1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CUỐI KY MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG LĨNH VỰC SỨC KHỎE TÂM THẦN

20 342 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 58,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm sức khỏe tâm thần 2. Rối loạn tâm thần 3. Phân loại rối loạn tâm thần 4. Thực hành case trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần. 5. Nhu cầu công tác xã hội trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần II. THỰC HÀNH CASE 1. Những thông tin cơ bản xác định về thân chủ 2. Lý do tìm đến với trị liệu hoặc đánh giá 3. Thông tin cá nhân (tiền sử, bệnh sử, sang chấn) 4. Ấn tượng chẩn đoán ban đầu 5. Danh sách các vấn đề 6. Phân tích nguyên nhân của các vấn đề của L 7. Xác định vấn đề của L hiện nay 8. Tiến trình can thiệp case 9. Các vấn đề liên quan đến quản lý ca 10. Các câu hỏi thảo luận

Trang 1

Đ I H C QU C GIA THÀNH PH H CHÍ MINH ẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Ồ CHÍ MINH

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NG Đ I H C KHOA H C XÃ H I VÀ NHÂN VĂN ẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỘI VÀ NHÂN VĂN

-Lê Th Bé Nhung ị Bé Nhung

L p cao h c ngành Công tác xã h i Khóa 8 ớp cao học ngành Công tác xã hội Khóa 8 ọc ngành Công tác xã hội Khóa 8 ội Khóa 8

Mã s h c viên: 19876010113 ố học viên: 19876010113 ọc ngành Công tác xã hội Khóa 8

BÀI THU HO CH CU I KÌ ẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH MÔN CÔNG TÁC XÃ H I TRONG LĨNH V C S C KH E TÂM TH N ỘI VÀ NHÂN VĂN ỰC SỨC KHỎE TÂM THẦN ỨC KHỎE TÂM THẦN ỎE TÂM THẦN ẦN

Gi ng viên: TS Lê Minh Công ảng viên: TS Lê Minh Công

Thành ph B n Tre – tháng 4 năm 2021 ố học viên: 19876010113 ến Tre – tháng 4 năm 2021

Trang 2

ĐỀ BÀI CUỐI KỲ

Anh (chị) hãy chọn một case có vấn đề sức khỏe tâm thần Tiến hành các công việc chuẩn đoán ( tiếp cận, phỏng vấn), xây dựng hồ sơ tâm lý, viết định hình case

Trang 3

N I DUNG TRÌNH BÀY ỘI VÀ NHÂN VĂN

I NH NG V N Đ LÝ LU N LIÊN QUAN Đ N Đ TÀI ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ề LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẾN ĐỀ TÀI Ề LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Khái niệm sức khỏe tâm thần

2 Rối loạn tâm thần

3 Phân loại rối loạn tâm thần

4 Thực hành case trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần

5 Nhu cầu công tác xã hội trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần

II THỰC HÀNH CASE

1 Những thông tin cơ bản xác định về thân chủ

2 Lý do tìm đến với trị liệu hoặc đánh giá

3 Thông tin cá nhân (tiền sử, bệnh sử, sang chấn)

4 Ấn tượng chẩn đoán ban đầu

5 Danh sách các vấn đề

6 Phân tích nguyên nhân của các vấn đề của L

7 Xác định vấn đề của L hiện nay

8 Tiến trình can thiệp case

9 Các vấn đề liên quan đến quản lý ca

10 Các câu hỏi thảo luận

Trang 4

I NH NG V N Đ LÝ LU N LIÊN QUAN Đ N Đ TÀI ỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Ề LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ẾN ĐỀ TÀI Ề LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Khái niệm sức khỏe tâm thần

Theo WHO, sức khỏe tâm thần là một phần không thể thiếu của sức khỏe và được định nghĩa là “trạng thái lành mạnh mà trong đó, cá nhân nhận

ra những năng lực của chính mình, có thể đương đầu với các stress thông thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả, và có thể tạo ra những đóng góp cho chính cộng đồng của mình” (WHO, 2001, 1) Theo từ điển tâm lý học, sức khỏe tâm thần “là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạng thái đảm bảo cho sự điểu khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường” (Vũ Dũng,

208, tr719) Cách định nghĩa của Việt Nam cũng thống nhất với cách định nghĩa của WHO Theo nghĩa này, sức khỏe thể chất là nền tảng cho sự lành mạnh và hoạt động chức năng hiệu quả cho cá nhân và cộng đồng Nó không chỉ là việc vắng những bệnh tâm thần, về trạng thái và khả năng Sức khỏe tâm thần và sức khỏe thể chất không thể tồn tại một mình

2 Rối loạn tâm thần

Trong xã hội Việt Nam truyền thống, “tâm thần” hay được dùng như một tính từ chỉ trạng thái của những người bị điên (tâm thần phân liệt), khuyết tật tinh thần Từ “tâm thần”, “hâm”, “điên” cũng được nhắc đến với một hàm ý miệt thị, chỉ sự không bình thường, ví dụ như “chị này tâm thần à?’ “anh này tâm thần đấy!” Các vấn đề về SKTT (sức khỏe tâm thần) cũng thường được chữa trị theo cách suy nghĩ và cảm xúc tách rời khỏi cơ thể thể chất Chính sự phân biệt nhân tạo này được phản ánh trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta cũng như trong các cơ sở chăm chữa Nói một cách khác, chúng ta đã có những định kiến, kì thị khi nhắc đến từ “tâm thần” Trong khi những định kiến

về bệnh thực thể như ung thư và động kinh, phong v.v đã giảm nhiều, các rối loạn tâm thần vẫn là những bệnh có nhiều định kiến và kì thị nhất Những

Trang 5

quan điểm có tính định kiến như vậy đã gây ra sự phân biệt đối xử với những người mắc bệnh

Thái độ về bệnh tâm thần đã bắt nguồn sâu trong xã hội Quan niệm bệnh tâm thần thường đi kèm với sự sợ hãi về mối đe dọa/nguy hại mà người mắc bệnh mang đến Đó thường là các quan niệm như:

Người có vấn đề về tâm thần hung hãn, nguy hiểm cho người khác

Người có vấn đề về tâm thần không có ích cho xã hội, là “bỏ đi”

Những người có vấn đề về tâm thần là những người kém phát triển trí tuệ

Người có vấn đề về tâm thần là người kì lạ, và rất khác biệt với những người khác

Bệnh tâm thần là bệnh giả vờ hay tưởng tượng

Bệnh tâm thần phản ánh nhân cách, tính cách yếu

Các rối loạn là do tự trả giá, trời phạt, số phận

Những người có bệnh tâm thần không còn tương lai gì

Bệnh không chữa được

Mọi người không thể giao tiếp được với người có bệnh

Mặc dù các vấn đề về SKTT đều xảy ra trong mọi gia đình ở một thời điểm nào đó, những người trải nghiệm qua những giai đoạn này đều có lo sợ

và bị thành kiến bởi người

khác và họ cảm thấy xấu hổ và bị xa lánh Chính việc định kiến và phân biệt này thường khiến những người có nhu cầu không dám đi tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nhà chuyên môn (bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học, v.v) vì sợ bị dán nhãn)

Từ góc độ chuyên môn, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng niềm tin, cảm xúc, thái độ của cá nhân ảnh hưởng đến cách mà cá nhân đó hiểu về sức khỏe tâm thần và rối loạn tâm thần Thompson (2006) lưu ý rằng những người thực hành cần luôn ý thức rằng họ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội Ông đề xuất mô hình “cá nhân - văn hóa - cấu trúc” (PCS: Personal- Cultural-Structural) (hình 1) như một công cụ hỗ trợ những người thực hành hiểu thêm

về mối quan hệ giữa xã hội vĩ mô, văn hóa dân gian và thái độ cá nhân Thành

tố “cá nhân” chỉ thái độ, quan niệm, suy nghĩ, cảm xúc của cá nhân, đặc biệt

là về một nhóm người nào đó, chẳng hạn như chủng tộc hoặc giới tính Thành

Trang 6

tố này nằm giữa do niềm tin và thái độ cá nhân chịu phụ thuộc vào hai thành

tố còn lại Thành tố “văn hóa” liên quan những ý tưởng, giá trị chung mà xã hội cùng chia sẻ về những tình huống cụ thể cũng như đạo đức và các thống nhất chung về việc gì được phép, các hành vi được mong đợi của xã hội và những thành viên của nó Thành tố “cấu trúc” quan tâm đến cách xã hội được cấu trúc và phân chia qua thể chế như tôn giáo, truyền thông, chính trị, v.v và thông qua sự phân chia này, sự phân biệt, kì thị và áp đặt được hình thành Thành tố này ảnh hưởng đến cả chuẩn mực xã hội và niềm tin cá nhân và đóng vai trò gắn kết các niềm tin trong xã hội

Cách chúng ta hiểu và hành xử với thế giới xung quanh ta, với những người khác được định hình bởi nền văn hóa mà chúng ta sống trong đó Những người thực hành nghề chăm sóc sức khỏe không “miễn dịch” với những thái độ, suy nghĩ, hành vi có tính định kiến Hiểu được điều này là bước quan trọng để trở thành một người thực hành luôn tự ý thức về mình, có khả năng nhận biết và giải quyết những định kiến của cá nhân

3 Phân loại rối loạn tâm thần

Phân loại các vấn đề sức khỏe tâm thần là một trong những vấn đề trọng yếu Hiện nay trên thế giới có hai bảng phân loại về sức khỏe tâm thần được sử dụng rộng rãi Đó là Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ tư của Hiệp hội tâm thần Mỹ lần thứ 4 (DSM- IV) và Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) Sự ra đời của hai loại bảng phân loại này được đánh giá là mang lại nhiều lợi ích với những tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng và hợp lý của chúng, được đánh giá nền tảng cho sự tiến bộ lớn

về phương pháp cho các nghiên cứu dịch tễ học (Henderson, 2000)

Cẩm nang chuẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ tư (DSM-IV) là bảng phân loại bệnh do Hiệp hội tâm thần Mỹ xuất bản, nhằm mục đích cung cấp những thuật ngữ và tiêu chí thống nhất trong việc phân loại các bệnh tâm thần Phiên bản đầu tiên của bảng phân loại bệnh này là vào năm 1952 Bảng phân loại bệnh này được sử dụng rộng rãi tại Mỹ và một số

Trang 7

nơi trên thế giới Bảng phân loại bệnh này là một hệ thống đa trục, và trạng thái tâm thần của mỗi cá nhân có thể được đánh giá theo 5 trục khác nhau:

Trục I: có hoặc không có hầu hết các hội chứng lâm sàng, bao gồm chủ yếu các rối loạn tâm thần và rối loạn học tập Các rối loạn thường gặp bao gồm rối loạn cảm xúc, trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, tăng động giảm chú ý, chứng tự kỷ, chứng ám sợ, tâm thần phân liệt, rối loạn tình dục, rối loạn ăn…

Trục II: có hoặc không có trạng thái bệnh lí kéo dài, bao gồm các rối loạn nhân cách và rối loạn phát triển tâm trí Các rối loạn thường gặp bao gồm các rối loạn nhân cách như nhân cách bị hại, nhân cách phân liệt, nhân cách kiểu phân liệt, rối loạn nhân cách chống đối xã hội, rối loạn nhân cách ái kỷ, rối loạn nhân cách không thành thât,̣ rối loạn nhân cách lảng tránh, rối loạn nhân cách phụ thuộc, ám ảnh-cưỡng bức, chậm phát triển

tâm trí

Trục III: thông tin về trạng thái sức khỏe cơ thể của cá nhân Các rối loạn thường gặp bao gồm các tổn thương não và các rối loạn sức khỏe thể chất

Trục IV: Các vấn đề tâm lý và các yếu tố môi trường

Trục V: Đánh giá tổng quát về hoạt động chức năng (từ 1 điểm cho kích động liên tục, hành vi tự sát hoặc bất lực cho đến 100 điểm đối với duy trì nhân cách hài hoà, không có các triệu chứng)

Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) được WHO xuất bản và được đưa vào sử dụng từ năm 1994 Phiên bản đầu tiên của ICD được công bố vào năm 1900 ICD- 10 là hệ thống phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế cho tất cả các lĩnh vực liên quan đến y tế nói chung, mục đích quản lý sức khỏe và sử dụng trong lâm sàng Phần các vấn đề về sức khỏe tâm thần thuộc chương 5 của Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 Nó gồm các mảng sau đây:

 Rối loạn tâm thần thực thể bao gồm rối loạn tâm thần triệu chứng

Trang 8

 Rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất tác động tâm thần

 Tâm thần phân liệt, rối loạn dạng phân liệt và rối loạn hoang tưởng

 Rối loạn cảm xúc

 Loạn thần kinh, rối loạn liên quan đến stress và rối loạn dạng cơ thể

 Hội chứng hành vi kết hợp với rối loạn sinh lý và yếu tố thể chất

 Rối loạn nhân cách và hành vi ở người trưởng thành

 Chậm phát triển tâm thần

 Rối loạn phát triển tâm lý

 Rối loạn về hành vi và cảm xúc với sự khởi bệnh thường xảy

ra ở lứa tuổi trẻ em và thiếu niên

 Rối loạn tâm thần không xác định

4 Thực hành case trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần.

Thực hành dựa trên thực chứng là một lối tiếp cận nhận được nhiều sự quan tâm trong các lĩnh vực y học, điều dưỡng, công tác xã hội, tâm lý học, y tế cộng đồng, tham vấn tâm lý và tất cả các ngành nghề thuộc dịch vụ chăm sóc con người một cách chuyên nghiệp (Gilgun, 2005) Thực hành dựa trên thực chứng trong tâm

lý học (Evidence-based practice in psychology/EBPP) là một lối thực hành mà trong đó có lưu ý đến ba yếu tố sau:

(1) các nghiên cứu khoa học sẵn có với hiệu quả ứng dụng tốt nhất;

(2) khả năng chuyên môn lâm sàng;

(3) bối cảnh, đặc điểm, văn hóa và sở thích của thân chủ”

Định nghĩa này về EBPP tương đồng chặt chẽ với định nghĩa về thực hành dựa trên thực chứng được Viện Y khoa phê chuẩn (2001, trang 147), đã được Sackett và các đồng nghiệp (2000) điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh tâm lý học (APA Presidential Taskforce, 2006, p.273) Khi thực hành can thiệp với trường hợp của Bảo Khang, tôi sử dụng mô hình EBPP để triển khai các hoạt động đánh giá, thiết lập kế hoạch/ chiến lược và thực hành can thiệp Trong khuôn khổ của thời gian có hạn nên tôi chủ yếu sử dụng nguồn tài liệu của giảng viên tại lớp

Trang 9

“Nhận diện, lượng giá và can thiệp các khó khăn học tập trong bối cảnh học đường” để phân tích các yếu tố nguy cơ với hành vi của trẻ, từ đó thiết lập các kế hoạch và chiến lược can thiệp, đồng thời dựa vào năng lực chuyên môn cũng như bối cảnh văn hoá của trẻ

Trên cơ sở của các nghiên cứu được tổng hợp trong các bài giảng của giảng viên, có 5 yếu tố nguy cơ là mô hình bệnh nguyên của rối loạn hành vi: Vấn đề ngôn ngữ; Tính ức chế; Nhận thức xã hội; Nhận thức và phương thức giáo dục của cha mẹ và Sự gắn bó Các vấn đề ngôn ngữ mà chủ yếu là các khó khăn về ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ diện đạt và ngôn ngữ tiếp nhận/ hay khả năng hiểu, tư duy ngôn ngữ) thường là yếu tố dẫn tới cảm xúc giận dữ cũng như cảm giác hụt hẫng của trẻ, nhất là ở lứa tuổi mẫu giáo trở lên Điều này cũng là phù hợp khi bắt đầu sau tuổi lên 3, trẻ phải sử dụng khả năng ngôn ngữ một cách đa dạng trong các bối cảnh giao tiếp, sau 5 tuổi trẻ phải sử dụng ngữ dụng một cách thành thạo trong nhiều bối cảnh khác nhau Tư duy ngôn ngữ khó khăn thường dẫn đến/ hay là yếu

tố báo trước các hành vi tiêu cực ở trẻ em Hành vi khó khăn chính là yếu tố dẫn tới sự cô lập về mặt xã hội và việc thiếu các trải nghiệm tích cực, đồng thời là yếu

tố nguy cơ của việc giảm chú ý của trẻ

Ngoài yếu tố ngôn ngữ, các khó khăn bao gồm tính ức chế, kiểm soát, phản ứng chậm trễ, trí nhớ làm việc, tính linh hoạt trong phản ứng các kích thích cũng là yếu tố dự báo/ ảnh hưởng đến hành vi của trẻ Sự ức chế dẫn tới khả năng kiểm soát và phản ứng/ đáp ứng của trẻ trở nên chậm trễ, khó khăn hơn Theo nhiều tác giả, sự ức chế là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với các hành vi tiêu cực

ở trẻ (Pauli – Pott & Becker, 2011; Schoemaker và cs, 2013) Nhiều nghiên cứu khác nhau cũng cho thấy, trẻ có khó khăn về nhận thức xã hội dẫn tới hai vấn đề khó khăn:

1) Hiểu các trạng thái tinh thần, trong đó bao gồm việc: khó khăn về hiểu cảm xúc, khó khăn về hiểu niềm tin, khó khăn về hiểu các suy nghĩ, khó khăn

về hiểu các ước muốn/mong đợi, sử dụng kém các kỹ năng về tư duy, tinh thần (mặc dù có kỹ năng tốt trong lý thuyết về tinh thần);

Trang 10

2) Giải quyết vấn đề xã hội, trong đó bao gồm: khó khăn về giải mã các chỉ báo, nhiểu trong sự đóng góp mang tính thù địch, không có khả năng thích nghi mục tiêu của trẻ với tình huống, biểu đạt các trả lời kém thích nghi, chọn các đáp ứng kém thích nghi về mặt xã hội (Crick & Dodge, 1994; Eisenberg và cs, 2001; Hughes và cs, 1998; Oribio de Castro và cs, 2002; Renous và cs 2010) Đây

là hai yếu tố làm ảnh hưởng tới hành vi tiêu cực ở trẻ em

Ngoài ba yếu tố ở trên, yếu tố cảm nhận về năng lực làm cha mẹ và thực hành giáo dục của cha mẹ có hưởng đến hành vi của trẻ (Slagt, Dekovic, Prinzie và

cs, 2010; Jones và Prinz, 2005) Cảm nhận năng lực làm cha mẹ là cảm giác mà cha mẹ có được về khả năng ảnh hướng tích cực đến hành vi và sự phát triển của trẻ (Coleman & Karraker 1998), niềm tin trong việc (họ) « có thể giáo dục » (Meunier& Roskam, 2009), không mang tính chất bẩm sinh nhưng được tạo nên bởi các kinh nghiệm sống trong mối quan hệ cha mẹ- con cái (Goodnow, 2006)

Có 4 nhân tố tạo nên cảm giác về năng lực làm cha mẹ: Trải nghiệm thúc đẩy việc làm chủ; Trải nghiệm thay thế; Sự thuyết phục bằng lời nói; Tình trạng sinh lý và cảm xúc Trong một nghiên cứu tại Bỉ cho thấy, ý thức về năng lực làm cha mẹ thay đổi tích cực ở những người mẹ có con bình thường (tức trẻ nhóm đối chứng) Các thông tin phản hồi tích cực dành cho người mẹ có hiệu quả ngay lập tức ở người mẹ và cả đứa trẻ trong mối tương tác với mẹ Ý thức về khả năng làm cha

mẹ được tăng cường - Cách làm cha mẹ tích cực ở người mẹ tăng lên - Hành vi tích cực ở trẻ cũng tăng lên (Mouton, B., & Roskam, I., 2014)

Thực hành giáo dục của cha mẹ bao gồm hai chiến lược:

1) Nâng đỡ (bao gồm sự nhiệt tình, phản hồi tích cực, đòi hỏi tính tự lập, theo dõi và hỗ trợ con, đặt ra những giới hạn cho trẻ) ;

2) Kiểm soát (bao gồm sự sử dụng trừng phạt nghiêm khắc/ để kiểm soát hành vi, phớt lờ với trẻ, gây cảm giác tội lỗi ở trẻ/ kiểm soát về tâm lý, kỷ luật không nhất quán, lạm dụng thưởng về vật chất) Giáo dục nâng đỡ thường giúp trẻ phát triển các hành vi tích cực, ngược lại giáo dục kiểm soát thường tạo cho trẻ các hành vi tiêu cực Nhiều nghiên cứu khác nhau cũng cho thấy, kiểu giáo dục kiểm

Ngày đăng: 26/04/2021, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w