1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hà nội (tt)

7 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 337,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Lê Quang Cảnh, Lương Thái Bảo và Nguyễn Vũ Hùng, 2015 và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội Sở GDCK Hà Nội/ HNX 2015 cho thấy với quy định bắt buộc

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong vài năm trở lại đây, quản trị công ty (QTCT) tốt đang trở thành một tâm điểm nổi bật, nhận được rất nhiều sự quan tâm và kỳ vọng từ phía các doanh nghiệp niêm yết (DNNY), cơ quan quản lý, cổ đông cũng như các bên có quyền lợi liên quan tới doanh nghiệp Đây là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư, nâng cao hiệu quả thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một hệ thống QTCT hiệu quả là cơ sở cho sự vận hành của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế thị trường và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn

Công bố thông tin (CBTT) và minh bạch là bộ phận quan trọng nhất trong QTCT CBTT của doanh nghiệp có ảnh hưởng tới hành vi của nhà quản lý doanh nghiệp trên thị trường Công khai thông tin sẽ giúp các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng phân bổ nguồn lực của họ hiệu quả hơn, giảm chi phí vốn, và đảm bảo các bên liên quan sử dụng quyền của họ hiệu quả hơn Hơn nữa, CBTT còn giúp công chúng hiểu về hoạt động của doanh nghiệp, chiến lược, chính sách phát triển, kết quả kinh doanh, đạo đức kinh doanh và mối quan hệ với các bên liên quan làm cho môi trường kinh doanh minh bạch hơn và thúc đẩy doanh nghiệp theo hướng phát triển bền vững, góp phần nâng cao hơn kết quả kinh doanh

Tuy nhiên, việc công bố quá nhiều thông tin có thể gây ra tác động ngược Theo Banerjee, Masulis và Pal (2014), khi có quá nhiều thông tin được công bố tới công chúng

và đối thủ cạnh tranh sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh, thị phần, lợi nhuận và giá thị trường của doanh nghiệp CBTT Do mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý, sẽ có các chính sách bắt buộc CBTT được ban hành Các chính sách này sẽ thiên về bảo vệ quyền lợi của nhà quản lý mà không quan tâm nhiều tới lợi ích của cổ đông và cuối cùng làm cho việc CBTT gây tác động ngược tới kết quả kinh doanh cũng như giá trị của doanh nghiệp (Banerjee và Masulis, 2013)

Trang 2

Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng đã đặt ra các yêu cầu cho cộng đồng doanh nghiệp cần thực hiện các chuẩn mực và thông lệ chung của thế giới, đồng thời thông quá đó để cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút nhà đầu tư quốc tế Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của Lê Quang Cảnh, Lương Thái Bảo và Nguyễn Vũ Hùng, (2015) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (Sở GDCK Hà Nội/

HNX) (2015) cho thấy với quy định bắt buộc về CBTT đối với các DNNY, doanh nghiệp

càng có nhiều thông tin được công bố sẽ có kết quả kinh doanh kém hơn Ngược lại, thông tin được công bố kịp thời và có thể tiếp cận sẽ làm tăng hơn tác động của việc CBTT tới kết quả kinh doanh Kết quả này cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa CBTT với kết quả kinh doanh và tầm quan trọng của việc CBTT kịp thời và có thể tiếp cận trong các DNNY ở Việt Nam Điều này đặt ra yêu cầu phải ngày càng nâng cao chất lượng CBTT trong QTCT đối với các doanh nghiệp tại Việt Nam

Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ kinh tế có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn

2 Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu tác động của QTCT tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đang thu hút sự quan tâm của cả giới học thuật và quản lý Tại Việt Nam, do mới ở giai đoạn đầu của việc áp dụng QTCT tốt trong các doanh nghiệp, vì vậy các nghiên cứu về vai trò của QTCT tốt còn khá mới mẻ, đặc biệt là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa CBTT và chất lượng CBTT đối với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thì lại càng ít ỏi, đòi hỏi cần phải đi sâu vào nghiên cứu hơn nữa

Trên thế giới, CBTT và chất lượng CBTT được nghiên cứu nhiều và đề cập từ những vấn đề lý thuyết tới những vấn đề thực tiễn của CBTT

Thứ nhất, các nghiên cứu đã đi xây dựng những chỉ số đánh giá việc CBTT của doanh nghiệp Các nghiên cứu này xác định các thành phần của chỉ số CBTT và minh bạch của các doanh nghiệp, ví dụ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2004)

Trang 3

xây dựng trụ cột CBTT thành một nguyên tắc trong quản trị doanh nghiệp; IFC-SSC và GCGF (2012) hay Sở GDCK Hà Nội (2015) tính toán chỉ số CBTT bao gồm ba bộ phận: Điểm CBTT, điểm công bố kịp thời, và điểm thông tin công bố có thể tiếp cận

Thứ hai, nhiều nghiên cứu đề cập tới các khía cạnh khác nhau của CBTT Theo OECD (2004), CBTT cần trung thực, kịp thời và có thể tiếp cận Đối với doanh nghiệp, CBTT gồm hai cấp độ: Tuân theo các quy định CBTT bắt buộc của luật định và CBTT theo các chuẩn mực/ thông lệ quản trị tốt của thế giới Các thông tin công khai bao gồm nhiều khía cạnh Chẳng hạn, OECD (2004) nhấn mạnh việc cung cấp các báo cáo tài chính (BCTC), cấu trúc sở hữu, quá trình hoạt động và quản trị doanh nghiệp; Patel và Dallas (2002) đề cập tới thông tin cấu trúc sở hữu, quyền của cổ đông, minh bạch tài chính và quản trị doanh nghiệp; hoặc Banerjee và cộng sự (2015) quan tâm tới việc công khai tình hình kế toán tài chính, hoạt động, cấu trúc sở hữu, cơ cấu và quyền cổ đông, cơ cấu hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban Giám đốc Trong các nghiên cứu về tác động của CBTT với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, CBTT thường được đại diện bởi chỉ số hoặc điểm CBTT (Patel và Dallas, 2002; Banerjee và cộng sự, 2015; và Zaman và cộng

sự, 2015) hoặc một vài khía cạnh của chỉ số CBTT, trong đó công khai về cấu trúc sở hữu

và công khai tài chính là hai chỉ số phụ được sử dụng phổ biến

Thứ ba, CBTT có tác động tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu phát hiện càng nhiều thông tin được công bố kết quả kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt Nghiên cứu của Patel và Dallas (2002) là nghiên cứu tiên phong về vấn đề này

đã tìm thấy thông tin công bố nhiều sẽ giúp giảm chi phí vốn và tăng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả thực nghiệm này còn được khẳng định bởi nhiều nghiên cứu khác (Gompers và cộng sự, 2003; Collett và Hrasky, 2005; Iatridis, 2008; và Stiglbauer, 2010) Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cũng tìm thấy dẫn chứng CBTT có tác động ngược tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp công bố Chẳng hạn, Bassen và cộng sự (2009) kết luận doanh nghiệp công bố nhiều thông tin có kết quả kinh doanh kém hơn đối với các doanh nghiệp ở Đức; Zaman và cộng sự (2015) bổ sung dẫn chứng thực nghiệm

về mối quan hệ ngược này trong các doanh nghiệp của Pakistan; Banerjee và cộng sự

Trang 4

(2015) phát hiện mối quan hệ ngược giữa việc CBTT với kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp ở Nga Bên cạnh đó còn có một số nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ có

ý nghĩa thống kê giữa CBTT với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Habib, 2008; Sharif và Lai, 2015) Những nghiên cứu trên là dẫn chứng cho thấy, CBTT có hai tác động ngược nhau tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, tác động ròng có thể

là tích cực, tiêu cực hay trung tính

Hiện nay, ở Việt Nam các nghiên cứu quy mô, bài bản chủ yếu là của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Sở GDCK Hà Nội Bản thân HNX là đơn vị trong nước đi tiên phong trong đánh giá chất lượng CBTT của các DNNY cũng mới chỉ thực hiện việc này từ năm 2013 trở lại đây Do đó, đòi hỏi cần phải bổ sung, hoàn thiện hơn nữa cả về mặt lý luận và thực tiễn nhằm cung cấp một thang đo về tình hình CBTT, tăng cường nhận thức và thực tiễn CBTT cũng như QTCT cho cộng đồng doanh nghiệp và có những

đề xuất giúp cơ quan quản lý và doanh nghiệp thực hiện tốt hơn việc CBTT, nâng cao chất lượng CBTT

Tóm lại, mặc dù cũng đã có một số nghiên cứu đề cập đến CBTT với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, song nhìn chung, các kết quả nghiên cứu mới đề cập tới các cấu phần của CBTT và ảnh hưởng của CBTT tới kết quả kinh doanh Hơn nữa, các nghiên cứu thực tiễn chủ yếu là các nghiên cứu ở các quốc gia khác, trong khi đó tác động của chất lượng CBTT tới kết quả kinh doanh phụ thuộc vào biến đo lường CBTT, biến đại diện cho kết quả kinh doanh cũng như các yếu tố về thể chế ở các nước nghiên cứu Do vậy, vai trò của CBTT đặc biệt là chất lượng CBTT có tác động như thế nào đối với tình hình kinh doanh của DNNY trên HNX nói riêng và các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung là vấn đề thực tiễn còn chưa được nghiên cứu, cần được làm rõ Luận văn tập trung đi theo hướng nghiên cứu này và đi đến kết luận chất lượng CBTT có tác động tích cực đối với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Từ

đó, khẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng CBTT trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNY Có thể thấy, nâng cao chất lượng CBTT trong các DNNY là nhiệm vụ bắt buộc, đặc biệt là trong bối cảnh thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế

Trang 5

và giai đoạn đầu của việc áp dụng QTCT ở Việt Nam như hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn này là đánh giá chất lượng CBTT của các DNNY trên HNX hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng CBTT trong các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội

Nhằm đạt tới mục tiêu nghiên cứu chính này, luận văn sẽ hướng tới thực hiện các mục tiêu cụ thể sau đây:

- Xác định tiêu chí đo lường và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT của các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội;

- Đánh giá thực trạng chất lượng CBTT của các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội;

- Đề xuất các giải pháp/ khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng CBTT trong các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng CBTT của các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian và thời gian: tất cả các DNNY trên Sở GDCK Hà Nội tại thời điểm

ngày 31/ 03/ 2014 Các DNNY sau thời gian này, và các doanh nghiệp trong diện bị tạm ngừng giao dịch, hủy niêm yết sau thời gian trên không được xem xét đánh giá Theo đó,

có 354 DNNY trên Sở GDCK Hà Nội được đánh giá chất lượng CBTT trong luận văn này Số liệu nghiên cứu là số liệu năm tài chính 2014 của các DNNY

Nội dung nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu về CBTT trong đó nhấn mạnh

chất lượng CBTT và các yếu tố tác động đến chất lượng CBTT của các DNNY

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên

cứu định tính và phân tích nghiên cứu định lượng Cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu tại bàn: Phân tích bộ dữ liệu có sẵn và tìm hiểu các tài liệu liên quan đến CBTT và chất lượng CBTT nhằm đưa ra được một bức tranh tổng thể

về vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn: Luận văn tiến hành phỏng vấn một số lãnh đạo các DNNY nhằm thu thập dữ liệu để đánh giá những khó khăn doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện CBTT Cụ thể luận văn đã phỏng vấn 05 trưởng bộ phận truyền thông của DNNY trên sàn chứng khoán Hà Nội Nội dung phỏng vấn xoay quanh các nội dung về việc thực hiện các nội dung theo nguyên tắc QTCT tốt của OECD (2004), trong đó đặc biệt nhấn mạnh vào trụ cột CBTT Câu hỏi phỏng vấn được đề cập trong Phụ lục 3 của luận văn này

- Phương pháp phân tích thống kê mô tả: Sau khi làm sạch các dữ liệu thô thu thập được từ HNX (2015), sử dụng phần mềm STATA để phân tích dữ liệu và đưa ra các đánh giá về thực trạng, vai trò, xu thế của CBTT và chất lượng CBTT đối với kết quả kinh doanh của DNNY cũng như xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng CBTT

Dữ liệu cần thu thập: luận văn sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp là các thông tin mà

DNNY công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm: BCTC, Báo cáo thường niên (BCTN), Báo cáo quản trị, Điều lệ công ty, Quy chế nội bộ về QTCT, Thư mời và tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), Nghị quyết và Biên bản họp ĐHĐCĐ thường niên, và website của DNNY Ngoài ra, luận văn còn sử dụng điểm số CBTT và minh bạch do HNX công bố năm 2015 Đây cũng là một nguồn dữ liệu quan trọng được sử dụng trong Luận văn này

6 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được thiết kế gồm 3 phần chính:

Trang 7

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết

Chương 2: Thực trạng chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Ngày đăng: 26/04/2021, 08:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm