Sự cần thiết của đề tài Tỉnh Đồng Tháp có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.. Đến năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản chiếm 50,43% tổng k
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Tỉnh Đồng Tháp có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Đến năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản chiếm 50,43% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn Tỉnh, trong đó chủ yếu là xuất khẩu cá tra.Tuy nhiên, phát triển sản xuất và xuất khẩu cá tra ở Đồng Tháp hiện đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết như: tình trạng phát triển tự phát; thị trường cung ứng giống, thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản…còn thiếu ổn định; sản phẩm chế biến xuất khẩu chưa đa dạng, chưa có sản phẩm chế biến giá trị gia tăng, chưa đảm bảo tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm; còn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường v.v…Việc lựa chọn và
nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến
cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp từ nay đến năm 2020” là có ý nghĩa về
lý luận và đáp ứng yêu cầu thực tiễn tỉnh Đồng Tháp
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Hệ thống hoá và luận giải rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất, xuất khẩu thuỷ sản nói chung và sản xuất, chế biến cá tra xuất khẩu nói riêng; Đánh giá đúng thực trạng sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu, những kết quả, hạn chế, những nguyên nhân và các vấn đề đặt ra cần giải quyết; Đề xuất một số biện pháp kinh tế chủ yếu đẩy mạnh phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề kinh tế chủ yếu của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp Thời gian nghiên cứu trong khoảng từ năm 2004 đến năm 2007 và định hướng đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp:
Trang 2Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phương
pháp phân tích tổng hợp, phương pháp chuyên gia
5 Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương chính như sau:
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU
1.1.Vai trò của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đối với nền
kinh tế tỉnh Đồng Tháp
Sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu của tỉnh Đồng Tháp đã góp phần
tăng nguồn thu ngoại tệ hàng năm, giải quyết công ăn việc làm và đóng góp
một phần đáng kể vào ngân sách Tỉnh
Bảng 1.2.: Giá trị xuất khẩu các mặt hàng của tỉnh Đồng Tháp
Đơn vị tính: Tr USD, %
Giá trị % Giá trị % Giá trị % Giá trị % Tổng giá trị XK 114,6 100 170,6 100 239,6 100 290,2 100
1.Gạo 49,9 43,7 81,3 47,6 83,5 34,8 80.1 27,6
2.Thuỷ sản đông lạnh 37,8 33,0 59,7 35,0 118,1 49,3 148,1 51,0
3.Bánh phồng tôm 3,1 2,7 4,8 2,8 5,2 2,2 7,2 2,5
4.Quần áo may sẵn 12,5 10,9 10,7 6,3 7,5 3,1 8,7 3,0
5.Khác 11,2 9,7 14,1 8,3 25,3 10,6 46,1 15,9
Nguồn: Sở Thương mại Đồng Tháp
1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển sản xuất và
chế biến cá tra xuất khẩu
Có nhiều nhân tố, trong đó những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp là:
Nhân tố tự nhiên, thị trường, lao động, vốn và công nghệ Nhân tố gián tiếp quan trọng nhất là chính sách của Nhà nước và việc thực hiện của địa phương
Trang 31.3 Những đặc điểm cơ bản của một số thị trường nhập khẩu cá tra Việt Nam
Những thị trường tiêu thụ cá tra lớn gồm: EU, Mỹ, Nhật Bản Mặc dù mỗi thị trường lại có những đặc điểm tiêu dùng riêng, nhưng nhìn chung các thị trường này đều có nhu cầu lớn; có hàng rào phi thuế (hệ thống quản lý chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh, tiêu chuẩn về lao động, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, thuế chống bán phá giá) là khá chặt chẽ Đặc biệt cả ba thị trường này đều đòi hỏi chất lượng sản phẩm rất cao và rất coi trọng ATVSTP
1.4 Những chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu
Các chỉ tiêu xác định hiệu quả kinh tế được thiết lập theo ba cách dựa
trên 3 quan điểm cơ bản: Quan điểm1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng
tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Quan điểm 2 : Hiệu quả kinh tế đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Quan điểm 3 : Hiệu quả kinh tế được xác
định bằng tỷ số giữa phần kết quả tăng thêm và phần chi phí tăng thêm để đạt kết quả đó hay quan hệ so sánh giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung
1.5 Những kinh nghiệm quốc tế về phát triển sản xuất và chế biến thuỷ sản xuất khẩu có thể vận dụng cho tỉnh Đồng Tháp
Từ thực tiễn Trung Quốc, Thái Lan, Na Uy, có thể rút ra một số bài học
kinh nghiệm; Cụ thể là : Trong sản xuất phải tuân theo quy hoạch; tăng cường
áp dụng giống mới; đảm bảo chất lượng, an toàn và bảo vệ môi trường vùng nuôi ; quản lý việc cung ứng và sử dụng các phụ gia thức ăn, thuốc kháng sinh và các hoá chất khác để đảm bảo sức khoẻ vật nuôi và vệ sinh an toàn
Trong chế biến phải chú trọng yêu cầu kiểm soát xuyên suốt chuổi giá trị gia
tăng dựa trên các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế (HACCP, ISO, IMP…) ; chú trọng áp dụng công nghệ mới trong chế biến để đa dạng hoá sản
Trang 4phẩm và nâng cao giá trị sản phẩm chế biến Trong xuất khẩu cần coi trọng
những thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường mới ; phát huy vai trò của Hiệp hội trong thực hiện chiến lược xuất khẩu và chống nguy cơ cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp
Chương II: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT
KHẨU Ở TỈNH ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2004-2007
2.1 Những đặc điểm có ảnh hưởng đến phát triển sản xuất
và chế biến cá tra xuất khẩu của tỉnh Đồng Tháp
Trên cơ sở đánh giá toàn diện các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Tháp, có thể rút ra những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong việc phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu như sau:
a/ Những thuận lợi và thời cơ: Có nguồn nước ngọt dồi dào không bị ảnh
hưởng bởi nước mặn và tương đối sạch; Diện tích đất bãi bồi nuôi cá tra là 1.417 ha, chỉ mới có khai thác khoảng 650 ha (chiếm 45,87%); Sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu được sự ưu tiên đầu tư của Tỉnh và sự hỗ trợ đầu tư của Trung ương; Người dân Đồng Tháp có truyền thống nuôi cá lâu đời; Cá tra xuất khẩu được ưa chuộng và từng bước có uy tín trên thị trường thế giới
b/ Những khó khăn và thách thức chủ yếu: Hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu và
chưa đồng bộ; Nhiều hộ nuôi còn tự phát; Đa số các hộ nuôi và các doanh nghiệp chế biến thiếu vốn đầu tư ; Từng lúc từng nơi còn mất cân đối giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến, xuất khẩu; Tiêu thụ cá nguyên liệu theo hợp đồng chưa thành phổ biến; Phòng và khống chế dịch bệnh còn hạn chế; Chưa đáp ứng tuyệt đối các yêu cầu về ATVSTP của các nước nhập khẩu
Trang 52.2 Thực trạng phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp
2.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp
2.2.1.1 Quy mô sản xuất cá tra
Diện tích nuôi đã tăng từ 550 ha năm 2004 lên 1.550 ha năm 2007 và
kế hoạch năm 2008 là 1.800 ha (trong đó nuôi bãi bồi chiếm 50% tổng diện tích nuôi cá tra); tính bình quân diện tích nuôi tăng là 45,45%/năm Về sản lượng, năm 2004 đạt 59.186 tấn, chiếm 88,5% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi, năm 2007 tăng lên 200.000 tấn, chiếm 90% tổng sản lượng thuỷ sản nuôi của
Tỉnh Tốc độ tăng sản lượng bình quân của giai đoạn 2004 – 2007 là 59,45%
2.2.1.2 Tình hình phát triển các hình thức và phương thức nuôi cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp
- Về hình thức nuôi cá: Trước đây, nghề nuôi cá tra chủ yếu là nghề phụ của
hộ gia đình nông dân, với kỹ thuật nuôi truyền thống Mục đích nuôi chủ yếu tiêu thụ tại chỗ và tận dụng nguồn thức ăn sẵn có như tấm, cám, khoai, cá vụn các loại v.v…Đến năm 2000, sau khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
về phát triển trang trại, số trang trại nuôi cá tra phát triển mạnh và tập trung nhiều nhất ở các huyện Thanh Bình, Cao Lãnh, Châu Thành và thị xã Sa Đéc
- Về phương thức nuôi: Có hai phương thức là nuôi ao hầm và nuôi lồng bè
Đến cuối năm 2007 số lồng, bè nuôi cá tra đạt khoảng trên 1000 cái Đặc biệt loại lồng bè nhỏ còn ít, thay vào đó là ao hầm to và tận dụng đất bãi bồi ven sông Tiền, sông Hậu để nuôi
2.2.1.3 Hoạt động của các cơ sở sản xuất giống
Toàn tỉnh có khoảng 300 cơ sở sản xuất giống, một Trung tâm giống thuộc Tỉnh quản lý, còn lại là các hộ sản xuất giống của tư nhân, đáp ứng đủ nhu cầu số lượng, nhưng chất lượng giống còn hạn chế nhất định
Trang 62.2.1.4 Dịch vụ cung ứng thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản và tổ chức công tác khuyến ngư trong sản xuất cá tra xuất khẩu
2.2.1.4.1 Dịch vụ cung ứng thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản
Hiện nay, toàn tỉnh có 7 công ty chế biến thức ăn thuỷ sản dạng viên nổi với tổng công suất thiết kế 442.000 tấn/năm Năm 2007,Tỉnh cũng đã duyệt 15 dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến thức ăn thuỷ sản với tổng công suất thiết kế là 906.000 tấn/năm Khi đi vào hoạt động sẽ cung cấp đủ nhu cầu thức ăn thuỷ sản cho Đồng Tháp và một số tỉnh lân cận
2.2.1.4.2 Tổ chức công tác khuyến ngư
Hoạt động khuyến ngư vẫn chưa đi vào chiều sâu do: đội ngũ cán bộ khuyến ngư còn mỏng và kinh phí cho hoạt động này còn hạn hẹp; phần lớn những hộ nuôi còn tập quán sản xuất lạc hậu, còn thiên hướng dựa vào những kinh nghiệm truyền thống và đặc biệt vai trò của cộng đồng trong hoạt động khuyến ngư còn nhiều hạn chế…
2.2.1.5 Vốn đầu tư hỗ trợ sản xuất cá tra xuất khẩu
Nguồn ngân sách của Tỉnh dành cho đầu tư rất hạn hẹp, bình quân chỉ đạt từ 5 – 7 tỷ đồng/năm Về vốn sản xuất, tính đến tháng 12/2007, 07 ngân hàng trong Tỉnh đã cho 28.514 hộ vay vốn đầu tư nuôi thuỷ sản với tổng số vốn vay lên đến 1.614,59 tỷ đồng, nhưng chỉ đáp ứng được khoảng 30 – 40% nhu cầu vốn của các hộ nuôi
2.2.1.6 Môi trường vùng nuôi
Năm 2007, số hộ nuôi cá tra có ao lắng xử lý nước thải trước khi đưa ra môi trường là hầu như không có, nước thải được đưa trực tiếp ra sông Một số Huyện, Thị có nguy cơ ô nhiễm là rất cao như: Hồng Ngự, Thanh Bình, Lấp
Vò, Tân Hồng, Cao Lãnh,…
2.2.1.7 Tổ chức tiêu thụ sản phẩm
Trang 7Năm 2007, các nhà máy chế biến thuỷ sản chỉ chế biến được khoảng 50% sản lượng cá tra sản xuất ra Việc thực hiện bao tiêu sản phẩm theo hợp đồng còn hạn chế về số lượng doanh nghiệp tham gia và còn tình trạng phá hợp đồng từ phía hộ nuôi hoặc phía doanh nghiệp
2.2.1.8 Hoạt động của hiệp hội thuỷ sản tỉnh Đồng Tháp trong việc sản xuất cá tra xuất khẩu
Hiệp hội thuỷ sản Đồng Tháp đã được thành lập và góp phần vào phát triển ngành thuỷ sản những năm qua Tuy nhiên, vai trò Hiệp hội còn mờ nhạt; còn khá nhiều hộ nuôi lớn, các hộ kinh doanh chưa thiết tha vào Hội; Hầu hết các hoạt động của Hội còn mang tính hình thức
2.2.2 Thực trạng phát triển chế biến cá tra xuất khẩu
2.2.2.1 Quy mô phát triển của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
Tính đến tháng 12/2007, toàn Tỉnh có 8 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu Số doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng chiếm 50%, trong đó có công ty QVD đạt 361,123 tỷ đồng, không có doanh nghiệp nào có vốn dưới
25 tỷ Ngoài ra, trong năm 2007, Tỉnh cũng đã phê duyệt 13 dự án chế biến với tổng công suất thiết kế là 128.000 tấn/năm, dự kiến đưa vào hoạt động trước năm 2010, đáp ứng đủ nhu cầu chế biến
2.2.2.2 Các sản phẩm chế biến của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
Hiện nay tất cả các DNCBTSXK của Đồng Tháp hầu như chỉ chế biến duy nhất nguyên liệu từ cá tra, và cũng chỉ chế biến sản phẩm cá tra fillet đông lạnh Yêu cầu phát triển các sản phẩm chế biến giá trị gia tăng là rất cấp cấp
bách
2.2.2.3 Trình độ phát triển công nghệ chế biến và bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
Trang 8- Về trình độ công nghệ chế biến: Trong những năm gần đây, các DNCBTSXK tỉnh Đồng Tháp đã có cải tạo nâng cấp và đầu tư đổi mới công nghệ, song cần tiếp tục đầu tư cao hơn theo hướng chế biến giá trị gia tăng
- Về bảo vệ môi trường: Các doanh nghiệp đều đã đầu tư và hoàn thiện các hệ thống, công trình xử lý nước thải đảm bảo đủ tiêu chuẩn cho phép
2.2.2.4 Kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản
ở tỉnh Đồng Tháp từ năm 2004 đến năm 2007
Về thị trường xuất khẩu: Không ngừng tăng về sản lượng, giá trị xuất khẩu
sang một số thị trường truyền thống như: Mỹ, EU, đồng thời mở rộng thị
trường xuất khẩu sang Canada, Úc, Châu Phi, Trung Đông… Về sản lượng và giá trị xuất khẩu: Năm 2007, sản lượng cá tra xuất khẩu đạt trên 48,2 ngàn tấn, giá trị đạt trên 148 triệu USD Về giá xuất khẩu: Trong năm 2007, mức
giá xuất khẩu bình quân thấp nhất là 1,87 USD/kg (của công ty K&K) và cao
nhất là 3,1 USD/kg (của công ty Vĩnh Hoàn) Về giải quyết việc làm: các
DNCBTSXK đã thu hút hàng chục ngàn lao động làm việc hàng năm
2.2.3 Đánh giá chung thực trạng phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu
2.2.3.1 Những thành tựu
Nuôi và chế biến cá tra xuất khẩu được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh Trong những năm qua, diện tích, sản lượng, giá trị cá tra xuất khẩu không ngừng tăng lên; nhờ vậy đã góp phần giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Tỉnh
2.2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân
- Thị trường nguyên liệu đầu vào chế biến thiếu ổn định Nguyên nhân chủ
yếu là: sự phát triển nuôi cá tự phát; đôi khi các nhà máy ép giá người nuôi; thị trường xuất khẩu có nguy cơ giảm do không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm; còn sự cạnh tranh về giá trên thị trường xuất khẩu
Trang 9- Đã và đang xuất hiện tình trạng ô nhiễm môi trường vùng nuôi do thiếu quy
hoạch chi tiết vùng nuôi và việc phát triển nuôi ngoài vùng quy hoạch làm cho môi trường vùng nuôi ngày càng bị ô nhiễm
- Chi phí sản xuất ngày càng tăng lên do nhiều nguyên nhân: tình hình ô
nhiễm và dịch bệnh ngày càng tăng, tỷ lệ hao hụt cá nuôi cao; thức ăn, thuốc thuý y thuỷ sản kém chất lượng làm thời gian nuôi kéo dài tăng chi phí sản xuất; giá nguyên vật liệu đầu vào tăng
- Sản phẩm cá tra xuất khẩu còn quá đơn điệu, thiếu các sản phẩm giá trị gia
tăng, chủ yếu là cá fillet đông lạnh Vấn đề hợp đồng bao tiêu sản phẩm chưa tốt nên chưa liên kết chặt chẽ giữa người nuôi và doanh nghiệp
Chương III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP KINH TẾ CHỦ YẾU SẢN XUẤT
VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU Ở TỈNH ĐỒNG THÁP TỪ NAY
ĐẾN NĂM 2020 3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển sản xuất và chế biến cá tra tỉnh Đồng Tháp
3.1.1 Những quan điểm cơ bản phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu đến năm 2020
- Phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở Tỉnh phải theo quy hoạch,
kế hoạch, có sự thống nhất quản lý của Nhà nước;
- Sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên mặt nước;
- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao sản lượng, năng suất, hiệu quả Tăng cường quản lý chất lượng và ATVSTP;
- Tập trung mọi nguồn lực, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào các lĩnh vực nuôi, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ hậu cần để sản xuất
và chế biến cá tra phát triển ổn định;
- Phát triển gắn với coi trọng bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 103.1.2 Những mục tiêu phát triển sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020
+ Về sản xuất:
Bảng 3.1: Chỉ tiêu quy hoạch diện tích, sản lượng cá tra xuất khẩu
ĐVT: Diện tích (ha), sản lượng( tấn)
5 Sản lượng nuôi bãi bồi … 342.200 420.000
6 Sản lượng nuôi ao hầm 87.240 80.000
Nguồn: Sở Nông nghiệp & PTNT Đồng Tháp
+ Về chế biến và xuất khẩu:
- Xây dựng nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu đạt trình độ công nghệ hiện đại,
đa dạng mặt hàng để có giá trị xuất khẩu cao.Thu mua và chế biến toàn bộ cá nguyên liệu do người dân sản xuất
- Không ngừng mở rộng thị trường và giữ vững vị thế tại những thị trường truyền thống như EU, Mỹ, Canada,…Sản lượng chế biến cá tra xuất khẩu năm
2010 là 65.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD Đến năm 2020 sản lượng sẽ lên tới 100.000 tấn, kim ngạch đạt 300 triệu USD
3.2 Một số biện pháp kinh tế chủ yếu sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu ở tỉnh Đồng Tháp
3.2.1 Rà soát lại quy hoạch, chỉ đạo thực hiện quy hoạch sản xuất
và chế biến cá tra xuất khẩu của Tỉnh:
+ Trong công tác quy hoạch: Rà soát lại quy mô diện tích trong vùng
quy hoạch; Tạm dừng mở rộng diện tích nuôi đến hết năm 2010 Cần công