Văn hóa dân gian Việt Nam Đề tài: Sân khấu dân gian So sánh sự khác nhau giữa nghệ thuật chèo và nghệ thuật tuồng I. Khái niệm. Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam mà trọng tâm là vùng đồng bằng Bắc Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Nam được hình thành trên cơ sở ca vũ nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam.
Trang 1Văn hóa dân gian Việt Nam
Đề tài: Sân khấu dân gian - So sánh sự khác nhau giữa nghệ
thuật chèo và nghệ thuật tuồng
I Khái niệm.
- Chèo là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam Chèo pháttriển mạnh ở phía bắc Việt Nam mà trọng tâm là vùng đồng bằng Bắc Bộ Loạihình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc Chèo mang tính quần chúng vàđược coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đathanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình
- Tuồng là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền đặc sắc của Việt Namđược hình thành trên cơ sở ca vũ nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâuđời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam
II Nguồn gốc
1 Chèo:
- Danh xưng chèo do ghi Nôm, dịch chữ Hán ra; hoặc từ chữ Trào (trào lộng)
mà ra; hoặc chữ chèo do phát âm sai mà thành chèo; do phiên Nôm, dịch Hán đồngdạng những chữ chào (chào mừng), chữ chầu (chầu thần thánh), chữ triều (triềuđình, đọc thành trào đình)
- Chèo chỉ động tác chèo thuyền, đề nói nguồn gốc chèo xuất phát từ trò tang
lễ và lao động
- Về thời điểm ra đời, có nhiều ý kiến khác nhau cho rằng chèo ra đời từ thờitiền sử, thế kỷ IV đến thế kỷ I trước công nguyên, thể kỷ X (nhà Đinh), thế kỷ XIV(cuối nhà Trần)
- Chèo được bắt nguồn từ diễn xướng dân gian, ban đầu chỉ có phần nói vàngâm dân ca,sau này cùng với sự xuất hiện của Lý Nguyên Cát mà có thêm phầnhát
- Tương truyền “bà tổ nghề chèo” là Phạm Thị Trân (nhà Đinh)
2 Tuồng.
Trang 2- Hiện nay chưa xác định được thời điểm ra đời của tuồng Tuy nhiên, các nhànghiên cứu đều khẳng định nghệ thuật tuồng đã xuất hiện rất sớm ở Việt Nam.
- Tuồng có nguồn gốc bản địa từ những tích trò, diễn xướng dân gian Saunày, khi Lý Nguyên Cát vào Việt Nam dạy cho binh sĩ diễn vở “Vương mẫu hiếnbàn đào”, nghệ thuật tuồng bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của hí kịch Trung Quốc.Trong tuồng có những đề tài trong tích cổ của Trung Quốc
- Người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật tuồng Việt Nam là Đào Duy
đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng.Các tích trò chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhạc từ dân ca dânvũ; lời thơ chủ yếu là thơ dân gian Lối chèo thường diễn những việc vui cười,những thói xấu của người đời, thể hiện tính nhân đạo
- Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cánhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tìnhbạn, tình thương
2 Tuồng:
- Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báoquốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về cách ứng xử của con người giữa cáichung và cái riêng, gia đình và Tổ quốc Chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹcủa tuồng Lực lượng chính nghĩa,trong những tình huống gian khổ hiểm nguy, đãchiến đấu vô cùng dũng cảm với một tín nhiệm sắt đá, thủy chung với một khátvọng to lớn Họ chiến đấu cho một lý tưởng tuyệt đối (phục nghiệp cho dòng vuacũ) với lòng trung thành vô hạn độ Cuộc chiến đấu của họ đã diễn ra đầy khí thế
Trang 3hào hùng, gây xúc cảm thẩm mỹ mạnh mẽ Có thể nói, Tuồng là sân khấu củanhững người anh hùng Trong những hoàn cảnh mâu thuẫn và xung đột bạo liệt bi
ai, các nhân vật chính diện của Tuồng đã vươn lên thoát khỏi sự chế ngự của hoàncảnh, hành động một cách dũng cảm, anh hùng, trở thành một tấm gương, một bàihọc cho người đời ngưỡng mộ noi theo
- Tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà tuồng có những chủ đề khác nhau, nhưngchủ đề tồn tại khá lâu và chiếm được tình cảm của người xem là “phò vua diệtngụy”
IV Âm nhạc
1 Chèo
- Có thể nói, âm nhạc là yếu tố rất quan trọng trong việc biểu hiện nội dungcủa nghệ thuật Chèo truyền thống Âm nhạc trong nghệ thuật Chèo thể hiện mộtcách sinh động, sáng tạo giá trị của âm nhạc truyền thống Việt Nam thông qua hệthống làn điệu trong Hát Chèo (nhạc hát) và Dàn nhạc Chèo (nhạc đàn) Nếu nóiChèo là môn nghệ thuật tạo nên giá trị âm nhạc rõ nét nhất trong vấn đề sử dụngđiệu thức năm âm Việt Nam có lẽ cũng hợp lý, bởi trong các làn điệu Chèo khôngchỉ sử dụng các điệu thức năm âm một cách thuần túy, đơn giản mà còn mang tínhnghệ thuật cao khi các điệu thức này được gắn với giá trị văn hóa dân tộc thôngqua các tích Chèo, làn điệu Chèo
- Trong nghệ thuật Chèo truyền thống, mỗi một hệ thống làn điệu chèothường gồm nhiều bài hát có âm điệu giống nhau, có cách phổ nhạc, phân câu thơ
và tiếng đệm thống nhất Cũng có những bài khác nhau về âm điệu nhưng lại đượcxếp trong cùng một hệ thống làn điệu nếu giống nhau về tính chất mô tả hoặc cùngdành cho một loại nhân vật thể hiện Ngược lại, có bài mang tên gọi của một hệthống, tuy nhiên lại không được xếp trong hệ thống đó bởi cấu trúc, cách phổ thơ,
âm điệu cũng như hoàn cảnh sử dụng hoàn toàn khác nhau
- Lời ca trong các làn điệu Chèo hầu hết là các thể loại thơ, phổ biến như: lụcbát, song thất lục bát, tứ tuyệt, thất ngôn Tuy nhiên thể lục bát và song thất lụcbát là phổ biến hơn cả
Trang 4- Do yêu cầu về nội dung và phong cách, những luật thơ thường bị phá thể,thêm vào đó là những từ như: dẫu mà, thời này, này a, ấy mấy được bắt nối vớilời hát làm thuận miệng để giai điệu trở nên chuẩn mực Đặc biệt, ngoài lời hát cónội dung nhất định ta còn thấy có nhiều nguyên âm như: a, i, ư, ơ, ô được xuất hiệnsau câu hát, được nhấn đi nhấn lại, luyến lên, vuốt xuống, ngắt, nẩy sinh động, tạonên nét độc đáo riêng, mang đậm tính trữ tình, trong sáng của nghệ thuật Chèo.
- Nói đến nhạc Chèo là nói đến cả hai bộ phận nhạc hát và nhạc đàn Phầnnhạc đàn hay còn gọi là Dàn nhạc Chèo có vai trò của đệm cho hát, làm nền chocảnh diễn, tạo tình huống kịch, mở màn cho vở diễn
- Dàn nhạc Chèo mang nét đặc trưng trong dàn nhạc truyền thống dân tộcViệt Nam Mỗi loại nhạc cụ thể hiện một âm sắc riêng, có lối diễn tấu và sứctruyền cảm riêng, các nhạc cụ được cấu trúc theo xu hướng gần gũi với giọngngười tuy nhiên khi kết hợp với nhau lại tạo thành một thể thống nhất chuyển độngnhịp nhàng theo nội dung vở diễn mang màu sắc riêng, mang đặc trưng riêng củanghệ thuật Chèo
- Cấu trúc của dàn nhạc Chèo trước đây gồm:
- Bộ dây
+ Chi kéo: Nhị 1, Nhị 2, Hồ
+ Chi gẩy: Nguyệt, Tam, Thập lục, Bầu
+ Chi gõ: Tam thập lục
- Bộ hơi gồm: Tiêu, Sáo
- Bộ gõ gồm: trống Đế, trống Ban, trống Chầu, trống Cơm, Thanh la,
Mõ, Não bạt, Sinh tiền, Tiu cảnh, Chiêng
- Âm nhạc Chèo do phần dàn nhạc thể hiện gắn bó chặt chẽ với nội dung vởdiễn Thậm chí, âm thanh được vang lên từ khi màn sân khấu chưa mở để thu hútkhán giả, tạo không gian hấp dẫn với người xem Khi vở diễn bắt đầu, âm thanhcủa dàn nhạc đã gắn kết từng màn, từng cảnh với nhau; khái quát không gian, thờigian của cốt truyện; diễn tả tâm trạng nhân vật; tạo nên không khí, tiết tấu, tốc độcho vở diễn; làm nền cho diễn viên múa, làm phần nhạc đệm cho diễn viên háthoặc thể hiện các động tác sân khấu khi biểu diễn
Trang 52 Tuồng.
- Âm nhạc nói chung và âm nhạc trong sân khấu Tuồng nói riêng đều bắtnguồn từ cuộc sống lao động, các tập tục tôn giáo như: ma chay, tế lễ, diễn xướngdân gian Cộng với âm nhạc cung đình được chắt lọc, nâng cao cho phù hợp và đápứng được những yêu cầu, đặc trưng của nghệ thuật sân khấu mà hình thành nên.Đặc biệt là sân khấu Tuồng truyền thống
- Vai trò âm nhạc trong sân khấu Tuồng:
Là sân khấu ca kịch có nhiều yếu tố nghệ thuật tham gia, trong đó âm nhạcgiữ một vai trò hết sức quan trọng Ngoài việc đệm cho hát, cho múa, cho các hiệuquả sân khấu như : phong ba bão tố, chiến trận sa trường, đăng đàn bái tướng vv
Âm nhạc trong sân khấu Tuồng còn thể hiện tình cảm nhân vật trong các lớp diễnkhông lời và còn làm cầu nối của thế giới nội tâm nhân vật tới khán giả
- Trước hết ta phải nói đến sự mẫu mực của âm nhạc sân khấu Tuồng trongphối hợp biểu diễn Tuy là phục vụ cho các vai diễn, lớp diễn nhưng dàn nhạc cũngnhư diễn viên đều phải tuân thủ theo một nguyên tắc chung đó là “lề lối” Mộtnguyên tắc do nhiều thế hệ nghệ nhân sáng tạo, chắt lọc và được tồn tại đến ngàynay đã trở thành truyền thống Cũng chính từ “lề lối” đó mà âm nhạc trong sânkhấu Tuồng không giống với âm nhạc của các loại hình sân khấu khác
- Nhạc cụ trống luôn luôn làm nhiệm vụ dẫn dắt, mở đầu cho mọi tình huốngsân khấu Từ “điểm” cho nhân vật ra, vào hay khởi đầu cho câu nói, điệu hát củavai diễn đều phải theo trình tự là: Trống, tiếp đến dàn nhạc diễn tấu rồi mới đếndiễn viên nói hoặc hát tuỳ theo nhân vật Nguyên tắc này được vận dụng cho tất cảcác vai diễn, vở diễn của Tuồng truyền thống
- Nói đến sân khấu Tuồng ta đều biết đó là loại hình sân khấu “bi hùng” Tức là
“cái bi” tới mức tột cùng của sự đau thương mất mát “Cái hùng” phải đạt đến đỉnhđiểm của sự hoành tráng hào hùng
Để đáp ứng được những yêu cầu đó cũng là do cơ cấu cho một dàn nhạctrong sân khấu Tuồng truyền thống là không thể thiếu được các nhạc cụ như: Kèn
và Trống Tiếng Trống thúc quân, tiếng Kèn xung trận, hoà cùng tiếng quân reo đểtạo nên cảnh chiến trường ác liệt khiến người xem đôi khi phải nín thở, tim đập rộn
Trang 6ràng… rồi những lớp chia li, tang tóc thì tiếng kèn như tiếng gào thét oán than.Những âm sắc đó, những hiệu quả đó chỉ có âm nhạc sân khấu Tuồng mới thể hiệnnổi, mới đạt tới cái giá trị thẩm mỹ của môn nghệ thuật “bác học” mà ta thườnggọi.
Âm nhạc trong sân khấu Tuồng có ba hình thức diễn tấu:
a) Rao, Dạo: là đánh những câu nhạc mang tính “ứng diễn” nhưng phải phùhợp với hoàn cảnh, tâm lí nhân vật nhằm gợi cảm, hỗ trợ cho diễn viên biểu hiệnvai diễn, lớp diễn đó Mặt khác là làm điểm tựa cho cho diễn viên không bị chênhhơi, lạc giọng
b) Tòng đệm cho hát: là trên cơ sở giai điệu và tiết tấu của bài hát người nhạccông đệm theo Nhưng không hẳn phải giống nguyên si từng lời, từng chữ của câuhát mà trong đó có sự sáng tạo mang tính “ngẫu hứng”, riêng biệt mà không táchrời Cách đệm này tuỳ theo khả năng nhạc công và tính năng của từng loại nhạc cụ.c) Các bài nhạc đệm cho nói và hát: khác với các loại hình sân khấu khác, âmnhạc trong sân khấu Tuồng có một số bài nhạc đệm cho nói và hát Mặc dù giữagiai điệu nói và hát không giống giai điệu bài nhạc đệm Nhưng nó vẫn hoà quyệnnhau, hỗ trợ nhau để biểu đạt được lời văn, ý thơ của nhân vật một cách ngọt ngào
và hiệu quả Mặt khác cũng nói lên mối quan hệ giữa âm nhạc với vai diễn hết sứcchặt chẽ
V.Đạo cụ
1 Chèo
Đạo cụ trong chèo là một bộ phận không thể bỏ qua, vì nó đã góp phần làmnên đặc trưng riêng cho nghệ thuật diễn chèo Trong nghệ thuật sân khấu chèotruyền thống, cách xử lý, diễn xuất của các diễn viên đều bằng các động tác hư,nên các đạo cụ xuất hiện trên sân khấu rất ít Nổi lên là một số đạo cụ mà trongnghề gọi là đạo cụ tuỳ thân Tuy ít ỏi nhưng việc xử lý các đạo cụ này lại mangmột phong cách đặc biệt, lại có những giá trị nghệ thuật độc đáo và thú vị
Đạo cụ tuỳ thân trong chèo bao gồm:
Cái quạt của các vai Sinh, Đào
Cái gậy của các vai Hề, Lão, Mụ
Trang 7Cái mồi lửa của lính hầu cung đình
Cái bộ trống của phù thuỷ
Cái mái chèo của ngư ông v.v…
Trong số các đạo cụ tuỳ thân ấy, ta thấy nổi bật hơn cả là cái quạt, cái gậy vàcái mái chèo Cái tính chung của đạo cụ tuỳ thân là ở chỗ tuy nó là một vật cụ thểnhưng lại trở thành một vật trung gian để qua diễn xuất ước lệ của nhân vật mà nó
có thể trở thành vật thể, đồ dùng khác với sự tưởng tượng, bổ xung của khán giảchèo
- Cái quạt trong chèo: biểu hiện nhiều hình thức khác nhau Cái quạt trong tayngười diễn viên khi thì là phong thư, lúc lại là quyển sach, có khi là cây bút, có lúclại là mái chèo Cái quạt trong chèo được xử lý vô cùng linh hoạt, không gò ép vàobất kỳ một hình thức nào cụ thể thể hiện tính linh hoạt trong nghệ thuật sấn khấuchèo
- Cái gậy trong chèo: là một đạo cụ tuỳ thân gắn bó với các vai Hề, Lão, Mụ.Cái gậy gỗ trong tay anh Hề, cái gậy tre trong tay lão say, lão mốc, trong tay bà ănxin, trong tay thày bói Cái gậy trúc đầu rồng trong tay thần núi, tiên ông… mỗingười một vẻ song cái gậy cũng góp phần diễn tả trạng thái tính cách như một bộphận không thể thiếu trong hình tượng nhân vật Cái gậy trong tay anh Hề khi theohầu cậu, khi thì dùng để quẩy túi hành trang, hoặc cắp nách, cầm tay, khi lại trởthành vũ khí tự vệ, lúc lại dùng để múa gậy mua vui đua nghịch
Bằng tài năng sáng tạo của mình các nghệ sĩ chèo xưa đã làm cho cái gậy cóthần Nó là vật vô tri mà chứa đầy sức sông mang được cả tiếng cười sảng khoái vàniềm vui nỗi buồn
2 Tuồng
- Mặt nạ tuồng:
Nghệ thuật Tuồng, với cách hoá trang tạo diện mạo cho nhân vật, không có gì
là tả chân, mà hoàn toàn tượng trưng Người diễn viên, ngoài khả năng ca xướng,
vũ đạo, diễn xuất, còn phải biết vẽ mặt mình, khi thủ bất cứ vai nào Phẩm liệu hoátrang gồm có son, phấn, lọ, ngân (một loại bột màu đỏ pha vàng), bột màu xanh,vàng, với các dụng cụ tăm, móng (bằng ngón tay cái móc sâu vào như một cái
Trang 8muỗng, đầu kia bào dẹp như mái dầm, dùng để trát phấn, ngân làm nền da mặt và
vẽ các nét lọ), cùng một số cọ nhỏ, hoặc bút lông Bằng cả hai bàn tay điêu luyện,người diễn viên sử dụng các dụng cụ hết sức khéo léo để tạo những đường nét sắcsảo trên mặt mình, như những hoạ sĩ tài ba Nhờ những gương mặt được hoá trang,khán giả biết ngay tâm lý, tính cách, giai cấp xã hội của nhân vật, khi mới vừa thấydiễn viên bước ra sân khấu
Trước tiên là màu nền da mặt, nói lên các tính khí, tính chất xã hội, sắc tháitâm lý của nhân vật
Màu đỏ son hay đỏ ngân: người anh hùng, trung trinh tiết liệt (Quan Công,Cao Hoài Đức, Địch Thanh )
Màu trắng mốc: kẻ gian thần dua nịnh (Bàng Hồng, Đổng Trác, Tào Tháo )Màu đen: người chất phác, bộc trực, nóng nảy, nhưng ngay thẳng và chânthực (Trương Phi, Trịnh Ân, Uất Trì Cung )
Màu xám dợt: người tuổi tác, kẻ bần dân (lão chài, lão tiều )
Màu xanh: người mưu mô xảo quyệt, lũ yêu ma (Ngô Tôn Quyền, Cáp TôVăn )
Màu xanh chàm: tướng núi, người miền biển (Vương Bá Đường, Đơn HùngTín )
Vẽ vòng quanh mắt cũng có nhiều loại:
Mắt tròng xéo: kép võ còn trẻ (con nhà tướng)
Tròng trứng: võ tướng
Tròng táo: tướng đứng tuổi
Tròng lõa: lão tướng
Mặt vẽ nhiều nét rằn ri: người hung ác, tướng cướp, yêu đạo
Trên trán có vẽ thêm 1 con mắt: người có huệ nhãn, nhìn xa biết rộng, thôngthiên đạt địa (Thái sư Vân Trọng)
Trên trán vẽ vòng tròn trắng đỏ chia đôi là âm dương (nhật nguyệt): ngườisáng suốt, thông giao trời đất, soi rọi những oan ức của mọi người (Bao Công)
Về y trang:
Trang 9Võ tướng khi ra trận mặc võ giáp có cắm cờ lịnh sau lưng
Vua mặc áo thêu rồng
Hậu phi mặc áo thêu phượng
Đào mặc áo lụa trắng đóng vai tiểu thơ đài các
Lụa đỏ dành cho cô dâu, v.v
- Đạo cụ có tính ước lệ như roi ngựa Các loại vũ khí dùng tùy tính cách nhânvật và phải hài hòa với trang phục, giúp cho động tác mua thêm phần thẩm mỹ Vai
nữ tướng thường dùng song kiếm Vai kép thì dùng trường thương Kép núi dùngĐộc phủ, Kép con dùng Song chày Vai tướng phiên hay dùng đại đao còn cáctướng khác hay dùng Kích Kim giản vua ban thì Thái sư, đại thần mới có, mớidùng Ngoài ra còn theo gợi ý của các pho sử chuyện
VI Vũ đạo
1 Chèo
Đây là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca, dân vũ và các loạihình nghệ thuật dân gian khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Nó là hình thức kểchuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu vớicông chúng, và có thể được biểu diễn ngẫu hứng Sân khấu chèo dân gian đơngiản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèocũng phát khởi từ đó
Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự,phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu Ngôn ngữchèo có những đoạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc những câu cadao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ
Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấu Châu
Âu mà các nghệ sỹ tham gia diễn chèo thường ứng diễn Do vậy, vở kịch kéo dàihay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sỹ hay đòi hỏi của khán giả.Không giống các vở opera buộc các nghệ sỹ phải thuộc lòng từng lời và hát theonhạc trưởng chỉ huy, nghệ sỹ chèo được phép tự do bẻ làn, nắn điệu để thể hiệncảm xúc của nhân vật Số làn điệu chèo theo ước tính có khoảng trên 200
2 TuồngLối diễn xuất thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán
giả dễ cảm nhận Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần
Trang 10tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy Kiểu cách đi đứng còn dùng đểbiểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng,không thể diễn bộ "Trung" cho vai đứa "Hèn" hay đứa "Nịnh" Thậm chí lênngựa xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung tướng khác bộ dạng nịnh thần Mọiđộng tác đã thành thông lệ hay ước lệ Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh
và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưathể kéo lại nhìn gần, không thể "trung cảnh", "cận cảnh", làm tăng cường độ cácđộng tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần chiếu diễn (sânKhấu) đều nhìn thấy
Lối múa, đi và đứng có những động tác cách điệu, trong nghề gọi là bê, xiên,lỉa và lăn
Diễn viên nào ra sân khấu từ cánh gà tay mặt (sinh môn) đều sống tới cuốituồng, dẫu có bị kẻ gian hãm hại cũng không chết Ngược lại, diễn viên nào ra sânkhấu từ cánh gà bên trái (tử môn) cũng phải chết, dẫu làm tới Hoàng đế
Hành động của các nhân vật trên sân khấu trước hết phải để cho khán giả thấyđược, nghe được Người diễn viên Tuồng sử dụng vũ đạo( múa), hệ thống nói lối,bài bản, làn điệu( hát) là hai phương tiện chính để lột tả tính cách, tâm trạng củanhân vật
Múa Tuồng được hình thành từ những động tác sinh hoạt và hành động tâm lýtrong cuộc sống xã hội của con người Các thế hệ diễn viên đã chắt lọc những đôngtác trong sinh hoạt, lao động hàng ngày: tiếp thu những tinh hoa của những hìnhthái múa dân gian, múa tín ngưỡng, tôn giáo, trong tế lễ, hội hè: trong múa cungđình và trong võ thuật dân tộc để xây dựng vũ đạo Tuồng theo một hệ thống độngtác từ đơn giản đến phức tạp
Múa Tuồng có những nguyên tắc nghiêm ngặt: Nội ngoại tương quan; tả hữutương ứng; phì sấu tương chế; thượng hạ tương phù Nghĩa là hành động bên trong,bên ngoài của nhân vật phải tương ứng; phải trái phải cân đối; tuỳ theo tính cách,tâm trạng của nhân vật để sử dụng liều lượng vũ đạo cho đúng; trên, dưới theo quyluật âm dương, phù hợp trong hoàn cảnh quy định
Trang 11Múa Tuồng có các chức năng: Chức năng minh hoạ, chức năng biểu hiện,chức năng trang trí, chức năng bài cảnh, chức năng giới thiệu loại hình.
Múa Tuồng có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật biểu diễn, nó không chỉkích thích tình cảm trong diễn xuất, minh hoạ lời văn, thể hiện tâm trạng, tính cáchnhân vật, diễn tả không gian sân khấu, mà múa Tuồng còn có khả năng độc lậpbiểu hiện nhân vật như các lớp diễn: "Liêm Cương tắm ngựa", "Châu Sương cấyrâu"
Như vậy, múa Tuồng là một thành tố quan trọng không thể thiếu trong nghệthuật biểu diễn Tuồng Nó nằm trong quy luật cấu trúc nghệ thuật sân khấu truyềnthống Tuồng Nó đã trở thành hệ thống động tác, hệ thống ngôn ngữ để nghệ sỹTuồng lột tả tâm trạng, tính cách nhân vật
VII Trang phục
1 Chèo
- Trong điều kiện nghèo nàn về vật chất của các gánh chèo xưa cùng với điềukiện vận chuyển chỉ là đôi chân đi bộ, lại thường biểu diễn trên sân đình, sân nhàquan nên các gánh chèo xưa đều không có cảnh trí cho vở diễn cả trang phục cũngđơn gian, mộc mạc
- Trang phục trong chèo: Trang phục trong nghệ thuật chèo truyền thốngkhông phức tạp vì nó được khai thác dựa trên quần áo đời thường
- Đặc điểm: mộc mạc, giản dị, thể hiện được quan điểm thẩm mĩ của người diễn chèo và người xem chèo truyền thống
Họ coi trọng ý nghĩa cao đẹp của tích trò hơn sự lộng lẫy của trang trí, phụctrang vở diễn Họ coi trọng tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ hơn là nhưng thứphù trợ hoa hòe hoa sói Đó cũng chính là nét đẹp riêng của nghệ thuật chèo truyềnthống, điều đó mang lại cho cả diễn viên và khán giả một cảm giác thân quen gầngũi, người diễn và người xem hòa quyện vào nhau như không hề có khoảng cách
- Trang phục trong chèo thường là trang phục đời thường của người dân laođộng như: áo tứ thân, mớ ba, mớ bảy hay các bộ áo cánh, quần nâu sòng, quần lã
Trang 12tọa Và chính hình ảnh ấy đã đi vào văn chương bình dân lẫn văn chương bác học.Các thi sĩ như Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp cũng yêu cái xống áo đa tình ấycủa chèo cổ trong những thi phẩm nổi tiếng như: Chân quê, Em đi chùa Hương Nhân vật Thị Màu, đẹp cả xống áo cháy đỏ, lẫn tâm hồn nổi loạn khát khao đòi yêuthương trong vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính Nhân vật này trước hết đã thật bắtmắt về trang phục Phải nói rằng áo xống của Thị Màu tích tụ rất rõ ràng cách sửdụng màu của nghệ nhân truyền thống Việt Nam trong điêu khắc đình chùa vàtranh dân gian làng Hồ với nguyên tắc tối hậu: Dùng màu nguyên thuỷ, khôngdùng màu pha trộn Xống áo của Thị Màu rất chói chang: áo tứ thân đỏ màu xácpháo, yếu đỏ màu hoa râm bụt, áo cánh vàng chanh, thắt lưng hai màu xanh lục vàhoa thiên lý, bông hoa cài đầu trắng tươi.
- Nhân vật quan lại, quý tộc thì quần cũng giản dị cách tân từ các bộ áo dàiđúng như trang phục vua chúa ngày xưa
2 Tuồng
- Phục trang của các nhân vật Tuồng dựa theo kiểu phục trang của vua quantrong triều nếu là các vai vua quan hoặc theo kiểu phục trang của dân dã nếu làngười bình thường Nói chung loại nào cũng được tỉa tót cách điệu cho thêm phầnthẩm mỹ Vua, mặc long bào màu vàng có thêu hình rồng năm móng Các quan tứtrụ triều đình thì mặc “mãng” Mãng màu đỏ nếu là quan võ già, trung chính Mãngmàu tía nếu là Thái sư Riêng mãng màu vàng vua cũng thừng mặc Nịnh thần thìthường mặc mãng màu đen Áo bố tử màu tía là áo của Thái giám, trước ngực cómiếng bố tử hình vuông Quan văn, quan võ mặc Long chấn, tay chẽn có thêu hìnhrồng hoặc hổ báo trên ngực, nửa thân trước bên dưới xẻ giữa thường thêu đườngvân gợn sóng hoặc hình dãy núi, hình cỏ hoa, tuy từng nhân vật Áo giáp là áo củacác tướng ra trận, tay chẽn, hai vai có hai miếng chắn, trước ngực và từ thắt lưngtrở xuống là những tấm vải dày để bảo vệ cơ thể, thường có thêu hình đầu thú ởngực và thêu hình con hổ ở miếng vải bên dưới Màu sắc của áo giúp khác nhautùy từng nhân vật võ tướng nhưng mặc áo giáp thì phải giắt cờ lệnh tiễn phía sau
Trang 13lưng ló lên hai vai Áo sỹ thì tay áo rộng màu đen hay lam, không thêu Áo sỹ dùngcho học trò và cả những ông quan về hưu trong cảnh nghèo Cung trang là áo củacác cung tần trong triều Còn “đai” thị dùng để đeo quanh bụng bên ngoài mãng,bào Vua dùng đai màu vàng, quan dùng đai màu đỏ hoặc xanh.
- Mão – mũ hay nói rộng ra những vật dụng đội đầu thì trong hát bội, nhân vậtnào cũng dùng, từ vua chúa, quan lại, hoàng hậu, tiểu thư đến nho sinh, nhà sư, lãonông, thiếu nữ, trẻ em… Mỗi loại nhân vật có một kiểu mão riêng Vua thì đội mãoCửu long, đính 9 con chim phụng Mũ cửu phụng có khi nữ chúa, công chúa cũngdùng Mão kim khôi là của những vai tướng ra trận Nếu tướng phản diện thì kimkhôi là màu đen như Tạ Ôn Đình hoặc màu đỏ như Võ Tam Tư Nếu tướng chínhdiện thì kim khối màu xanh như Triệu Tử Long hoặc màu trắng như Lã Bố Quanvăn quan võ dùng cùng một kiểu mão Mão quan văn màu đỏ gọi là Văn đường cânnhư Kim Lân, Đào Phi Phụng Mão quan võ màu đen gọi là Võ đường cân nhưKhương Linh Tá, Địch Thanh Mão bình thiên màu đỏ, đỉnh mão bằng và vuôngthương dùng cho Thái sư cả chính diện như Thái sư Văn Trọng lẫn phản diện nhưThái sư Triệu Văn Hoán, Tạ Thiên Lãng Riêng Tạ Ôn Đình không phải là Thái sưcũng đội mũ bình thiên nhưng màu đen
- Mão thẻ ngang (vì ở hai bên tai có hai cái thẻ ngang) thì dùng cho các quanvăn già, trung thần như Bao Công, Lý Khắc Minh Bao đảnh dùng để bao búi tóctrên đầu của các công tử Người ta còn có thêm mão thiết mạo mão của nhà sư,mão Gia lễ của nho sinh Lại còn Khăn đầu rìu của nông phu, khăn xéo – khăn chítbuộc tóc đuôi gà của thiếu nữ
- Râu ria – Trong hát bội, nhân vật tuổi từ trung niên trở nên thường mang râukhông kể chính diện nay phải diện Nhưng nhân vật nào mang loại râu gì thì phụthuộc vào tính cách của nó Nhân vật chính diện nói chung mang râu đen đài, giàthì mang dâu bạc dài Võ tướng già mang râu liên tu bạc Râu ba chòm đen dàicũng dùng cho một số võ tướng có cốt cách văn thần như Đổng Kim Lân, Đào Phi