1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất những nội dung chính của quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp phù hợp với luật quy hoạch

94 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất những nội dung chính của quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp phù hợp với luật quy hoạch
Tác giả Trần Thị Đăng Thúy
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thành
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về quy hoạch lâm nghiệp, quản lý rừng bền vững, quy hoạch môi trường, mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch môi trường; phương pháp luận nghiên cứu; kết quả nghiên cứu.Tổng quan về quy hoạch lâm nghiệp, quản lý rừng bền vững, quy hoạch môi trường, mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch môi trường; phương pháp luận nghiên cứu; kết quả nghiên cứu.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Nghiên cứu đề xuất những nội dung chính của quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp phù hợp với luật quy hoạch

HÀ NỘI, 11/2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài Luận văn này, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Luận văn cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các tạp chí chuyên ngành

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Trịnh Thành – người hướng dẫn khoa học đã trực tiếp dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Viện Khoa học và Công nghệ môi trường cùng toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong Luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin chân thành cám ơn!

Ngày tháng năm 2019

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan quy hoạch lâm nghiệp 4

1.1.1 Tình hình phát triển quy hoạch lâm nghiệp 4

1.1.2 Quản lý rừng bền vững 6

1.1.3 Một số văn bản luật trong quy hoạch lâm nghiệp 14

1.2 Tổng quan về quy hoạch môi trường 18

1.2.1 Khái niệm quy hoạch môi trường 18

1.2.2 Mục tiêu quy hoạch môi trường 19

1.2.3 Nội dung chính quy hoạch môi trường 20

1.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch môi trường 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 27

2.1 Phương pháp luận nghiên cứu 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Phương pháp chỉ số môi trường 28

2.2.2 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu 28

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 29

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Đánh giá hiện trạng phát triển lâm nghiệp 32

3.1.1 Hiện trạng đất lâm nghiệp 32

3.1.2 Hiện trạng tài nguyên rừng 35

Trang 5

3.1.3 Thực trạng cơ chế chính sách trong quy hoạch lâm nghiệp 40

3.2 Đánh giá tác động môi trường hoạt động phát triển và quy hoạch lâm nghiệp 43 3.2.1 Đánh giá tác động môi trường của việc khai thác và phát triển rừng 43

3.2.2 Phân tích rủi ro môi trường 47

3.3 Đề xuất mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường trong phát triển lâm nghiệp đến năm 2030 65

3.3.1 Dự báo phát triển lâm nghiệp 65

3.3.2 Đề xuất định hướng phát triển lâm nghiệp đến năm 2030 69

3.3.3 Đề xuất mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường 70

3.4 Đề xuất thiết kế quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp 71

3.4.1 Đề xuất các giải pháp phòng chống và bảo vệ môi trường không khí 71 3.4.2 Đề xuất các giải pháp phòng chống và bảo vệ tài nguyên nước 72

3.4.3 Đề xuất giải pháp phòng chống và bảo vệ môi trường đất 72

3.4.4 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn 73

3.4.5 Đề xuất các giải pháp chính sách trong phát triển lâm nghiệp 73

3.5 Đề xuất quản lý quy hoạch 74

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN 78

4.1 Kết luận 78

4.2 Hướng phát triển của luận văn trong tương lai 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

ATFS hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ

PAN – EUROPEAN Hệ thống chỉ tiêu quản lý rừng tại Châu Âu

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp tính đến ngày 31/12/2017 34

Bảng 3.2 Thống kê hiện trạng tài nguyên rừng từ năm 2011-2018 36

Bảng 3.3: Cơ cấu diện tích 3 loại rừng phân theo mục đích sử dụng 37

Bảng 3.4 Những thay đổi căn bản trong thể chế lâm nghiệp từ 1950 đến nay [9] 40 Bảng 3.5 Giá trị của rừng ở một số quốc gia trên thế giới 43

Bảng 3.6 Nguồn tác động trong giai đoạn chuẩn bị trồng rừng 46

Bảng 3.7 Nguồn tác động trong giai đoạn trồng và chăm sóc rừng 46

Bảng 3.8 Tỉ lệ nghèo đói và tỉ lệ che phủ rừng tại Việt Nam giai đoạn 2011-2018 48

Bảng 3.9 Diện tích rừng bị cháy tại các vùng sinh thái từ năm 2011-2016 53

Bảng 3.10 Diện tích rừng bị chặt phá từ năm 2008-2016 62

Bảng 3.11 Quan hệ giữa độ che phủ và xói mòn đất 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Diện tích rừng theo miền khí hậu [16] 8

Hình 1.2 Các khu vực trên thế giới tham gia chứng nhận rừng FSC và PEFC từ năm 2000-2014 [15] 11

Hình 2.1 Thực hiện quy hoạch môi trường lồng ghép với quy hoạch lâm nghiệp 27 Hình 3.1 Tỉ lệ diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các nhóm đối tượng sử dụng 33

Hình 3.2 Biểu đồ diện tích đất lâm nghiệp tại các vùng sinh thái 35

Hình 3.3 Biểu đồ diện tích rừng thay đổi trong giai đoạn 2011-2018 36

Hình 3.4: Tỉ lệ diện tích rừng theo quy hoạch 3 loại rừng và ngoài quy hoạch 38

Hình 3.5 Biểu đồ diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng phân theo vùng sinh thái 39 Hình 3.6 Biểu đồ mối tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và tỉ lệ che phủ rừng 48

Hình 3.7 Tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và tỉ lệ che phủ rừng tại các vùng địa phương năm 2016 51

Hình 3.8 Biểu đồ về diện tích rừng bị cháy từ năm 2008 - 2016 53

Hình 3.9 Mối tương quan giữa mật độ dân số và diện tích cháy rừng giai đoạn 2005-2018 56

Hình 3.10 Tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và diện tích rừng bị cháy giai đoạn 2008-2018 57

Hình 3.11 Tương quan giữa tổng hộ nghèo và diện tích cháy rừng tại các địa phương năm 2016 58

Hình 3.12 Biểu đồ diện tích rừng bị chặt phá từ năm 2008-2016 62

Hình 3.13 Biểu đồ mối tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và diện tích rừng bị chặt phá năm 2008-2016 63

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rừng là một nhân tố môi trường quan trọng trên hành tinh Rừng cũng

là đối tượng quản lý và kinh doanh chủ yếu của ngành lâm nghiệp, với mục tiêu tổng quát là bảo vệ các hệ sinh thái và chu trình tự nhiên, cung cấp nguồn sống bền vững cho con người và sinh vật Sự tồn tại và phát triển của rừng không chỉ giúp cho việc hình thành trũ đỡ vững chắc về sinh thái, đảm bảo phát triển kinh

tế ổn định, mà còn hỗ trợ cho bảo tồn và phát huy các giá trị nhân văn Bảo vệ rừng là bảo vệ môi trường là bảo vệ tài sản thiết yếu và quý báo đã và đang được thế giới nhận thức càng đầy đủ hơn với hành động quyết liệt hơn Vai trò của rừng đối với con người và sinh thái như cung cấp con đường thoát nghèo, tăng cường khả năng phục hồi và giảm thiểu biến đổi khí hậu, Rừng hỗ trợ việc làm

và tạo ra sự giàu có, Rừng cung cấp dịch vụ hệ sinh thái cho nền kinh tế bền vững, Rừng cung cấp giá trị văn hóa và giá trị tinh thần bền vững [18]

Trước những tác động khó lường của biến đổi khí hậu toàn cầu người ta càng thấy rõ vai trò và ý nghĩa to lớn của rừng Sự tác động tiêu cực đến rừng và đất lâm nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng trực tiếp đến nghề rừng mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội tại khu vực có rừng và đất lâm nghiệp Việc quản lý và phát triển rừng bền vững là mục tiêu hàng đầu trong quy hoạch lâm nghiệp Tuy nhiên vấn đề quy hoạch lâm nghiệp hiện nay chưa thực sự đầy đủ và còn nhiều khó khăn như quy hoạch chưa đúng với điều kiện thực tiễn, quy hoạch

sử dụng đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập trong việc giao đất giao rừng, …từ đó

có thể dẫn tới các vấn đề như phá rừng làm nương rẫy, đói nghèo gia tăng khi việc giao đất giao rừng không hợp lý, xảy ra các vấn đề rủi ro môi trường như cháy rừng, xói mòn đất gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường và con người

Xuất phát từ tình hình trên, đề tài đã xây dựng ý tưởng lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp để giảm thiểu những tác động tiêu cực nhằm phát triển lâm nghiệp bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, môi trường và xã hội phù hợp với các văn bản chính sách và luật trong quy hoạch Từ

đó làm cơ sở đề xuất đề tài “Nghiên cứu đề xuất những nội dung chính của quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp phù hợp với luật quy

hoạch”

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a Mục đích nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực trạng các vấn đề rủi ro môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp đề xuất giải pháp lồng ghép nội dung chính của quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả phát triển lâm nghiệp bền vững

b Đối tượng nghiên cứu

- Yếu tố rủi ro môi trường

c Phạm vi nghiên cứu: Quản lý rủi ro trong quy hoạch lâm nghiệp

3 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

Dựa trên cơ sở căn cứ vào nội dung chính trong quy hoạch môi trường Đề tài thực hiện các nội dung chính sau:

1 Đánh giá hiện trạng phát triển lâm nghiệp hiện nay: Đánh giá hiện trạng

sử dụng đất lâm nghiệp, hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng quy hoạch 3 loại rừng, hiện trạng cơ chế chính sách hiện nay để đánh giá được những nét tổng thể của phát triển lâm nghiệp hiện nay

2 Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp: Đánh giá tác động môi trường của các hoạt động khai thác và phát triển rừng Đề tài tập trung chủ yếu phân tích các rủi ro môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp như cháy rừng, chặt phá rừng bằng việc xây dựng mối tương quan giữa các yếu

tố rủi ro và các nhân tố ảnh hưởng Trong đó đề tài đã xây dựng mối tương quan của cháy rừng, chặt phá rừng và tình trạng đói nghèo , mât độ dân số của các vùng trong cả nước qua các giai đoạn khác nhau để tìm ra được mức độ tương quan giữa các nhân tố này làm cơ sở đề xuất giải pháp quy hoạch bảo vệ môi trường

3 Đề xuất mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp: Đưa ra các dự báo phát triển và đề xuất định hướng quy hoạch lâm nghiệp trong tương lai từ đó đề xuất các mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường phù hợp với định hướng phát triển lâm nghiệp

4 Đề xuất thiết kế quy hoạch: Căn cứ vào mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường đề tài thực hiện đề xuất các giải pháp quy hoạch bảo vệ các thành phần

Trang 11

môi trường chủ yếu tập trung giải pháp quản lý các rủi ro môi trường cháy rừng, chặt phá rừng phòng chống tác động môi trường và phòng chống thiên tai

5 Đề xuất quản lý quy hoạch môi trường: Đề tài đề xuất các giải pháp năng lực, tăng cường khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế và nguồn lực tài chính trên cơ sở pháp lý các văn bản luật và kỹ thuật trong bảo vệ môi trường và quy hoạch lâm nghiệp

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nội dung của luận văn đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu: Đề tài tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến luận văn như báo cáo kinh tế xã hội của quốc gia, số liệu về hiện trạng phát triển rừng, đất lâm nghiệp, …

- Phương pháp phân tích số liệu: Đề tài thực hiện phân tích và xử lý các số liệu bằng cách biểu diễn biểu đồ và bảng số liệu để đánh giá được sự thay đổi về hiện trạng rừng, hiện trạng đất lâm nghiệp, hiện trạng cháy rừng, hiện trạng chặt phá rừng ở Việt Nam trong các giai đoạn 2008-2016 và cụ thể hơn ở các vùng địa phương

- Phương pháp chỉ số môi trường: Đề tài sử dụng các chỉ số môi trường như tỉ lệ che phủ rừng, tỉ lệ nghèo đói, diện tích cháy rừng để đánh giá được thực trạng và diễn biến thay đổi trong quản lý quy hoạch lâm nghiệp

- Phương pháp xử lý số liệu: Đề tài sử dụng các phương trình tương quan

để biểu diễn sự phụ thuộc của các nhân tố cháy rừng, chặt phá rừng và tỉ lệ nghèo đói tại các vùng địa phương khác nhau Từ đó đánh giá được mức độ tương quan

và đưa ra nhận định về các nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới các vấn đề môi trường trong lâm nghiệp

Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở nghiên cứu đề xuất nội dung quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 4 Kết luận

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tài nguyên rừng trên thế giới cũng như Việt Nam đã và đang bị thu hẹp dần về diện tích, suy giảm về chất lượng, môi trường bị suy thoái, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều Chính vì vậy, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên rừng không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại

1.1 Tổng quan quy hoạch lâm nghiệp

1.1.1 Tình hình phát triển quy hoạch lâm nghiệp

Lâm nghiệp là một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Đối tượng sản xuất, kinh doanh của ngành lâm nghiệp là tài nguyên rừng, bao gồm rừng và đất rừng Tác dụng của ngành lâm nghiệp đối với nền kinh tế có nhiều mặt, không chỉ cung cấp lâm, đặc sản rừng mà còn có tác dụng rất lớn về cung cấp dịch vụ môi trường như bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu, giữ đất, giữ nước, phòng hộ, văn hóa cảnh quan, du lịch sinh thái,…

Rừng nước ta phân bố không đều, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất khác nhau, như cầu của các địa phương và các ngành kinh tế khác đối với lâm nghiệp cũng không giống nhau Vì vậy cần phải tiến hành quy hoạch lâm nghiệp nhằm bố trí hợp lý về không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh khác nhau làm cơ sở cho việc lập kế hoach, định hướng cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng như cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, cho xuất khẩu và cho đời sống nhân dân, đồng thời phát huy những tác dụng cung cấp dịch vụ môi trường của rừng

Theo Bảo Huy & cộng sự (2002) khái niệm Quy hoạch lâm nghiệp là

“Quy hoạch lâm nghiệp bao gồm việc kế hoạch và quản lý kế hoạch phát triển lâm nghiệp; lập kế hoạch là việc điều tra khảo sát và phân tích các tình hình hiện tại và xác định các nhu cầu tương lai để lập kế hoạch hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đó; và quản lý là thiết lập các giải pháp để thực thi các hoạt động”

Quy hoạch lâm nghiệp được thực hiện ở các cấp quản lý rất khác nhau về phạm vi bao gồm cấp toàn cầu hoặc khu vực; cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh; cấp huyện, cấp xã, dự án hoặc vùng đầu nguồn và cấp thôn/làng hoặc các tiểu khu rừng Quy hoạch lâm nghiệp còn áp dụng cho các đối tượng sản xuất kinh doanh

Trang 13

khác nhau như doanh nghiệp lâm nghiệp hoặc công ty lâm nghiệp; trang trại hoặc nhóm/hộ gia đình

Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng thông theo phương pháp hạt đều, … Đến năm 1955-1975 tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958-1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Đến năm 1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, công tác quy hoạch, lực lượng Quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được chú trọng, tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch các Sở Lâm nghiệp (nay là Sở nông nghiệp và PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, QHLN của nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên so với lịch sử phát triển của các nước khác thì QHLN nước ta hình thành và phát triển muộn hơn rất nhiều, Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng

Ngày nay quy hoạch lâm nghiệp đã và đang được áp dụng mạnh những thành tựu khoa học tiến bộ của GIS và viễn thám Những năm gần đây, Việt Nam

đã ứng dụng GIS trong quy hoạch lâm nghiệp, ứng dụng các ảnh vệ tinh nhằm giải đoán ảnh hiện trạng rừng, ứng dụng Mapinfor và Microstation xây dựng bản

đồ hiện trạng và bản đồ quy hoạch

Nửa cuối của thế kỷ XX, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, môi trường, con người chờ đợi ở rừng nhiều hơn nữa các khả năng cung ứng không chỉ về gỗ, lâm sản ngoài gỗ mà còn các chức năng bảo vệ môi trường như: phòng hộ nguồn nước, chống thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, giáo dục thẩm mỹ, môi trường v.v môn quản lý rừng đã giao thoa với nhiều môn khoa học khác và cũng do vậy mang nhiều tên khác nhau như: quản lý rừng, điều chế rừng, quy hoạch rừng, thiết kế kinh doanh rừng Ở Việt Nam, những năm 80 – 90 của thế kỷ 20, các đơn vị quản lý rừng tự nhiên (Lâm trường, các đơn vị làm kinh tế lâm nghiệp ) đều phải xây dựng Phương án điều chế rừng (Kế hoạch quản lý) Tuy nhiên các phương án điều chế rừng hay quy hoạch rừng vẫn tập trung vào mục tiêu lợi dụng tài nguyên rừng là chính, tất cả các hoạt

Trang 14

động quản lý rừng đều xoay quanh mục tiêu khai thác gỗ, phát triển kinh tế đất nước nói chung và của đơn vị nói riêng

Cùng với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội, quản lý rừng đã chuyển từ quản lý kinh doanh gỗ sang quản lý kinh doanh nhiều mặt tài nguyên rừng, quản lý hệ sinh thái rừng và cuối cùng là Quản lý rừng bền vững trên cơ sở các tiêu chuẩn, tiêu chí được xác lập chặt chẽ, toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường Quản lý rừng bền vững đòi hỏi chủ rừng phải lập Kế hoạch quản lý rừng chi tiết, rõ ràng và giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Tất cả các hoạt động từ xây dựng, phát triển rừng đều tuân theo

kế hoạch được lập, trong đó kế hoạch khai thác gỗ và bảo vệ môi trường giữ vai trò quan trọng

Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã xác định một trong những chương trình trọng điểm của ngành là đẩy mạnh Quản lý rừng bền vững và hướng tới mục tiêu 30% diện tích rừng sản xuất phải có chứng chỉ Cụ thể hóa Chiến lược, trong những năm gần đây, Chính phủ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ đặc biệt là Bộ NN&PTNT đã ban hành các chính sách và hướng dẫn phù hợp nhằm tăng cường hoạt động quản lý rừng theo xu thế bền vững, thúc đẩy quá trình Chứng chỉ rừng ở Việt Nam, kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc gỗ và sản phẩm từ gỗ bất hợp pháp Đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng ở nước ta

1.1.2 Quản lý rừng bền vững

 Trên thế giới

Rừng và cây xanh cung cấp các tài nguyên quan trọng và các dịch vụ hệ sinh thái cho tất cả loài người thông qua sự điều hòa của hệ thống khí hậu và thủy văn Lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ rừng và cây dưới hình thức việc làm, lâm sản và đóng góp cho sinh kế và thu nhập được ước tính là 1,3 tỷ (FAO, 2014) Nếu quản lý bền vững, rừng và cây xanh có thể đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xã hội lâu dài và ổn định môi trường

Rừng ở nhiều nước đang phát triển hỗ trợ sinh kế của hàng trăm hàng triệu người, chủ yếu là người nghèo, những người xa cơ hội thị trường Ngay cả trong các nền kinh tế thu nhập cao nhất, một số người nghèo đói thường vẫn còn trong khu vực rừng Đồng thời, sự gia tăng dân số và những thay đổi liên quan trong mô hình

Trang 15

tiêu dùng đang làm tăng nhu cầu đối với lâm sản (như năng lượng từ gỗ, xây dựng

và cột) và gây thêm áp lực lên rừng tự nhiên Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong khi bảo tồn rừng tự nhiên là một thách thức to lớn, quản lý rừng bền vững hiện tại chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu này Kế hoạch quản lý rừng nhằm mục đích hỗ trợ đầu tư vào lâm nghiệp bền vững, với chi tiết cụ thể tập trung vào việc tối ưu hóa tiềm năng của rừng tự nhiên để cung cấp tiền mặt và thu nhập tạo ra việc làm và cơ hội kinh tế cho cư dân trong rừng; hỗ trợ trồng cây và trồng để đáp ứng tăng trưởng nhu cầu về gỗ, sợi và củi trong khi giảm áp lực lên tự nhiên rừng; đầu tư cải tạo đất

bị thoái hóa; và thúc đẩy bền vững chuỗi giá trị thông qua các doanh nghiệp lâm nghiệp vừa và nhỏ (SMFE) và đầu tư có trách nhiệm vào rừng

Rừng và quản lý rừng đã thay đổi đáng kể trong 25 năm qua Nhìn chung giai đoạn này đã thấy một loạt phát triển tích cực Mặc dù, trên toàn cầu diện tích các khu rừng thế giới tiếp tục suy giảm khi dân số loài người tiếp tục phát triển

và nhu cầu lương thực, đất đai tăng lên Cùng thời điểm đó, quản lý rừng bền vững (SFM) được chú trọng nhiều hơn, khung pháp lý áp dụng cho SFM được áp dụng phổ biến hơn Các quốc gia chỉ định để bảo tồn đa dạng sinh học đồng thời đáp ứng nhu cầu về rừng ngày càng tăng sản phẩm dịch vụ

Năm 1990, thế giới có 4128 triệu ha rừng đến năm 2015 diện tích rừng giảm còn 3999 triệu ha rừng, thay đổi từ 31,6% diện tích toàn cầu năm 1990 còn 30,6% năm 2015 Tuy nhiên, thực trạng về nạn phá rừng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất xảy ra phức tạp và liên tục hơn Từ năm 2010 – 2015 diện tích mất rừng là 7,6 triệu ha và trung bình 4,3 triệu ha/năm dẫn tới là diện tích giảm hàng năm 3,3 triệu ha Các khu vực mất rừng nghiêm trọng ở vùng nhiệt đới đặc biệt là Nam Mỹ và Châu Phi Năm 2015 khoảng 31% diện tích rừng trên thế giới chủ yếu là rừng sản xuất giảm 13,4 triệu ha kể từ năm 1990 Ngoài ra gần 28% diện tích rừng được báo cáo sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau và giảm 37,5 triệu ha so với năm 1990 (FAO,2016)

Trữ lượng cacbon toàn cầu giảm gần 11Gt trong 25 năm từ năm 1990-2015

Sự suy giảm này chủ yếu từ các hoạt động chuyển đổi sử dụng đất và suy thoái tài nguyên rừng Một số chỉ số cho thấy sự tiến bộ về quản lý rừng bền vững trong thời gian qua: 96% rừng trên thế giới được bảo vệ bởi chính sách và pháp luật hỗ trợ của SFM Dữ liệu tài nguyên rừng được cải thiện trong những năm gần đây: như năm

Trang 16

2014 có 112 quốc gia đại diện chiếm khoảng 83% khu vực rừng toàn cầu báo cáo thực hiện kế hoạch quản lý rừng quốc gia và diện tích rừng tăng lên rõ rệt [16]

a Diện tích rừng tại các miền khí

hậu khác nhau

b Diện tích rừng theo kế hoạch quản lý rừng từ 1990-2010

Hình 1.1 Diện tích rừng theo miền khí hậu [16]

Phần lớn các quốc gia đều có một kế hoạch quản lý rừng phù hợp (167 quốc gia đại diện 98% diện tích rừng toàn cầu) và hơn một nửa diện tích theo kế hoạch quản lý rừng được điều tra tại vùng cận đới Theo thống kê khoảng một nửa theo kế hoạch quản lý rừng sẽ tập trung vào sản xuất còn lại tập trung vào bảo tồn Về nội dung kế hoạch quản lý rừng gồm có 121 quốc gia và vùng lãnh thổ lập kế hoạch bảo vệ đất và nước trong đó có 118 quốc gia họ chú trọng vào bảo tồn cao còn 116 quốc gia cân nhắc yếu tố xã hội Tỉ lệ diện tích rừng theo kế hoạch tăng từ năm 1990 ở các vùng miền khí hậu trừ vùng cận đới nơi vẫn ổn định ở mức cao Xem xét xu hướng hiện tại và tăng sự chú ý tới quản lý rừng bền vững Tuy nhiên thách thức vẫn là tăng diện tích rừng theo kế hoạch quản lý đặc biệt là các nước nhiệt đới

Nỗ lực đầu tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941, là một chương trình của trung tâm rừng hộ gia đình của Tổ chức Lâm nghiệp Hoa kỳ, được cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi cư trú phù hợp thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và các tiêu chuẩn

Cận đới Ôn đới Cận nhiệt đới Nhiệt đới

Cận đới Ôn đới Cận nhiệt Nhiệt đới

đới

Trang 17

Theo các tiểu chuẩn và hướng dẫn này, các chủ sở hưu tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt các cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS 5 năm một lần ATFS đã công nhận 24 triệu mẫu đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90473 chủ sở hữu rừng

tư nhân, những người cam kết quản lý tốt rừng của mình, tại 46 bang

Tiếp theo là FSC được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia trên thế giới, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, cộng đồng dân bản, các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích về mặt xã hội và có thể thực hiện

về mặt kinh tế FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những nguyên tắc (tiêu chuẩn) và tiêu chí về quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ Cùng với sự

ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập PAN – EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn Châu Âu, CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (Tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới,…Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED); Công ước buôn bán động vật thực vật quý hiếm (CITIES); Công ước

đa dạng sinh học,…

Theo ITTO (Tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) : “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đói với môi trường tự nhiên và xã hội”

Quản lý rừng bền vững đều tập trung vào các vấn đề chính là: Quản lý rừng

ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt dược mục tiêu đề ta, bảo đảm bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là:

+ Có khuôn khổ chính sách và pháp lý;

+ Sản xuất lâm sản bền vững;

Trang 18

+ Bảo vệ được môi trường;

+ Đảm bảo lợi ích con người;

+ Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp;

Quản lý rừng phù hợp với môi trường là đảm bảo rằng việc sản xuất gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ hệ sinh thái phải duy trì đa dạng sinh học, năng suất của rừng, và các quá trình sinh thái Quản lý rừng mang lại lợi ích xã hội sẽ giúp cho cả người dân địa phương và xã hội để hưởng lợi ích lâu dài, và giúp khuyến khích mạnh mẽ người dân địa phương duy trì nguồn tài nguyên rừng và tuân thủ các kế hoạch quản lý rừng lâu dài Quản lý rừng đem lại lợi ích kinh tế có nghĩa

là hoạt động lâm nghiệp được tổ chức và quản lý để có được lợi nhuận, mà không gây lên các tổn hại về tài chính để tái sinh nguồn tài nguyên rừng, hệ sinh thái, hoặc cho các cộng đồng bị ảnh hưởng Các nỗ lực tạo thị trường hiệu quả cho các sản phẩm và dịch vụ từ rừng có thể vẫn đảm bảo gia tăng lợi nhuận tài chính cho chủ rừng trong khi vẫn tuân thủ các nguyên tắc của hoạt động lâm nghiệp có trách nhiệm

Theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyển đối với lâm phẩm trên toàn thế giới Số lượng

ít ỏi các cơ quan được cấp Chứng chỉ rừng do FSC ủy quyển trước đây đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ chỉ gỗ và ngày nay đã được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng Hiện nay có 24 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền và cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và kiểm tra chất lượng hàng năm Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội

Hội đồng PEFC là một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận, phi chính phủ được thành lập năm 1999, hoạt động thúc đẩy QLRBV thông qua việc chứng nhận độc lập bởi bên thứ ba PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV PEFC là chương trình quy mô toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tổ chức chứng chỉ rừng quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên liên quan (FAO, 2016)

Trang 19

Hình 1.2 Các khu vực trên thế giới tham gia chứng nhận rừng FSC và

PEFC từ năm 2000-2014 [15]

Chứng nhận rừng độc lập được giới thiệu vào cuối năm 1990 như là một công cụ tự nguyên để thúc đẩy tham gia quản lý rừng bền vững và thương mại các sản phầm từ quản lý rừng bền vững Hai tổ chức lớn được công nhận chứng nhận chiếm ưu thế trong quản lý rừng bền vững là Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC) và Chương trình chứng nhận các tổ chức chứng chỉ rừng (PEFC) Cả hai hệ thống đánh giá đều bao gồm các tiêu chí đánh giá các khía cạnh môi trường, xã hội và kinh tế Chứng nhận quản lý rừng không phải là một công cụ hoàn hảo cho quản lý rừng bền vững nhưng nó là một tiêu chuẩn quan trọng có thể theo dõi đánh giá

Theo kết quả điều tra các khu vực được quản lý bởi hai chương trình đề án chứng nhận này tăng từ 14 triệu ha trong năm 2000 đến hơn 438 triệu ha trong năm 2014 trong dó 58% thuộc PEFC và 42% thuộc FSC (hình 1.2) Diện tích rừng được chứng nhận bởi chương trình chứng nhận quốc tế dự kiến tiếp tục tăng Tuy nhiên các thỏa thuận hơp tác tự nguyện để đảm bảo bền vững lâm sản trong quản lý rừng

Hoạt động giám sát và bảo vệ rừng trong những năm gần đây gia tăng đáng kể như công cụ đàm phán quốc tế để giảm khí thải từ nạn phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển (chương trình REDD+) hỗ trợ tài chính cho các quốc gia về giám sát tài nguyên rừng Mục tiêu chương trình, dự án REDD+ trên thế giới có sự khác nhau ở môi quốc gia nhưng mục tiêu chung vẫn là cắt giảm tỉ lệ mất rừng ở các vùng dự án Hầu hết các chương trình, dự án REDD+

Trang 20

trên thế giới vẫn đang trong giai đoạn xây dựng thể chế, các hành lang kỹ thuật

để chuẩn bị sẵn sàng thực thi

Kết quả đạt được rất khác nhau ở mỗi quốc gia mà các chương trình, dự

án REDD+ diễn ra cả về khối lượng và công việc và khối lượng giải ngân:

+ Ở mỗi quốc gia, các nguyên nhân gây mất rừng và suy thoái rừng đã được định rõ và từ đó xây dựng các hoạt động cần thiết nhằm hạn chế nguyên nhân này

+ Xây dựng khhung chính sách trong đó có kế hoạch hành động về thực thi REDD ở một số nước

+ Tạo nguồn tài chính cho công tác quản lý bảo vệ rừng

+ Quản lý đốt tài nguyên rừng mang lại sinh kế cho người làm nghề rừng góp phần hạn chế biến đổi khí hậu

*Tại Châu Âu [13]

Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển (UNCED) được tổ chức tại Rio de Janeiro vào năm 1992 cho biết rừng có vai trò quan trọng trong bối cảnh phát triển bền vững và bảo tồn môi trường Khái niệm về phát triển bền vững được công nhận như một nguyên tắc cơ bản của tất cả các thành viên quốc gia trong EU UNCED tuyên bố các vai trò quan trọng liên quan tới rừng:

“Nguyên tắc lâm nghiệp” vì sự liên kết, hợp nhất các vấn đề quản lý, bảo tồn và bền vững phát triển các loại rừng trên toàn cầu Chương 11 của hội nghị đưa ra các biện pháp chống phá rừng cấp độ toàn cầu

Hội nghị RiO còn cung cấp các cam kết thỏa thuận toàn cầu như: Công ước

Đa dạng sinh học (CBD), Công ước chống sa mạc hóa (CCD), Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) Sau năm 1992 Hội liên chính phủ về rừng (IPF) và diễn đàn liên chính phủ rừng (IFF) được phát triển hơn 270 đề xuất hành động đối với quản lý rừng bền vững Chức năng chính của quản lý rừng bền vững đó là:

+ Tạo điều kiện thực hiện thỏa thuận các chính sách liên quan đến rừng và thúc đẩy quản lý rừng, tăng cường hợp tác cũng như phát triển chính sách đối ngoại và phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến rừng

+ Thúc đẩy hợp tác quốc tế giám sát và đánh giá các báo cáo tiến độ về chức năng và mục tiêu của kế hoạch

Trang 21

Năm 2003, Ủy ban Châu Âu đã ra mắt và lập kế hoạch hành động ngăn chặn và chống thu hoạch gỗ trái phép và thương mại lâm sản liên quan

Hội nghị Bộ trưởng trong bảo vệ rừng ở Châu Âu (MCPFE) tạo thành mối liên kết lớn trong hợp tác giữa các nước Châu Âu góp phần bảo vệ và quản lý rừng bền vững

Từ năm 2000, mục tiêu chính của EU trong hợp tác phát triển là để giảm nghèo bằng cách phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên rừng tạo thành mục tiêu chính của quá trình này Điều này được phản ánh trong mục tiêu chiến lược của EU đó là thúc đẩy quản lý rừng bền vững và công bằng giảm nghèo EU đang tham gia hợp tác quốc tế về bảo vệ rừng đặc biệt là tránh tàn phá rừng ở những nơi có thể bị tác động lâu dài trên thế giới Theo kế hoạch hành động về thực thi pháp luật rừng, quản trị rừng và buôn bán nêu trên mà EU đang thực hiện các biện pháp tích cực để ngăn chặn và chống buôn bán bất hợp pháp khai thác gỗ

 Tại Việt Nam

Việt Nam tham gia chương trình QLRBV từ năm 1998 tới nay, được sự hưởng ứng của các cấp chính quyền, sự hang hái tự nguyện của các chủ rừng, các doanh nghiệp kinh doanh gỗ, tiến trình quản rừng bền vững đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt là tại các vùng khai thác gỗ, chế biến gỗ xuất khẩu Ngày nay, biến đổi khí hậu đang đe dọa sự tồn vong của loài người thì QLRBV

là biện pháp chủ động của con người để ngăn chặn giảm thiểu nguyên nhân thay đổi khí hậu;

Tháng 2/1998, Bộ NN&PTNT cùng 3 tổ chức quốc tế phát động phong trào QLRBV và chứng chỉ rừng rộng rãi trong cả nước, thông qua Hội thảo quốc gia ngày 10/12/1998 tại thành phố Hồ Chí Minh Tổ công tác quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT Từ năm 2011, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kx thuật Việt Nam (nay là Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng)

Trang 22

Các hoạt động chủ yếu của NWG:

- Dựa trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần thứ 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang dự hội thảo góp ý

- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dần cư sống trong rừng và gần rừng

- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và các cán bộ lâm nghiệp;

- Đánh giá chất lượng quản lý rừng;

- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện;

1.1.3 Một số văn bản luật trong quy hoạch lâm nghiệp

Luật đất đai

Luật đất đại đầu tiên ở Việt Nam được quốc hội khoa IX thông qua ngày 14/7/1993 có hiệu lực ngày 15/10/1993 Đây là pháp luật quan trọng thể hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đất đai, cụ thể hóa điều 17,18 Hiến pháp năm 1992 nước CHXHCNVN thể chế hóa đường lối cơ bản của Đảng Việc quy định chế độ sử dụng các loại đất là một trong những phần quan trọng của Luật đất đai năm 1993, qua đó thể hiện được chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước

Luật đất đai được điều chỉnh bổ sung nhiều lần (1998,2001, 2003, 2013) nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Để hoàn thiện đáp ứng với thực tiễn sản xuất và sử dụng đất và cũng như đáp ứng với xu hướng phát triển hiện nay và tương lai của nền kinh tế và đảm bảo môi trường môi sinh, Luật đất đai 2013 vừa mới được Quốc hội thông qua tiếp tục khẳng định “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thóng nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ người sử dụng đất thuộc lãnh thổ nước Việt Nam

Để quản lý sử dụng đất hiệu quả đặc biệt đối với các loại đất nông lâm nghiệp, Điều 1 nêu rõ các căn cứ để giao đất cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất gồm: kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự

án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất Luật đất

Trang 23

đai năm 2013 chỉ rõ các nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải tuân thủ:

1 Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội, quốc phòng, an ninh

2 Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã

3 Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả

4 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu

5 Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh

6 Dân chủ và công khai

7 Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường

8 Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt

Luật bảo vệ và phát triển rừng

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành năm 1991 Luật này được sửa đổi vào khoa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004 Luật có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 4 năm 2005 và thay thế cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 Luật này quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dnjg rừng, quy định quyền và nghĩa vũ của chủ rừng với quy định 5 nguyên tắc chung nhất,

cụ thể được thể hiện tại điều 9 của văn bản luật

Về quyền nhà nước trong bảo vệ và phát triển rừng quy định nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng, những căn cứ và nội dung trách nhiệm lập quy hoạch được quy định tại điều 13 đến điều 21

Giao đất giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, luật quy định về nguyên tắc và căn cứ thẩm quyền giao rừng cho thuê

Trang 24

rừng thu hồi rừng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng Quy định cụ thể về giao rừng, cho thuê rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất cho các đối tượng quy định từ điều 22 đến 28

Về giá rừng, được quy định khá chi tiết việc xác định và hình thành giá rừng từ điều 33 đến điều 35

Chi tiết các quy định nguyên tắc phát triển các loại rừng sản xuất, rừng đặc dụng, rừng phòng được quy định từ điều 45 đến điều 58

Luật Lâm nghiệp [7]

Luật Lâm nghiệp số 16/2017 được ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2017

và có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2019, thay thế cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

a) Phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia, chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học;

b) Bảo đảm quản lý rừng bền vững; khai thác, sử dụng rừng gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và giá trị văn hóa, lịch sử; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao sinh kế của người dân;

c) Rừng tự nhiên phải được đưa vào quy hoạch rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất;

d) Bảo đảm sự tham gia của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; bảo đảm công khai, minh bạch và bình đẳng giới;

đ) Nội dung về lâm nghiệp trong quy hoạch tỉnh phải phù hợp với nội dung quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia

2 Việc lập quy hoạch lâm nghiệp phải tuân thủ căn cứ của pháp luật về quy hoạch và các căn cứ sau đây:

a) Quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia;

b) Nội dung về lâm nghiệp trong quy hoạch tỉnh phải căn cứ vào quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia;

Trang 25

c) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn lực của cả nước hoặc địa phương

Điều 11 Thời kỳ và nội dung quy hoạch lâm nghiệp

- Về thời kỳ quy hoạch lâm nghiệp luật lâm nghiệp quy định tại điều 11 như sau:

1 Thời kỳ quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia là 10 năm; tầm nhìn từ 30 năm đến 50 năm

2 Nội dung quy hoạch lâm nghiệp phải phù hợp với quy định của pháp luật về quy hoạch và bao gồm các nội dung sau đây:

a) Thu thập, phân tích, đánh giá các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội, thực trạng tài nguyên rừng; chủ trương, định hướng phát triển, quy hoạch

có liên quan; đánh giá nguồn lực phát triển và các vấn đề cần giải quyết;

b) Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch lâm nghiệp kỳ trước về quản

lý, bảo vệ và phát triển rừng; chế biến và thương mại lâm sản; đầu tư, khoa học

và công nghệ, lao động;

c) Dự báo về nhu cầu và thị trường lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, tác động của biến đổi khí hậu, tiến bộ khoa học - kỹ thuật, tiến bộ công nghệ áp dụng trong lâm nghiệp;

d) Nghiên cứu bối cảnh, các mối liên kết ngành; xác định yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với ngành;

đ) Xác định quan điểm, mục tiêu phát triển lâm nghiệp;

e) Định hướng phát triển bền vững rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất;

g) Định hướng phát triển kết cấu hạ tầng lâm nghiệp;

h) Định hướng phát triển thị trường, vùng nguyên liệu, chế biến lâm sản; i) Giải pháp, nguồn lực tổ chức thực hiện quy hoạch

Luật quy hoạch [6]

Luật quy hoạch số 21/2017 được ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2017 và

có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2019 Trong luật quy hoạch đưa ra nội dung quy hoạch ngành quốc gia trong đó có quy hoạch sử dụng tài nguyên quốc gia cho quy hoạch lâm nghiệp như sau:

Trang 26

a) Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, điều tra, khảo sát, thăm dò hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên;

b) Đánh giá tác động của việc khai thác, sử dụng tài nguyên;

c) Phân tích, đánh giá chủ trương, định hướng phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường quốc gia và các quy hoạch có liên quan;

d) Dự báo tiến bộ khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội tác động tới việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên trong thời kỳ quy hoạch;

đ) Quan điểm, mục tiêu khai thác, sử dụng tài nguyên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;

e) Xác định khu vực cấm, khu vực hạn chế, khu vực khuyến khích khai thác, sử dụng tài nguyên;

g) Định hướng bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu;

h) Giải pháp, nguồn lực thực hiện quy hoạch

1.2 Tổng quan về quy hoạch môi trường

1.2.1 Khái niệm quy hoạch môi trường

Thuật ngữ Quy hoạch môi trường ra đời những năm 70 và phổ biến rộng rãi vào những năm 90 của thế kỷ trước

Theo Susan Buckingham - Hatfield & Bob Evans (1962) thuật ngữ QHMT có thể hiểu rất rộng là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện các chính sách môi trường [18]

Trong từ điển về môi trường và phát triển bền vững (Dictionary of Environment and Sustainable Development) Alan Gilpin (1996) QHMT được định nghĩa là "sự xác định các mục tiêu mong muốn về KTXH đối với môi trường tự nhiên và tạo ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó" [23]

Theo ADB (Asian Development Bank) trong quy hoạch nhằm phát triển vùng, các thông số môi trường cần được đa vào quy hoạch ngay từ đầu và sản phẩm cuối cùng là phát triển bền vững kinh tế xã hội vùng, với những cân nhắc cần thiết tới nhu cầu PTBV bằng cách nhất thể hóa với quản lý tài nguyên môi trường [10]

Trang 27

Tại Việt Nam, Theo Đặng Trung Thuận (2002), Quy hoạch môi trường là sắp xếp, tổ chức không gian và sử dụng các thành phần môi trường cũng như các yếu tố tài nguyên phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện tự nhiên & KTXH của vùng lãnh thổ theo định hướng PTBV [3]

Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về Quy hoạch môi trường, nhưng trong những nghiên cứu ứng dụng của nhiều quốc gia trên thế giới vẫn có nhiều điểm chung là trong Quy hoạch môi trường phải xem xét các yếu tố tài nguyên và môi trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu BVMT

Do vậy, Quy hoạch môi trường được hiểu như sau: "Quy hoạch môi

trường là việc xác lập mục tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án , giải pháp để bảo vệ môi trường, cải thiện hoặc phát triển một/các môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra."

1.2.2 Mục tiêu quy hoạch môi trường

Quy hoạch môi trường không phải dạng quy hoạch độc lập với quy hoạch phát triển bởi vì quy hoạch môi trường có liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau như tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính sách, thể chế,… và trong quá trình quy hoạch đòi hỏi trước hết phải tóm lược các vấn đề mấu chốt về môi trường, tài nguyên và sức khỏe cộng đồng trong vùng, tỉnh, thành quy hoạch

Quy hoạch môi trường phải đảm bảo đáp ứng sự phát triển, không mâu thuẫn với các dự kiến phát triển ở tầm vĩ mô và hoạt động bảo vệ môi trường hiện tại (nếu có), đồng thời đảm bảo các hoạt động phát triển không cẩn trở lẫn nhau, các tác động tới hệ sinh thái, môi trường

Quy hoạch môi trường phải được xác định ranh giới không gian Quy mô không gian thường bao phủ một vùng rộng lớn với địa hình, khí hậu, điều kiện kinh tế xã hội có sự phân dị lớn trong vùng

Mục tiêu chung:

Xây dựng hệ thống các chính sách, giải pháp, biện pháp về môi trường nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, định hướng, phối hợp điều chỉnh các hoạt động phát triển đảm bảo phát triển bền vững

Mục tiêu cụ thể:

Trang 28

- Nâng cao vai trò quản lý nhà nước, nâng cao ý thức, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường

- Điều phối quan hệ giữa các cơ quan phát triển kinh tế với cơ quan quản lý môi trường

- Tổ chức quản lý môi trường theo khu vực quy hoạch, tạo cơ sở cho việc lựa chọn địa điểm phù hợp nhất về môi trường cho các dự án Đảm bảo chất lượng môi trường phù hợp với từng đơn vị không gian chức năng môi trường

- Điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế xã hội và quản lý chất thải, đảm bảo cho các hoạt động này không vượt quá khả năng chịu tải của hệ sinh thái, đảm bảo sự phát triển phù hợp hài hòa của 3 hệ thống: Kinh tế, xã hội-nhân văn và sinh thái – tự nhiên

- Đảm bảo sự khai thác, sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên, nâng cao hiệu quả sử dụng các dạng tài nguyên, bảo vệ và thúc đẩy sự tái tạo của tài nguyên tái tạo

- Đảm bảo các điều kiện thực hiện quy hoạch môi trường Trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ môi trường, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đầu tư

- Tăng cường khả năng phối hợp ứng với các số liệu, thông tin cơ sở của huyện và tạo nên mạng lưới quan trắc trên địa bàn huyện có hiệu quả, tính tổng hợp

1.2.3 Nội dung chính quy hoạch môi trường

a) Đánh giá điều kiện và tác động môi trường

- Đánh giá các điều kiện môi trường: tương tự như việc đánh giá “hiện trạng môi trường” Hiện trạng môi trường ở thời điểm hiện tại cần được làm rõ nét thông qua việc thu thập các thông tin cần thiết (về điều kiện tự nhiên; đặc điểm kinh tế xã hội; bối cảnh phát triển khu vực; cơ quan điều hành hoạt động phát triển và các nhóm chia sẻ quyền lợi), điều tra môi trường, khảo sát thực địa

- Đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển và dự báo các biến đổi môi trường

Trong khuôn khổ QHMT, các tác động môi trường lớn và xu hướng biến đổi điều kiện môi trường cần được xem xét, dự báo và đánh giá Tương tự như đánh giá “các tác động” trong ĐTM: ĐTM được hiểu là việc xác định, dự báo, phân tích và đánh giá các tác động có thể xảy ra do các dự án, các quy hoạch phát

Trang 29

triển hoặc các chương trình chính sách đối với môi trường và đề xuất các biện pháp giảm thiểu

Mục đích ĐTM trước hết là khuyến khích việc xem xét các khía cạnh môi trường trong việc lập quy hoạch hoặc ra quyết định đối với các dự án, chương trình hay chính sách; các hoạt động phát triển để có thể lựa chọn, thực thi các chính sách, các dự án và hoạt động có lợi cho môi trường hơn

Trong khu vực nghiên cứu có thể có nhiều quy hoạch, chương trình hay dự án đã được thông qua, dự kiến thực hiện Việc xem xét đồng thời các ảnh hưởng môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ và phúc lợi của con người, diễn biến môi trường khu vực (ĐTM tích hợp) là một trong các nội dung quan trọng của nghiên cứu QHMT

ĐTM được xem là kỹ thuật quy hoạch môi trường cơ bản khi tiến hành quy hoạch dự án Các kết luận của nó được nghiên cứu bổ xung trực tiếp vào các quá trình nghiên cứu dự án từ việc hình thành, lựa chọn địa điểm, đến nghiên cứu khả thi, thiết kế cũng như thi công và giám sát dự án Ngoài ra ĐTM là công cụ

kỹ thuật không thể thiếu được trong quá trình nghiên cứu, đánh giá các dự kiến phát triển trong vùng quy hoạch nhằm mục đích đưa ra các nhận định về xu hưóng biến đổi điều kiện môi trường, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp thực tế trong xây dựng QHMT cho một vùng nào đó

- Trong phân tích, đánh giá cần tập trung vào:

+ Các tác động, ảnh hưởng lớn, lâu dài; Các tác động tổng hợp & tích lũy

do nhiều hoạt động trên khu vực, đặc biệt đối với những khu vực vốn đã bị tác động mạnh cần được hết sức chú ý

+ ĐTM đối với các dự án quy hoạch xây dựng, các quy hoạch sử dụng đất, các chương trình giao thông có ý nghĩa quan trọng hàng đầu bởi vì các hoạt động này thường gây ra các biến đổi sâu sắc, khó đảo ngược Kết quả dự báo cho thấy mức độ bị tác động theo không gian của những yếu tố tài nguyên, chất lượng môi trường và những hoạt động gây tác động chính

+ Đối với các đề án phát triển KTXH đã lên kế hoạch, ĐTM cần được thực hiện một cách đầy đủ đối chiếu với các tiêu chuẩn môi trường thích hợp của nhà nước Cần chỉ ra những khu vực có nguy cơ suy thoái môi trường và tài nguyên qúy giá vượt qua các tiêu chuẩn cho phép và các giải pháp khắc phục

Trang 30

+ Các tác động xã hội cũng cần được xem xét một cách độc lập hoặc kết hợp trong các nghiên cứu về ĐTM Các nhân tố chính cần xem xét trong các tác động xã hội là xu thế biến đổi về dân số và sự phân phối thu nhập; chương trình nhà ở cho người nghèo, thất nghiệp, văn hoá xã hội, sức khoẻ,an ninh Phỏng đoán về dân số cần nhất quán với sự phát triển KT đã quy hoạch Cần chú ý đồng thời đến các nhân tố sinh, tử, cấu trúc tuổi và cả việc di cư (đến và đi) do chiến lược phát triển kinh tế

b) Xác định mục tiêu môi trường

Khi xác định mục tiêu môi trường cần lưu ý:

- Trước hết cần tuân thủ theo pháp lý: cần lựa chọn những cơ sở pháp lý quan trọng nhất, gắn với ưu tiên của quy hoạch;

- Cần cân đối với quy hoạch phát triển

- Phải tính đến hiệu quả kinh tế

- Phân biệt tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn trong quy hoạch

Mỗi loại quy hoạch có những vấn đề cần quan tâm khác nhau Ta có thể xây dựng một danh mục các vấn đề môi trường cần quan tâm khi chú ý tới các mối đe dọa có thể có đối với sức khỏe dân cư (ví dụ nguồn nước sinh hoạt mất vệ sinh), các chất gây ô nhiễm hay các nguồn gây ô nhiễm (ví dụ thuốc trừ sâu sử dụng gần các giếng nước sinh hoạt, hay rò rỉ dầu từ các bể chứa) hay các tài nguyên thiên nhiên bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm

c) Thiết kế quy hoạch

Thiết kế quy hoạch là việc thể hiện các ý tưởng quy hoạch một cách cụ thể bằng các giải pháp hợp lý, khoa học nhằm đạt tới mục tiêu môi trường Có nhiều phương án để đạt được cùng một mục tiêu; Có nhiều mục tiêu khác nhau trong một quy hoạch cần thỏa mãn; và một phương án thiết kế rất khó thỏa mãn đúng tất cả các mục tiêu Dựa trên các bước nghiên cứu trên, một bản phác thảo quy hoạch môi trường sẽ được đề xuất Các nội dung hay thành phần trên được thực hiện thông qua các giải pháp kỹ thuật khác nhau: giải pháp không gian (Phân vùng quản lý chất lượng môi trường, phân chia, tổ chức quy hoạch sử dụng lãnh thổ theo mục tiêu phát triển bền vững; các giải pháp quản lý và có thể cả những giải pháp mang tính kỹ thuật)

d) Quản lý quy hoạch

Trang 31

Thực tế cho thấy, xây dựng QHMT chỉ là một phần trong toàn bộ quy trình Công tác quản lý quy hoạch là một phần không thể thiếu được Mục đích của hoạt động này là nhằm tạo ra một khung pháp lý và tổ chức cần thiết, tăng cường năng lực quản lý nhà nước, năng lực của các cơ quan, tổ chức xã hội, các điều kiện tài chính trong việc thực hiện các nội dung mà quy hoạch đã định hướng, bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch đã đưa ra Trong quá trình quản lý quy hoạch có thể hiệu chỉnh quy hoạch nhưng với điều kiện phải tốt hơn, hợp lý hơn và đạt được tới mục tiêu Thực hiện quá trình lặp để đạt được mục tiêu

Các công cụ sử dụng trong quá trình quản lý quy hoạch là: công cụ đánh giá (đánh giá các phương án để đạt được phương án tốt nhất), công cụ pháp lý (hoàn thiện các cơ sở pháp lý như việc sửa đổi, ban hanh các quy chế, tiêu chuẩn quy định, phù hợp với địa phương trong khuôn khổ pháp luật hiện hành…), công

cụ kỹ thuật (ĐTM)

1.3 Mối quan hệ giữa quy hoạch lâm nghiệp và quy hoạch môi trường

Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như: Cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hóa khí hậu, tạo

ra oxy điều hòa nước, nơi cư trú động thực vật và tang trữ các nguồn gen quý hiếm Một hecta rừng hàng năm có thể tạo nên sinh khối khoảng 300-500 kg, 16 tấn oxy (rừng thông 30 tấn, rừng trồng khác 3-10 tấn Mỗi người một năm cần

4000 kg O2 tương ứng với lượng oxy do 1000-3000 m2

cây xanh tạo ra trong một năm Nhiệt độ không khí rừng thường thấp hơn nhiệt độ đất trống khoảng 3-50C Rừng bảo vệ và ngăn chặn gió bão Lượng đất xói mòn của vùng đất có rừng chỉ bằng 10% lượng đất xói mòn của vùng đất không có rừng Rừng là nguồn gen vô tận của con người, là nơi cư trú của các loài động vật thực vật quý hiếm Rừng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự sống trên trái đất

Rừng tự nhiên có vai trò vô cùng to lớn đã che phủ phần lớn diện tích mặt đất nhưng do tác động của con người như khai thác lâm sản, khai phá lấy đất làm nông nghiệp, xây dựng, đô thị hóa, … nên rừng tự nhiên bị mất đi đáng kể Chỉ tính riêng trong giai đoạn năm 1990-1995 ở các nước đang phát triển, đã có hơn

65 triệu ha rừng bị mất Hiện nay, mỗi tuần trên thế giới có khoảng 500.000 ha rừng tự nhiên bị mất hoặc bị thoái hóa Một trong những nguyên nhân mất rừng

và suy thoái rừng trong những năm qua là do năng lực quản lý và bảo vệ rừng

Trang 32

của nhiều chủ rừng còn hạn chế, công tác quy hoạch đất lâm nghiệp chưa ổn định, ranh giới ba loại rừng chưa được xác định và cắm mốc ở thực địa Bên cạnh

đó, nhu cầu thị yếu sử dụng gỗ và lâm sản ngày càng có xu hướng tăng lên, đời sống của nhân dân ở vùng có rừng còn gặp nhiều khó khắn dẫn đến tình trạng phá rừng để mưu sinh

Do vậy việc quy hoạch lâm nghiệp cần được xem xét một cách tổng thể vấn đề môi trường trong phạm vi lưu vực bao gồm cả các hoạt động kinh tế xã hội Công tác quy hoạch lâm nghiệp hiện nay ngoài việc kinh doanh lợi dụng nhất thiết phải quan tâm tới các khía cạnh khác gồm: Bảo vệ lưu vực, chống xói mòn, rửa trôi đất; Bảo tồn đa dạng sinh học và Tác động khí hậu Tỉ lệ che phủ rừng là yếu tố quan trọng để đánh giá chỉ tiêu an ninh môi trường của một quốc gia, chỉ số tối ưu đạt >45% tổng diện tích Ngày nay, nhiều nước tiên tiến trên thế giới đang quan tâm lồng ghép vấn đề quy hoạch môi trường trong công tác quy hoạch nông lâm nghiệp

Lâm nghiệp môi trường tại Việt Nam [4]

Ngày 11/6/1994, hai năm sau hội nghị RIO, Việt Nam đã kí công ước khung biến đổi khí hậu (UNFCCC) và ký nghị định thư Kyoto năm 1998 và được phê chuẩn năm 2002 Các hoạt động sau đó có vốn tài trợ từ mọi quốc tế và huy động sức dân như chương trình “phủ xanh đồi trọc”, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2006-2020 và kế hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 Tao được vốn rừng góp phần vào đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nước và chống sa mạc hóa, giảm phát thải khí nhà kính biến đổi khí hậu

Ngày nay việc giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng được đưa ra ở các nước đang phát triển và vai trò của bảo tồn, quản lý rừng bền vững, tăng cường trữ lượng cacbon rừng (REDD+) Kết quả thực hiện chương trình REDD+: 19 tỉnh đã phê duyệt kế hoạch hành động REDD+ (PRAP) đến năm

2020, còn lại 11 tỉnh cập nhật PRAP cho phù hợp với chương trình quốc gia về REDD+ đến năm 2030 12 tỉnh đã có ban chỉ đạo REDD+ cấp tỉnh và ban hành thí điểm chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ UN-REDD+ giai đoạn 2016-2018 Các hoạt động chia sẻ lợi ích trong khuôn khổ bao gồm: Quản lý, bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh các hoạt động trồng rừng phòng hộ

Trang 33

Cơ chế phát triển sạch CDM là một trong 3 cơ chế linh hoạt của nghị định thư Kyoto, trong đó cho phép các nước phát triển đạt được chỉ tiêu về giảm phát thải khí nhà kính Là một trong những nước tham gia công ước khung, Việt Nam nhanh chóng chứng tỏ cam kết quốc tế CDM là cơ hội để những người làm nghề rừng có thể bán được cacbon Từ quang hợp ánh sáng mặt trời, cây xanh đã hấp thu một lượng lớn khí CO2 và người ta tính toán rằng, nếu tăng trưởng của rừng đạt được 15 m3/ha/tấn, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm, tương đương với 17,23 tấn CO2/ha/năm

Quy hoạch môi trường rừng

Rừng và môi trường rừng có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau Sự tồn tại của rừng chịu sự ràng buộc của môi trường đồng thời rừng cũng không ngững ảnh hưởng tới môi trường, khiến cho môi trường phát sinh và biến đổi

Sau “Hội nghị môi trường Liên hợp quốc” họp tại Stockholm năm 1972 đến nay, môi trường rừng đã trở thành chủ đề hấp dẫn được quan tâm nhiều bởi cộng đồng quốc tế Tuy nhiên tình trạng suy thoái môi trường toàn cầu vẫn không giảm Vấn đề môi trường rừng là do hoạt động của con người dẫn tới rừng

bị suy thoái, chất lượng rừng giảm sút khiến cho chức năng và tác dụng của rừng đối với môi trường sinh thái bị hủy hoại từ đó gây ra nhiều vấn đề môi trường có ảnh hưởng xấu tới cuộc sống, sản xuất và sức khỏe con người Chúng ta coi những vấn đề môi trường này là vấn đề môi trường rừng và quy hoạch môi trường rừng là một nhiệm vụ cấp bách mở ra hướng đi mới trong quản lý rừng bền vững

Quy hoạch môi trường rừng là sự sắp xếp hợp lý các tác động sử dụng

rừng và quản lý ảnh hưởng của những tác động này tới môi trường, bảo vệ và phát triển môi trường nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng đi đôi với phát triển hài hòa kinh tế ở những địa điểm cho trước, Quy hoạch môi trường rừng là một bộ phận cấu thành của quản lý bền vững cũng như của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội

Quy hoạch môi trường rừng có vai trò chỉ đạo việc thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường có thể chỉ dẫn thực hiện đầu tư ít nhất trong khi vẫn đạt được hiệu quả môi trường tốt nhất Do quy hoạch môi trường rừng và quy hoạch sinh thái của một khu vực hợp thành một thể thống nhất nên quy hoạch môi trường

Trang 34

rừng là chủ thế của quy hoạch sinh thái Vì vậy quy hoạch môi trường rừng có ý nghĩa kinh tế và sinh thái quan trọng, nó lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trường với kế hoạch phát triển rừng và kinh tế xã hội có vai trò quan trọng cho việc bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển kinh tế xã hội

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Thực hiện đề xuất lồng nghép nội dung quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp, luận văn đã sử dụng hai cơ sở sau:

- Căn cứ vào nội dung của luật quy hoạch đối với đối tượng quy hoạch lâm nghiệp

- Căn cứ vào những nội dung chính của quy hoạch môi trường và lồng ghép nội dung quy hoạch lâm nghiệp Cụ thể được thể hiện trong sơ đồ 2.1 dưới đây

Hình 2.1 Thực hiện quy hoạch môi trường lồng ghép

với quy hoạch lâm nghiệp 2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để lồng ghép đề xuất những nội dung chính của quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp đề tài thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

- Đánh giá tác động của hoạt động phát triển rừng

và quy hoạch lâm nghiệp

- Đánh giá, phân tích rủi ro môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp

- Dự báo phát triển lâm nghiệp

- Đề xuất định hướng phát triển lâm nghiệp và lồng ghép mục tiêu môi trường

Trang 36

2.2.1 Phương pháp chỉ số môi trường

Chỉ số môi trường là một giá trị số giúp đưa ra một cái nhìn rõ ràng về trạng thái môi trường hoặc sức khỏe con người Giá trị đó được biến đổi từ các thông số mô tả trạng thái của môi trường và các tác động của nó đến sự tồn tại của con người: hệ sinh thái và vật liệu, các áp lực môi trường, các lực hướng dẫn

và các đáp ứng điều khiển hệ thống đó

Vai trò của chỉ số môi trường: (1) phản ánh hiện trạng và xu hướng biến đổi của môi trường, bảo đảm tính phòng ngừa của công tác quản lý môi trường; (2) cung cấp thông tin cho người ra quyết định hay các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược cân nhắc các vấn đề môi trường và KT-XH bảo đảm nhu cầu phát triển bền vững; (3) thu gọn kích thước, đơn giản hóa thông tin để dễ quản lý, sử dụng và lưu trữ, tạo ra tính hiệu quả của thông tin; (4) thông tin cho cộng đồng về chất lượng môi trường, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng

Theo EEA có 4 loại chỉ số môi trường sau đây phân theo mức độ nghiên cứu tăng dần:

+ Loại A – Chỉ số mô tả: Điều gì đang xảy ra với môi trường và con người? + Loại B – Chỉ số hiệu suất: Vấn đề là gì?

+ Loại C – Chỉ số hiệu quả: Chúng ta đang cải thiện cái gì?

+ Loại D – Chỉ số phúc lợi: Chúng ta có tốt không?

Đề tài đã sử dụng nhóm chỉ số loại A để mô tả diễn biễn tài nguyên rừng, vấn đề sử dụng đất theo các giai đoạn từ năm 2008-2018 thông qua chỉ số tỉ lệ che phủ rừng, tỉ lệ thay đổi diện tích tài nguyên rừng và diện tích đất lâm nghiệp qua các năm

Nhóm chỉ số loại B đề tài sử dụng để phân tích rủi ro môi trường xảy ra trong quá trình quy hoạch lâm nghiệp thông qua các chỉ số như chỉ số cháy rừng, chỉ số chặt phá rừng

2.2.2 Phương pháp thu thập, kế thừa tài liệu

Phương pháp thu thập, kế thừa số liệu được sử dụng nhằm giảm bớt thời gian và công việc ngoài thực địa, trong phòng thí nghiệm và nghiên cứu tài liệu Phương pháp kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu và các đề tài

Trang 37

đã được thực hiện tại khu vực nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng để thu thập các tài liệu

- Tài liệu chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020

- Tài liệu liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu trên sách báo, tạp chí,

- Các nghiên cứu khoa học về quy hoạch môi trường và quy hoạch lâm nghiệp trong nước và ngoài nước

- Báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của quốc gia qua các năm

- Báo cáo về phát triển lâm nghiệp

- Bản đồ hiện trạng rừng Việt Nam qua các giai đoạn

- Niên giám thống kê qua các năm

- Văn bản luật và chính sách về lâm nghiệp

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Từ các tài liệu thu thập được đề tài sử dụng phương pháp phân tích số liệu

để phân tích và đánh giá số liệu qua các giai đoạn khác nhau:

- Phân tích hiện trạng phát triển lâm nghiệp

+ Đề tài tiến hành thu thập các số liệu liên quan đến hiện trạng thay đổi tài nguyên rừng: rừng tự nhiên và rừng trồng từ năm 2008 đến nay của Tổng cục thống kê Từ đó phân tích sự thay đổi của tài nguyên rừng, phân tích nguyên nhân thay đổi suy giảm và tăng lên của tài nguyên rừng qua các năm và so sánh đánh giá với định hướng phát triển chung về kinh tế xã hội của quốc gia Bên cạnh đó đề tài thu thập thêm các số liệu và phân tích chi tiết sư thay đổi về vấn đề khai thác lâm sản ngoài gỗ: Sản lượng, giống loài,…

+ Chính sách trong phát triển lâm nghiệp cũng rất quan trọng trong việc định hướng và phát triển lâm nghiệp nên đề tài tiến hành phân tích các chính sách lâm nghiệp qua các thời kỳ để đánh giá sự khác biệt và các điểm mới của chính sách

+ Phân tích rủi ro môi trường xảy ra trong quá trình quy hoạch phát triển lâm nghiệp Thu thập các số liệu liên quan tới các rủi ro môi trường như cháy rừng, xói mòn, trượt lở, lũ lụt,….hàng năm để đánh giá và dự báo rủi ro môi trường

Trang 38

- Phân tích định hướng phát triển lâm nghiệp: Từ kết quả về hiện trạng phát triển lâm nghiệp đề tài phân tích đánh giá và đưa ra định hướng phát triển lâm nghiệp để phù hợp với luật quy hoạch và luật lâm nghiệp

Để xử lý số liệu về hiện trạng rừng, tỉ lệ che phủ rừng, tỉ lệ đói nghèo, mật độ dân số, diện tích khu vực cháy và diện tích rừng bị chặt phá Tác giả đã sử dụng phần mềm excel để thiết lập các đồ thị về phương trình tương quan và các biểu đồ biểu diễn giá trị thay đổi qua các giai đoạn

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Luận văn sử dụng việc xử lý số liệu trên excel để xây dựng các phương trình tương quan đơn giản giữa các yếu tố được lựa chọn Lựa chọn phương trình tương quan bậc 1 hoặc bậc 2 khi đường tương quan phù hợp nhất với các điểm trên đồ thị

 Xây dựng phương trình tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và tỉ lệ che phủ rừng:

Từ cơ sở nghiên cứu đã nghiên cứu về mối tương quan giữa tỉ lệ nghèo đói và che phủ rừng khi tỉ lệ che phủ rừng cao thì nghèo đói cao tập trung ở một

số khu vực miền núi phía Bắc [25,26] Luận văn thực hiện lấy số liệu về tỉ lệ nghèo đói và tỉ lệ che phủ rừng của cả nước từ năm 2008 -2016 để xây dựng phương trình tương quan bậc 1 với đường tương quan tuyến tính đơn giản

Khi sự tương quan âm thể hiện tỉ lệ nghèo đói tăng mà tỉ lệ che phủ rừng giảm thì không đúng với tình trạng đói nghèo ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở các khu vực dân tộc thiểu số mà những nơi này là diện tích rừng chiếm đa số Do vậy, tác giả tiếp tục xây dựng phương trình tương quan giữa hai yếu tố này với quy mô cấp tỉnh bằng việc thu thập số liệu của các tỉnh trong nước trong năm

2016 (phụ lục 1) Từ đó đánh giá và so sánh giữa hai mô hình cấp quốc gia và cấp tỉnh về mức độ chính xác so với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam

 Xây dựng phương trình tương quan giữa tổng hộ nghèo và diện tích rừng bị cháy

Với hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam chủ yếu phân bố ở các khu vực dân tộc thiểu số nơi có tỉ lệ nghèo đói cao thì khả năng xảy ra rủi ro tương đối cao Đề tài thu thập số liệu về số lượng hộ nghèo và diện tích cháy rừng từ năm 2008 – 2018 để tìm kiếm mô hình tương quan Nếu sự tương quan âm thì

Trang 39

khả năng tương quan của hai yếu tố này không chính xác Do số lượng người nghèo tại các vùng địa phương khác nhau và tỉ lệ che phủ rừng tại các vùng địa phương khác nhau nên đề tài tiếp tục khảo sát số liệu của hai yếu tố này với đơn

vị cấp tỉnh

Diện tích cháy rừng vào năm 2016 tương đối lớn nên tác giả sử dụng số liệu cháy rừng và hộ nghèo tại các tỉnh trong năm 2016 và thiết lập mô hình tương quan Tác giả lựa chọn xây dựng phương trình tương quan cụ thể cho 6 vùng trong toàn quốc để thấy rõ hơn sự tương quan của hai yếu tố này

 Xây dựng tương quan giữa mật độ dân số và diện tích cháy rừng

Đề tài tiếp tục khảo sát về yếu tố mật độ dân số so với diện tích khu vực cháy bằng cách sử dụng số liệu về mật độ dân số và diện tích cháy rừng từ năm 2008-2018 của cả nước Xảy ra hai trường hợp:

- Trường hợp 1: Tương quan âm thì khả năng tương quan của hai yếu tố này là không đơn điệu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác

- Trường hợp 2: Tương quan dương và tùy thuộc vào hệ số tương quan cho biết được mức độ tương quan của hai yếu tố này cao hay không cao

Từ quá trình khảo sát yếu tố mật độ dân số và tỉ lệ hộ nghèo có thể nhận xét

và đánh giá được sự phụ thuộc và liên quan tới cháy rừng

 Phương trình tương quan giữa diện tích rừng bị chặt phá và tỉ lệ nghèo đói

Chặt phá rừng là nguyên nhân lớn ảnh hưởng tới suy giảm diện tích rừng,

do vậy đề tài nghiên cứu thêm về mối tương quan giữa yếu tố diện tích rừng bị chặt phá và tỉ lệ nghèo đói tại quốc gia từ năm 2008-2018

+ Nếu sự tương quan dương cho thấy được hai yếu tố này có liên quan tới nhau khi tỉ lệ nghèo đói tăng thì khả năng xảy ra chặt phá rừng càng lớn Tùy thuộc vào hệ số tương quan để đánh giá được mức độ tương quan

+ Nếu sự tương quan âm cho thấy được tỉ lệ nghèo đói với diện tích chặt phá rừng không tương quan với nhau

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Để đề xuất được giải pháp quy hoạch môi trường trong quy hoạch lâm nghiệp, đề tài đã dựa vào các nội dung chính trong quy hoạch môi trường và sử dụng các phương pháp đánh giá trong quy hoạch môi trường Do vậy, cần phải tiến hành đánh giá được hiện trạng của phát triển lâm nghiệp như cơ cấu sử dụng đất, hiện trạng tài nguyên rừng và các chính sách trong phát triển lâm nghiệp thông qua các số liệu hiện trạng hàng năm Sau đó đề tài tiến hành đánh giá tác động môi trường của các hoạt động phát triển trong lâm nghiệp (đề tài tập trung vào phân tích rủi ro môi trường) Từ đó làm cơ sở đề tài đề xuất mục tiêu quy hoạch bảo vệ môi trường và định hướng thiết kế quy hoạch bảo vệ môi trường

phù hợp với định hướng phát triển lâm nghiệp và luật quy hoạch

3.1 Đánh giá hiện trạng phát triển lâm nghiệp

3.1.1 Hiện trạng đất lâm nghiệp

Theo Quyết định số 3873/QĐ-BTNMT ngày 25 tháng 12 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố hiện trạng diện tích đất lâm nghiệp theo đối tượng sử dụng được thống kê trong bảng 3.1 Tỉ lệ diện tích đất lâm nghiệp giao cho các đối tượng sử dụng có thể thấy đối tượng sử dụng đất lâm nghiệp nhiều nhất là các tổ chức sự nghiệp công lập và các hộ gia đình chiếm 33% tổng diện tích đất sử dụng Các tổ chức khác như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cộng đồng dân

cư tôn giáo hầu như không có sử dụng đất lâm nghiệp Các tổ chức kinh tế chiếm 16% diện tích đất sử dụng lâm nghiệp, cơ quan đơn vị nhà nước chiếm 13% sử dụng đất lâm nghiệp Như vậy có thể thấy cơ chế giao đất giao rừng ở nước ta đang tập trung vào hình thức quản lý của nhà nước và hộ gia đình

Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 45% tổng diện tích đất cả nước trong đó đất rừng sản xuất chiếm 50,2%, Diện tích đất rừng phòng hộ chiếm 35,1% và diện tích đất rừng đặc dụng chiếm 14,7% Có thể thấy việc phân bổ diện tích đất trong lâm nghiệp chủ yếu dành cho rừng sản xuất

Ngày đăng: 26/04/2021, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bế Minh Châu (2012). Giáo trình quản lý lửa rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý lửa rừng
Tác giả: Bế Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2012
[3] Đặng Trung Thuận và cộng tác viên (2003), Nghiên cứu xây dựng Dự thảo hướng dẫn Quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp độ vùng và địa phương, Báo cáo chuyên đề - Mã số QHMT- ĐNB,32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng Dự thảo hướng dẫn Quy hoạch môi trường gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp độ vùng và địa phương
Tác giả: Đặng Trung Thuận và cộng tác viên
Năm: 2003
[9] Tô Xuân Phúc va Trần Hữu Nghị (2014). Báo cáo Giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao. Tropenbos International Viet Nam, Huế, Việt Nam.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Giao đất giao rừng trong bối cảnh tái cơ cấu ngành lâm nghiệp: Cơ hội phát triển rừng và cải thiện sinh kế vùng cao
Tác giả: Tô Xuân Phúc va Trần Hữu Nghị
Năm: 2014
[10] ADB (1991), Guidelines for Integrated Regional Economic-cum Environmental Development Planning, Environmental Paper No.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for Integrated Regional Economic-cum Environmental Development Planning
Tác giả: ADB
Năm: 1991
[12] Beer T.: "The Interaction of Wind and Fire, Boundary-Layer Meteorology", Vol. 54, pp. 287- 308, 1991. 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Interaction of Wind and Fire, Boundary-Layer Meteorology
[14] FAO (1997). Non – Wood Forest Products. Volume 11. Rome,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non – Wood Forest Products
Tác giả: FAO
Năm: 1997
[15] FAO (2018). The State of the World’s Forests 2018 - Forest pathways to sustainable development. Rome. Licence: CC BY-NC-SA 3.0 IGO Sách, tạp chí
Tiêu đề: The State of the World’s Forests 2018 - Forest pathways to sustainable development
Tác giả: FAO
Năm: 2018
[17] IUCN,1999. The economic value of the environment: cases from South Asia library sytem Sách, tạp chí
Tiêu đề: The economic value of the environment
[18] Malone-Lee Lai Choo (1997), Environmental Planing, National University of Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Planing
Tác giả: Malone-Lee Lai Choo
Năm: 1997
[20] Patankar S.V.: "Numerical Heat Transfer and Fluid Flow", Hemisphere Publ. Corp., New York, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Numerical Heat Transfer and Fluid Flow
[21] Pham Ngoc Hung, "Natural Disasters, Forest Fires and Solutions for Forest Fire Prevention and Fight in Vietnam", Publishing House. Agriculture, Hanoi. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural Disasters, Forest Fires and Solutions for Forest Fire Prevention and Fight in Vietnam
[5] Tổng cục thống kê (2008 - 2018). Báo cáo tình hình kinh tế xã hội giai đoạn 2008-2018 Khác
[6] Quốc hội (2017). Luật quy hoạch số 21/2017/QH14 ban hành ngày 5 tháng 12 năm 2017 Khác
[7] Quốc hội (2017). Luật lâm nghiệp số 16/2017/QH14 ban hành ngày 28 tháng 11 năm 2017 Khác
[8] Tổng cục thống kê (2008 - 2018). Niên giám thống kê năm 2008-2018 Khác
[11] Bistinas I, Oom D, Sá ACL, Harrison SP, Prentice IC, Pereira JMC (2013) Relationships between Human Population Density and Burned Area at Khác
[13] European Commission (2011), Sustainable forestry and the european union Khác
[16] FAO (2016). Global Forest Resources Assessment 2015 Khác
[19] Michel Louis Bernard1 and Louis G. Bernard, Correlation Bettween wildfire statistical data, weather and climate Khác
[22] USDA Forest Service Research. Forest fire risk maps: a GIS open source application – a case study in Norwest of Portugal Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w