1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tiến sĩ Khoa học lịch sử: Sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)

198 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)
Tác giả Đoàn Minh Điền
Người hướng dẫn PGS. TS Phạm Ngọc Tân, PGS. TS Trần Ngọc Long
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử thế giới
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2018
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án nhằm phục dựng quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào từ năm 1955 đến năm 1975, qua đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN MINH ĐIỀN

SỰ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4

(VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO

TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGHỆ AN - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐOÀN MINH ĐIỀN

SỰ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4

(VIỆT NAM)VỚI QUÂN DÂN LÀO

TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975)

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Mã số: 9 22 90 11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS PHẠM NGỌC TÂN

2 PGS TS TRẦN NGỌC LONG

NGHỆ AN - 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luậnán này là trung thực, đảm bảo chuẩn xác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Tác giả

Đoàn Minh Điền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận án 6

7 Bố cục của luận án 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới

177 1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 255 1.2.1 Nhận xét về tình hình nghiên cứu 255 1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 266 Chương 2 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI (1955 - 1975) 27

2.1 Cơ sở hình thành sự phối hợp chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975) 27 2.1.1 Cơ sở lý luận và nhận thức 27

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 30

2.1.3 Cơ sở pháp lý 37

2.2 Yếu tố tác động đến sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào (1955 - 1975) 466 2.2.1 Tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á 466 2.2.2 Âm mưu của Mỹ đối với Lào và Việt Nam 499 Tiểu kết chương 2 51

Trang 5

Chương 3 HOẠT ĐỘNG PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO TRÊN CHIẾN TRƯỜNG LÀO (1955 - 1975) 533 3.1 Phối hợp xây dựng, bảo vệ căn cứ địa và phát triển lực lượng cách mạng 533 3.2 Phối hợp mở các tuyến đường vận tải chiến lược 666

3.3 Phối hợp tác chiến 72

3.3.1 Giai đoạn 1955 - 1973 72

3.3.2 Giai đoạn 1973 - 1975 98

Tiểu kết Chương 3 1033 Chương 4 MỘT SỐ NHẬN XÉT 106

4.1 Kết quả và hạn chế 107

4.1.1 Kết quả 107

4.1.2 Hạn chế 110

4.2 Đặc điểm 114

4.2.1 Sự phối hợp chiến đấu diễn ra sớm và liên tục trong một thời gian dài 114

4.2.2 Sự phối hợp chiến đấu diễn ra trên các địa bàn chiến lược quan trọng nhất của Lào 116

4.2.3 Nội dung phối hợp chiến đấu phong phú, toàn diện 118

4.3 Một số bài học kinh nghiệm 122

4.3.1 Thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng 122

4.3.2 Phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang Lào trong suốt quá trình làm nhiệm vụ quốc tế 1244 4.3.3 Thực hiện gắn kết ba nhiệm vụ: chiến đấu, tuyên truyền và lao động sản xuất 1255 4.3.4 Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ ngang tầm nhiệm vụ 1266 4.3.5 Xây dựng cơ sở cách mạng dọc biên giới Lào - Việt Nam vững mạnh để phối hợp bảo vệ an ninh biên giới 1288 KẾT LUẬN 130

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 135 PHỤ LỤC 1 QUYẾT ĐỊNH, NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ, ĐIỆN VĂN, HIỆP ĐỊNH PL1 PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ CHIẾN DỊCH TIÊU BIỂU PL32 PHỤ LỤC 3 MỘT SỐ ẢNH, BẢN ĐỒ PL35

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TT Từ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

3 CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân

4 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

11 TTLTQG Trung tâm lưu trữ quốc gia

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau khi thực dân Pháp thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương (1946 -1954), Mỹ tìm mọi cách thay chân Pháp để biến Đông Dương thành thuộc địa kiểu mới Để thực hiện âm mưu này, ở Lào, Mỹ đưa Kàtày Đônxaxôrít lên làm Thủ tướng, tìm mọi thủ đoạn để chống phá cách mạng Lào, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc Việt Nam cho cách mạng miền Nam và cách mạng Lào Mỹ còn cấu kết với phái Hữu phá hoại công cuộc xây dựng của miền Bắc Việt Nam Ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng và thành lập Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, chối bỏ việc thi hành Hiệp định Giơnevơ, đàn áp những người yêu nước Một lần nữa, nhân dân hai nước Lào, Việt Nam phải đối mặt với một kẻ thù chung là đế quốc Mỹ, do đó liên minh chiến đấu giữa hai nước trở thành vấn đề sống còn của hai dân tộc Để đưa sự nghiệp cách mạng của hai nước đi đến thắng lợi, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào1, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã đoàn kết, phối hợp chiến đấu Theo đề nghị của Đảng Nhân dân Lào, từ rất sớm, Việt Nam đã quyết định cử các đoàn chuyên gia, cố vấn, lực lượng bộ đội tình nguyện sang phối hợp với quân dân Lào chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai

Quân khu 4 (Việt Nam) hội đủ các điều kiện như vị trí địa lý, sự tương đồng

về kinh tế, văn hóa, kinh nghiệm đoàn kết chiến đấu với quân dân Lào trong kháng chiến chống Pháp, đã được Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam giao trách nhiệm phối hợp với quân dân Lào chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai Trong suốt 20 năm (1955 - 1975), hàng vạn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến của Quân khu 4 đã kề vai sát cánh với quân dân Lào xây dựng lực lượng chính trị và quân sự, căn cứ địa, tổ chức tác chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai

Về phần mình, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân dân Lào đã cùng các LLVT Quân khu 4 khai phá, mở đường chiến lược Nhân dân Lào đã di dời bản, mường để nhường đất cho việc mở đường, tham gia mở đường, phối hợp chiến đấu bảo vệ đường, Hàng trăm kilômet đường chiến lược chạy ngang dọc trên đất Lào đã chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai của

1

Năm 1972, tại Đại hội lần thứ II, Đảng Nhân dân Lào đổi tên thành Đảng Nhân dân cách mạng Lào

Trang 8

nhân dân hai nước Việt Nam và Lào Việc mở tuyến vận tải chiến lược đi trên đất Lào là một minh chứng rõ nét về sự phối hợp giữa quân dân Lào với Quân khu 4 Điều đó góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam (30/4/1975) và của nhân dân Lào (2/12/1975)

Sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 và quân dân Lào trên đất Lào

là nhân tố quan trọng góp phần đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, đưa cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn vào ngày 02/12/1975

1.2 Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, Việt Nam và Lào

có nhiều điểm tương đồng Hai nước Lào và Việt Nam đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo Trên nền tảng mối quan hệ “đặc biệt hiếm có” của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong những năm tháng chống Mỹ, đến nay quan hệ hợp tác giữa hai nước vẫn không ngừng phát triển mạnh mẽ Hơn lúc nào hết, bài học của những ngày nhân dân hai nước Việt Nam và Lào cùng nhau “đồng cam cộng khổ”, “chia ngọt sẻ bùi” trong kháng chiến chống Mỹ vẫn còn giữ nguyên giá trị Đó là tài sản tinh thần vô giá, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng hai nước Việt Nam và Lào tiếp tục gặt hái được những thắng lợi mới

Đối với nhân dân các tỉnh Quân khu 4, vẫn như trước kia - những ngày đánh

Mỹ, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, họ lại “nhường cơm, sẻ áo”, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác, giúp đỡ nhân dân Lào xây dựng cuộc sống mới Sự gắn bó keo sơn, máu thịt giữa các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 hiện nay với các tỉnh Bắc, Trung Lào là nhân tố quan trọng để hai nước tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

1.3 Hiện nay, nghiên cứu về quan hệ giữa các địa phương Việt Nam với các địa phương Lào, giữa các quân khu ở Việt Nam với Lào đang là xu hướng mới trong nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt - Lào nhằm góp phần tăng cường sự hiểu biết giữa các địa phương Việt Nam và Lào, giữa các quân khu ở Việt Nam với Quân đội Nhân dân Lào Do đó, nghiên cứu về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc nhằm phục dựng lại quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai (1955 - 1975), tìm ra các đặc điểm, những thành tựu và hạn chế của sự phối hợp, từ đó góp phần làm sáng rõ quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đồng thời đúc rút những kinh

Trang 9

nghiệm cho mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Sự phối hợp chiến đấu giữa

lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)” làm luận án Tiến sĩ Sử học của mình

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào trên chiến trường Lào chống đế quốc Mỹ xâm lược (1955

Mặc dầu năm 1957, Quân khu 4 mới được thành lập, nhưng trên thực tế sự phối hợp giữa Liên khu 4 với quân dân Lào đã diễn ra từ năm 1955

+ Mốc kết thúc là ngày 2/12/1975 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào giành thắng lợi, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Lào

- Phạm vi không gian

+ Luận án nghiên cứu sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên địa bàn các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay1, Xavannakhẹt, Khăm Muộn, Áttôpư, Xaravan Đây là những tỉnh mà Quân khu 4 được giao nhiệm vụ phối hợp với quân dân Lào chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai

+ Địa bàn Quân khu 42 Trong kháng chiến chống Mỹ, Quân khu 4 bao gồm các tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực huyện Vĩnh Linh3

1 Năm 1967, Trung ương Đảng Neo Lào Hắc xạt ra quyết định thành lập tỉnh Bôlikhămxay trên cơ sở Liên mường 90 [139; tr.455]

2 Quân khu 4 có nhiều tên gọi qua các thời kỳ: Chiến khu 4 (1945 - 1946); Khu 4 (1946 - 1948);

Liên khu 4 (1948 - 1957); Quân khu 4 (1957 đến nay) Từ 1976 đến nay, địa bàn Quân khu 4 có thêm các tỉnh Thanh Hóa, Quảng trị và Thừa thiên - Huế

3

Ngày 16/6/1955, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 151/TTg thành lập Khu vực Vĩnh Linh như một đơn

vị tỉnh trực thuộc Trung ương

Trang 10

- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình phối hợp chiến

đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào từ năm 1955 đến năm 1975 trên các lĩnh vực xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, tổ chức tác chiến và mở các tuyến đường chiến lược chi viện chiến trường;

Ngoài nội dung trên, các nội dung khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận án nhằm phục dựng quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu

4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào từ năm 1955 đến năm 1975, qua đó rút ra một số đặc điểm, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở hình thành và những yếu tố tác động đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong những năm 1955 - 1975

- Nghiên cứu quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong những năm 1955 - 1975 trên các lĩnh vực: xây dựng, bảo vệ căn cứ địa và phát triển lực lượng cách mạng; mở đường chiến lược chi viện chiến trường và tổ chức tác chiến trên chiến trường

- Rút ra những thành tựu và hạn chế của quá trình hợp tác chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trong những năm 1955-1975

- Bước đầu khát quát một số đặc điểm và kinh nghiệm trong quá trình phối

hợp chiến đấu, từ đó để củng cố và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn hiện nay

4 Nguồn tài liệu

- Tài liệu gốc: Để thực hiện đề tài, chúng tôi tiếp cận và khai thác các văn kiện

của Đảng Nhân dân Lào (sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào), Chính phủ Kháng chiến Pathet Lào, Neo Lào Ítxala1(sau này là Neo Lào Hắcxạt), Bộ Quốc phòng Lào, Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ nước Việt Nam DCCH, Bộ Quốc phòng Việt Nam, Quân khu 4 (Việt Nam) Nguồn tài liệu này được lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân đội Nhân dân Lào, Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản, Cục Lưu trữ

1

Neo Lào Ítxala nghĩa là Mặt trận Lào tự do; Neo Lào Hắcxạt nghĩa là Mặt trận Lào yêu nước

Trang 11

Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quân khu 4, Bảo tàng Quân khu 4,

- Tài liệu tham khảo: Trong quá trình triển khai luận án, chúng tôi đã tiếp cận

và tham khảo các công trình của Bộ Quốc phòng Việt Nam, Bộ Quốc phòng Lào, Quân khu 4, của Tỉnh ủy và Bộ Chỉ huy Quân sự các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, của các đơn vị của LLVT Quân khu 4 đã từng phối hợp chiến đấu với quân dân Lào trên chiến trường Lào như Sư đoàn 324, Sư đoàn 968 , của các đơn vị LLVT Pathet Lào như Tiểu đoàn 2 Pathet Lào, của các nhà nghiên cứu, các tướng lĩnh liên quan đến nội dung luận án

Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận và khai thác các công trình nghiên cứu, các thông báo khoa học, các tham luận trong các hội thảo khoa học, luận án, các bài viết đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử Quân sự Việt Nam, lưu trữ tại các thư viện các trường đại học ở Việt Nam và Lào có nội dung liên quan đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu

4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Tài liệu điền dã:

Tác giả đã có 3 chuyến đi thực tế tại các tỉnh Bôlikhămxay, Khăm Muộn, thủ

đô Viêng Chăn để sưu tầm tư liệu tại Bảo tàng Quân đội Nhân dân Lào, Bảo tàng Cayxỏn Phômvihản, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đối ngoại và đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt, luận án nghiên cứu dựa trên quan điểm nhất quán của Đảng ta về mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong những năm chống Mỹ và trong giai đoạn hiện nay

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ yếu Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu giữa các nguồn tài liệu, phương pháp phỏng vấn… để giải quyết vấn

đề mà luận án đặt ra

Trang 12

6 Đóng góp của luận án

Giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra, luận án có những đóng góp sau:

- Từ sự phân tích những cơ sở và những yếu tố tác động, luận án phục dựng có

hệ thống quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975); từ đó rút ra những thành tựu và hạn chế của quá trình phối hợp chiến đấu, dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu lịch sử

- Luận án làm rõ vị trí chiến lược và vai trò Quân khu 4 đối với cách mạng Lào cũng như vai trò của cách mạng Lào đối với cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay Từ đó, luận án góp phần bổ sung vào kho tàng nghiên cứu ở Việt Nam về quan hệ giữa Quân khu 4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai

- Luận án khái quát một số đặc điểm của sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 Việt Nam với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai Đồng thời, luận án đúc kết một số kinh nghiệm có thể vận dụng để củng cố và phát triển mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong giai đoạn hiện nay

- Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai Vì vậy, luận án là tài liệu tham khảo cần thiết cho những ai nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Lào, lịch sử Việt Nam, nghiên cứu

về quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2 Cơ sở hình thành và yếu tố tác động đến sự phối hợp chiến đấu

giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào chống đế quốc Mỹ và tay sai (1955 - 1975)

Chương 3 Hoạt động phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân

khu 4 (Việt Nam) với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955-1975)

Chương 4 Một số nhận xét

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài sự phối hợp chiến đấu giữa QĐND Việt Nam với quân dân Lào cũng như sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà chính trị, ngoại giao, các nhà sử học, các nhà quân sự Việt Nam, Lào Trên cơ sở nguồn tư liệu tác giả đã tiếp cận, có thể chia thành các nhóm như sau:

1.1.1.Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, trong đó có đề cập đến sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào

Trước hết phải kể đến cuốn Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào -

Việt Nam 1930 - 2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Đây là công trình tập

hợp các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, viết về quan hệ Việt Nam - Lào Điểm chung các bài viết là tác giả đã làm rõ các chủ trương, đường lối liên minh, đoàn kết, phối hợp chiến đấu giữa Đảng Lao động Việt Nam với Đảng Nhân dân Lào, giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào; giữa quân dân QĐND Việt Nam với Lào, trong đó có LLVT Quân khu 4 và của nhân dân các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4; khẳng định đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam -Lào là một tất yếu và là một trong những nhân tố quan

trọng đưa đến thắng lợi cách mạng của mỗi nước

Tác giả Đồng Sĩ Nguyên1 với tác phẩm Đường xuyên Trường Sơn [93] đã làm

nổi bật quá trình hoạt động của Đoàn 565 chuyên gia quân sự của Quân khu 4 hoạt động trên chiến trường Lào cũng như hoạt động của Tuyến vận tải chiến lược 559 trên đất Lào, qua đó thấy được tinh thần chiến đấu dũng cảm của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào, sự đóng góp to lớn của nhân dân Lào đối với Đường Hồ Chí Minh

Bức tranh tổng thể lịch sử Lào từ cội nguồn đến khi kết thúc cuộc kháng chiến

chống Mỹ cứu nước được phản ánh khá đầy đủ trong cuốn Lịch sử các quốc gia

1

Nguyên Chính ủy Quân khu 4, nguyên Tư lệnh Đoàn 565 của Quân khu 4 hoạt động ở Lào

Trang 14

Đông Nam Á - Tập II - Lịch sử Lào [95] do Giáo sư Lương Ninh chủ biên và cuốn Lịch sử Lào [63] của nhóm tập thể tác giả Đặng Bích Hà, Phạm Nguyên Long, Vũ

Công Quí, Phạm Lệ Thi, Nguyễn Duy Thiệu, Nguyễn Hào Hùng, Trần Cao Thành biên soạn Các tác giả của hai công trình này đã dành một dung lượng đáng kể để khảo cứu về liên minh đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào và có điểm qua một số hoạt động của LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Lào, qua đó khẳng định sự ra đời, phát triển của liên minh Việt Nam - Lào là một tất yếu lịch sử

và là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào

Năm 1995, Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị Đảng

Cộng sản Việt Nam hoàn thành công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu

nước - Thắng lợi và bài học[2] Công trình này đã tổng kết có hệ thống cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, rút ra các bài học kinh nghiệm trong đó có bài học về liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào; khẳng định liên minh, đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào là một trong những nguyên nhân dẫn đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của hai nước Việt Nam - Lào

Năm 1999, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam xuất bản cuốn Lịch sử các đoàn

quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào(1945 - 1975)[20] Cuốn

sách phục dựng các hoạt động của Đoàn Cố vấn 100 và Đoàn Chuyên gia 959 giúp cách mạng Lào, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên gia, cố vấn giúp cách mạng Lào Công trình cũng đã đề cập đến việc Quân khu 4 giúp đỡ cách mạng Lào mở một số chiến dịch quân sự

Trên lĩnh vực phối hợp mở đường chi viện chiến lược, cuốn Lịch sử Đoàn 559

- Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh [91] do Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên,

Bộ Tư lệnh Binh đoàn 12, Viện Nghiên cứu Lịch sử Quân sự Việt Nam, Tổng Cục Hậu cần, Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn chỉ đạo biên soạn, đã phục dựng quá trình

ra đời và phát triển của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh Qua

đó, người đọc hiểu được đóng góp to lớn của Đoàn 559, bộ đội Trường Sơn, Đường

Hồ Chí Minh đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như những đóng góp của LLVT Quân khu 4 và nhân dân Lào ở thời kỳ đầu mở đường, bao gồm mở chiến dịch quân sự để giải phóng địa bàn, vận động nhân dân Lào nhường đất để mở đường và tham gia mở đường, tổ chức vận tải, bảo vệ đường

Trang 15

Dưới góc độ tổng kết cuộc chiến tranh nhân dân ở Lào, Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh Lào và Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam phối hợp với Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Bộ Quốc phòng Lào đã

hoàn thành công trình: Tổng kết cuộc chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân

Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (1945 – 1975) [18] Công trình này đã làm rõ bối cảnh lịch sử, nguyên nhân, tính chất

và đặc điểm của cuộc chiến tranh nhân dân, luận giải về liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương, đoàn kết chiến đấu giữa quân dân Lào với LLVT Việt Nam; điểm qua một số hoạt động quân sự của LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Lào Công trình

đã rút ra 8 bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học nói về đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa nhân dân Lào với nhân dân Việt Nam, Campuchia

Nhân dịp Lào và Việt Nam kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1962

- 2002), Hội Hữu nghị ViệtNam - Lào xuất bản Đặc san kỷ niệm 25 năm Hiệp ước

hữu nghị hợp tác và 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào [71] Công trình tập hợp

bài viết của nhiều tác giả là cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội hai nước Việt Nam, Lào, phản ánh sinh động tình đoàn kết chiến đấu, những hi sinh, mất mát của nhân dân hai nước cũng như của LLVT Quân khu 4 và quân dân Lào trong quá trình giúp đỡ lẫn nhau kháng chiến chống ngoại xâm

Chủ trương đoàn kết chiến đấu của hai nước Lào, Việt Nam còn được thể hiện qua các bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh Việt Nam như:

Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đồng Sĩ Nguyên Điểm chung trong các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội cách mạng của hai nước là làm rõ nguyên nhân của sự đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước Việt Nam và Lào; ca ngợi tình đoàn kết, gắn bó giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, giữa hai dân tộc Việt Nam- Lào, giữa QĐND Việt Nam

và Quân GPND Lào và khẳng định liên minh, đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào là một tất yếu lịch sử, là một trong những nhân tố quan trọng đưa cách mạng hai nước

đi đến thắng lợi Để minh chứng cho các luận điểm của mình, các tác giả đã điểm lại

sự giúp đỡ của LLVT Việt Nam cũng như của LLVT Quân khu 4 đối với cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến

Năm 2012 Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam phối hợp

Trang 16

với Ban Tuyên huấn Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chỉ đạo biên soạn cuốn Lịch sử

quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007 [6] Cuốn sách khái

quát những nhân tố dẫn đến đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào, làm rõ một số nội dung và quá trình đoàn kết chiến đấu ViệtNam - Lào Sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 đối với cách mạng Lào đã được cuốn sách điểm qua để minh chứng cho tình đoàn kết ViệtNam - Lào Công trình đã đúc rút một số bài học kinh nghiệm về liên minh đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào

Công trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (1954 - 1975), Tập II [130] đã

tái hiện quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong đó có đề cập đến nội dung đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào; khẳng định tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào là một tất yếu lịch sử, là một trong những nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi cách mạng của mỗi nước

Những nét chung về liên minh, đoàn kết chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Việt Nam với quân dân Lào và một số bài học kinh nghiệm còn được phản ánh qua

bộ sách nhiều tập Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) [23,24,25]

của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam Những sự kiện về sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 đã được hai công trình nêu trên sử dụng để minh chứng cho tình đoàn kết chiến đấu giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào

Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam với công trình Tổng kết nghĩa vụ quốc tế của

Đảng ta với chiến tranh giải phóng Lào 1945 - 1975 [129], làm rõ các cơ sở dẫn đến

nghĩa vụ quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam đối với cách mạng Lào và rút ra một

số bài học về vấn đề này từ năm 1945 đến năm 1975

Những cơ sở dẫn đến nghĩa vụ quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam đối với cách mạng Lào và những bài học về thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Đảng Lao động Việt Nam đối với cách mạng Lào từ năm 1945 đến năm 1975 cũng được tác giả

Hoàng Văn Thái trình bày trong công trình Liên minh đoàn kết chiến đấu ViệtNam -

Lào - Campuchia [108]

Một trong những nghiên cứu sâu về quan hệ Việt Nam - Lào trong giai đoạn

1954 - 1975 được tác giả Lê Đình Chỉnh làm rõ trong Luận án Tiến sĩ Lịch sử: Quan

hệ Việt - Lào trong giai đoạn 1954 - 1975 [39] Tác giả luận án làm rõ bối cảnh lịch

sử, quá trình hình thành và phát triển quan hệ Việt Nam - Lào được biểu hiện trên các

Trang 17

lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, đào tạo cán bộ và rút ra một số kết luận

về sự thành công của quan hệ Việt Nam - Lào và khẳng định đó là một trong những nguyên nhân đưa đến thắng lợi của cách mạng hai nước

Luận án Phó Tiến sĩ Lịch sử Chính phủ Liên hiệp dân tộc trong cách mạng

giải phóng dân tộc của nước Lào thời kỳ 1954 - 1975 [101] của Nguyễn Thị Quế đã phân tích làm sáng tỏ vai trò của Chính phủ Liên hiệp dân tộc trong cách mạng giải phóng dân tộc của Lào thời kỳ 1954 - 1975 Luận án có đề cập đến sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam đối với cách mạng Lào, trong đó có LLVT Quân khu 4

Nhìn chung, các công trình trên đã nêu bật được sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào, tập trung làm nổi bật các nhân tố dẫn đến liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, các chủ trương và nội dung đoàn kết chiến đấu bao gồm xây dựng lực lượng, xây dựng căn

cứ địa, tổ chức tác chiến, chi viện chiến trường trong tổng thể sự giúp đỡ của Việt Nam đối với cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Các công trình nêu trên đã phục dựng hoạt động của các đoàn chuyên gia quân sự của Việt Nam tại Lào, như: Đoàn 100, Đoàn 959, Đoàn 565 ; tái hiện một

số chiến dịch quân sự của LLVT Việt Nam tại Lào trong đó có LLVT Quân khu 4 như: Chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum(1972), chiến dịch phản công đường số

9 - Nam Lào (1971), ; đúc rút một số bài học kinh nghiệm trong quá trình phối hợp chiến đấu giữa quân tình nguyện Việt Nam và quân dân Lào, khẳng định tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào là một tất yếu trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước; tình đoàn kết chiến đấu giữa Việt Nam và Lào là sự sống còn,

là nhân tố quan trọng góp vào thắng lợi cách mạng của mỗi nước

1.1.1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào

Năm 1992, Thường vụ Đảng ủy và Chỉ huy Sư đoàn 324 chỉ đạo biên soạn

cuốn Sư đoàn 324 [116] Cuốn sách phản ánh một cách trung thực, khách quan về

lịch sử phát triển của Sư đoàn 324, trong đó có thời gian khá dài hoạt động trên chiến trường Lào Trong quá trình hoạt động, Sư đoàn 324 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ giúp đỡ quân dân Lào trong và sau cuộc kháng chiến chống Mỹ

Sự giúp đỡ của Quân khu 4 đối với cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến

chống Mỹ được viết khá rõ trong cuốn Quân khu 4 -Lịch sử kháng chiến chống Mỹ

Trang 18

cứu nước (1954 - 1975) [118] Cuốn sách đã phục dựng lịch sử kháng chiến chống

Mỹ của Quân khu 4, trong đó có các hoạt động của LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Trung Lào và Hạ Lào từ năm 1955 đến năm 1975 qua một số chiến dịch quân

sự như Chiến dịch 128, Chiến dịch giải phóng Áttôpư, Chiến dịch giải phóng Xaravan, Chiến dịch 972 Đánh giá những những hoạt động của LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Trung - Hạ Lào, công trình khẳng định sự giúp đỡ của Quân khu 4 đối với cách mạng Lào đã góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam- Lào,

là nhân tố góp phần đưa sự nghiệp cách mạng Lào đến thắng lợi

Sư đoàn 968 là một trong hai sư đoàn chủ lực của Quân khu 4 trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Lào Những hoạt động của Sư đoàn được phản ánh sinh động

trong cuốn Sư đoàn 968 [104] Cuốn sách đã điểm lại chặng đường xây dựng, chiến

đấu và trưởng thành của Sư đoàn 968, trong đó phần lớn thời gian gắn bó với chiến trường Lào Trong quá trình phát triển, Sư đoàn 968 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với quân dân Lào trên chiến trường Lào

Năm 2010, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Ban Liên lạc Quân tình nguyện

và chuyên gia quân sự Việt Nam xuất bản cuốn sách: Quân tình nguyện và chuyên

gia quân sự Việt Nam giúp Lào - Biểu tượng đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu Việt - Lào Cuốn sách tập hợp bài viết của các tướng lĩnh Việt Nam và Lào về các

đơn vị quân tình nguyện, cố vấn, chuyên gia của Việt Nam tại Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và khái quát một số đặc điểm chung, một số bài học kinh nghiệm của quân tình nguyện Việt Nam tại Lào Trong số các bài viết có đề cập đến sự phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào, có thể kể đến hai bài điển hình:

- Bài viết Dấu ấn quân tình nguyện Việt Nam trong mối quan hệ đoàn kết đặc

biệt Việt - Lào trên chiến trường Quân khu 4, Tây Nguyên với Trung - Hạ Lào của

Nguyễn Quốc Thước [112] Là một người trực tiếp chỉ huy chiến dịch giải phóng Áttôpư, trong bài viết này, tác giả khẳng định tỉnh Áttôpư có vị trí địa - chính trị, địa

- chiến lược quan trọng trong thế chiến lược của Việt Nam, Lào, Campuchia Nhận định này giúp tác giả luận án có thêm cơ sở khẳng định đóng góp của LLVT Quân khu 4 và quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Bài viết Quân và dân Nghệ An tham gia làm nhiệm vụ quốc tế giúp Lào

trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược (1945 - 1975) [106] của

Trang 19

tác giả Bùi Hoài Thanh đã làm sáng tỏ sự giúp đỡ của tỉnh Nghệ An đối với tỉnh Xiêng Khoảng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ xâm lược Bài viết giúp đọc giả hiểu được vị trí chiến lược của tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Nghệ An đối với cách mạng Lào

Năm 2013, Bộ Quốc phòng nước CHXHCN Việt Nam và Bộ Quốc phòng

nước CHDCND Lào công bố cuốn: Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân

đội hai nước Lào - Việt Nam, Việt Nam - Lào Thực tiễn và bài học lịch sử Cuốn

sách được xuất bản bằng hai thứ tiếng (tiếng Lào và tiếng Việt) tập hợp các bài viết của các tướng lĩnh, các nhà nghiên cứu hai nước Nội dung tập trung phản ánh một cách sinh động về tình đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào, trong đó có một số bài viết về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào qua một số chiến dịch Công trình là tài liệu có giá trị để tác giả tham khảo Trong đó, đáng chú ý là bài viết của các tác giả:

- Nguyễn Quốc Thước với bài viết Tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân

đội hai nước Việt Nam - Lào trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược - Giá trị lý luận và thực tiễn [113]điểm lại những mốc

lịch sử phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với các lực lượng vũ trang Lào qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và khẳng định sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với các lực lượng vũ trang Lào là một tất yếu.Trong bài viết, tác giả khẳng định những hoạt động phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên đường số 9 từ biên giới Lào - Việt Nam đến Pha Lan đã thông đường chiến lược Tây Trường Sơn từ Bu La Pha đến Mường Nòong, đáp ứng yêu cầu chi viện cho chiến trường Phần kết luận, tác giả cho rằng, quan trọng nhất là từ những hoạt động phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào rút ra những vấn đề thuộc bản chất, nguyên tắc, quan điểm cơ bản có tính qui luật trong hoạt động phối hợp chiến đấu

- Võ Văn Chót với bài: Sư đoàn 324 anh hùng có chiều dày liên minh đoàn kết

chiến đấu đặc biệt Việt Nam - Lào [40] đã điểm lại các hoạt động quân sự của Sư

đoàn 324 sát cánh bên quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như trong giai đoạn bảo vệ Tổ quốc sau này Bài viết đã khẳng định: Sư đoàn 324 là một trong những đơn vị của LLVT Quân khu 4 có mặt bên cạnh cách mạng Lào sớm nhất

và vào những thời điểm nhạy cảm nhất

Trang 20

- Tác giả Nguyễn Chí Hướng với bài viết: Phối hợp tác chiến giữa lực lượng

vũ trang và nhân dân Quân khu 4 với quân và dân Trung- Hạ Lào trong sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc [72] đã điểm một số hoạt động quân sự của

LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Lào trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân

Pháp, đế quốc Mỹ và bảo vệ tổ quốc từ năm 1945 đến năm 1988

- Tác giả Vũ Quang Đạo trong bài: Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa

quân đội hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, những bài học kinh nghiệm [57]

và Nguyễn Thành với bài Liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt

Nam - Lào - thực tiễn và kinh nghiệm [107] đã phân tích rõ những kinh nghiệm đoàn

kết, liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam Những kinh nghiệm đó được đúc rút từ những đơn vị LLVT Việt Nam chiến đấu trên chiến trường Lào, trong đó có LLVT Quân khu 4

- Tác giả Hoàng Xiển với bài Sư đoàn 968 tình nguyện ra đời và lớn lên trên

đất Nam Lào (Trung - Hạ Lào) [132] điểm lại các hoạt động của Sư đoàn 968 - sư

đoàn chủ lực của Quân khu 4 hoạt động khá lâu trên chiến trường Lào và có những nhận xét xác đáng về những đóng góp của Sư đoàn này đối với cách mạng Lào

Sự giúp đỡ cách mạng Lào của lực lượng vũ trang trên địa bàn Quân khu 4

cũng được phản ánh qua các công trình Hà Tĩnh 30 năm kháng chiến (1945 - 1975) [54], Lịch sử Quảng Bình chống Mỹ cứu nước 1954 -1975 [119], Nghệ An lịch sử

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) [120], Lịch sử Nghệ An, Tập II, Từ năm 1945 đến 2005 [121], Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, Tập II (1954 - 1975) [51], Lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Tập II (1954 - 1975) [3], Quảng Trị kháng chiến chống

Mỹ cứu nước (1954 - 1975)[55], Các công trình trên đây đã dành dung lượng khá

lớn phản ánh sinh động sự giúp đỡ của quân dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình với quân dân tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Khăm Muộn của Lào

Năm 2006, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ đạo tổng kết 43 năm LLVT Quân khu

4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào với công trình Tổng kết 43 năm lực lượng vũ trang

Quân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào [14] Đây có thể coi là công trình tổng kết

một cách hệ thống và đầy đủ nhất về sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 đối với cách mạng Lào từ năm 1945 đến năm 1988 Công trình nêu một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Lào và của Quân khu 4, bối cảnh lịch sử, tổng hợp những nét chính về sự giúp đỡ của Quân khu 4 đối với cách mạng Lào từ năm 1945 đến năm

Trang 21

1988

Trong lĩnh vực công tác đảng, công tác chính trị, năm 2005, Đảng ủy - Bộ Tư

lệnh Quân khu 4 biên soạn cuốn Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng

vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1975) [53] Công trình phục dựng hoạt động công tác

đảng, công tác chính trị của LLVT Quân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Trong đó, công trình đi sâu phân tích làm rõ các chủ trương của Quân ủy Trung ương và của Quân khu ủy 4 đối với LLVT Quân khu 4 trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc tế ở Lào Công trình khẳng định công tác đảng, công tác chính trị là nhân tố quan trọng giúp LLVT Quân khu 4 hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ quốc tế tại Lào Năm 2012, Đảng ủy Sư đoàn 968 biên soạn công trình Biên niên

sự kiện Đảng bộ Sư đoàn Bộ binh 968 (1968 - 2011) [44] Cuốn sách đã tập hợp, hệ

thống hóa các Nghị quyết, Chỉ thị, Điện của Quân khu ủy 4 và của Đảng ủy Sư đoàn

968 về chỉ đạo Sư đoàn thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) Năm 2018, Bộ Tư lệnh Quân khu 4

biên soạn công trình Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện

nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2015) [13] Đây là công trình tổng kết có hệ thống và đầy đủ nhất về công tác đảng,

công tác chính trị của LLVT Quân khu 4 trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào từ năm 1945 đến năm 2015 Công trình đã tổng hợp và phân tích những thành tựu và hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Lào

Nghiên cứu về vai trò của Quân khu 4 với cách mạng Lào, hai công trình nghiên cứu có giá trị cao:

- Nguyễn Văn Quang với công trình: Vai trò của hậu phương Quân khu 4

trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước [99], đã làm nổi bật vai trò hậu phương của

Quân khu 4 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Công trình dành một dung lượng đáng kể đề cập đến sự chi viện Quân khu 4 đối với cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

- Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Cục Hậu cần với công trình: Lịch sử Hậu cần lực

lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2005) [26] đã phản ánh quá trình hình thành, phát

triển của ngành Hậu cần Quân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong đó dành một phần phản ánh sự chi viện của Quân khu 4

Trang 22

đối với cách mạng Lào trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm

Năm 2008, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 xuất bản bộ sách nhiều tập: Những trận

đánh của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1979) [27; tr.28] Công trình đã

phục dựng các trận đánh của LLVT Quân khu 4, trong đó có một số trận đánh phối hợp với quân dân Lào trong hai cuộc kháng chiến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Công trình Lịch sử Đảng bộ Trường Quân sự Quân khu 4 (1946 - 2010) [2] đã

làm sáng rõ quá trình Đảng bộ Trường Quân sự Quân khu 4 lãnh đạo Nhà trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo cán bộ quân đội cho Quân khu 4 và cho cách mạng Lào

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ Việt Nam - Lào, Nguyễn Thế Trung có bài:

“Quan hệ đặc biệt giữa tỉnh Nghệ An (Việt Nam) với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào)”[124]

Bài viết đã điểm lại chặng đường phát triển quan hệ và sự phối hợp chiến đấu chống ngoại xâm giữa hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng

Các đặc điểm của sự phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được tác giả Phạm Ngọc Tân

và Đoàn Minh Điền làm rõ trong công trình Vài nét về sự phối hợp giữa lực lượng vũ

trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) [105] được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6

(506)/2018 Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị có liên quan đến đề tài

Nghiên cứu giữa các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 các tỉnh của Lào đang là

một xu hướng diễn ra mạnh mẽ Tác giả Bùi Văn Hào trong Luận án Tiến sĩ Lịch sử:

“ Quan hệ giữa các tỉnh Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bôlykhămxay, Khăm Muộn của Lào với Nghệ An, Hà Tĩnh của Việt Nam từ năm 1976 đến năm 2007” [64] làm rõ bối

cảnh lịch sử, quá trình hình thành và phát triển quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và rút ra một số kết luận về sự thành công của các tỉnh nói

trên Đậu Quỳnh Mai với đề tài Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Quan hệ hợp tác giữa hai

tỉnh Nghệ An (Việt Nam) và Xiêng Khoảng (Lào) 1976 - 2002 đã làm sáng tỏ quan hệ

giữa tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục Tuy nhiên, các đề tài Luận án Tiến sĩ và Luận văn Thạc sĩ vừa nêu trên chỉ đề cập đến quan hệ các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 với các tỉnh của Lào sau cuộc kháng chiến chống Mỹ

Nhìn chung, các công trình trên đã nêu bật quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc

Trang 23

tế đối với cách mạng Lào của LLVT Quân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Các công trình nêu trên tái hiện một số chiến dịch quân sự của LLVT Quân khu 4 như chiến dịch 128, chiến dịch 972, đúc rút một số bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào của LLVT Quân khu 4 từ năm 1954 đến năm 1975

Như vậy, cho đến nay ở Việt Nam đề tài sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng

vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975) chưa

được nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện và chuyên sâu

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở các nước trên thế giới

1.1.2.1 Những nghiên cứu chung về sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)

Trước hết phải kể đến bài viết về quan hệ Lào - Việt Nam của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tướng lĩnh như: Cayxỏn Phômvihản, Xuphanuvông, Khămtày

Xiphănđon, Nuhắc Phumxavẳn được tập hợp trong cuốn Lịch sử quan hệ đặc biệt

Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước

Điểm chung các bài viết trong công trình này là các tác giả làm rõ các chủ trương, đường lối liên minh, đoàn kết chiến đấu giữa Đảng Nhân dân Lào với Đảng Lao động Việt Nam, giữa hai dân tộc Lào và Việt Nam; giữa quân dân Lào với QĐND Việt Nam, trong đó có LLVT Quân khu 4 và của nhân dân các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4; khẳng định đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam là một tất yếu và là một

trong những nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi cách mạng của mỗi nước

Là nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, ông Cayxỏn

Phômvihản, tác giả cuốn: Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã

hội [30] đã khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, quân

dân Lào đấu tranh anh dũng và giành thắng lợi to lớn Cuốn sách còn giúp người đọc thấy được tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân hai nước Lào - Việt Nam trong suốt chặng đường đấu tranh cách mạng của nhân dân Lào

Ở một khía cạnh khác, tác giả Cayxỏn Phômvihản trong bài: “Tăng cường

đoàn kết liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam, đẩy mạnh cuộc đấu tranh cách mạng oanh liệt, tiến tới giành thắng lợi mới” [34] đã khẳng định công lao to lớn của LLVT

Việt Nam trong đó có LLVT Quân khu 4 đối vớicách mạng Lào Tác giả bài viết cũng đã nêu lên một số kinh nghiệm cho LLVT Việt Nam làm nhiệm vụ quốc tế ở

Trang 24

Lào, đó là phải làm tốt ba nhiệm vụ chiến đấu, tuyên truyền và lao động sản xuất; phải nghiên cứu kỹ đặc điểm của chiến trường Lào để vận dụng chiến tranh nhân dân một cách sáng tạo và linh hoạt; phải thực hiện phương châm kết hợp 3 mặt: Chính trị

là cơ sở, quân sự là răn đe, kinh tế là đòn bẩy; phải xây dựng tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, giác ngộ quần chúng Những quan điểm trên là cơ sở để tác giả luận án tham khảo khi rút ra một số kinh nghiệm trong sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

Ghi nhận công lao của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam trong đó LLVT Quân khu 4

đối với cách mạng Lào, trong bài phát biểu tại Hội nghị Tổng kết công tác chuyên gia

giúp Lào trong 10 năm (1964 - 1974) [35], Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản cho

rằng, cán bộ, chiến sĩ Việt Nam luôn luôn có mặt bên cạnh cách mạng Lào kể cả lúc cam go nhất và không tiếc xương máu đối với cách mạng Lào Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh LLVT Việt Nam đã giúp cách mạng Lào tạo nên những nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi cuối cùng đó là hình thành lực lượng cách mạng, hình thành nên

mặt trận thống nhất, giúp giành, giữ và xây dựng vùng giải phóng, nhưng điều “quyết

định nhất” là đã giúp Lào xây dựng nên một Đảng Mác - Lênin chân chính Những ý

kiến của Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản là cơ sở để tác giả luận án khẳng định những đóng góp của LLVT Quân khu 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đối với cách mạng Lào

Ban Chỉ đạo Nghiên cứu lí luận và thực tiễn Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Viện Khoa học Quốc gia Lào, Cục Khoa học Lịch sử Quân sự, Bộ Quốc phòng Lào đã cho công bố một số công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống

đế quốc Mỹ của nhân dân Lào, trong đó có một số nội dung đề cập đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống

Mỹ

Công trình ຄະນະໂຄສະນາສ ູ ນກາງພັກກອມມູນ ິ ດຫວຽດນາມ, ປະຫວັດສາດສາຍພົວພັນແບບພ ິ ເສດລາວ- ຫວຽດນາມ, ຫວຽດນາມ- ລາວ 1930 - 2007, ເອກະສານໂຄສະນາ, ສ ໍ ານັກພ ິ ມຈ ໍ າໜ່າຍການເມ ື ອງແຫ່ງຊາດ, ຮ່າໂນ້ຍ [6] (Lịch sử quan

hệ hữu ngh ịLào - Việt Nam, Việt Nam - Lào 1930 - 2007) của Ban Tuyên giáo Trung

ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Ban Tuyên truyền Đảng Nhân dân Cách mạng Lào phối hợp biên soạn, đã luận giải làm rõ một số nội dung cơ bản như: cơ sở hình thành và phát triển tình đoàn kết Lào - Việt Nam, quá trình đoàn kết Lào - Việt Nam

Trang 25

chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng đất nước và đúc rút một số bài học kinh nghiệm về đoàn kết Lào - Việt Nam Công trình đã đề cập đến một số sự kiện có liên quan sự đoàn kết chống ngoại xâm của nhân dân trên địa bàn Quân khu 4 với quân dân Lào.

Cuốnປະຫວັດສາດ ພັກປະຊາຊົນປະຕ ິ ວັດລາວ[144] (Lịch sử Đảng Nhân dân Cách mạng Lào) đã tái hiện toàn bộ quá trình thành lập, xây dựng và phát

triển về tổ chức, hoạt động, lãnh đạo nhân dân Lào kháng chiến và xây dựng đất nước của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cuốn sách cũng làm rõ chủ trương đoàn kết chiến đấu của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào với Đảng Lao động Việt Nam, khẳng định chủ trương đó là hoàn toàn đúng đắn và là một trong những nguyên nhân đưa đến thắng lợi của cách mạng Lào Công trình có điểm qua một số sự kiện có liên quan đến LLVT Quân khu 4 giúp cách mạng Lào

Cuốnປະຫວັດສາດປະເທດລາວ (Lịch sử nước Lào) [145] đã tái hiện quá trình phát triển của Lào qua các thời kỳ, trong đó có đề cập đến tình đoàn kết chiến đấu giữ hai dân tộc Lào - Việt Namnói chung và LLVT Quân khu 4 nói riêng

Năm 2013, Bộ Quốc phòng hai nước Lào, Việt Nam xuất bản cuốn

ກ ະ ຊ ວ ງ ປ ອ້ ງ ກັ ນ ປ ະ ເ ທ ດ ສ າ ທ າ ລ ະ ນ ະ ລັ ດ ປ ະ ຊ າ ທ ິ ປ ະ ໄ ຕ ປ ະ ຊ າ ຊົ ນ ລ າ ວ : ຄວາມສາມັກຄ ີ ຄວາມສ ໍ າພັນສູ້ຮົບແບບພ ິ ເສດລະຫວ່າງກອງທັບລາວ - ຫວຽດນາມ,

ຫ ວ ຽ ດ ນ າ ມ -ລ າ ,ພຶ ດ ຕິ ກໍ າ ຕົ ວ ຈ ິ ງ ແ ລ ະ ບົ ດ ຮ ຽ ນ ປ ະ ຫ ວັ ດ ສ າ ດ , ສ

ໍ ານັກພ ິ ມຈ ໍ າໜ່າຍການເມ ື ອງແຫ່ງຊາດ - ຄວາມຈ ິ ງ ຮ່າໂນ້ຍ (Bộ Quốc phòng nước

CHDCND Lào, Đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nước Lào -

Việt Nam, Việt Nam - Lào Thực tiễn và bài học lịch sử Đây là tuyển tập bằng hai

thứ tiếng (tiếng Lào và tiếng Việt) tập hợp các bài viết của các tướng lĩnh quân đội Lào viết về tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Lào - Việt Nam Đáng chú ý trong công trình này là một số bài viết đề cập đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào, như:

- Bài viết: ການປະກອບສວ່ນຂອງກ ໍ າລັງປະກອບອາວຸດ ແລະ ປະຊາຊົນ ແຂວງ ຄ

Trang 26

trong đó có LLVT Quân khu 4 mở đường chiến lược Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh qua tỉnh Khăm Muộn Bài viết minh chứng đây là biểu hiện sinh động tình đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam

- Bài: ການຮ່ວມສ ໍ າພັນສູ້ຮົບແບບພ ິ ຫວຽດນາມແມ່ນປັດໃຈສ ໍ າຄັນປະກອບສວ່ນເຂ ົ້ າໃນໄຊຊະນະພາລະກ ິ ດຕ ໍ່ ສ ູ້ ປົດປອ່ຍຊາດແລະ ປົກປັກຮັກສາປະເທດຊາດຂອງສອງຊາດລາວ -ຫວຽດນາມ, ຫວຽດນາມ - ລາວ[141] (Liên

ເສດລະຫວ່າງກອງທັບຂອງສອງປະເທດລາວ-minh chiến đấu đặc biệt giữa quân đội hai nướcLào - Việt Nam, Việt Nam - Lào, nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc) của tác giả Chănsạmôn Chănnhạlạt đã đi sâu phân

tích, luận giải về liên minh đoàn kết chiến đấu Lào - Việt Nam, qua đó khẳng định đây là một tất yếu khách quan, là quy luật tồn tại và phát triển của hai nước và là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của hai dân tộc Lào - Việt Nam Để minh chứng, tác giả đã điểm qua một số hoạt động của LLVT Việt Nam,trong đó có LLVT Quân khu 4, trên chiến trường Lào,

- Bài viết: ທົ່ງໄຫຫ ີ ນ - ຊຽງຂວາງ ເປ ັ ນເຂດສ ູ້ ຮົບຍຸດທະສາດຕັດສ ີ ນໄຊຊະນະ

ຂ ອ ງ ກ ອ ງ ທັ ບ ປົ ດ ປ ອ່ ຍ ປ ະ ຊ າ ຊົ ນ ລ າ ວ ແລະທະຫານອາສາສະໝັກຫວຽດນາມໃນຊຸມປ ີ ຕ ໍ່ ຕ້ານຈັກກະພັດອາເມລ ິ ກາຮຸກຮານ [146]

(Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng là khu vực tác chiến, quyết định thắng lợi của

Quân Giải phóng Nhân dân Lào và bộ đội tình nguyện Việt Nam trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược) của tác giả Khăm Kiệu giúp bạn đọc thấy

được tầm quan trọng của vị trí chiến lược Cánh đồng Chum và ý nghĩa của chiến thắng Cánh đồng Chum đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lào Tác giả đã làm rõ sự phối hợp tác chiến giữa quân dân Xiêng Khoảng với bộ đội tình nguyện Việt Nam, trong đó có LLVT Quân khu 4

ໜື່ ງ ກ າ ນ ຕັ ດ ສ ີ ນ ໃ ຈ ທ ີ່ ຖ ື ກ ຕ້ ອ ງ ,ກ ໍ່ ສ້ າ ງ ພັ ກ ປ ະ ຊ າ ຊົ ນ ປ ະ ຕ ິ ວັ ດ ລ າ ວ ແລະແນວໂຮມລາວຮັກຊາດທັນເວລາໃນສົງຄາມຕ ໍ່ ຕ້ານຈັກກະພັດອາເມລ ິ ກາ [147]

(Thành lập Mặt trận 23- Một quyết định đúng đắn, sáng tạo kịp thời của Đảng Nhân

dân Lào và Mặt trận Lào yêu nước trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ) của

tác giả Phucsổmbun đã phân tích, làm rõ chủ trương thành lập Mặt trận 23 của Đảng

Trang 27

Nhân dân Lào là đúng đắn Qua đó, tác giả khẳng định sự phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với quân tình nguyện Việt Nam cũng như LLVT Quân khu 4 tại Mặt trận 23 là hết sức quan trọng, góp phần vào thắng lợi chung của hai nước Việt Nam - Lào

Bài:ວຽກໂຄສະນາຂົນຂວາຍປະຊາຊົນເພ ື່ ອປ້ອງກັນແນວທາງໂຮ່ຈ ີ ມ ີ ນຂອງຄະນະກ ໍ າມ ະການພັກ23 [149] (Công tác tuyên truyền,vận động nhân dân bảo vệ hành lang

Đường Hồ Chí Minh của Đảng ủy Mặt trận 23) của tác giả Suli Vănsẻng chăn đã làm

nổi bật sự phối hợp giữa LLVT Việt Nam với quân dân Lào trong công tác dân vận bảo vệ hành lang Đường Hồ Chí Minh tại Mặt trận 23

Bài:ການໂຈມຕີ ປົດປອ່ຍພູພຽງບໍ ລະເວນ (1970 - 1971) [148] (Cuộc tiến công giải phóng cao nguyên Bôlôven (1970 - 1971) của tác giả Sổmchăn

ະສານສົມທົບສູ້ຮົບກັບທະຫານອາສາສະໝັກຫວຽດນາມໃນບັ້ນຮົບຕ່າວໂຈມຕ ີ ເສັ້ນທາງເລກ

9 ພາກໃຕ້ລາວປ ີ 1971 [140] (Phối hợp tác chiến với quân tình nguyện Việt Namtrong

chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào 1971) của Bunmi Kẹovongsa đã tái hiện

quá trình phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với LLVT Việt Nam, trong đó có LLVT Quân khu 4 trong chiến dịch giải phóng cao nguyên Bôlôven (1970 - 1971) và chiến dịch phản công đường số 9 - Nam Lào năm 1971

Điểm chung của các bài viết dẫn ra ở trên đều tập trung tái hiện quá trình phối hợp chiến đấu giữa quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào qua một số chiến dịch tiêu biểu như: Chiến dịch giải phóng cao nguyên Bôlôven (1970 - 1971), Chiến dịch giải phóng Cánh đồng Chum, Chiến dịch phản công đường số 9 - Nam Lào (năm 1971), đúc rút một số bài học kinh nghiệm sâu sắc,

ý nghĩa to lớn về tình đoàn kết chiến đấu Lào - Việt Nam; khẳng định tình đoàn kết chiến đấu Lào - Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng dẫn đến thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai dân tộc Lào - Việt Nam

Là cơ quan chuyên nghiên cứu về lịch sử Quân đội Nhân dân Lào, Cục Khoa học - Lịch sử Quân sự Lào đã cho xuất bản nhiều công trình có liên quan đến sự phối hợp chiến đấu giữa quân đội cách mạng hai nước Lào, Việt Nam Tiêu biểu là các công trình sau đây:

- Công trình: ປະຫວັດສາດກອງທັບປະຊາຊົນລາວ (1945 - 1995),

Trang 28

ີ ມທ ີ່ ໂຮງພ ີ ມກອງທັບປະຊາຊົນລາວ [142] (Lịch sử Quân đội Nhân dân Lào (1945 -

1995) là công trình phản ánh đầy đủ nhất quá trình hình thành và phát triển của

QĐND Lào từ năm 1945 đến 1995 và có đề cập đến một số hoạt động của LLVT Quân khu 4 ở Lào qua một số chiến dịch quân sự tiêu biểu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ như: Chiến dịch 128, Chiến dịch giải phóng cao nguyên Áttôpư, Chiến dịch giải phóng Xaravan, Chiến dịch giải phóng Cánh đồng Chum, Chiến dịch phản công ở đường số 9 - Nam Lào Đặc biệt, cuốn sách phản ánh một cách sinh động sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 đối với Tiểu đoàn 2 (Pathet Lào) trong cuộc phá vây ngoạn mục trước họng súng của kẻ thù

- Công trình: ປະຫວັດສາດການຕໍ່ ສູ້ ຕ້ານລ່າເມື ອງຂື ້ ນຝຣັ່ງ ແລະ

và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Hạ Lào

(1945-1975) [16] (bản tiếng Việt) phản ánh đầy đủ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ của nhân dân Nam Lào Công trình có đề cập đến tình đoàn kết chiến đấu của quân dân Lào với quân dân Việt Nam trên chiến trường Hạ Lào từ năm 1945

- 1975, trong đó có LLVT Quân khu 4

Điểm chung của ba công trình nghiên cứu của Cục Khoa học - Lịch sử Quân

sự Lào dẫn ra ở trên là đã tập trung phản ánh tình đoàn kết, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam mang tính khái quát chung Có một số chiến dịch quân sự được phản ánh khá sinh động về sự phối hợp chiến đấu giữa Quân GPND Lào với quân tình nguyện Việt Nam nói chung cũng như sự phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với LLVT

Trang 29

Quân khu 4 Đây là những tư liệu lịch sử quí giá giúp tác giả rút ra những đặc điểm của sự phối hợp chiến đấu của LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào, đồng thời tái hiện sự phối hợp chiến đấu từ phía cách mạng Lào

1.1.2.2 Những nghiên cứu trực tiếp về sự phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với lực lượng vũ trang Quân khu 4

Các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến sự phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với LLVT Quân khu 4 ở Lào chưa nhiều Hai công trình sau đây

có thể coi là tiêu biểu nhất:

- Công trình: ກະຊວງປອ້ງກັນປະເທດ, ກົມວ ິ ທະຍາສາດປະຫວັດສາດການທະຫານ: ປະຫວັດສາດຕ ໍ່ ສ ູ້ ຂອງກ ໍ າລັງປະກອບອາວຸດແລະປະຊາຊົນລາວບັນດາເຜ ົ່ າທົ່ວແຂວງພາກກາ ງລາວຕໍ່ ຕ້ານລ່າເມື ອງຂື ້ ນຝຣັ່ງແລະຈັກກະພັດອາເມລ ິ ກາຮຸກຮານ(1945 - 1975), ວຽງຈັນ

[139] (Lịch sử kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân

dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Lào (1945 - 1975) Với độ dày trên 600

trang, cuốn sách phản ánh cuộc kháng chiến gian khổ của quân dân các tỉnh Trung Lào - địa bàn LLVT Quân khu 4 được giao nhiệm vụ giúp đỡ quân dân Lào trong hai cuộc kháng chiến Do đó, đây là công trình phản ánh sâu sắc nhất về sự phối hợp chiến đấu của quân dân Lào với LLVT Quân khu 4 trong hai cuộc kháng chiến thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Qua công trình nghiên cứu này, tác giả luận án có cơ sở để đối chiếu, khẳng định sự phát triển sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Trung Lào dưới sự giúp đỡ của Quân khu 4, đồng thời làm rõ sự phối hợp từ phía quân dân Lào

- Cuốn: ກອງພັນທ ີ 2 ແນວລາວຮັກຊາດວ ິ ລະຊົນ [143] (Tiểu đoàn 2

- Mặt trận Lào yêu nước anh hùng (1957 - 1975) mô tả khá sinh động sự giúp đỡ của

LLVT Quân khu 4 đối với Tiểu đoàn 2 trong quá trình phá vây và củng cố lực lượng trong thời gian từ tháng 5/1959 đến cuối năm 1960 Sự kiện LLVT Quân khu 4 giúp Tiểu đoàn 2 phá vây là mốc son chói lọi về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

Đây là những tư liệu ở phía Lào để tác giả luận án có cơ sở khẳng định sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào diễn ra sớm và ở những thời điểm quan trọng nhất, cam go nhất

Hai công trình dẫn ra ở trên là những tài liệu tham khảo hữu ích giúp tác giả

Trang 30

trong việc đi sâu tìm hiểu chi tiết về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào

Cũng như ở Việt Nam, ở Lào đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về sự phối hợp chiến đấu giữa quân dân Lào với LLVT Quân khu 4

1.1.2.3 Những công trình nghiên cứu ở các nước khác

Cho đến nay, tác giả luận án chưa được tiếp cận được các công trình nghiên cứu từ các nước khác về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào Có thể kể đến một số công trình viết về cuộc chiến tranh

ở Đông Dương có liên quan đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở Lào

Bernard C Nalty và Keith Nolan có hai công trình viết về cuộc chiến tranh ở Lào Bernard C Nalty mô tả tương đối chi tiết về sự đánh phá của không quân Mỹ đối với Tuyến vận tải chiến lược 559 ở Nam Lào nhằm ngăn chặn sự chi viện của

miền Bắc Việt Nam cho miền Nam Việt Nam và cho Lào trong cuốn: The War

Against Trucsks Aeral Interdiction in Southern Laos, 1968 - 1972 [133] Tương tự,

cuốn: Into Laos: The Story of Dewey Canyon II/Lamson 719, Vietnam 1971 [136] của

Keith Nolan mô tả khá chi tiết cuộc hành quân của quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn đánh vào đường số 9 - Nam Lào, địa bàn LLVT Quân khu 4 phối hợp chiến đấu với quân dân Lào Điểm chung của các công trình nêu trên là viết khá kỹ về chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Đông Dương, nhưng không có tác giả nào đề cập đến phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

Đáng chú ý là cuốn: Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam, nguyên tác bằng tiếng Pháp

của Nguyễn Phú Đức do Nguyễn Mạnh Hùng dịch Là một nhân vật cấp cao trong chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Phú Đức cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của Mỹ ở Việt Nam là không kiểm soát được Lào Nguyễn Phú Đức nhấn mạnh vai trò của Lào trong việc phối hợp với Việt Nam mở đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào để đưa người và vũ khí vào tận “cửa ngõ” Sài Gòn Cuốn sách giúp tác giả luận án khẳng định thêm việc mở đường Đường Hồ Chí Minh đi trên đất Lào là sự phối hợp chiến đấu có hiệu quả từ phía quân dân Lào đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào

Các công trình trên đây có điểm chung là viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Lào, nhưng không đề cập đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào

Trang 31

1.2 Nhận xét về tình hình nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

1.2.1 Nhận xét về tình hình nghiên cứu

1.2.1.1 Những vấn đề đã được nghiên cứu

Từ các công trình nghiên cứuđã tiếp cận, tác giả nhận thấy có những vấn đề liên quan đến sự phối hợp, sự giúp đỡ của Quân khu 4 với quân dân Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã được đề cập, cụ thể:

Thứ nhất, các nghiên cứu đã làm rõ cơ sở hình thành tình đoàn kết, liên minh

chiến đấu giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, giữa QĐND Việt Nam với Quân GPND Lào Các nghiên cứu cũng đã khái quát, hệ thống hóa chủ trương, đường lối đoàn kết, liên minh chiến đấu, phối hợp chiến đấu giữa hai nước Việt Nam và Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào bao gồm đường lối chiến lược, sách lược đoàn kết, liên minh chiến đấu; xác định phương pháp và nội dung phối hợp chiến đấu, xác định vai trò, vị trí của sự phối hợp chiến đấu giữa lực lượng vũ trang hai nước Việt Nam và Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; một số công trình có đề cập đến sự phối hợp của LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào qua một số chiến dịch quân sự Một số công trình mang tính chất tổng kết nhiệm vụ của LLVT Quân khu 4 ở Lào có đi sâu chi tiết hơn so với các nghiên cứu chung, nhưng cũng chỉ giới hạn ở tính khái quát Một số công trình chỉ phản ánh chi tiết của một trận đánh, nên thiếu tính hệ thống, khái quát

Thứ hai, điểm chung của nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp về hoạt

động của LLVT Quân khu 4 trên chiến trường Lào 1955 - 1975 chủ yếu phản ánh một chiều về sự giúp đỡ của Quân khu 4 và các địa phương trên địa bàn Quân khu 4 đối với cách mạng Lào

Thứ ba, các nghiên cứu làm rõ những ưu điểm, hạn chế, đúc rút các kinh

nghiệm trong liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, kinh nghiệm thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Lào của LLVT Việt Nam

1.2.1.2 Những vấn đề chưa được nghiên cứu

Sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trong kháng chiến chống Mỹ là một vấn đề lớn của cách mạng hai nước Việt Nam và Lào Bên cạnh những vấn đề đã được tổng kết như sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 đối với quân dân Lào, vẫn có nhiều khoảng trống chưa được nghiên cứu

Trang 32

Thứ nhất, các nghiên cứu chưa làm rõ những cơ sở, những yếu tố dẫn đến sự

phối hợp chiến đấu giữa cách mạng Lào với Quân khu 4

Thứ hai, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự phối hợp giữa LLVT Quân

khu 4 với quân dân Lào có tính hệ thống, chuyên sâu và toàn diện

Thứ ba, các nghiên cứu chưa khái quát những đặc điểm, ưu điểm và hạn chế

của sự phối hợp giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có về sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975), luận án tập trung

đi sâu làm rõ các vấn đề sau:

- Những cơ sở hình thành và yếu tố tác động đến sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)

- Tái hiện một cách có hệ thống và toàn diện quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào tại địa bàn cáctỉnh: Xiêng Khoảng, Khăm Muộn, Xavannakhẹt, Bôlilkhămxay, Áttôpư, Xaravan (1955 - 1975) Trong đó, luận

án phân tích làm rõ sự trưởng thành của cách mạng Lào dưới sự giúp đỡ của LLVT Quân khu 4 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của hai nước Việt Nam - Lào

- Từ thực tiễn của quá trình phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào (1955 - 1975), luận án làm rõ một số thành tựu, hạn chế, khái quát một

số đặc điểm, rút ra một số kinh nghiệm của sự phối hợp chiến đấu

Như vậy, vấn đề sự phối hợp chiến đấu giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) còn có khoảng trống chưa được nghiên cứu hoàn chỉnh, toàn diện và chuyên sâu Luận án sẽ tập trung giải quyết những hạn chế của các công trình nghiên cứu đã nêu trên

Trang 33

Chương 2

CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHỐI HỢP CHIẾN ĐẤU GIỮA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUÂN KHU 4 (VIỆT NAM) VỚI QUÂN DÂN LÀO CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ VÀ TAY SAI (1955 - 1975)

2.1 Cơ sở hình thành sự phối hợp chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai giữa lực lượng vũ trang Quân khu 4 với quân dân Lào trên chiến trường Lào (1955 - 1975)

2.1.1 Cơ sở lý luận và nhận thức

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nước đế quốc đã hoàn thành phân chia thuộc địa và áp đặt ách áp bức, bóc lột lên các nước Á, Phi, Mỹ Latinh Điều đó đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân thuộc địa và các nước đế quốc ngày càng gay gắt,

từ đó làm bùng nổ phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc Trước kẻ thù hùng mạnh với nhiều thủ đoạn xảo quyệt, để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân các nước thuộc địa phải đoàn kết chiến đấu Điều đó đã được V.I Lênin khái quát thành lý luận và kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước và các dân

tộc bị áp bức đoàn kết lại” [125; tr.43] Lý luận về cách mạng thuộc địa của V.I Lênin dã được các nhà cách mạng ở các nước thuộc địa tiếp thu, áp dụng vào thực tiễn Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu lý luận của V.I Lênin về đoàn kết đấu tranh giữa nhân dân thuộc địa với nhân dân chính quốc và giữa nhân dân thuộc địa với nhau, từ đó xây dựng mối đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, trước hết là với cách mạng ở các nước thuộc địa Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và qua hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã thấy

được sức mạnh to lớn của các dân tộc thuộc địa Người cho rằng: “Ngày mà hàng

trăm triệu nhân dân châu Á bị đày đọa, áp bức sẽ nổi dậy gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của những tên thực dân tham lam vô độ, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và

sẽ có thể, qua việc thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản tức là chủ nghĩa đế quốc giúp cho những người anh em của họ ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” 1; và “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông

Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến” [125; tr.22] Người cũng khẳng định: các nước thuộc địa chỉ được

giải phóng “bằng sự nỗ lực của bản thân ”2 Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực

Trang 34

xây dựng tình đoàn kết giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, trước hết

là với cách mạng ở các nước thuộc địa

Sở dĩ các nước thuộc địa phải đoàn kết với nhau vì:

Thứ nhất, các nước đế quốc, kẻ thù của nhân dân các nước thuộc địa, có tiềm

lực quân sự, kinh tế lớn hơn gấp bội so với các nước thuộc địa Trong quá trình xâm lược và thống trị thuộc địa, các nước đế quốc luôn tạm gác mâu thuẫn riêng để cấu kết với nhau đàn áp sự phản kháng của nhân dân thuộc địa Trường hợp Trung Quốc

bị các nước đế quốc cấu kết xâu xé vào cuối thế kỷ XIX là một điển hình

Thứ hai, các nước thuộc địa là những nước nghèo, lạc hậu, do đó trong cuộc

đấu tranh chống kẻ thù chung cần phải đoàn kết, phối hợp với nhau chiến đấu mới có thể giành được thắng lợi Điều này được biểu hiện rõ ở phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ Latinh sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai

Thứ ba, địa bàn các nước thuộc địa rộng, nếu các nước thuộc địa đoàn kết với

nhau chống kẻ thù chung, buộc các nước đế quốc phải phân tán lực lượng để đối phó

Do khoảng cách giữa chính quốc và thuộc địa khá xa,nên trong quá trình xâm lược, các nước đế quốc gặp khó khăn về chi viện, do đó, các nước đế quốc thường sử dụng chiến lược quân sự đánh nhanh, giải quyết nhanh Ngược lại, cách mạng của các nước thuộc địa có lực lượng tại chỗ, thực hiện chiến tranh nhân dân, chiến lược

“trường kỳ kháng chiến” nên cuối cùng đã giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Điều này cũng đã được chứng minh rõ qua cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược của nhân dân Đông Dương từ năm 1946 đến năm 1954

Như vậy, chủ nghĩa đế quốc cấu kết với nhau để xâm lược thuộc địa và đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Các nước thuộc địa có chung một kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, chung một mục đích là giải phóng dân tộc Trước kẻ thù có sức mạnh gấp bội, các nước thuộc địa muốn giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác là phải đoàn kết, thành lập một mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc

Từ cuối thế kỷ XIX, khi Việt Nam, Campuchia và Lào trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, mâu thuẫn giữa nhân dân ba nước Đông Dương với thực dân Pháp gay gắt đã dẫn tới bùng nổ phong trào giải phóng dân tộc ở đây, nhưng chung cuộc đều bị thất bại Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhưng nguyên nhân cơ

Trang 35

bản nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương còn thiếu đường lối lãnh đạo đúng đắn, khoa học; chưa có sự liên minh, đoàn kết chiến đấu khoa học, chặt chẽ Chính vì vậy, năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập và chủ trương cách mạng Việt Nam phải đoàn kết với cách mạng thế giới, trước hết là với cách mạng Lào và Campuchia để đấu tranh giành độc lập

Năm 1945, Việt Nam và Lào tuyên bố độc lập, nhưng ngay sau đó, thực dân Pháp trở lại xâm lược Một lần nữa, nhân dân Việt Nam và Lào lại sát cánh bên nhau chiến đấu chống kẻ thù chung và đã giành được thắng lợi bước đầu vào năm 1954 Lợi dụng sự thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ tìm mọi cách xâm lược Việt Nam và Lào Nhân dân hai nước Việt Nam, Lào lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt Nam và Lào nhận thức sâu sắc rằng, muốn giành thắng lợi, cách mạng Việt Nam

và Lào phải đoàn kết, phốihợp chiến đấu, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, bởi vì:

Thứ nhất, Cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào có chung kẻ thù là đế quốc

Mỹ, chung mục đích là giải phóng dân tộc và đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Thứ hai, Việt Nam và Lào có vị trí địa lý liền kề, chung đường biên giới dài

2060 ki lô mét, nên thuận lợi trong việc phối hợp chiến đấu Nhân dân hai nước có nhiều nét tương đồng về kinh tế, văn hóa, có truyền thống và kinh nghiệm đoàn kết chống ngoại xâm, nhất là kinh nghiệm đoàn kết, phối hợp chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954)

Thứ ba, trong quá trình tiến hành chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ sử dụng

lãnh thổ Lào để phá hoại cách mạng Việt Nam và sử dụng lãnh thổ Việt Nam để tấn công Lào Bởi vậy, để thắng Mỹ, nhân dân hai nước phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau

để đập tan âm mưu đó

Thứ tư, đế quốc Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, có nhiều

thủ đoạn xâm lược Trong khi đó, lực lượng cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào còn non yếu, nên chỉ có đoàn kết mới tạo ra sức mạnh gấp bội chống kẻ thù

Liên minh, đoàn kết, phối hợp chiến đấu sẽ mang lại lợi ích cho cách mạng mỗi nước, góp phần quan trọng đưa cách mạng mỗi nước đi đến thắng lợi Bởi vậy, trong thư gửi bộ đội trước khi sang chiến đấu trên chiến trường Lào, Chủ tịch Hồ Chí

Minh khẳng định“ giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”[115; tr.77];

Trang 36

“ Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào” [125; tr.55] Về phía cách mạng Lào, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Cayxỏn Phômvihản đã

khẳng định, cách mạng Lào giành được những thắng lợi to lớn là nhờ “có mối quan

hệ bền chặt với cách mạng Việt Nam” [34; tr.13], và Việt Nam đã “tạo cho Lào những nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi cuối cùng của cách mạng Lào” [35;

tr.332] Trong thư của Trung ương Neo Lào Hắcxạt gửi Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 10/1/1958 cũng khẳng định: sở dĩ cách mạng Lào giành được

thắng lợi là nhờ có sự “giúp đỡ tận tình của nhân dân Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc

Việt Nam và Đảng Lao động Việt Nam” [111; tr.25]

Như vậy, đoàn kết chiến đấu chống ngoại xâm giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào là một tất yếu khách quan, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân hai nước Việt Nam và Lào Thiếu sự liên minh, đoàn kết chiến đấu giữa các nước thuộc địa hoặc giữa các nước bị đế quốc xâm lược, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc hoặc các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí khó có thể giành thắng lợi trọn vẹn

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

2.1.2.1 Sự gần gũi về địa lý

Lào là quốc gia nằm phía Tây dãy Trường Sơn với diện tích 236.800 km2, có đường biên giới dài 4.700 ki lô mét tiếp giáp 5 nước: Myanmar, Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan [14; tr.15] Trong số 2060 ki lô mét đường biên giới với Việt Nam, có gần 800 km giáp với các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 4 dọc theo

dãy Trường Sơn từ Nghệ An đến huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Gần 80% diện tích của Lào là rừng núi Hệ thống sông suối khá dày đặc với dòng chủ lưu là sông Mê Công và các phụ lưu, chi lưu Hệ thống giao thông đường

bộ của Lào chủ yếu hình thành dưới thời Pháp thuộc nhằm phục vụ cho việc khai thác tài nguyên và cơ động lực lượng từ Việt Nam sang và ngược lại để đàn áp phong trào cách mạng hai nước Lào, Việt Nam Đường số 13 được coi là tuyến giao thông huyết mạch nối từ Bắc xuống Nam Lào Từ Lào đến miền Trung Việt Nam có các tuyến quốc lộ: đường số 7 nối tỉnh Xiêng Khoảng với tỉnh Nghệ An, đường số 8 nối tỉnh Bôlikhămxay với tỉnh Hà Tĩnh, đường số 12 nối tỉnh Khăm Muộn với tỉnh

Trang 37

Quảng Bình Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước yêu cầu chi viện của cách mạng ba nước Đông Dương, được sự nhất trí của Đảng Nhân dân Lào, Đoàn 559 đã

mở tuyến vận tải chiến lược phía Tây Trường Sơn từ Trung Lào xuống Hạ Lào đi qua

7 tỉnh có chiều dài 800km và chiều ngang 100km [93; tr.399]

Lào có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa mưa

có lượng mưa lớn, sông suối chảy xiết, mùa khô ít mưa, sông suối cạn nước

Nằm ở khu vực Bắc Trung bộ Việt Nam, địa bàn các tỉnh Quân khu 4 là một dải đất hẹp chạy từ tỉnh Nghệ An vào đến khu vực Vĩnh Linh dài 440 km, từ 18,35ođến 17,00o vĩ bắc và từ 103o đến 108o kinh đông, với phía đông giáp biển có chiều dài 538km, phía Tây là dãy Trường Sơn có chung với Lào gần 800 km đường biên, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Nam giáp sông Bến Hải Địa hình Quân khu 4 hẹp dần về phía Nam, nghiêng về phía Đông với tổng diện tích tự nhiên trên 45.000km2 [99; tr.37], trong đó ¾ là rừng núi Phần lớn sông, suối trên địa bàn Quân khu 4 đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn rồi đổ ra biển Hệ thống giao thông đường

bộ được xây dựng từ thời Pháp thuộc như: tuyến đường sắt Bắc - Nam, quốc lộ 1A - tuyến giao thông huyết mạch từ Bắc vào Nam Các tuyến đường nối Quân khu 4 với Lào là các đường số 7, số 8, số 12 Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, quân dân Việt Nam - Lào đã xây dựng tuyến đường mòn Hồ Chí Minh với điểm khởi đầu trên địa bàn Quân khu 4 Nhiều chặng của tuyến đường này chạy trên lãnh thổ Lào Ngoài hệ thống đường bộ, địa bàn Quân khu 4 còn có đường vận tải biển với trên 10 cảng lớn, nhỏ như Cảng Bến Thủy, Cảng Cửa Lò (Nghệ An), Cảng Gianh (Quảng Bình)… có giá trị chiến lược cao, là nơi xuất phát các chuyến hàng chi viện cho miền Nam và là nơi tiếp nhận viện trợ quốc tế

Các tỉnh địa bàn Quân khu 4 có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường có lượng mưa lớn, sông suối chảy xiết, gây khó khăn cho việc đi lại và cơ động lực lượng quân sự Mùa khô, sông, suối khô cạn, thuận lợi cho việc đi lại và cơ động lực lượng quân sự

Điều kiện tự nhiên đã hình thành ở địa bàn các tỉnh Quân khu 4 ba vùng chiến lược kinh tế và quốc phòng, đó là chiến trường chiến đấu bảo vệ hậu phương tại chỗ, chiến trường bảo vệ Mặt trận Trị - Thiên, Mặt trận đường số 9 - Bắc Quảng Trị và chiến trường Lào Vùng rừng núi của Quân khu 4 chạy dài theo dãy Trường Sơn có

Trang 38

nhiều vách chắn như Đèo Ngang có ưu thế về kinh tế và quốc phòng, thuận lợi bố trí phòng thủ chiến lược Vùng trung du, đồng bằng với địa thế rộng ở phía Bắc, hẹp dần

về phía Nam, có nhiều sông ngòi, đất đai phì nhiêu, nối liền với vùng duyên hải trù phú, có thế mạnh về kinh tế, là nơi cung cấp nhân lực và vật lực cho các cuộc kháng chiến chống xâm lược

Về mặt quân sự, địa bàn Quân khu 4 và các tỉnh thuộc Trung - Hạ Lào liên kết

với nhau tạo thành một “địa bàn đặc biệt quan trọng về chiến lược” [62; tr.271]

Trong hai cuộc chiến tranh ở Đông Dương (1946 - 1975), địa bàn Quân khu 4 và các tỉnh Trung Lào là một chiến trường Các nhà quân sự cho rằng, chiếm được địa bàn Quân khu 4 và các tỉnh Trung Lào sẽ cắt chiến trường Đông Dương ra làm đôi, do đó

có thể khống chế cả Đông Dương Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ những ngày đầu trở lại xâm lược Đông Dương năm 1946, thực dân Pháp đã dùng mọi thủ đoạn để đánh chiếm khu vực Trung Lào, từ đó làm bàn đạp tiến công các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam Chính vì vậy, tướng Henri Navarre, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương ngay khi vừa nhậm chức đã thấy rõ tầm quan trọng chiến lược quân sự của khu vực vĩ tuyến 18, cho nên H Navarre cho xây dựng Sênô thành căn cứ quân

sự để bảo vệ khu vực Trung Lào Tổng thống Mỹ David Dwight Eisenhower đánh

giá cao vị trí chiến lược của Lào khi ông cho rằng “…nếu chúng ta để Lào mất (vào

tay cộng sản) thì chúng ta sẽ mất toàn bộ vùng này” Vì vậy, trước khi mãn nhiệm,

D Eisenhower khuyên Tổng thống John Fitzgerald Kennedy:“phải ra sức bảo vệ

Lào để giữ gìn Đông Nam Á” 1

Trong chiến tranh xâm lược Đông Dương, không quân Mỹ đã trút xuống khu vực này hàng triệu tấn bom, hàng triệu lít chất độc hóa học, thiết lập “hàng rào điện tử” và tổ chức các cuộc hành quân qui mô lớn để cắt đôi chiến trường Đông Dương nhằm ngăn chặn sự chi viện từ Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam, từ Việt Nam sang Lào và Campuchia

Đường biên giới của Lào với các tỉnh Quân khu 4 nằm trong khu vực dãy Trường Sơn, phía Đông thuộc về các tỉnh Quân khu 4, phía Tây thuộc về Lào Dãy

1 Dẫn theo Nguyễn Phú Đức (2009), Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam, Nxb Lao động, tr.120

Trang 39

Trường Sơn có một vị trí chiến lược quan trọng đối với cách mạng hai nước, đó là

“cột sống vững chắc”, là “một lá chắn chiến tranh”, “vị trí tiếp giáp lưng dựa vào lưng”, và cũng là nơi có điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các mối giao lưu, quan hệ quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa giữa Lào với các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, địa bàn Quân khu 4 vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến, là một địa bàn có nhiều thuận lợi để phát triển liên minh chiến đấu giữa quân đội cách mạng hai nước Việt Nam, Lào cũng như giữa LLVT Quân khu 4 với quân dân Lào

Với tầm quan trọng về vị trí chiến lược như vậy, Nguyễn Phú Đức1 cho rằng,

do Cộng sản kiểm soát địa bàn Lào để mở Đường mòn Hồ Chí Minh đưa người và phương tiện chiến tranh sang Lào, Campuchia và vào tận cửa ngõ Sài Gòn, nên đã

thắng trong cuộc chiến chống xâm lược Vì vậy,“số phận của Nam Việt Nam đã được

giải quyết ở Lào” [59; tr.122]

Với cách nhìn địa - chính trị như vậy, nên khi tiến hành chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ đều tấn công cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, ra sức chia rẽ khối đoàn kết giữa ba nước, dùng lãnh thổ nước này để xâm chiến nước kia, coi Đông Dương là một chiến trường Trong chiến lược “Đông Dương là một chiến trường”, các nước đế quốc đều coi Việt Nam là chiến trường chính, Lào và Campuchia là chiến trường phối hợp

Như vậy, với hệ thống giao thông thuận tiện, sự liền kề vềvị trí địa lý, điều kiện khí hậu khá thuận lợi là những yếu tố quan trọng cho việc cơ động lực lượng, vận chuyển vũ khí, hậu cần từ Quân khu 4 sang Lào nhanh, bí mật, an toàn Với vị trí địa lý trên đã tạo thuận lợi cho LLVT Quân khu 4 phối hợp với quân dân Lào trong việc xây dựng căn cứ địa cách mạng bí mật, an toàn Địa bàn Quân khu 4 không chỉ

là “cửa ngõ” của cách mạng Lào để tiếp nhận sự viện trợ của Việt Nam và quốc tế

mà còn là nơi xuất phát trực tiếp để vận chuyển người và vũ khí cho cách mạng miền Nam qua Tuyến vận tải chiến lược 559

2.1.2.2 Sự tương đồng về kinh tế, văn hóa

1

Năm 1967, Nguyễn Phú Đức là cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu; năm 1973, là Tổng trưởng Ngoại giao kiêm cố vấn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu

Trang 40

Về kinh tế, sau khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ Lào và thực hiện chính sách

khai thác thuộc địa, kinh tế tư bản dần dần xâm nhập vào Lào Một số thành phố với các cơ sở chế biến gỗ, nông sản nhỏ được hình thành Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, mặc dù ở các thành phố, thị xã, kinh tế tư bản khá phát triển, nhưng nhìn chung, Lào vẫn là nước nông nghiệp lạc hậu Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ở vùng giải phóng, được sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam, nền kinh

tế Lào có bước phát triển mới Một số cơ sở sản xuất được xây dựng như nhà máy chế biến nông, lâm sản.Tuy vậy, kinh tế ở vùng giải phóng Lào vẫn là nền kinh tế nông nghiệp chưa phát triển; công nghiệp và thương nghiệp hầu như chưa có Vì vậy, đời sống của nhân dân các bộ tộc Lào rất thấp, nhất là ở vùng nông thôn và miền núi

So với Lào, kinh tế của các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 4 phát triển hơn Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở các tỉnh Bắc miền Trung đã hình thành khu công nghiệp Vinh - Bến Thủy và một số nhà máy chế biến nông, lâm sản nằm rải rác ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, được sự giúp đỡ của các nước XHCN, nền kinh tế của các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 4 có những bước phát triển mới Nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất công nghiệp được hình thành, các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp phát triển mạnh, nhiều thành tựu khoa học - kỹ thuật được ứng dụng trong sản xuất đã góp phần tăng năng suất, sản lượng Các hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp ra đời và phát triển mạnh, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiên, nhìn chung, nền kinh tế các tỉnh trên địa bàn Quân khu 4 vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp chưa phát triển, đời sống của nhân dân ở khu vực miền núi còn nhiều khó khăn

Về văn hóa, quá trình sinh sống của cư dân Việt Nam và cư dân Lào trên địa

bàn biên giới của hai nước đã phản ánh sinh động mối quan hệ gần gũi từ xa xưa của nhân dân hai nước Đời sống văn hóa của nhân dân Lào và Việt Nam, nhất là nhân dân các dân tộc ở hai bên dãy Trường Sơn có nhiều nét tương đồng Qua tài liệu của các nhà dân tộc học cho thấy, từ thời tiền sử, cư dân đã có mặt ở hai bên dãy Trường Sơn đã có mối quan hệ trao đổi với nhau [63; tr.47] Trong các dân tộc nói tiếng Môn

- Khơme, có các tộc người Khơmú và Tà Ôi sinh sống ở miền Tây các tỉnh Quân khu

4 Các tộc người nói tiếng Mông - Dao đều cư trú dọc cả hai bên dãy Trường Sơn, do

đó đã có sự tương đồng về phong tục, tập quán Từ thế kỷ IX, sự di cư của người Thái từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống phía Nam đã làm cho cư dân nói tiếng Lào

Ngày đăng: 26/04/2021, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. “Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị Chính trị đặc biệt từ ngày 27 đến 28/3/1964”, đăng trong Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007), Văn kiện, Tập III, 1956 - 1975, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.85-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam (1930 - 2007)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
12. Đặng Duy Báu (2001), Lịch sử Hà Tĩnh, Tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hà Tĩnh, Tập II
Tác giả: Đặng Duy Báu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2018), Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2015), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2015)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2018
14. Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2006), Tổng kết 43 năm lực lượng vũ trang Quân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1945 - 1988), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 43 năm lực lượng vũ trang Quân khu 4 làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào (1945 - 1988)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2006
15. Bộ Quốc phòng, Cục Khoa học Lịch sử Quân sự (2008), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Bắc Lào (1945 - 1975), Viêng Chăn (Bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh Bắc Lào (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Cục Khoa học Lịch sử Quân sự
Nhà XB: Viêng Chăn
Năm: 2008
16. Bộ Quốc phòng, Cục Khoa học Lịch sử Quân sự (2005), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lương vũ trang và nhân dân các tỉnh Hạ Lào (1945 - 1975), Viêng Chăn, (Bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của lực lương vũ trang và nhân dân các tỉnh Hạ Lào (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Cục Khoa học Lịch sử Quân sự
Nhà XB: Viêng Chăn
Năm: 2005
17. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2006), Lịch sử các Đoàn 335, 766, 866 quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các Đoàn 335, 766, 866 quân tình nguyện và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2006
18. Bộ Quốc phòng (2002), Tổng kết Cuộc chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào (1945 - 1975), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết Cuộc chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng NDCM Lào (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
19. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng trị (1966 - 1973), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng trị (1966 - 1973)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
20. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1999), Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1999
21. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1987), Chiến dịch phòng ngựCánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Mùa mưa 1972), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến dịch phòng ngự Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (Mùa mưa 1972)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1987
22. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2002), Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945 - 1954), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945 - 1954)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2002
23. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập IX. Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập IX. Tính chất, đặc điểm, tầm vóc và bài học lịch sử
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
24. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập VII. Thắng lợi quyết định năm 1972, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập VII. Thắng lợi quyết định năm 1972
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
25. Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập VI, Thắng trên chiến trường ba nước Đông Dương, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, Tập VI, Thắng trên chiến trường ba nước Đông Dương
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2013
26. Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Cục Hậu cần (2007), Lịch sử Hậu cần lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2005), Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hậu cần lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 2005)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 4, Cục Hậu cần
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2007
27. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2008), Những trận đánh của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1979), Tập XVI, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận đánh của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1979)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 4
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2008
28. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 (2003), Những trận đánh của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1975), Tập XI, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trận đánh của lực lượng vũ trang Quân khu 4 (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu 4
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2003
29. Các Nghị quyết của Hội nghị nhân dân Đông Dương tháng 3/1965, lưu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết của Hội nghị nhân dân Đông Dương tháng 3/1965
30. Cayxỏn Phômvihản (1978), Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một nước Lào hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Cayxỏn Phômvihản
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1978

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w