng và cả nước…. Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế của ĐBSCL thời gian qua cũng bộc lộ khá nhiều yếu kém: tăng trưởng xuất khẩu không ổn định, còn chứa đựng nhiều yếu tố không bền vững và dễ bị tổn thương bởi những cú sốc từ bên ngoài; sản phẩm chủ lực còn ít và phát triển chậm, chưa chuyển dịch theo hướng tăng hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao nên chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của vùng; năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các sản phẩm còn thấp…. Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, sự phát triển kinh tế xã hội của Đồng bằng sông Cửu Long còn khá biệt lập, chưa có
sự gắn kết chặt chẽ với các vùng khác của đất nước cũng như quốc tế. Đồng thời, sự phát triển của vùng cũng rất thiếu đồng bộ, chưa cân xứng giữa các ngành nghề, lĩnh vực và giữa các địa phương; phát triển nặng về chiều rộng, chạy theo số lượng nên chất lượng, hiệu quả và đặc biệt là tính cạnh tranh quốc tế không cao…
Những hạn chế trên đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu có thể khẳng định là thiếu vắng những sản phẩm chủ lực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn, sức cạnh tranh cao và nhất là tạo được động lực thúc đẩy khai thác một cách hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, lao động và những lợi thế “trời cho” mà không một nơi nào khác có được ngoài vùng đất nầy. Vấn đề đặt ra ở đây là, làm cách nào để ĐBSCL xác định được sản phẩm chủ lực hoặc hàng hóa, dịch vụ có tiềm năng để tập trung đầu tư phát
Trang 2triển; làm cách nào để cho sản phẩm chủ lực ĐBSCL có thể cạnh tranh ngang ngửa với hàng hóa, dịch vụ cùng loại trong cả nước và trên thế giới; và làm cách nào để sản phẩm chủ lực ĐBSCL không ngừng phát triển và phát triển một cách bền vững trong môi trường hội nhập và cạnh tranh quốc tế…
Từ sự phân tích trên đây cho thấy, việc nhanh chóng nghiên cứu để tìm ra những sản phẩm chủ lực, giữ vai trò chủ đạo đồng thời tạo ra cú đột phá mạnh mẽ cho phát triển kinh tế ĐBSCL trong tương lai gần cũng như lâu dài là yêu cầu khách quan và bức thiết ở
thời điểm hiện nay. Và, đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài: “Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ của bản thân.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên nghiên cứu của luận án
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu 3 mục tiêu cơ bản sau đây:
1) Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực phù hợp với điều kiện thực tế và tính đặc thù của ĐBSCL để làm cơ sở đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực thống nhất cho toàn vùng.
1) Nghiên cứu hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm chủ lực và vận dụng nó để làm sáng tỏ những vấn đề có tính lý luận cũng như thực tiễn trong việc đánh giá, xét chọn và phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL từ nay đến năm 2020.
2) Phân tích, đánh giá nhu cầu thị trường, tiềm năng và lợi thế phát triển sản phẩm chủ lực cũng như năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực ĐBSCL để từ đó xây dựng Hệ thống tiêu chí đánh giá, xét chọn sản phẩm chủ lực vùng từ nay đến năm 2020.
3) Trên cơ sở Hệ thống tiêu chí, tiến hành phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những hàng hóa hội đủ điều kiện hoặc có triển vọng để hình thành Bảng danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL từ nay đến năm 2020
Trang 34) Phân tích, đánh giá những thành tựu cũng như tồn tại, hạn chế trong thực tế xét chọn và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua để từ đó đề xuất các giải pháp
Trang 4H. M. Ketels (2003). Ketels đã trình bày khung khái niệm về cụm (cluster) của Michael
M. Porter, các loại hình cụm, sự tiến hóa cuả cụm và cụm với hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, Ketels cũng nói đến những phát hiện trong thực nghiệm đối với cụm, cụm dựa trên chính sách phát triển kinh tế và xem đây như là mô hình phát triển kinh tế mới. Thông qua công trình nghiên cứu này, Ketels đã mở rộng hơn về khái niệm cụm so với khái niệm ban đầu của Michael M. Porter và qua đó, giúp mọi người hiểu đúng và đầy đủ hơn tầm quan trọng của cụm đối với phát triển kinh tế địa phương trong môi trường cạnh tranh toàn cầu [48].
4) Lý thuyết điểm trung tâm của Christaller (1933). Lý thuyết này cho rằng, vùng nông thôn chịu lực hút của thành phố và coi thành phố là cực hút và hạt nhân của sự phát triển. Từ đó, đối tượng đầu tư có trọng điểm cần được xác định trên cơ sở nghiên cứu mức
độ thu hút và ảnh hưởng của một trung tâm và cũng sẽ xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm của trung tâm. Trong giới hạn bán kính vùng tiêu thụ, xác định giới hạn của thị trường ngoài ngưỡng giới hạn không có lợi trong việc cung cấp hàng hoá của trung tâm.
Lý thuyết này được Alosh (Đức) bổ sung. Điểm đáng chú ý của lý thuyết điểm trung tâm
là xác định được quy luật phân bố không gian tương ứng giữa các điểm dân cư, từ đó có thể áp dụng quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh thổ mới khai thác [45].
5) Một nghiên cứu về các chỉ số năng lực cạnh tranh, G. Arzu INAL (2003). Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và sự quan tâm ngày càng sâu sắc của các
Trang 5giới, đặc biệt các nhà sản xuất kinh doanh đến chiến lược cạnh tranh hiệu quả, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng xác định khả năng cạnh tranh và phát triển các chỉ số định lượng thích hợp để đo lường sức mạnh cạnh tranh. Với sự nỗ lực của mình, G. Arzu INAL đã nghiên cứu, tổng hợp và đưa ra 16 chỉ số có thể đo lường năng lực cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ. Trong đó, có nhiều chỉ số thích hợp cho việc đo lường năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ làm cơ sở xây dựng tiêu chí xác định hàng hóa, dịch vụ chủ lực của địa phương [47].
Ngoài các tài tiệu trên, nhiều tài liệu khác cũng có nội dung liên quan vần đề này
được tác giả tham khảo như: “Regional innovation systems (RIS) in China của Jon
Sigurdson” đăng trên Working Paper No 195, July 2004 [49]; “Sustaining the Green Revolution in India” của S. Nagarajan [50]; “Economic contributios of Thailand’s creative industries”, đăng trên tạp chí Fiscal Policy Institute 2009 [47]; “Koji – The key product in Japanese alcoholic beverages and fermented foods, Tokyo University of Agriculture
Sedagayaku, Tokyo, Japan [54]; “Identifying and assessing the factors that influence
cluster’s competitiveness in Oregon, and some initial suggestions”, Luận án Tiến sĩ của
Sam Gi Hong (2007) [52] Nhìn chung các tài liệu này đều nhấn mạnh đến vai trò của phát triển cụm ngành sản phẩm trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia và đề
xuất các chính sách hỗ trợ để cụm phát triển một cách bền vững.
4.2 Tài liệu trong nước
1) Luận án Tiến sĩ “Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Trung bộ” của Nguyễn Hồng Lĩnh (2007). Luận án đã vận dụng các lý thuyết liên quan, đặc biệt là mô hình kim cương của M. Porter để phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ. Trên cơ sở xử lý các số liệu thu thập từ báo cáo thống kê và khảo sát thực tế; rút kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp chế biến ở một số nước Đông Nam Á và dựa trên tiềm năng, lợi thế của vùng, Luận án đã xác định các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản chủ lực để phát triển trên địa bàn Bắc Trung bộ [9].
2) Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia dến năm 2020 của Chính phủ. Theo Chương trình, sẽ hình thành và phát triển hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam bằng công nghệ tiên tiến, có năng lực cạnh tranh cao về tính mới, chất lượng, giá thành dựa trên việc khai thác lợi thế so sánh các nguồn lực trong nước. Trong đó, giai đoạn 2010 – 2015 phải hình thành và phát triển tối thiểu 10 sản phẩm dựa trên công nghệ tiên tiến và do các
Trang 6là nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển công nghệ về giống cây trồng và vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh…; xây dựng các mô hình thâm canh và sản xuất công nghiệp trong nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản theo hướng bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái [1]
4) “Quy chế đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố Hà Nội”. Theo Qui chế này, cơ sở xác định sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố là các tiêu chí gồm sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; được tạo ra trên các dây chuyền thiết bị có trình độ công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất trong từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; tạo ra mức tăng trưởng cao, ổn định; hoặc thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng GDP công nghiệp. Qui trình xét chọn có 4 bước: đề xuất doanh nghiệp tham gia Chương trình; khảo sát sản phẩm công nghiệp; tổ chức đánh giá, xét chọn và công nhận sản phẩm chủ lực [17].
5) Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2002 – 2005”. Theo Chương trình này, Hệ thống tiêu chí lựa chọn sản phẩm chủ lực và xây dựng bảng tự đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi sản phẩm đăng
ký tham gia chương trình đã ra đời cùng với việc triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia chương trình trên năm lĩnh vực: thiết kế sản phẩm và lựa chọn công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của doanh nghiệp, tiếp thị, đào tạo nhân lực, tài chính thông qua các hoạt động hướng dẫn, tư vấn hay môi giới doanh nghiệp với nhà tư vấn có năng lực và uy tín, giúp doanh nghiệp tiếp cận với nguồn lực về khoa học và tài chính của thành phố [2]
Trang 7Ngoài ra, Luận án còn tham khảo nhiều tài liệu chương trình phát triển sản phẩm chủ lực tương tự của các địa phương khác cũng như hội thảo, hội nghị, liên quan đến vấn đề phát triển sản phẩm chủ lực nói chung, như: “Xác định hàng hóa, dịch vụ chủ lực
Tp Cần Thơ giai đoạn 2006 – 2010, tầm nhìn 2020”; “Đánh giá thực trạng và định hướng phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và làng nghề quận Bình Thủy (Tp Cần Thơ) giai đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020” và các bài viết khác của các tác giả đăng tải trên tạp chí, báo, trang web trong nước và quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc cả về lý luận cũng như thực tiễn việc xác định và phát triển các sản phẩm công, nông, nghiệp và thủy sản chủ lực thuộc vùng ĐBSCL. Với Luận án này, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu và giải quyết vấn
2) Từ cơ sở lý thuyết đã xây dựng, Luận án đưa ra bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực của đồng bằng sông Cửu Long từ nay đến năm 2020 với 2 hệ thống đánh giá, xét chọn sản phẩm hàng hóa chủ lực và sản phẩm dịch vụ chủ lực. Các hệ thống này vừa bảo đảm các điều kiện cần, vừa bảo đảm đảm điều kiện đủ; vừa có tiêu chí định lượng và vừa
có tiêu chí định tính; đầy đủ hơn, thực tế hơn nhưng đơn giản, dễ thực hiện hơn.
3) Cũng với cơ sở lý thuyết đã hoàn thiện, Luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc công nhận sản phẩm chủ lực ĐBSCL đối với các sản phẩm đã từ lâu giữ vị trí chủ lực một cách tự nhiên do lợi thế đặc thù của vùng như lúa gạo, trái cây và thủy sản. Thông qua
đó, Luận án cũng chứng minh tính chủ lực không thể chối cải của các sản phẩm này bằng một số chỉ tiêu định lượng quan trọng.
4) Dựa trên Bộ tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực đã xây dựng, Luận án thực hiện việc xem xét, tính toán và cân nhắc đối với từng loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có triển vọng trong vùng để từ đó lập ra bảng Danh mục những sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm 2020
Trang 85) Trên cơ sở lý luận và thực tiễn xác định và phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL thời gian qua cũng như quan điểm, định hướng mục tiêu phát triển sản phẩm chủ lực của vùng thời gian tới, Luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu, khả thi và đồng bộ
+ Tiếp cận logic: Từ việc nghiên cứu, thu thập các dữ liệu, thông tin thông qua tài
liệu, sách báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng để xây dựng các mô hình lý thuyết
về sản phẩm chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, xem đây là giả thuyết để làm cơ sở
chứng minh cho tính đúng đắn của nó hoặc loại trừ nó.
+ Các phương pháp hỗ trợ khác: Sử dụng các phương pháp mô hình hóa, sơ đồ
hóa, phương pháp thống kê, phương pháp hồi qui tuyến tính…, đặc biệt trong phân tích cạnh tranh sẽ áp dụng mô hình kim cương (diamond model) của Michael M. Porter để xác
định lợi thế cạnh tranh ngành hàng.
6.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
Để thực hiện đề tài này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp định tính để thu thập phân tích và diễn giải dữ liệu nhằm mục đích khám phá các nhân tố và mối quan hệ đến tính chủ lực của hàng hóa, dịch vụ. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu này chủ yếu là để xây dựng cơ sở lý thuyết một cách khoa học và khách quan về sản phẩm chủ lực. Công cụ được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là: Khảo sát thực tế tại các địa phương, thảo
luận nhóm; Thảo luận tay đôi; Quan sát
6.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Các chỉ tiêu định lượng để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm chủ lực như:
Hệ số lợi thế hiển thị ngành (RCA); Hệ số thương mại ròng (NTR); Hệ số địa phương hóa (LQ); Hệ số bảo hộ hiệu dụng (EPR); Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)
Trang 9 Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá xét chọn SP chủ lực
Xây dựng tiêu chí và qui trình xác định
Danh mục sản phẩm chủ lực
Giải pháp phát triển sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến 2020
Trang 10Chương 3: Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực Đồng
bằng sông Cửu Long đến năm 2020
Chương ba chủ yếu giải quyết 3 vấn đề cơ bản là: xây dựng Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực ĐBSCL; đề xuất Danh mục sản phẩm chủ lực ĐBSCL đến năm
2020 và đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển sản phẩm chủ lực của ĐBSCL một
Trang 11Quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới luôn gắn liền với sự trỗi dậy của những ngành hàng hoặc sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. Những ngành hoặc sản phẩm này đã trở thành yếu tố dẫn đạo tăng tưởng và phát triển kinh tế của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Điển hình nhất là Nhật bản, 20 năm sau thế chiến thứ 2 (1951 – 1973) đã trở thành nền kinh tế lớn của thế giới với GDP tăng trưởng gấp 20 lần. Các sản phẩm được xem là thế mạnh cạnh tranh của Nhật giai đoạn này là tàu biển, xe máy, máy khâu, máy ảnh, ti vi, thép, ô tô, sản phẩm hóa chất, hàng dệt, Kế đến là Trung Quốc, trong ba thập
kỷ (từ 1978 đến 2007) với việc chuyển đổi từ nền công nghiệp không dựa vào lợi thế sang nền công nghiệp dựa trên lợi thế nguồn nhân công dồi dào với các sản phẩm cấp thấp, giá rẻ đã đưa nền kinh tế Trung quốc tăng trưởng một cách thần kỳ, đạt tốc độ trung bình hàng năm 9,5%. Kết quả là từ một nước kém phát triển, Trung quốc đã vươn lên tốp bốn nền kinh tế hàng đầu thế giới (WB, 2007). Tương tự, thông qua hai cuộc “Cách mạng xanh” với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), công nghiệp phục vụ nông nghiệp, Ấn độ đã trở thành hiện tượng đặc biệt trong phát triển kinh tế nhờ vào xác định
và phát triển các ngành sản phẩm chủ lực phù hợp với lợi thế của mình [48], [49], [53]
Ở Việt Nam, sản phẩm chủ lực hay sản phẩm công nghiệp chủ lực là khái niệm mới
và thường xuất hiện trong một số văn bản quản lý Nhà nước vào thập niên đầu tiên thế kỷ XXI. Lúc đầu, đây chỉ là thuật ngữ dùng để chỉ những sản phẩm có khả năng xuất khẩu mạnh, chiếm tỷ trọng kim ngạch cao hoặc có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế của đất nước. Gần đây, khái niệm này được sử dụng khá phổ biến và đã trở thành thuật ngữ kinh tế quen thuộc không những với các nhà quản lý mà còn với cả các doanh nghiệp và nhà nghiên cứu Tuy nhiên, cách hiểu về sản phẩm chủ lực của mỗi người, mỗi địa phương lại có những điểm khác nhau khá rõ rệt. Dưới đây là những điểm khác nhau điển hình khi nói về sản phẩm chủ lực.
v Thể hiện trong các chủ trương, chính sách nhà nước
+ Trước hết là khái niệm “sản phẩm chủ lực” của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) là sản phẩm giúp gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ cũng như tạo điều kiện đẩy nhanh áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo phương châm lấy tiết kiệm năng lượng, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm làm trọng tâm (Quyết định
Trang 12số: 21/2001/QĐbKHcnmt về việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sẩn phẩm chủ lực”) [1].
+ Kế đến là Chương trình "Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 20022005" đã giới hạn sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực công nghiệp với thuật ngữ “sản phẩm công nghiệp chủ lực”. Theo Chương trình, những sản phẩm này phải có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế cao đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho tổng sản phẩm nội địa và phát triển kinh tế của Thành phố. Ngoài ra, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Tp Hồ Chí Minh giai đoạn 20022005 phải vừa có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động và thân thiện với môi trường (Quyết định số: 153 /2002/QĐUB) [2].
+ Một khái niệm khác có thể tham khảo là “sản phẩm công nghiệp chủ lực” của Tp
Hà Nội ghi trong “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực Thành phố
Hà Nội”, Theo cách mô tả của Qui chế này thì “sản phẩm chủ lực” đã được giới hạn trong phạm vi ngành công nghiệp với các đặc trưng cơ bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; Được tạo ra trên dây chuyền thiết bị có công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định
ở mức cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng GDP công nghiệp lớn (Quyết định số 03/2006/QĐUB) [17].
+ Cùng một quan niệm với Tp Hồ Chí Minh và Tp Hà Nội, tỉnh Đồng Nai với
“Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 20062010” cũng tập trung giới hạn ở “Sản phẩm công nghiệp chủ lực” và cho rằng, sản phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định. Đây là những sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị gia tăng cao, có vị trí chi phối và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng như có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu (Quyết định số 955/QĐUBND). Nói cách khác, đối với tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có thế mạnh về giá trị sản lượng
và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị trường trong nước cũng như ngoài nước [9]
Trang 13v Thể hiện trong các bài viết, tác phẩm nghiên cứu
+ Với GS.TS Võ Thanh Thu, Giảng viên trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Chuyên gia nghiên cứu khu công nghiệp, trong một bài viết của mình cũng đã sử dụng khái niệm “sản phẩm chủ lực” và cho rằng nó phải có các đặc trưng như: Phải có tương lai phát triển mạnh về công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước; Phải khai thác được lợi thế của địa phương , là đặc trưng cho địa phương; Phải có tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao; Có thể là hữu hình hoặc là vô hình. Ở đây GS.TS Võ Thanh Thu đã đưa ra thêm 2 điểm khác quan trọng là sản phẩm chủ lực phải có sự lan tỏa đến các ngành khác, sản phẩm khác và lôi kéo chúng cùng phát triển, đồng thời sản phẩm chủ lực không chỉ là hữu hình mà còn có thể là vô hình nữa
+ Với TS Lê Tấn Bửu, Trưởng khoa Thương mạiDu lịchMarketing, trường Đại học Kinh tế TP.HCM thì sản phẩm chủ lực phải là sản phẩm trong công nghiệp chế biến nông, thủy sản vì đây là thế mạnh của Việt Nam mà trọng điểm là ĐBSCL, đồng thời chúng còn là nguồn cung sản phẩm thiết yếu thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho toàn xã hội.
Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi thời kỳ khác nhau việc nhận thức về sản phẩm chủ lực có khác nhau. Chính từ sự nhận thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua cũng có khác nhau. Tuy nhiên, có một vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là lợi ích của việc xét chọn sản phẩm chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ. Chính vì điều này mà trước tiên, Luận án cần đi đến một nhận
thức chung, nhất quán về sản phẩm chủ lực.
1.1.1.2. Nhận thức chung về sản phẩm chủ lực
Trước hết, cần bắt đầu với thuật ngữ “chủ lực”. Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nhà xuất bản Giáo dục 2003 thì đây là lực lượng chính, giữ vị trí nòng cốt và có tác dụng quyết định. Ứng với tiếng Anh là “driving force” (lực lượng có tính dẫn đạo) hay
“main force” (lực lượng chính). Thuật ngữ này được dùng phổ biến trong quân sự để chỉ lực lượng quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định chiến trường như “quân chủ lực”, “bộ đội” chủ lực Lực lượng này được sử dụng khi cần giải quyết các mục tiêu chiến lược,
Trang 14quyết định đến phạm vi toàn cục. Đặc trưng của chủ lực là tập trung với số lượng lớn, được huấn luyện chính qui, chuyên nghiệp, trang bị hiện đại và có khả năng cơ động tác chiến trên diện rộng.
Vậy sản phẩm chủ lực là gì? Có thể nói, sản phẩm trong Luận án này là khái niệm dùng để chỉ sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ được thương mại hóa, tức là sản phẩm hữu hình hoặc vô hình được sản xuất và cung ứng nhằm mục đích thương mại. Khái niệm sản phẩm ở đây còn được mở rộng đến ngành hàng hay một nhóm các sản phẩm có cùng tính năng, mục đích sử dụng hay qui trình công nghệ sản xuất. Ví dụ, ngành hàng thực phẩm chế biến có thịt đóng hộp, cá đóng hộp, thịt đông lạnh, cá đông lạnh , ngành hóa mỹ phẩm có bột giặt, nước xả, chất tẩy rửa gia dụng, mỹ phẩm Khi tham khảo các tài liệu tiếng Anh, tác giả thường thấy xuất hiện các từ hoặc cụm từ có thể được xem là tương ứng với sản phẩm chủ lực hay ngành hàng chủ lực như: key products, main products, major products hoặc key sectors, main sectors.
Main products: Là sản phẩm chính, sản phẩm chủ yếu của một công ty, giữ vị trí
chủ yếu về sản lượng tiêu thụ, doanh thu hoặc tạo nên hình ảnh doanh nghiệp. Ví dụ main products của Seaprodex gồm: Fresh (cá tươi), Frozen (đông lạnh), Processed (chiến biến),
Major Products: Sản phẩm chính của công ty, doanh nghiệp hay quốc gia. Ví dụ
sản phẩm chính của Sumikin Bussan Special Steel Co., Ltd là: Tubes and Pipes (ống nước, ống kết cấu cho xe ô tô, máy móc và ống thép đặc biệt cho các nhà máy hóa dầu); Steel Sheets and Plates (thép tấm); Construction Materials (thép xây dựng); Bar and Wire Rods (thanh thẳng, thanh cuộn) và Raw Materials (thép nguyên liệu thô). Hay sản phẩm chính của Nhật: Xe máy, Xe hơi, Thiết bị điện và Máy vi tính…Trong đó, xe gắn máy với nhãn hiệu Honda, Suzuki, Yamha hay xe hơi với nhãn hiệu Toyota hoặc thiết bị điện tử,
điện lạnh của Sony… là biểu tượng, là nét văn hóa của nước Nhật xưa và nay.
Key sectors: Ngành hàng hoặc lĩnh vực sản xuất quan trọng, chủ yếu của một địa
phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia. Ví dụ, để qui hoạch phát triển Ấn Độ đã xác định có
Trang 15các key sectors như: Agriculture (Nông nghiệp); Commerce & Industries (Công nghiệp và thương mại); Finance (Tài chính); Communication & IT (Công nghệ thông tin và truyền thông); Education (Giáo dục); Health & Family welfare (Y tế và phúc lợi gia đình)
Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản phẩm
chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm hàng hóa hoặc
dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển; đồng thời
nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ” 1 .
lực yếu, sức cạnh tranh không cao.
2) Sản phẩm có năng lực cạnh tranh quốc tế
Sản phẩm chủ lực phải là những sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về mặt chất lượng, thiết kế kỹ thuật, mẫu mã, kiểu dáng…theo tiêu chuẩn quốc tế; có khả năng tiêu thụ tốt không những trên thị trường trong nước mà còn xuất khẩu, đồng thời luôn chiếm được ưu thế cạnh tranh trước các đối thủ quốc tế khác. Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường cạnh tranh không còn đơn giản với không gian nhỏ hẹp trong nước
Trang 16và lôi kéo chúng cùng phát triển theo. Mặt khác, quá trình phát triển của sản phẩm chủ lực cũng thường xuyên chịu sự tác động bởi các ngành hàng hoặc sản phẩm khác. Sự liên hệ này được thể hiện thông qua các mối liên hệ chuỗi giá trị (sự kết nối liên tiếp về mặt công nghệ trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) hoặc các mối liên hệ bổ trợ (mối liên hệ tương
hỗ tạo ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm). Với tính chất lan tỏa như vậy, thực tế cho thấy khi sản phẩm chủ lực phát triển sẽ tạo ra nhu cầu hỗ trợ,
nhu cầu liên kết…từ đó kích thích, lôi kéo các ngành nghề khác cùng phát triển theo.
4) Sản phẩm mang tính đặc thù của quốc gia, vùng lãnh thổ
Một sản phẩm chủ lực còn là sản phẩm thể hiện lợi thế đặc trưng của quốc gia, vùng lãnh thổ mà không nơi nào khác có thể sánh kịp. Người tiêu dùng bỏ tiền mua sản phẩm ấy chính bởi những giá trị đặc trưng mà họ thấy được từ sản phẩm, đồng thời đối thủ cạnh tranh khó lòng bắt chước vì thiếu những điều kiện mang tính lợi thế cạnh tranh của quốc gia hay vùng lãnh thổ (vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, lao động…). Ngoài ra, nhiều sản phẩm chủ lực còn là biểu tượng văn hóa của quốc gia hay vùng lãnh thổ, góp
phần tạo nên thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.
5) Sản phẩm có tính an toàn và thân thiện với môi trường
Sản phẩm chủ lực nhất thiết phải là sản phẩm mà trong quá trình khai thác nguyên liệu, sản xuất, tồn tại, sử dụng và sau khi thải bỏ không gây hại hoặc ít gây hại hơn cho môi trường so với sản phẩm cùng loại và được các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc quốc tế công nhận. Hoặc, sản phẩm được tạo ra có khả năng thay thế cho các nguyên liệu
tự nhiên mà trong quá trình tồn tại, sử dụng hoặc sau khi thải bỏ gây hại ít hơn cho môi
trường so với sản phẩm được thay thế.
1.1.1.4. Điểm khác cơ bản của khái niệm sản phẩm chủ lực trong Luận án
Có thể thấy, về cơ bản Luận án đã kế thừa có chọn lọc các khái niệm mà các tài liệu trước đây đưa ra. Tuy nhiên, nếu xét ở phạm vi nội dung và ý nghĩa cũng như so sánh với
từng tài liệu riêng rẻ thì Luận án đã đưa ra nhiều điểm mới.
Bảng 1.1. Điểm khác nhau giữa Luận án với các tài liệu về sản phẩm chủ lực
Trang 17trên tiềm năng, lợi thế chung của vùng,
miền quyết định một cách khách quan.
Xác định sản phẩm của địa phương, dựa vào điều kiện sản xuất đặc thù của địa phương và
do doanh nghiệp quyết định theo chủ quan
Bao gồm cả sản phẩm công nghiệp, nông
nghiệp thủy sản và dịch vụ
Thường chỉ đề cập chủ yếu đến sản phẩm công nghiệp, hoặc nông nghiệp
Sản phẩm không những mang giá trị vật
Xác định đúng sản phẩm chủ lực là cơ sở để tập trung nguồn lực, ưu tiên hỗ trợ đầu
tư phát triển một cách có trọng tâm, trọng điểm và theo chiều sâu trên cơ sở lợi thế so sánh, không dàn trải làm lãng phí vốn đầu tư. Qua đó, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng, hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh cho từng loại sản phẩm và qua
đó tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất phát triển, đảm bảo cho những sản phẩm được chọn có điều kiện phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế
xã hội của địa phương và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 182) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm lan tỏa, nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản xuất và cung ứng,
có tác động lôi kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ phát triển.
Xác định đúng sản phẩm chủ lực nghĩa là đã xem xét một cách đầy đủ các ngành nghề có liên quan trong nền kinh tế. Điều này có nghĩa, khi tập trung đầu tư phát triển một ngành hàng chủ lực nào đó sẽ đồng thời phải đầu tư cho các ngành có liên quan khác làm cho chúng có điều kiện phát triển theo. Ngược lại, cũng thông qua quá trình xem xét này,
có thể xác định được những ngành nào có khả năng lan tỏa đến nó để có chính sách
khuyến khích đầu tư và qui hoạch phát triển một cách tương ứng và đồng bộ.
3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng nền kinh
tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu.
Sản phẩm chủ lực của quốc gia, vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. Căn cứ vào định vị này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững.
4) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa là xác định đúng đối tượng khách hàng và thị trường tiêu thụ để tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý và thực hành chất lượng phù hợp.
Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng, thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. Muốn vậy, các nhà sản xuất phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn
diện theo chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.
1.1.3. Một số lý thuyết liên quan đến xác định và phát triển sản phẩm chủ lực 1.1.3.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (17231790)
Adam Smith được coi là cha đẻ của kinh tế học hiện đại. Tác phẩm lớn nhất của ông là 'The Wealth of Nations' xuất bản 1776. Trong tác phẩm, ông nhấn mạnh lợi ích của chuyên môn hoá và nhu cầu sinh ra hệ thống cơ chế thị trường, phản hồi qua hệ thống giá.
Có lẽ tư tưởng gắn liền với ông là Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Absolute Advantage). Trong
mô hình kinh tế cổ điển, các nhà học giả cho rằng đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản xuất trên những đất đai cằn cỗi, không đảm
Trang 19A. Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu lương thực từ nước ngoài với giá
rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước. Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương.
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí nguồn lực để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Khi một nước sản xuất sản phảm có chi phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực). Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao
sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại hiệu quả. Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.
Ngày nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là công nghệ sản xuất với chi phí chấp nhận được mà phải nhập khẩu công nghệ. Khi nhập công nghệ sản xuất, lao động trong nước sẽ học được cách sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng. Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển (có lợi thế tuyệt đối về công nghệ) và các nước đang phát triển (có lợi thế tuyệt đối về nguồn lực) thông qua bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức
công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối [55].
1.1.3.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo (17721823)
Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động. Theo học thuyết này thì ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh. Nghĩa là việc chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa các quốc gia. Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập lợi thế tuyệt đối. Toàn bộ phân tích của D. Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động đơn vị khác nhau.
Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng công nghệ như nhau: các nước phát triển có cung về tư bản nhiều hơn các nước đang phát
Trang 20triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn. Ngược lại số nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuê nhân công; ngược lại
ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhân công.
Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợi thế
so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này. Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô hoặc sơ chế như dầu thô, than đá, thủy sản đông lạnh hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển [3].
1.1.3.3. Thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Micheal E. Porter (17721823)
Michael E. Porter là người đã đưa ra môn học về chiến lược cạnh tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành. Về lý luận cạnh tranh, ông đã xuất bản ba cuốn sách nổi tiếng thế giới và được sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo MBA của các nước. Đó là cuốn ''Chiến lược cạnh tranh'' xuất bản năm 1980, cuốn ''Lợi thế cạnh tranh'' năm 1985 và cuốn ''Lợi thế cạnh tranh quốc gia” vào năm 1990. Trong tác phẩm Lợi thế cạnh tranh quốc gia, Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và đưa ra lý thuyết nổi tiếng là mô hình “Kim cương”. Theo Porter thì không một quốc gia nào có được khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành mà chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của quốc gia đó. Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. M. Porter cho rằng các nền kinh tế đều phải trải qua 3 giai đoạn phát triển cạnh tranh, đó là: cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất, cạnh tranh dựa vào đầu tư, cạnh tranh dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các giai đoạn cạnh tranh phản ánh nguồn lợi thế đặc trưng, bản chất và quy mô của những ngành phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế.
Việc phân chia các giai đoạn cạnh tranh chỉ mang tính chất tương đối và các quốc gia hay các địa phương không nhất thiết phải đi qua tất cả các giai đoạn, nhưng việc xác
Trang 21số ưu thế vượt trội về sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh quốc tế giúp cho các doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công trong kinh doanh quốc tế. Theo Michael.E Porter, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngành và sản phẩm. Một quốc gia, vùng lãnh thổ có lợi thế cạnh tranh tốt sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các ngành và doanh nghiệp thông qua việc sản xuất và cung ứng những sản phẩm ưu việt hơn
so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Ông cho rằng, bí quyết mà một quốc gia gặt hái được sự thành công quốc tế trong một ngành nhất định nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia. Bốn thuộc tính này định hình nên môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh và được coi là các
yếu tố quyết định của mô hình, là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu,
Nền kinh tế định
hướng yếu tố
Nền kinh tế định hướng đầu tư
Nền kinh tế định hướng sáng tạo
Hiệu quả nhờ
chi phí đầu vào
Hiệu quả nhờ đầu tư mạnh
Hiệu quả nhờ đổi mới
Trang 22các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Ông còn đưa ra thêm 2 yếu tố bổ sung là vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ. (Xem
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VÀ CÓ LIÊN QUAN
CÁC ĐIỀU KIỆN VỀ CẦU
ĐIỀU KIỆN YẾU TỐ SẢN XUẤT
SỰ NGẪU NHIÊN
CHÍNH PHỦ
Trang 23v Các yếu tố chi phối các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngành:
+ Vai trò của chính phủ. Chính phủ có thể tác động tới năng lực cạnh tranh của
ngành thông qua cả 4 nhóm nhân tố: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành. Các tác động của chính phủ có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu cực
· Đối với các yếu tố sản xuất và các ngành hỗ trợ và liên quan; chính phủ có thể tác động thông qua chính sách thuế, vốn, trợ cấp, quy hoạch phát triển ngành,…
· Đối với nhu cầu trong nước, chính phủ tác động bằng những quy định mang tính chất định hướng nhu cầu như quy định tiêu chuẩn đối với từng mặt hàng trong ngành, các biện pháp kích thích hoặc kiềm hãm nhu cầu đối với một loại sản phẩm nhất định
· Đối với cơ cấu và môi trường cạnh tranh, sự tác động của chính phủ thể hiện thông qua những quy định về thị trường tín dụng, chính sách thuế và các quy định về cạnh
tranh trong sản xuất, kinh doanh của ngành hàng cụ thể.
+ Sự ngẫu nhiên hay vai trò của cơ hội. Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan
đến tình trạng sản xuất, kinh doanh hiện tại của ngành hàng nào đó tại quốc gia. Những cơ hội có thể đến với mặt hàng có thể là: những cuộc khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến tranh ở các quốc gia, khu vực trên thế giới; sự tiến bộ về công nghệ sinh học; sự bãi bỏ các hàng rào thuế quan hay phi thuế quan của chính phủ các nước đối với mặt hàng nào đó…làm nhu cầu ở những nơi này tăng lên, đẩy giá cả thế giới lên cao hay ngược lại.
Hiện nay, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam đang đứng trước những
cơ hội và thách thức lớn khi hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Làm thế nào để tận dụng tốt thời cơ cũng như có biện pháp ngăn chặn những tác động tiêu cực từ hội nhập là một câu hỏi mà các quốc gia đều quan tâm. Câu trả lời là: mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ cần phải
phát huy được lợi thế cạnh tranh của mình trong mối tương quan với nền kinh tế thế giới.
1.1.3.4 Thuyết cụm phát triển của Michael E. Porter
Được phát triển bởi M. Porter (1990), lý thuyết cụm được sử dụng một các phổ biến trong việc hoạch định các chính sách công cộng và kinh tế. Cụm được tạo thành khi các lợi thế cạnh tranh kéo theo sự gia tăng, sự bố trí lại, sự phát triển các ngành, sản phẩm tương tự vào trong một vùng nhằm tăng khả năng cạnh tranh bằng việc tăng năng suất, khuyến khích các công ty mới cải tiến, thậm chí giữa các đối thủ cạnh tranh, tạo ra những
cơ hội cho các hoạt động kinh doanh. “Cụm là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành sản xuất, dịch vụ nhằm tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lý” (Chritian Ketels, 2003)
Trang 24Các công ty thành viên của cụm sẽ chia sẻ các yêu cầu và các mối quan hệ bên trong với nhà cung cấp và khách hàng. Các mối quan hệ bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các nhà tư vấn, đào tạo và huấn luyện, các tổ chức tài chính, các công ty chủ chốt. Cụm sẽ tạo ra lực lượng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chất lượng cao, kết nối quan hệ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu, các quỹ
hỗ trợ và các bên hữu quan [47], [50], [51].
Ban đầu, Porter cung cấp các nguyên lý cụm cho các cụm quốc gia và quốc tế nhưng sau đó đã nhận ra sự thích hợp cho các cụm vùng kinh tế trong nội bộ quốc gia. Một cụm giống như chuỗi giá trị trong sản xuất hàng hoá, dịch vụ, trong đó các ngành sản xuất được liên kết với nhau bởi dòng hàng hoá và dịch vụ mạnh hơn dòng liên kết chúng với phần còn lại của nền kinh tế. Các quan hệ trong cụm được phân thành 3 loại:
(1) quan hệ mua bán bởi sự tập trung và hội nhập dọc giữa quá trình sản xuất chính với các đầu vào và phân phối hàng hoá và dịch vụ;
(2) quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh và các đối tác nhằm khai thác thông tin về sản phẩm và qui trình, mở rộng sự cải tiến và các liên kết chiến lược; và
(3) quan hệ giữa thị phần và nguồn tài nguyên bằng sự chia sẻ công nghệ, lực lượng lao động và thông tin.
Việc sử dụng khái niệm cụm như là công cụ để hiểu được quá trình phát triển sản phẩm chủ lực ở cấp độ vùng và sự ảnh hưởng của nó đến việc định dạng và chuyển giao chính sách phát triển cụm và phát triển kinh tế vùng. Ở cấp vùng, các chính sách phát triển cụm được hỗ trợ bởi các cơ quan phát triển vùng và gắn với các chiến lược phát triển địa phương. Trong trường hợp này, sự tiếp cận cụm về nguyên tắc được sử dụng như là công
biến rộng rãi thông qua nội dung của Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our
Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới WCED (nay là Ủy ban
Brundtland). Theo báo cáo này thì phát triển bền vững là "sự phát triển có thể đáp ứng
Trang 25CON NGƯỜI
SẢN PHẨM CHỦ LỰC
TÀI NGUYÊN
LỢI NHUẬN
được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ". Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm hài
hòa giữa phát triển kinh tế hiệu quả với xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế xã hội, nhà quản lý, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế xã
hội và môi trường.
Sản phẩm chủ lực và sự phát triển bền vững
Quá trình toàn cầu hóa đi đôi với tự do hóa thương mại phát triển nhanh chóng nhờ
sự thúc đẩy bởi các tiến bộ của khoa học và công nghệ, đã làm thay đổi quan trọng diện mạo của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở tất cả các nước. Quá trình này đã mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức mới với nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Do vậy, việc phát triển sản phẩm chủ lực nhất thiết phải cân nhắc đến tính bền vững, lâu dài của chúng
Trang 26Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì có thể tiếp cận vấn đề này từ các
+ Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi hỏi về phía xã hội.
Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư xây dựng thương hiệu, chính
Trang 27Có thể nói rằng, tiêu chí cần là mục tiêu cuối cùng mà một sản phẩm phải hướng tới, còn tiêu chí đủ là những yếu tố mà “xã hội” phải quan tâm đảm bảo để sản phẩm đạt
đến mục tiêu của mình.
Hai là, khi xem xét, đánh giá lựa chọn sản phẩm chủ lực phải cân nhắc đầy đủ cả
hai tiêu chí, tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
Mặc dù mọi phương pháp xác định sản phẩm chủ lực đều cố gắng lượng hóa đến mức tối đa để có thể đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể quy tất cả các yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số. Đó là chưa kể còn có nhiều biến
số khó lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán. Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả hai loại tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu thống kê, phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính chủ yếu dựa trên các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm của các chuyên gia [37].
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt, không cứng nhắc khi sử dụng các tiêu chí. Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có thể định lượng như nhu cầu thị trường, giá trị thương hiệu, nhưng nếu không thể đo đếm, tính toán được các chỉ tiêu đo lường một cách chính xác thì đành phải sử dụng nó như là tiêu chí định tính, với vai trò đánh giá của các chuyên gia. Tuy vậy, khi xây dựng tiêu chí, cần cố gắng lượng
tiêu chí trung gian khác làm cơ sở đánh giá.
+ Tiêu chí phải bảo đảm tính khách quan, khoa học. Tiêu chí xác định sản phẩm
chủ lực được xây dựng dựa trên các số liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm tính hay ý chí chủ quan của bất kỳ ai. Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của các yếu tố kinh tế, xã hội – văn hóa
Trang 28+ Tiêu chí phải bảo đảm tính đặc trưng của địa phương. Tiêu chí xác định sản
chương trình hay qui định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương [2], [8]
1.2.1.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần. Cụ thể:
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách quan của hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi của thị trường, của
xã hội cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh giá, người ta có thể nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất lượng gì và có khả năng
thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã hội và nhà
quản lý. Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực. Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ
trợ của Nhà nước.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản có giá
trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý. Để phát triển sản phẩm chủ lực, các nhà sản xuất phải điều chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ không còn tùy tiện, chủ quan xem thường qui chuẩn thường thấy ở đối tượng này. Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ
chức thực hiện thích hợp.
+ Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một bản tuyên ngôn về chất lượng của
hàng hóa, thể hiện sự cam kết về trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà sản xuất với cộng
Trang 29đồng, xã hội. Thông qua hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, người tiêu dùng hiểu được rằng nhà sản xuất sẽ làm gì, làm như thế nào và chịu trách nhiệm ra sao trong việc cung cấp các tiện ích để thỏa mãn nhu cầu của họ ở chính trong sản trong phẩm của
các nhà sản xuất.
+ Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là bản tuyên bố sứ mạng của các
doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh, có giá trị lâu dài về mục đích và giúp phân biệt được doanh nghiệp này với những doanh nghiệp khác. Có thể gọi đó là phát biểu của một doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, thể hiện niềm tin
và tầm nhìn của doanh nghiệp [2], [8], [16], [17], [37]
1.2.1.4. Nội dung các tiêu chí
Xuất phát từ các vấn đề đã bàn luận trên đây, có thể thấy việc xác định sản phẩm chủ lực của quốc gia, địa phương hay vùng lãnh thổ cần dựa trên các tiêu chí định lượng
Trang 30Nếu tỷ trọng này càng cao chứng tỏ sản phẩm chủ lực đang xét càng quan trọng đối với vùng vì nó đóng góp giá trị lớn và có sức tác động mạnh đến kết quả sản xuất kinh
doanh của toàn vùng.
(2) Hệ số địa phương hóa của sản phẩm trong vùng (LQ ir )
Hệ số địa phương hóa (Location Quotient ) giúp đo lường mức độ tập trung chuyên môn hóa của vùng, miền hay địa phương về lĩnh vực khu vực i trong mối quan hệ với vùng lãnh thổ lớn hơn R (thường là một quốc gia) và trong toàn bộ nền kinh tế (tức là, tất
cả các lĩnh vực của nền kinh tế của một quốc gia). Thông qua hệ số này, người ta thấy được mức độ tập trung chuyên môn hóa của một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, miền hay địa phương so với mức độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của vùng lớn hơn hay trên cả nước ((Maggioni và Riggi năm 2008).
tranh toàn cầu (Florida State University, 2010).
(3) Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw).
Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc giá trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển của hàng hóa chủ lực trong tương lai.
Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận được từ số báo cáo hàng năm của địa hoặc tính theo công thức :
(1.2)
Trang 31(4) Hệ số vượt trội của sản phẩm (C Grw ).
Tiêu chí này phản ảnh khả năng vượt trội của hàng hóa chủ lực đối với toàn ngành kinh tế. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ hàng hóa chủ lực đang xét giữ vai trò quyết định trong việc hình thành mức tăng trưởng chung cho toàn ngành.
Công thức xác định hệ số vượt trội có dạng :
RWs
RWi Grw
tốc độ tăng trưởng của ngành).
(5) Tỷ trọng xuất khẩu của sản phẩm so với toàn vùng (R EX )
Là tỷ lệ so sánh giữa giá trị xuất khẩu của sản phẩm chủ lực với tổng giá trị xuất khẩu của toàn vùng. Tiêu chí này phản ảnh tầm quan trọng của sản phẩm chủ lực trong lĩnh vực xuất khẩu thông qua mức đóng góp của nó trong tổng giá trị xuất khẩu của toàn vùng cũng như khả năng đóng góp ngoại tệ cho địa phương thông qua sự đóng góp giá trị xuất khẩu của nó vào thành tích chung của cả vùng, miền, địa phương.
(1.4) (1.3)
Trang 32(7) Hệ số lợi thế so sánh hiện hữu thế giới của sản phẩm (RCA W )
Là chỉ tiêu phản ảnh khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực trong mối tương quan với mức xuất khẩu của cả thế giới về hàng hóa đó. Nếu tỷ trọng xuất khẩu của quốc gia về hàng hóa chủ lực lớn hơn tỷ trọng hàng hóa đó trong tổng xuất khẩu của cả thế giới thì quốc gia đó được coi là có lợi thế so sánh về hàng hóa đó.
(1.6) (1.5)
Trang 33(9) Hệ số bảo hộ hiệu dụng của hàng hóa chủ lực (EPR)
Hệ số bảo hộ hiệu dụng của một sản phẩm là chênh lệch giữa giá trị gia tăng tính theo giá trong nước của ngành sản phẩm đó và giá trị gia tăng tính theo giá thế giới rồi chia cho giá trị gia tăng tính theo giá thế giới. ERP Là chỉ tiêu phản ảnh mức độ bảo hộ trong nước đối với hàng hóa chủ lực hoặc nguyên liệu đầu vào sản xuất hàng hóa chủ lực thông qua thuế quan.
(1.7)
(1.8)
Trang 3410) Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC)
DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng thông qua xem xét tính hiệu quả của nguồn lực trong nước được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đơn vị tiền tệ thu được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so sánh và ngược lại. DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao.
Công thức tính:
)
1 (
PV DRC
Trang 35Nhóm này có 5 tiêu chí gồm:
(1) Qui mô thị trường
Chỉ tiêu này cho biết qui mô thị trường tiêu thụ hàng hóa chủ lực rộng hay hẹp, nội địa hay quốc tế. Qui mô thị trường, đặc biệt thị trường quốc tế càng rộng lớn, nói lên khả
quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế trong vùng.
(4) An toàn và thân thiện với môi trường
Sản xuất gắn với môi trường đang được xem là “vũ khí” tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường. Một ngành sản xuất không phá hủy cân bằng hệ sinh thái, không ô nhiễm môi trường tự nhiên, không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng…được xã hội thừa nhận, pháp luật bảo vệ. Đây chính là điều kiện gần như tiên quyết
để phát triển hàng hóa chủ lực một cách bền vững.
(5) Chính sách ưu đãi của Nhà nước
Nội dung bao gồm ưu đãi trong sử dụng đất đai, vay vốn, thuế suất, đầu tư,…Một ngành sản xuất nếu được nhiều chính sách ưu đãi sẽ có nhiều thuận lợi hơn cho cạnh
tranh, tổ chức đầu tư, sản xuất cũng như cung ứng sản phẩm ra thị trường [2], [8], [16].
1.2.1.5 Xây dựng khung thang điểm và xác định điểm chuẩn tối đa cho tiêu chí
Xây dựng hệ thống các tiêu chí để xác định sản phẩm chủ lực là việc làm cần thiết,
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là cơ sở để xem xét các yếu tố lợi thế cạnh tranh, tiềm năng, nguồn lực cũng như các yếu tố liên quan đến điều kiện và môi trường kinh doanh khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, vì chưa có cơ sở định lượng để xác
Trang 36định mức độ đạt được của các tiêu chí trên. Do vậy, bên cạnh hệ thống các tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, phải xây dựng khung thang điểm với điểm chuẩn tối đa cho hệ
thống tiêu chí cũng như từng tiêu chí cụ thể.
+ Về điểm chuẩn tối đa. Đây là biểu thị mức độ đạt được của hệ thống các tiêu chí;
là cơ sở để đưa ra quyết định việc có công nhận một sản phẩm nào đó là sản phẩm chủ lực hay không (xét về mặt định lượng). Điểm chuẩn tối đa của hệ thống có thể là 10, 20, 50 hoặc 100, tùy vào quyết định chủ quan của người xây dựng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá chính xác đến mức phần trăm (1/100), cần chọn theo thang điểm ‘bách phân’, tối
đa là 100 điểm (thực tế nhiều địa phương trong nước đã làm).
+ Về điểm chuẩn tối đa cho từng tiêu chí. Đây là biểu thị mức độ đạt được của một
tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của một yếu tố nào
đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây dựng thang điểm chuẩn cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra trọng số cho mỗi tiêu chí.
Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5 n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong thang đo
và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời phương án là r (r=% của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí cụ thể nào đó chính là ∑ir.
Từ đó, nếu gọi t là tiêu chí thứ t (với t = 1,2,3,4,5 m) thì tổng trọng số của cả hệ thống các tiêu chi được biết là ∑∑ir. Bây giờ gọi P là tổng điểm chuẩn tối đa của hệ thống và P t
là điểm chuẩn tối đa của tiêu chí. Vậy, điểm chuẩn tối đa của một tiêu chí được tính bằng công thứcsau:
(1.11)
Trang 37Qua nghiên cứu qui trình đánh giá, xét chọn sản phẩm của các địa phương tác giả nhận thấy, để đảm bảo được yêu cầu này, ĐBSCL cần thực hiện theo qui trình với 4 giai
+ Thành lập cơ quan chỉ đạo chung về đánh giá, xét chọn và hỗ trợ phát triển sản
phẩm chủ lực của toàn vùng. Để đảm bảo sự chỉ đạo một cách nhất quán, tránh việc mỗi
địa phương chỉ đạo thực hiện theo cách riêng vì lợi ích mang tính cục bộ, cần hình thành một bộ phận chỉ đạo có tính độc lập. Bộ phận này có nhiệm vụ thống nhất về mặt hoạch định chính sách, qui trình, thủ tục pháp lý, chỉ đạo và giám sát việc thực hiện đối với từng địa phương. Ngoài ra, bộ phận này phải được các địa phương thừa nhận về pháp nhân và
đặt dưới sự quản lý chung của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ.
GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
Thiếu chuẩn Không đủ chuẩn
HOÀN THIỆN
Đủ chuẩn GIAI ĐOẠN CÔNG
NHẬN TÔN VINH
Trang 38chí này phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu như:
· Bảo đảm tính định tính và định lượng. Cần ưu tiên xem xét các tiêu chí định lượng kết hợp cân nhắc một số tiêu chí định tính cần thiết
· Bảo đảm cả điều kiện cần và điều kiện đủ. Tức Bộ tiêu chí phải vừa thể hiện
rõ khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường, đồng thời chỉ ra được những bức xúc, đòi hỏi mà xã hội, địa phương cần hỗ trợ.
Để bảo đảm khách quan, khoa học, thiết nghĩ công việc này cần giao cho các nhà nghiên cứu và chuyên môn trong từng lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu…phối hợp thực hiện.
+ Xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của vùng. Một sản
phẩm có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu các điều kiện hỗ trợ cần thiết như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do đó, các địa phương cần thống nhất xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở thành chủ lực của vùng.
Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định chính sách phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước
về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ phận chỉ đạo chung xây dựng.
+ Thiết kế các thủ tục đăng ký, mẫu biểu giấy tờ cần thiết. Cần hoàn thiện các qui
định, hướng dẫn, mẫu biểu giấy tờ cần thiết…để làm cơ sở pháp lý và tạo ra tính thống nhất trong chỉ đạo cũng như quản lý hành chính trong quá trình thực hiện.
phương tiện truyền thông phù hợp.
+ Tiếp nhận đăng ký và sàng lọc đối tượng tham gia chương trình. Nhằm bảo đảm
tính khả thi và tập trung, tránh dàn trải, bộ phận chỉ đạo tiếp nhận đăng ký của các doanh nghiệp và tiến hành sàng lọc với 2 nội dung sau:
Trang 39· Sàng lọc sản phẩm có triển vọng. Căn cứ Phiếu đăng ký của doanh nghiệp tham gia Chương trình, bộ phận chỉ đạo có trách nhiệm tổng hợp, phân loại theo từng nhóm ngành kinh tế kỹ thuật và lên kế hoạch kiểm tra, khảo sát thực tế tại doanh nghiệp, sau đó lên “Danh sách sản phẩm có triển vọng” để tiếp tục xem xét, hỗ trợ
· Sàng lọc doanh nghiệp có năng lực. Cũng trên cơ sở Phiếu đăng ký tham gia của các doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào các điều kiện qui định ban đầu để tiến hành sàng lọc, chọn ra các doanh nghiệp có năng lực tham gia chương trình
Danh sách các doanh nghiệp có năng lực và Danh mục sản phẩm có triển vọng
tham gia chương trình nhất thiết phải được các địa phương thông qua và phê duyệt.
3) Giai đoạn tổ chức đánh giá, xét chọn
Giai đoạn này, các Hội đồng chuyên ngành (do bộ phận chỉ đạo chung thành lập) căn cứ vào hệ thống tiêu chí (cả định tính lẫn định lượng), thang bảng điểm đã được phê duyệt để tổ chức đánh giá, xét chọn đối với các sản phẩm có triển vọng được bộ phận chỉ đạo chung lựa chọn và các địa phương thông qua. Việc đánh giá, xét chọn ở giai đoạn này
Bước 4. Hỗ trợ để để bổ sung hoàn thiện sản phẩm chủ lực.
Đây là bước có tính chất “dự bị” đối với những sản phẩm còn non điểm ở một vài tiêu chí đủ nào đó so với chuẩn qui định. Trong bước này các địa phương cần tập trung đầu tư hỗ trợ về mặt tài chính, công nghệ, quảng bá, tiếp thị…để các nhà sản xuất nâng dần chất lượng và thương hiệu đối với sản phẩm. Sau một thời gian, nếu đủ tiêu chuẩn sẽ được xem xét công nhận sản phẩm chủ lực của vùng (chuyển sang bước 5), ngược lại sẽ bị loại ra khỏi Danh sách sản phẩm có triển vọng
Trang 40Với bước cuối cúng này, Ban chỉ đạo căn cứ đề nghị của Hội đồng chuyên ngành
sẽ, xem xét ra quyết nghị công nhận sản phẩm chủ lực của vùng. Quyết nghị này phải được UBND các địa phương phê duyệt và thông qua. Đây là căn cứ pháp lý để các doanh nghiệp và nhà sản xuất hưởng hỗ trợ theo các cơ chế đặc thù của địa phương mình. Bên cạnh đó, các sản phẩm chủ lực còn được tôn vinh và công bố, giới thiệu rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương cũng như địa phương [2], [8], [16], [17]
1.3 Kinh nghiệm phát triển sản phẩm chủ lực của một vài quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Nam Á có nét tương đồng về nhiều mặt như vùng kinh tế ĐBSCL của Việt Nam, đã rất khó khăn trong phát triển kinh tế vào đầu nửa đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây đã phát triển vượt bậc nhờ vào lựa chọn và phát triển sản phẩm/ngành sản phẩm phù hợp theo mô hình
cụm phát triển của M. Porter. Xin dẫn chứng 3 trường hợp điễn hình nhất như sau:
1.3.1 Kinh nghiệm của Indonesia
Chính phủ Indonesia cho rằng, với một đất nước mà kinh tế nông nghiệp còn giữ vai trò chủ lực, nông dân và nông thôn vẫn còn là địa bàn quan trọng thì nhiệm vụ trước hết là phải có những chính sách tác động mạnh mẽ vào công nghiệp chế biến nông, lâm sản. Chính phủ cũng đã tiến hành cải tổ lại khu vực kinh tế đồn điền nhằm mục đích tư nhân hóa một bộ phận quan trọng đồn điền của Nhà nước, thu hút đầu tư của tư bản nước ngoài để mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu… Chính phủ khuyến khích tư bản tư nhân trong nước tham gia kinh doanh đồn điền trên cơ sở Nhà nước cho vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế kinh doanh và cho phép phối hợp với Nhà nước để thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Từ năm 1968, khuyến nông được Indonesia xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Trong đó, việc cung cấp lúa gạo, ổn định lương thực được xem như là mục tiêu chính của kế hoạch phát triển. Nhờ chính sách khuyến khích sản xuất nông sản và cải tạo hệ thống lưu thông nông sản như vậy mà công nghiệp chế biến của Indonesia đã có những bước tiến căn bản. Là nước nhập khẩu gạo hàng đầu thế giới, Indonesia bắt đầu tự túc được lương thực từ năm 1981. Các loại cây công nghiệp được chú trọng phát triển để tiêu thụ trong nước và tham gia xuất khẩu trên thị trường như: cà phê, ca cao, cao su, hồ tiêu hạt trắng và hồ tiêu hạt đen