1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và định hướng xây dựng sản phẩm du lịch mới ở Bắc Ninh

37 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 190 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Lịch sử nghiên cứu 4 3. Mục tiêu nghiên cứu 4 4. đối tượng nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 4 6. Cấu trúc của đề tài 4 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH Ở BẮC NINH 5 1.1. Khái niệm du lịch 5 1.2. Sản phẩm du lịch 6 1.2.1. Khái niệm 6 1.2.2. Phân loại sản phẩm du lịch 7 1.2.3. Đặc trưng của sản phẩm du lịch 7 1.2.4. Sản phẩm du lịch mới. 8 Chương 2:THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI BẮC NINH 9 2.1. Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề 9 2.1.1.Điều kiện chung 9 2.1.2.Các điều kiện đặc trưng 10 2.2. Về sản phẩm du lịch loại hình (quan họ) 12 2.3. Về sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh (lễ hội – làng nghề) 16 Chương 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH MỚI Ở BẮC NINH . 26 3.1. Đánh giá thực trạng hoạt động Du lịch tỉnh Bắc Ninh 26 3.1.1. Thực trạng hoạt động Du lịch 26 3.2. Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ Du lịch 28 3.2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch 28 3.2.2. Cơ sở hạ tầng 29 3.3. Thực trạng đầu tư trong du lịch 30 3.4. Hiện trạng tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh Du lịch 31 3.4.1. Những mặt làm được 31 3.4.2. Những mặt chưa làm được 32 3.5. Một số đề xuất để xây dựng sản phẩm du lịch ở Bắc Ninh 32 KẾT LUẬN 37 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 đối tượng nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của đề tài 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH Ở BẮC NINH 5

1.1 Khái niệm du lịch 5

1.2 Sản phẩm du lịch 6

1.2.1 Khái niệm 6

1.2.2 Phân loại sản phẩm du lịch 7

1.2.3 Đặc trưng của sản phẩm du lịch 7

1.2.4 Sản phẩm du lịch mới 8

Chương 2:THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI BẮC NINH 9

2.1 Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề 9

2.1.1.Điều kiện chung 9

2.1.2.Các điều kiện đặc trưng 10

2.2 Về sản phẩm du lịch loại hình (quan họ) 12

2.3 Về sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh (lễ hội – làng nghề) 16

Chương 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH MỚI Ở BẮC NINH 26

3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động Du lịch tỉnh Bắc Ninh 26

3.1.1 Thực trạng hoạt động Du lịch 26

3.2 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ Du lịch 28

3.2.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch 28

3.2.2 Cơ sở hạ tầng 29

Trang 2

3.3 Thực trạng đầu tư trong du lịch 30

3.4 Hiện trạng tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh Du lịch 31

3.4.1 Những mặt làm được 31

3.4.2 Những mặt chưa làm được 32

3.5 Một số đề xuất để xây dựng sản phẩm du lịch ở Bắc Ninh 32

KẾT LUẬN 37

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 3

Du lịch là ngành công nghiệp không khói đem lại hiệu quả kinh tế caogóp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngườilao động, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên quốc gia và thúc đẩy nhiều ngànhkinh tế, kỹ thuật khác phát triển Theo trào lưu phát triển của du lịch quốc tế,nhiều nước đã đặt sự nghiệp phát triển du lịch lên một trong những vị trí quantrọng hàng đầu và đã gặt hái được thành công trong lĩnh vực này ở những nămgần đây.

Với Việt Nam, thực tế đã cho thấy du lịch – ngành siêu lợi nhuận đangngày càng khẳng định vững chắc vị trí quan trọng của mình trong nền kinh tếquốc dân Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy ngành

du lịch phát triển Nhu cầu về nguồn nhân lực của ngành du lịch Việt Nam đòihỏi lớn cả về số lượng và chất lượng Nguồn nhân lực này không chỉ phục vụtrong nội địa đất nước mà còn phục vụ ở nước ngoài thông qua các tập đoànkhách sạn và du lịch hoặc xuất khẩu lao động Vấn đề giải quyết đủ về sốlượng, đảm bảo chất lượng cũng như duy trì cơ cấu lao động hợp lý quyết địnhđối với sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam, đưa nước ta trở thành trungtâm du lịch hàng đầu của khu vực

Là điểm đến mới, với nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa phongphú, giá cả thấp, ngành du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Kinh Bắc nóiriêng phát triển khá nhanh trong thời gian qua, có tiềm năng, triển vọng tiến xahơn Song tương lai của ngành du lịch Kinh Bắc sẽ còn tùy thuộc vào hiệu quảcủa chính sách phát triển du lịch, việc bảo tồn, phát huy nguồn tài nguyên, nhânlực và sự đánh giá đúng mức hiện trạng và tiềm năng

Xuất phát từ những yêu cầu trên và được sự giúp đỡ, hướng dẫn của cô

giáo, em tiến hành nghiên cứu đề tài: " Nghiên cứu và định hướng xây dựng sản phẩm du lịch mới ở Bắc Ninh"

2 Lịch sử nghiên cứu

Trang 4

- Các cuộc điều tra của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa –Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh về hoạt động du lịch, số lượng và chất lượngcủa nguồn lao động tại Kinh Bắc.

- Việc nghiên cứu về thực trạng nguồn lao động du lịch đã được cụ thểbằng các chương trình, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và của cả nước

- Một số bài báo viết về hoạt động du lịch ở Kinh Bắc

Tuy nhiên, chưa có một đề tài nghiên cứu chính thức nào về xây dựngsản phẩm du lịch mới ở Kinh Bắc

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng phát triển, khảo sát lại các ngành kinh doanh du lịch tạiKinh Bắc, từ đó đưa ra các ý tưởng mới trong việc phát triển du lịch ở Kinh Bắc

4 Đối tượng nghiên cứu

- Nguồn lao động du lịch và khách du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

-Các sản phẩm du lịch đang được sử dụng tại Kinh Bắc

- Các cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

-Những ý tưởng, đề xuất cho công tác phát triển du lịch tại Kinh Bắc

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, bài tiểu luận đã sử dụng các phươngpháp :

- Thu thập thông tin, hệ thống hóa các thông tin từ nhiều nguồn tài liệu-Khảo sát thực tế tại địa phương

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bài tiểu luận được chia thành ba chương Chương 1: Hệ thống hóa các vấn đề về xây dựng sản phẩm du lịch mớiChương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch tại Kinh Bắc

Chương 3: Đề xuất xây dựng sản phẩm du lịch mới tại Kinh Bắc

Hình ảnh và danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG SẢN PHẨM DU LỊCH Ở BẮC NINH

Trang 5

1.1 Khái niệm du lịch

Về khái niệm du lịch, có người đã nói :" Đối với du lịch,có bao nhiêungười tham gia nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa" ( Giáo sư Berkener -chuyên gia có uy tín về du lịch thế giới ) Bởi mỗi nhà nghiên cứu dưới nhữnggóc độ khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh nghiên cứu khác nhau sẽ đưa ranhững khái niệm khác nhau về du lịch

Theo Tổ chức Du lịch thế giới ( United Nation World TourismOrganization), một tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, du lịch bao gồm tất cả mọihoạt động của những người du hành tạm trú, trong mục đích tham quan, khámphá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn;cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liêntục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loạitrừ các du hành mà có mục đích là kiếm tiền du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơinăng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Nhìn từ góc đọ thay đổi không gian của khách: du lịch là một trong những hìnhthức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ mọt nước này sangnước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay làm việc Nhìn từ góc độ kinh tế:

Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu thamquan giải trí nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thểthao, nghiên cứu khao học và các nhu cầu khác

Ở Việt Nam, vấn đề du lịch được hiểu là: " Là hoạt động của con ngườingoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu thamquan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định"

Thực chất, du lịch là quá trình du ngoạn cảu con người theo một lịch trìnhnhất định để được thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ, không nhằm mục đích sinhlợi bằng đồng tiền Với bản chất như vậy, ta có thể đưa ra một khái niệm tổngthể về du lịch như sau: " Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏinơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩmnhận những sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác với nơi

Trang 6

cư trú thường xuyên Đồng thời có thể kết hợp với các mục đích khác nhau nhưnghỉ dưỡng, thăm thân " Khái niệm trên đây làm rõ được mục đích cơ bản củacác chuyến du lịch là du ngoạn để được thẩm nhận các giá trị từ văn hóa vàthiên nhiên mang lại Đó cũng chính là " cầu" trong thị trường cung cầu du lịch,

để các quốc gia, các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch, các doanhnghiệp, doanh nhân kinh doanh du lịch định hướng được qui hoạch phát triển dulịch cũng như lựa chọn và làm mới cho sản phẩm kinh doanh của mình

1.2 Sản phẩm du lịch

1.2.1 Khái niệm

" Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thảo mãn nhu cầucủa khách du lịch trong chuyến đi du lịch" theo quan điểm Marketing: "Sảnphẩm du lịch là những hàng hóa và dịch vụ có thể thảo mãn nhu cầu của khách

du lịch, mà các doanh nghiệp du lịch đưa ra chào bán trên thị trường, với mụcđích thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng của khách du lịch"

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cungứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yêu tố tự nhiên, cơ sở vậtchất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó Nhưvậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình ( hàng hóa ) và vô hình( dịch vụ ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các dịch vụ và tiệnnghi phục vụ khách du lịch nhằm đáp ứng mọi mong muốn và nhu cầu củakhách trong chuyến du lịch Có thể hiểu đơn giản: Sản phẩm du lịch được hìnhthành trên cơ sở tài nguyên du lịch được cung cấp các dịch vụ để thẩm nhận giátrị tài nguyên đó Có thể diễn đạt dưới dạng công thức sau:

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hóa du lịch.Khái niệm sản phẩm du lịch phải được hiểu theo nghĩa sản phẩm hoànchỉnh chứ không phải là sản phẩm riêng lẻ Việc nhận thức đúng khái niệm vềsản phẩm du lịch là cần thiết để nâng cao tính hợp tác của các đơn vị, cá nhântham gia cung cấp sản phẩm du lịch nhằm đem lại sự hài lòng nhất cho dukhách

Trang 7

Các yếu tố của sản phẩm du lịch: Điểm thu hút khách, khả năng tiếp cậncủa điểm đến, các tiện nghi và dịch vụ của điểm đến, hình ảnh của điểm đến, giá

cả hàng hóa, dịch vụ của điểm đến

1.2.3 Đặc trưng của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: được biểu hiện ở chỗ nó kết hợp vớicác loại dịch vụ do nhiều đơn vị, cá nhân thuộc các ngành khác nhau cung cấpnhằm thảo mãn các nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch gồm nhiều yếu

tố không thể tách rời, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phậntham gia phục vụ khách để tạo ra một sản phẩm du lịch có chất lượng tốt, đemlại sự hài lòng cho khách hàng

-Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình: Ngoại trừ một số sảnphẩm du lịch có tính hữu hình như : các hàng hóa, lưu niệm, đồ uống thì hầuhết các dịch vụ du lịch như dịch vụ lưu trú, tham quan, vận chuyển đều tồn tại

ở dạng vô hình, khách du lịch chỉ cảm nhận được chúng chứ không nhìn thấyviệc chúng mang lại cảm giác phấn chấn, dễ chịu hay khó chịu, không cầm nắmđược các dịch vụ đó như các hàng hóa khác, khong mang được chúng về nhà saukhi mua

- Phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao, không thể để tồn kho Hầu hết,các sản phẩm du lịch chưa bán được hôm nay không thể để bán vào dịp kháctrong tương lai

- Qúa trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch diễn ra đồng thời.Khác với các sản phẩm thông thường khác, việc sản xuất hầu hết các dịch vụ dulịch chỉ được thực hiện khi khách du lịch có mặt tại nơi cung cấp dịch vụ, việc

Trang 8

tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm du lịch của khách du lịch cũng được thực hiệnđồng thời với quá trình sản xuất.

- Sản phẩm du lịch có tính không thể dịch chuyển được, khách du lịch chỉ

có thể tiến hành tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ du lịch tại nới sản xuất chứ khôngphải như những sản phẩm vật chất khác có thể chuyển từ nơi sản xuất đến nơikhác để tiêu thụ Tính không thể dịch chuyển sản phẩm du lịch còn được thểhiện ở chỗ không có sự chuyển quyền sở hữu sản phẩm giữa người bán và ngườimua Khách du lịch chỉ có quyền sử dụng tạm thời đối với sản phẩm du lịchtrong một thời gian, địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm

- Sản phẩm du lịch có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không thểtiêu chuẩn hóa được Các nhân viên cung cấp sản phẩm du lịch không thể tạo rađược các sản phẩm du lịch như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau.Một người có thể đánh giá chất lượng trương trình du lịch đó là tuyệt vời, cònngười kia lại đánh giá không có gì đặc sắc

1.2.4 Sản phẩm du lịch mới.

Đứng trước thời cuộc kinh tế khó khăn, mỗi doanh nghiệp, công ti càngđòi hỏi phải tự phát triển bằng cách làm mới các sản phẩm của mình Du lịchcũng không nằm ngoài vòng quay ấy thậm chí còn mạnh mẽ và quyết liệt hơn tất cả.Một sản phẩm du lịch mới có thể là mới hoàn toàn hoặc là những sản phẩm cảitiến mà công ti muốn phát triển thông qua những nỗ lực của mình Sản phẩmmới hôm nay có thể bị coi là lạc hậu vào ngày mai Do đó đòi hỏi mọi công tiđều phải tiến hành phát triển sản phẩm mới

Chương 2: THỰC TRẠNG SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI BẮC NINH

2.1 Điều kiện để phát triển du lịch lễ hội làng nghề

2.1.1.Điều kiện chung

Mức sống về vật chất của người dân cao

Thu nhập của nhan dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để

họ có thể tham gia đi du lịch Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nời ở thường

Trang 9

xuyên, khách du lịch luôn là người tiêu dung nhiều dịch vụ, hàng hóa Conngười để có thể đi du lịch và tiêu dung phải có phương tiện vật chất đầy đủ Đó

là điều kiên cần thiết để biến du lịch nói chung thành nhu cầu có khă năng thanhtoán, vì khi đi du lịch ngoài phải trả tiền cho các nhu cầu hằng ngày, còn phảitrả thêm các khoản tiền thuê tàu xe, nhà ở, tiền tham quan….Và xu hướng khi

đi du lịch con người có xu hướng tiêu dung rộng rãi hơn

Trình độ văn hóa nói chung của nhân dân cao

Nếu trình độ văn hóa chung của một địa phương được nâng cao thì động

cơ đi du lịch của người dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, longham hiểu biết và mong muốn “mở rộng tầm mắt” Mặt khác nếu trình độ vănhóa của nơi đó nâng cao thì địa phương đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảophục vụ khách du lịch một cách văn minh lịch sự và làm hài long khách đi dulịch tới đó

Giao thông vận tải là một nhân tố chính trong phát triển du lịch Đảm bảophát triển về:

+ Phát triển về số lượng

+ Phát triển về chất lượng: phương tiện vận chuyển và chất lượng phục vụ+ Tốc độ vận chuyển

+ Đảm bảo an toàn trong vận chuyển

+ Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển

+ Giá cả rẻ

+ Sự phối hợp khoa học trong vận chuyển giữa các loại phương tiện

Một đất nước cót thể phát triển du lịch nếu nước đó tự sản xuất đượcphần lớn của cải vật chất trong du lịch

Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước là tiền đề cho sự pháttriển kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Và cũng là tiền đề cho

du lịch phát triển

Các điều kiện an toàn đối với du khách:

Tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội

Trang 10

Lòng hận thù của người dân bản xứ đối với một quốc gia Một chủng tộcngừơi

Các bệnh dịch như tả, hạch, sốt rét … Du khách lo sợ đến đó họ sẽ bị mắcbệnh

2.1.2.Các điều kiện đặc trưng

Các điều kiện về tài nguyên du lịch

Các điều kiện vè tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển du lịch.Chúng ta không thể phát triển du lịch lễ hội làng nghề nếu ở đó không có cáclàng nghề truyền thống đặc sắc, các lễ hội dân gian có giá trị văn hóa cao (điềukiện quan trọng nhất, các phong tục tập quán lâu đời,cổ lạ)…bên cạnh đó là cácđiều kiện về thiên nhiên thuận lợi như: điều kiện về khí hậu điều hòa ổn định,lượng mưa ít vào thời vụ du lịch, số giờ nắng trung bình trong ngày cao, nhiệt

độ trung bình của không khí và ban ngày và ban đêm không quá cao, và khôngchênh lệch nhau qua nhiều, ngoài ra còn các điều kiện về hệ động thực vật,nguồn nước, vị trí địa lý lằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từđiểm du lịch tới nguồn khách không được quá xa, các điều kiện thành tựu kinh

tế của các chính sách kinh tế…

Điều kiện sẵn sang phục vụ khách du lịch

Các điều kiện về tổ chức

Sự có mặt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch

- Cấp trung ương: các bộ, tổng cục các phông ban trực thuộc chính phủ

có lien quan tới vấn đề du lịch

- Cấp địa phương: Chính quyền địa phương, sở du lịch

- Hệ thống các thể chế quản lý, các chính sách và cơ chế quản lý

- Sự có mặt của các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch + Kinh doanh khách sạn

+ Kinh doanh lữ hành

+ Kinh doanh vận chuyển khách sạn

+ Kinh doạn các dịch vụ khác

Trang 11

Các điều kiện về kỹ thuật

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, bao gồm toàn bộ nhà cửa và cácphương tiện vật chất kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãnnhững nhu cầu của khách du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phươngtiện giao thông vận tải, các khu giải trí, cửa hàng, công viên đường xá,cầu cống , các dịch vụ công …

- Cơ sở vật chất hạ tầng xã hội : Là những cơ sở vật chất không phải docác tổ chức du lịch xây dựng mà là của toàn xã hội Đó là hệ thốngđường xá cầu cống, nhà ga, sân bay, bến cảng đường sắt, công viêncủa toàn dân, mạng lưới thương nghiệp củ khu dân cư, hệ thống thôngtin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước…vv

Đối với ngành du lịch cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ sở nhằmkhia thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng của của sản phẩm du lịch

Điều kiện về kinh tế

Việc đảm bảo nguồn vốn để duy trì và phát triển họat động kinh doanh dulịch Bởi vì ngành du lịch là một ngành đi đầu về phương tiện tiện nghi hiẹn đại

và là ngành lien tục đổi mới

Việc thiết lập kinh tế với các bạn hàng Để đảm bỏa việc cung ứng phảithường xuyên và có chất lượng tốt

Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt

Có một số tình hình và sự kiện đặc biệt có thể thu hút khách du lịch và làđiều kiện dặc trưng để phát triển du lịch.( Ví dụ : 006 một sự kiện khá dặc biệt làBill Gates đã tới Việt Nam và đã tới Bắc Ninh)

Trang 12

đồng hoá văn hoá gắn liền với mưu đồ sát nhập lãnh thổ của một kẻ thùmạnh, kẻ thắng trận và đô hộ quê hương này, đất nước này khi đứt khi nốihàng nghìn năm.Trong cuộc đụng đầu lịch sử hàng nghìn năm ấy, kết quảlịch sử đã chứng minh nền văn hoá bản địa trên quê hương này khôngnhững không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại nền văn hoá ấy vẫn tiếptục phát triển giá trị, bản sắc riêng để rồi khi đất nước độc lập vùng vănhoá dân gian xứ kinh Bắc lại trở thành vùng văn hoá nền tảng của văn hoávăn minh Thăng Long nước Đại Việt thế kỷ XI Cuộc thử thách lớn lao vàkéo dài trong trận chiến giữ gìn phát triển giá trị, bản sắc văn hoá nghệthuật quê hương đã có những cống hiến lơn lao trong công cuộc xây dựngvăn hoá đất nước quê hương

Trong sinh hoạt văn hoá Quan họ thật sự tồn tại một tình ngườithắm thiết thuỷ chung Cùng với sự bình đẳng tương thân tương ái, ngườiQuan họ rất coi trọng người đi trước, các lớp Quan họ trước biết cách ứng

xử có trên có dưới Những việc làm, những lời răn bảo khuyên can, chỉdẫn của người đi trước thường được tôn trọng Sự có mặt của các Quan họlớp trước trong mọi cuộc xum họp ca xướng Quan họ thường là niềm tựhào, niềm vui của Quan họ lớp trẻ Bao giờ các bậc đi trước cũng đượcđối xử một cách quý trọng, chân thành Mối quan hệ này liên quan đến sựbảo tồn và phát triển các thành tựu văn hoá nghệ thuật Quan họ nói chung,mầu sẵc phong cách đa dạng của mỗi làng nói riêng Ngày xưa ngườivùng không có quan hệ đến với quan hệ thường có nhận xét: “Người Quan

họ nói như có văn có sách”.Ngôn ngữ của Quan họ là ngôn ngữ giàu chấtthi ca của ca dao tục ngữ, chuyện nôm nhất là truyện Kiều Ngôn ngữ giáotiếp Quan họ tuy mềm mại, khéo léo tinh tế nhiều khi bóng bẩy, lững lờnhưng không gợi lên những ẩn ý dối trá, lừa lọc mà đậm đà tình người, sựtôn trọng giữa người với người luôn hướng tới sự giàu đẹp của ngôn ngữ

Vì vậy người Quan họ không thích, không chấp nhận sự thô kệch vụng vềtrong ngôn ngữ Người Quan họ rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã

Trang 13

trong mọi cử chỉ giao tiếp Từ việc đỡ ô, đỡ nón khi đón bạn, nâng cơitrầu mời bạn, nâng chén nước chén rượu đến dáng đi dáng đứng thế ngồi,cái miệng, đôi mắt, tư thế khi chuyện trò cùng bạn… gần như đều cóchuẩn mực, thế này là phải, là duyên, thế kia là không phải, vô duyên.Một chùm hoa bưởi đặt trong cơi trầu, một nhành hoa sói cài lên mái tócnép kín vào vành khăn, hoặc dấu trong khăn tay… vốn là sự tinh tế củangười Quan họ

Khi nhắc đến Quan họ không thể không kể đến các hội hè, đặc biệttrong đó là hội Lim Hội Lim mở ngày 13 tháng Giêng âm lịch trùng vớingày hội chợ đầu năm Lúc này là thời gian tốt nhất để mở hội, vì hội cótrăng, một số hội đã mở lấy đà mọi người vừa ăn tết xong công việc đồngáng, bán buôn đang rỗi rãi, giao thông thuận lợi

Chùa Lim được làm từ hồi nào không rõ Theo truyền thuyết có mộtngười đàn bà tên là Bà Mụ ả, người Duệ Đông đến tu ở đó Bà tu đắc đạonên có phép hô phong hoàn vũ Mỗi khi hạn hán, nhân dân thường cầu bàlàm mưa Do bà linh ứng như thế nên làng Lim tôn bà làm Thành Hoànglàng và ngày hội Chùa Lim tổ chức vào ngày mất của bà Bà vừa là Thầnlàng, vừa là người nhà chùa có phép làm mưa, gió, sấm, chớp, có phầngiống như hành trạng và thần tích của bà Man Nương (chùa Dâu)

Trong Hội Lim có hai hình thức tổ chức hát: Một là hát trong nhàcủa những người có kết nghĩa Hai là hát ngoài đồi của những người đếmxem hội góp vui và tìm bạn Gái trai đi hội đều mặc những bộ quần áo đẹp

đẽ nhất, những người hát Quan họ lại có quần áo đặc biệt như là lễ phụcriêng Giữa trời đất mùa Xuân mưa phùn gió nhẹ, cây cối đâm chồi nảylộc, từ xa nhìn vào đám hội ăn mặc đủ màu sắc tươi dói, trông rất rực rỡ.Các trò đua vui, đua tài tổ chức giữa đồi Lim như: Đánh đu, đánh cờngười, trọi chim, trọi gà, bắt vịt… làm không khí ngày hội từng bừng náonức

Trang 14

Hội thứ hai tiêu biểu được kể đến là Hội Ó (làng Ó tên chữ là Xuân

Ổ nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh) Chợ Ó có cái sầm uất còn vọng lạitrong bài hát Quan họ cổ truyền theo điệu hát Đúm như sau:

“Mùng năm chợ óQuan họ dồn vềHội vui lắm lắmChưa kịp đi tắmChưa kịp gội đầuTrầu chửa kịp têmCau chưa kịp bổMiếng lành miếng sổMiếng lại quên vôiNgười có yêu tôi Thì người cầm lấy…”

Bài hát tả lại ngày hội Quan họ ở chợ Ó Hội vui quá, hấp dẫn qúađến nỗi các cô gái Quan họ lú lẫn vội vàng đến không kịp cả têm trầu

Cái chợ Ó ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch đó, các cụ gọi là ngàyhội chợ bán gà (có sách còn gọi là chợ Âm dương) Tại sao lại gọi là hộichợ bán gà? Làng Ó có tục tế gà đen cho Thành Hoàng làng Gà đen nhànào được chọn làm vật tế, nhà đó sẽ được hưởng nhiều may mắn trongnăm ấy Các gia đình trong làng và các làng bên cạnh thi nhau đem gà đenđến chợ bán với giá rẻ để mong gà của mình được làm vật tế Chợ hợpvào lúc chạng vạng tối đấy là khoảng thời gian giao tiếp giữa ngày vàđêm, theo quan niệm dân gian đó là lúc âm dương giao tiếp, lúc trao đổigiữa người và ma, giữa cõi âm và dương gian Vì vậy gọi là chợ Âmdương Lúc chợ họp cũng là lúc tất cả mọi vật trên đời chìm vào mànđêm Gà đen sẽ thâm nhập được vào sâu thế giới cõi âm để xem xét điềulành, điều dữ về báo lại với Thành Hoàng, Thành Hoàng sẽ liệu mà phù

hộ độ trì cho dân chúng Đặc biệt trong ngày chợ này, ngoài gà ra, ai có

Trang 15

đồ vật gì cũ kỹ thì đem bán, bán với giá rẻ, người mua không mặc cả,người bán không đếm tiền Người bán trao đồ vật nói số tiền Người mua

im lặng mở dây tiền đồng rút ra một đoạn ước chừng bỏ vào tay ngườibán Người bán lặng lẽ bỏ tiền vào bị cói Cuộc trao đổi thầm lặng ấyngười ta gọi là “Mua may bán rủi” Đứng xa chỉ nhìn thấy những bóngđen đi lại và nghe tiếng xầm xì Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng.Người ta quan niệm rằng mua bán như thế ma sẽ họp chung với người, haibên trao đổi hàng hoá cho nhau Trong khi mua bán nhất định sẽ xảy rangười hơn kẻ thiệt Nhưng người thiệt lại chính là kẻ được hơn vì họ đã

có dịp làm phúc Mọi người đều muốn làm phúc, nhất là làm phúc cho cõi

âm Cho nên cuối cùng mọi người đều thanh thản vì sự thiệt, mà cũng vui

vẻ vì sự hơn Có lẽ đó là dấu vết của một ký ức thời nguyên thuỷ về việcmua bán, nó phù hợp với quan niệm chợ Âm dương và việc mua bán ở cácchợ với quan niệm “may - rủi” như thế này cũng có tổ chức ở nhiều nơikhác

Khoảng 7 giờ đến 7 giờ 30 phút tối thì chợ tan Từng tốp con traicon gái đã rủ nhau, chờ sẵn từ lâu Các lều hàng trong chợ hôm đó bỗng

đỏ đèn lên (hàng ngày không có) và xuất hiện những bà cụ bán hàng trầunước Thế là buổi hát Quan họ chợ Ó bắt đầu Con trai, con gái hát mờinhau vào uống nước xơi trầu Bà bán hàng cũng hát mời trai gái hát vuixuân cho dân làng khang thịnh Trai gái túm tụm ngồi hát trong các hàngnước Trong quán không đủ chỗ thì một số tốp nhường bạn quán nước, rủnhau ra trải chiếu giữa chợ, một số đi xa hơn ra hát ở các cánh đồng HátQuan họ chợ Ó kéo dài suốt đêm hôm ấy tới sáng mùng 6 Quan họ dã bạnkéo sang hội khác

2.3 Về sản phẩm du lịch văn hóa - tâm linh (lễ hội – làng nghề)

Du lịch văn hóa (đặc biệt là du lịch lễ hội làng nghề) là một loại hình khá

mớ mẻ ở nước ta nói chung và ở Bắc Ninh nói riêng Ngành du lịch là mộtngành kinh tế tổng hợp nó phụ thuộc rất nhiều vào các ngành nghề kinh tế khác

Trang 16

Đặc biệt là ngành văn hóa,tuy nhiên thực trạng lại co thấy giữa du lịch và vănhóa nói riêng và với các ngành kinh tế khác nói chung còn chưa có sự kết hợphợp lý Sự quản lý chồng chéo, dẫn tới tình trạng cha trung không ai khóc, tráchnhiệm của các bên là không rõ ràng, tình trạng lấn chiếm không gian của đìnhchùa, và khi các lễ hội diễn ra không có một chủ thể quản lý rõ ràng lên có tìnhtrạng lộn xộn, chuộc lợi Các trò chơi chương trình tại các lễ hội không đượcquản lý,các trò chơi dân gian dần dần không còn thấy nữa thay vào đó là nhữngtrò như sóc đĩa, cờ bạc ăn tiền…điều đó làm cho các lễ hội mai một dần và mấtdần bản sắc và ý nghĩa của nó Đánh mất đi sự hấp dẫn của mình Thử hỏi nhưvậy thì du lịch lễ hội làm sao có thể phát triển.

Bắc Ninh có nhưng điều kiện khá thuận lợi để phát triển du lịch đặc biệt là

du lịch “lễ hội, làng nghề”( chỉ chiếm khoảng 0.3%-> 0.4% tổng doanh thud ulịch).Tuy nhiên nhưng thực tế cho thấy du lịch ở Bắc Ninh lại không hề pháttriển Bởi tính chất nhỏ lẻ của các tài nguyên du lịch, đăc biệt bản thân ngườidân nơi đây cũng không hề có khái niệm về du lịch chỉ đơn giản là những cuộc

đi chơi hoặc du xuân mang tính chất “truyền thống”.(Bắc Ninh hàng năm có tới

300 lễ hội nhưng đa số là những lễ hội nhỏ người ta chỉ biết một vài lễ hội điểnhình như hội đền bà chúa kho, hội đền đô, hội lim…)

Bắc Ninh là một tỉnh nhỏ nhưng lại có rất nhiều các làng nghề lổi tiếng.Tuy nhiên cũng giống như các lễ hội các làng nghề ở đây đang đứng trước nguy

cơ mai một và thực tế là đã có rất nhiều các làng nghề tưởng chừng đã mai một.Nói tới nguyên nhân, đúng là cũng chẳng thể trách ai, nền kinh tế bung ra, nềnsản xuất tiến tiến áp dụng khoa học kỹ thuật tỏ ra ưu việt hơn rất nhiêu kiềuphương thức sản xuất thủ công, và dần dần các sản phẩm thủ công dần dầnkhông thể cạnh tranh nổi, và mất dần Một số làng nghề tỏ ra nhạy bén với thịtrường vẫn thích nghi được, nhưng ở tình trạng ngày nào hay ngày ấy không có

gì là đảm bảo bởi một kế hoạch lâu dài Đã có nhiều dự án để quy hoạch pháttriển các làng nghề(xây dựng các khu công nghiệp ) Cùng với sự giúp đỡ củanhà nước:

Trang 17

“ Thứ nhất: Xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề BắcNinh coi việc quy hoạch tạo mặt bằng cho sản xuất ở các làng nghề là một khâuđột phá quan trọng trong phát triển làng nghề Hình thành các khu, cụm côngnghiệp làng nghề, thực chất là chuyển một phần diện tích đất canh tác nôngnghiệp của chính làng nghề sang đất chuyên dùng cho sản xuất công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp và tạo điều kiện cho các hộ sản xuất trong các làng nghề didời ra khu sản xuất tập trung, tách sản xuất ra khỏi khu dân cư Theo quan điểmcủa tỉnh Bắc Ninh, việc làm này cần phù hợp với đặc điểm riêng của từng làng,từng nghề Vì vậy, tỉnh Bắc Ninh có chủ trương chỉ thực hiện việc di rời đối vớinhững khâu sản xuất đồng bộ, những công đoạn lắp ráp hoàn chỉnh sản phẩm.Đối với hoạt động sản xuất những chi tiết nhỏ lẻ, không ảnh hưởng đến môitrường, sức khoẻ của cộng đồng thì vẫn được sản xuất, kinh doanh ở từng hộ giađình nhằm đảm bảo phù hợp với điều kiện và tập quán lao động của người dântrong làng nghề

Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, các ngành chức năng của tỉnh phối hợp vớicác địa phương đã tiến hành xây dựng được 21 khu công nghiệp làng nghề vớitổng diện tích đất qui hoạch là 460,87 ha Trong đó điển hình là khu công nghiệplàng nghề Châu Khê, Từ Sơn có diện tích 13,5 ha, đã thu hút 159 cơ sở sản xuấtthép trong làng thực hiện di dời ra khu công nghiệp; khu công nghiệp gỗ mỹnghệ Đồng Quang có diện tích 12,7ha, thu hút 71 công ty tư nhân và công tytrách nhiệm hữu hạn di chuyển vào khu công nghiệp; khu công nghiệp giấyPhong Khê diện tích 12,7ha cũng đã được cấp phép xây dựng cho 22 công tytrách nhiệm hữu hạn và công ty tư nhân

Để các khu, cụm công nghiệp làng nghề được hình thành và hoạt động cóhiệu quả, Bắc Ninh đã thành lập ra ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề.Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề có nhiệm vụ giúp các cấp, cácngành, trước hết là Uỷ ban nhân dân cấp xã, huyện thực hiện tốt chức năng quản

lý Nhà nước đối với các khu công nghiệp làng nghề Ban quản lý này là một đơn

vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu và mở tài

Trang 18

khoản theo quy định hiện hành của Nhà nước Ban quản lý các khu công nghiệplàng nghề là cơ quan trực tiếp quản lý các khu công nghiệp làng nghề, đồng thời

là đầu mối phối hợp với các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân huyện,thị xã, các tổ chức kinh tế - xã hội và Uỷ ban nhân dân các xã có khu côngnghiệp làng nghề để giải quyết những vấn đề phát sinh trong việc quản lý Nhànước đối với các khu công nghiệp làng nghề

Ban quản lý các khu công nghiệp làng nghề chịu sự lãnh đạo trực tiếp của

Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã dưới sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ củacác ngành chức năng thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Cơ quan này là đầu mối triểnkhai, thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật có liên quan, trực tiếp xây dựngđiều lệ quản lý các khu công nghiệp làng nghề, trực tiếp triển khai qui hoạch chitiết, được Uỷ ban nhân dân huyện uỷ quyền quản lý trước, trong và sau khi đầu

tư đối với các khu công nghiệp làng nghề

Thứ hai, vấn đề vốn cho sản xuất kinh doanh Để giải quyết vấn đề khókhăn về vốn cho sản xuất kinh doanh của các làng nghề, Bắc Ninh đã chú trọngđến hệ thống ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Với 7 chi nhánhcấp huyện, thị của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và nhiều chinhánh liên xã hầu hết nằm ở khu vực kinh tế phát triển (bán kính bình quân 7

km có một chi nhánh) Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh BắcNinh thực hiện chủ trương tất cả các dự án khả thi của các hộ sản xuất đều đượcNgân hàng cho vay 70% giá trị mua sắm tài sản cố định bằng nguồn vốn vaytrung hạn và hỗ trợ cho vay từ 30-50% vốn lưu động Nhiều làng nghề đượcNgân hàng cho vay đã nhanh chóng nâng cao được năng lực sản xuất, kinhdoanh, có doanh thu hàng trăm tỷ đồng/năm, như làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ,sắt Đa Hội… Đặc biệt, sự đầu tư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn đã góp phần khôi phục làng nghề dâu tằm tơ truyền thống Vọng Nguyệt xãTam Giang huyện Yên Phong Nhờ được khôi phục, làng nghề này đã thu húttrên 1.000 lao động, gồm 120 xưởng sản xuất và làm ra gần 40 tấnkén/năm.”( Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam.htm)

Ngày đăng: 26/04/2021, 10:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w