1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ tại bệnh viện vinmec năm 2019 và một số yếu tố liên quan

112 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến Thức, Thực Hành Phòng Chống Bệnh Tay Chân Miệng Của Người Chăm Sóc Trẻ Tại Bệnh Viện Vinmec Năm 2019 Và Một Số Yếu Tố Liên Quan
Tác giả Nguyễn Thị Nữ
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Xuân Tùng
Trường học Trường Đại Học Thăng Long
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (18)
    • 1.1. Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh (18)
    • 1.2. Đường lây truyền và cơ chế gây bệnh TCM (20)
    • 1.4. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán và điều trị bệnh TCM (23)
      • 1.4.1. Triệu chứng lâm sàng (23)
      • 1.4.2. Triệu chứng cận lâm sàng (23)
      • 1.4.3. Chẩn đoán (24)
      • 1.4.4. Điều trị (25)
      • 1.4.5. Phòng bệnh (26)
        • 1.4.5.1. Nguyên tắc phòng bệnh (26)
        • 1.4.5.2. Phòng bệnh tại các cơ sở y tế (26)
        • 1.4.5.3. Phòng bệnh ở cộng đồng (26)
    • 1.5. Những nghiên cứu về bệnh chân tay miệng (26)
      • 1.5.1. Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh tay chân miệng trên thế giới (27)
        • 1.5.1.1. Kiến thức về bệnh tay chân miệng (27)
        • 1.5.1.2. Thực hành về bệnh tay chân miệng (34)
        • 1.5.1.3. Xác định mối liên quan với bệnh tay chân miệng (36)
      • 1.5.2. Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh TCM tại Việt Nam 23 1.6. Tổng quan địa điểm nghiên cứu (38)
      • 1.6.1. Một số nét về bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City (40)
      • 1.6.2. Một số nét về Đơn nguyên Nhi 2- Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec (41)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (42)
    • 2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu (42)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (42)
      • 2.1.2. Địa điểm nghiên cứu (42)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (42)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (42)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (42)
    • 2.3. Các biến số, chỉ số nghiên cứu (43)
    • 2.4. Phương pháp thu thập số liệu (46)
      • 2.4.1. Công cụ thu thập thông tin (46)
      • 2.4.2. Kỹ thuật thu thập thông tin (46)
      • 2.4.3. Quy trình thu thập thông tin và sơ đồ nghiên cứu (46)
    • 2.5. Xử lý số liệu (47)
    • 2.6. Sai số và biện pháp khắc phục (47)
    • 2.7. Đạo đức trong nghiên cứu (47)
    • 2.8. Hạn chế của nghiên cứu (47)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (49)
    • 3.2. Kiến thức, thực hành của NCS trẻ với bệnh TCM (52)
      • 3.2.1. Kiến thức của NCS về bệnh TCM (52)
      • 3.2.2. Thực hành của NCS về bệnh TCM (55)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của NCS bệnh nhi 43 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (61)
    • 4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (75)
    • 4.2. Kiến thức và thực hành của NCS về bệnh TCM (76)
      • 4.2.1. Kiến thức của NCS về bệnh TCM (76)
      • 4.2.2. Thực hành của NCS về phòng chống bệnh TCM (82)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu (87)
      • 4.3.1. Mối liên quan về kiến thức bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu . 63 4.3.2. Mối liên quan đến thực hành phòng bệnh TCM của đối tượng nghiên cứu (87)
  • KẾT LUẬN (91)
    • 1.1. Kiến thức phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ (91)
    • 1.2. Thực hành về phòng chống bệnh TCM của NCS trẻ (91)
    • 2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của đối tượng nghiên cứu (92)
      • 2.1. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh TCM của (92)
      • 2.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng chống bệnh TCM của (92)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (94)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONGNGUYỄN THỊ NỮ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ TẠI BỆNH VIỆN VINMEC NĂM 2019 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN LUẬN VĂN THẠC

TỔNG QUAN

Khái niệm và nguyên nhân gây bệnh

Bệnh được mô tả lần đầu tại Toronto-Canada năm 1957 Đến năm 1959, trong vụ dịch tại Birmingham (Anh) bệnh đã được đặt tên là “hand – foot – and mouth disease” ( HFMD) - Bệnh tay chân miệng TCM với tổn thương đặc hiệu ở tay, chân và miệng, bệnh thường gặp ở trẻ em [23]

Bệnh tay chân miệng do một nhóm virus thuộc nhóm Enterovirus gây nên Enterovirusbao gồm 4 nhóm: poliovirus, Coxsackie A virus (CA), Coxsackie B virus (CB) và Echovirus Các serotyp thuộc loài A gồm: EV68, EV71, EV76, EV89, EV90, EV91 và EV92 Trong khi các serotyp EV khác thì thuộc dưới loài Enterovirus B hoặc C Týp EV71 là một trong những tác nhân gây nên bệnh TCM và đôi khi chúng còn có khả năng gây nên bệnh ở hệ thần kinh trung ương Khả năng gây bệnh của týp EV71 đã được minh chứng là lần đầu tiên (1969) phân lập được chúng ở tổ chức thần kinh trung ương của một số trường hợp tại California (Mỹ) [9].

Loài Coxsackievirus thuộc họ Picornaviridae gồm 29 typ Chúng khác biệt với các Enterovirus khác ở khả năng gây bệnh ở chuột ổ, các enterovirus khác thì hiếm hoặc không Chúng chia thành 2 nhóm: nhóm A và nhóm B có khả năng gây bệnh ở chuột khác nhau Chúng gây nhiều chứng bệnh khác nhau: Coxsackie A gây viêm họng, phát ban ngòai da, bệnh tay chân miệng, gây viêm kết mạc chảy máu, viêm màng não vô khuẩn ,Coxsackie B gây viêm cơ tim ở trẻ sơ sinh, viêm đường hô hấp trên, viêm màng ngoài tim, viêm màng trong tim [9].

Người ta cũng đã cho biết rằng týp virus EV 71 đã xuất hiện ở ĐàiLoan vào năm 1968 cũng như đã từng xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như: Philipines, Indonesia, Singapore Tuy rằng đây không phải là một týp enterovirus mới nhưng đặc tính của týp virus này có độc tính rất mạnh và có khả năng làm tổn thương tổ chức thần kinh trung ương gây ra những bệnh cảnh lâm sàng nặng và hậu quả để lại xấu, hơn nữa nước ta lại nằm trong khu vực này cho nên cần cảnh giác và thận trọng khi có bệnh TCM xuất hiện [9].

EV71 có 4 nhóm gen là nhóm A, B, C và D Nhóm A và D bao gồm một thành viên Thành viên duy nhất của nhóm A là chủng RrCr Nhóm B được chia làm 6 dưới nhóm (subgenotipe): B1-5 và BO Nhóm C cũng được chia thành 5 dưới nhóm (subgenotype): C1-5 Coxsackie virus được chia thành

2 nhóm A và B Nhóm A có 24 dưới nhóm có thể gây bệnh lý ở người trong đó CA16 là một trong những căn nguyên quan trọng gây bệnh TCM Ngoài ra một số dưới nhóm khác như A5, A6, A7, A9, A10 cũng gây bệnh này. Coxsackie nhóm B có 6 dưới nhóm trong đó B1, B2, B3,B5 cũng là nguyên nhân gây bệnh TCM [15].

Hình 1 Một số hình ảnh về hình thể và cấu trúc của vi rút Coxsackie gây bệnh TCM

Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: EV bị đào thải ra ngoại cảnh từ phân, dịch hắt hơi, sổ mũi và dịch trong nốt phỏng EV bị bất hoạt bởi nhiệt độ 56 o C trong vòng 30 phút và tia cực tím hoặc tia gama EV chịu được pH với phổ rộng từ 3-9 EV Bị bất hoạt bởi 2% Sodium hyproclorite (Nước Javen), Chlorine tự do Không hoặc ít bị bất hoạt bởi các chất hòa tan lipid như: Cồn, Chloroform, phenol, Ether Ở nhiệt độ lạnh -40 o C, EV sống được 2-

Đường lây truyền và cơ chế gây bệnh TCM

Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường là trẻ em và người là nguồn lây bệnh duy nhất Bệnh lây truyền chủ yếu theo đường tiêu hóa phân – miệng, dịch tiết nơi tổn thương – miệng và có thể lây do tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng của người bệnh hoặc tiếp xúc gián tiếp với các chất tiết của người bệnh trên đồ chơi, bàn ghế, dụng cụ sinh hoạt, nền nhà…Bệnh TCM xảy ra rải rác quanh năm nhưng thường mắc cao hơn vào mùa hè và mùa thu Bệnh xuất hiện nhiều ở các nước có điều kiện vệ sinh kém.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, các enterovirus nhân lên trong các mô bạch huyết của khoang hầu họng (amidan) và ruột non (mãng Peyer), sau đó đến các hạch bạch huyết khu vực (hạch mạc treo ruột), gây tình trạng virus máu nhẹ Đa phần nhiễm virus được giới hạn ở đây và không gây ra triệu chứng gì Với EV71, tình trạng nhiễm trùng lan rộng khi virus lan ra hệ võng nội mô (gan, lách, tủy xương, và các hạch bạch huyết), lan đến tim, phổi, tuyến tụy, da, niêm mạc, thần kinh trung ương và trùng hợp thời kỳ khởi phát lâm sàng [34] Trong giai đoạn này, có thể phát hiện được tác nhân gây bệnh ở phân, chất dịch ngoáy họng, dịch mụn nước của bệnh nhân Theo một nghiên cứu, tỷ lệ phân lập được enterovirus ở bệnh phẩm là dịch ngoáy họng là 49% (288/592); ở dịch mụn nước là 48% (169/333); ở bệnh nhân không có biểu hiện bóng nước, bệnh phẩm ngoáy họng và phân cho kết quả dương tính với enterovirus là 53% (138/259) [30] Như vậy, thời kỳ lây truyền bệnh TCM bắt đầu một vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh. Virus có thể tiếp tục được bài tiết từ dịch hầu họng hoặc phân đến sau 2 tuần, cá biệt có thể tới 11 tuần kể từ khi khởi bệnh [25].

1.3 Đặc điểm dịch tễ học

Các vụ bùng phát dịch bệnh tay chân miệng (TCM) cứ vài năm lại xảy ra một lần ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, và trong thập niên vừa qua đã có báo cáo về nhiều vụ bùng phát dịch TCM ở các quốc gia trong khu vực Tây Thái Bình Dương Những nước châu Á ghi nhận có số ca mắc TCM tăng nhanh trong thời gian gần đây gồm Trung Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc) và Việt Nam [19].

Nhiều vụ dịch lớn và nhỏ liên quan đến nhiễm EV71 đã được báo cáo trên toàn thế giới kể từ đầu những năm 1970 [34], [32] Trẻ em đã bị ảnh hưởng phổ biến nhất trong những đợt bùng phát này, và biểu hiện lâm sàng của các trường hợp chủ yếu là điển hình của bệnh TCM, với sốt, mụn nước ở da tay, chân và mụn nước ở miệng Tuy nhiên, các trường hợp liên quan đến biến chứng hệ thống thần kinh trung ương (CNS) và / hoặc phù phổi cũng đã được quan sát [29] Một ví dụ, trong năm 2009, vụ dịch ở Trung Quốc đại lục liên quan đến 1.155.525 trường hợp mắc TCM, trong đó 13.810 trường hợp nghiêm trọng và 353 trường hợp tử vong.

Tại Việt Nam bệnh TCM xảy ra rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương nhưng phần lớn tại các tỉnh phía Nam Một vụ dịch lớn đã xảy ra vào năm 2011 với 113.121 trường hợp mắc và 170 ca tử vong Bệnh có quanh năm, tăng mạnh ở 2 thời điểm, từ tháng 3-5 và tháng 9-12 trong năm [15].

Bệnh gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhiều hơn ở trẻ dưới 5 tuổi, tập trung ở dưới 3 tuổi, đỉnh cao là 1-2 tuổi [15].

Nguồn lây bệnh là người bệnh và người lành mang vi rút Tác nhân gây bệnh có trong các dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc phân của người bệnh [15].

Thời gian ủ bệnh từ 3-7 ngày Thời kỳ lây lan là vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong đầu tuần của bệnh và có thể kéo dài vài tuần sau đó,

Thang Long University Library thậm chí sau khi người bệnh hết triệu chứng Vi rút có khả năng đào thải qua phân trong vòng 2 đến 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau [15].

Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa phân miệng, thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng Nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của người bệnh, trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà Đặc biệt khi người bệnh mắc bệnh đường hô hấp tiếp xúc trực tiếp từ người – người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây lan trực tiếp từ người sang người một số yếu tố có thể làm gia tang sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hang ngày [15].

Bệnh TCM có tính cảm thụ cao, mọi người đều có tính cảm nhiễm với vi rút gây bệnh TCM, không phải tất cả mọi người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh mà phần lớn bệnh ở hình thái thể ẩn, không biểu hiện các triệu chứng, đây là nguồn lây nhiễm nguy hiểm, bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn [15].

Hình 2 Lý do hay gặp ở trẻ vì trẻ mút tay, dùng chung đồ chơi

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, chẩn đoán và điều trị bệnh TCM

Giai đoạn ủ bệnh từ 3 - 7 ngày Giai đoạn khởi phát trong 1 - 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh, gồm [7]:

- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt.

- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.

Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng:

- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

- Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

- Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình như trên.

1.4.2 Triệu chứng cận lâm sàng

- Công thức máu: Bạch cầu thường trong giới hạn bình thường Bạch cầu tăng trên 16.000/mm3 thường liên quan đến biến chứng

- Protein C phản ứng (CRP) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L).

- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi có thay đối trong các trường hợp có biến chứng.

- Khi có biến chứng, thay đổi các chỉ số trong khí máu, siêu âm tim, dịch não tủy.

- Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân.

- Chụp cộng hưởng từ não: Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh.

- Chẩn đoán ca lâm sàng dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học: Yếu tố dịch tễ như tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian Lâm sàng gồm phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không.

- Chẩn đoán xác định: Xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh.

- Chẩn đoán phân biệt với các bệnh có biểu hiện loét miệng, ban trên da khác

- Biến chứng: bệnh TCM hay có biến chứng ở thần kinh và tim mạch.

- Biến chứng thần kinh là viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não với các biểu hiện: Rung giật cơ; ngủ gà, bứt rứt, chới với, đi loạng choạng, run chi, mắt nhìn ngược; Rung giật nhãn cầu; Yếu, liệt chi (liệt mềm cấp); Liệt dây thần kinh sọ não; Co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn; Tăng trương lực cơ (biểu hiện duỗi cứng mất não, gồng cứng mất vỏ).

- Biến chứng tim mạch, hô hấp thể hiện: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch.

Phân độ lâm sàng, gồm các mức độ:

- Độ 1: Chỉ loét miệng và/hoặc tổn thương da.

❖ Độ 2a: Bệnh sử có giật mình dưới 2 lần/30 phút và không ghi nhận lúc khám, sốt trên 2 ngày, hay sốt trên 39 o C, nôn, lừ đừ, khó ngủ, quấy khóc vô cớ.

❖ Độ 2b: Có dấu hiệu thuộc nhóm 1 hoặc nhóm 2:

Nhóm 1: Có một trong các biểu hiện sau:

✓ Giật mình ghi nhận lúc khám.

✓ Bệnh sử có giật mình ≥ 2 lần / 30 phút.

✓ Bệnh sử có giật mình kèm theo một dấu hiệu sau: Ngủ gà; Mạch nhanh > 150 lần /phút (khi trẻ nằm yên, không sốt); Sốt cao ≥ 39 o C không đáp ứng với thuốc hạ sốt

Nhóm 2: Có một trong các biểu hiện sau:

✓ Thất điều: run chi, run người, ngồi không vững, đi loạng choạng;

✓ Rung giật nhãn cầu, lác mắt;

✓ Yếu chi hoặc liệt chi;

✓ Liệt thần kinh sọ: nuốt sặc, thay đổi giọng nói.

- Độ 3: Mạch nhanh > 170 lần/phút (khi trẻ nằm yên, không sốt);

❖ Một số trường hợp có thể mạch chậm (dấu hiệu rất nặng);

❖ Vã mồ hôi, lạnh toàn thân hoặc khu trú;

❖ Thở nhanh, thở bất thường: Cơn ngưng thở, thở bụng, thở nông, rút lõm ngực, khò khè, thở rít thanh quản;

❖ Rối loạn tri giác (Glasgow < 10 điểm); Tăng trương lực cơ.

Nguyên tắc điều trị: Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm) Theo dõi sát, phát

Thang Long University Library hiện sớm và điều trị biến chứng Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.

- Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh đặc hiệu.

- Áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa đối với bệnh lây qua đường tiêu hoá, đặc biệt chú ý tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.

1.4.5.2 Phòng bệnh tại các cơ sở y tế:

- Cách ly theo nhóm bệnh.

- Nhân viên y tế: Mang khẩu trang, rửa, sát khuẩn tay trước và sau khi chăm sóc.

- Khử khuẩn bề mặt, giường bệnh, buồng bệnh bằng Cloramin B 2% Lưu ý khử khuẩn các ghế ngồi của bệnh nhân và thân nhân tại khu khám bệnh.

- Xử lý chất thải, quần áo, khăn trải giường của bệnh nhân và dụng cụ chăm sóc sử dụng lại theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiêu hoá.

- Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tã, sau khi tiếp xúc với phân, nước bọt).

- Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà.

- Lau sàn nhà bằng dung dịch khử khuẩn Cloramin B 2% hoặc các dung dịch khử khuẩn khác.

- Cách ly trẻ bệnh tại nhà Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh.

Những nghiên cứu về bệnh chân tay miệng

Các chương trình phòng chống bệnh TCM tại cộng đồng đã được triển khai tại nhiều quốc gia Các chương trình này có nhiều điểm tương đồng, bao gồm những nội dung chính: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu rộng; xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc trẻ; phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh Các nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận và nhiều biện pháp khác nhau để phòng bệnh TCM, triển khai các chương trình phòng bệnh TCM tại cộng đồng ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore , nội dung chính gồm: Giáo dục vệ sinh tốt và vệ sinh cơ bản thông qua chiến dịch truyền thông sâu, rộng; Xây dựng và củng cố hệ thống giám sát dịch; hỗ trợ cho trường học và các cơ sở chăm sóc ban ngày; Phổ biến những yếu tố nguy cơ của bệnh; tuyên truyền các biện pháp thực hành phòng bệnh, các nghiên cứu đều đạt kết quả tốt trong quá trình thực hiện Một số can thiệp YTCC hiệu quả đã được áp dụng phòng chống bệnh TCM tại Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông và được WHO khuyến cáo như: thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo dịch sớm, thường xuyên; triển khai các chiến dịch truyền thông; triển khai các chiến dịch vệsinh, rửa tay bằng xà phòng, chủ động xây dựng kế hoạch, chính sách phòng bệnh TCM Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 581/QĐ- BYT ngày 24/2/2012 hướng dẫn “Giám sát và phòng bệnh TCM” nhằm tuyên truyền cho người dân các nội dung: Nguy cơ mắc bệnh; đường lây truyền; các triệu chứng của bệnh và những dấu hiệu bệnh chuyển nặng để người dân chủ động phòng bệnh, có thể phát hiện sớm các trường hợp mắc bệnh và đưa đến cơ sở y tế kịp thời; không để bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện 3 sạch: Ăn sạch, ở sạch, bàn tay và chơi đồ chơi sạch Do vậy, cần có những nghiên cứu can thiệp tiếp theo, xây dựng mạng lưới truyền thông, huy động sự tham gia của cộng đồng để phòng chống dịch bệnh được tốt hơn

1.5.1 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành với bệnh tay chân miệng trên thế giới

1.5.1.1 Kiến thức về bệnh tay chân miệng

Một nghiên cứu của Ruttiya Charoenchokpanit và cộng sự tại Bang Kok, Thái Lan năm 2013 từ 456 người chăm sóc trẻ tại nhà cho thấy có 5,5% người trả lời phải đối mặt với dịch TCM trong cộng đồng trước đây và 12,1% trẻ em

Thang Long University Library của họ đã bị nhiễm TCM trước đó Gần như tất cả (94,0%) số người được hỏi, có con bị nhiễm bệnh tìm cách điều trị tại bệnh viện Tất cả những người được hỏi đã từng được biết thông tin về bệnh TCM trước đây và nguồn phương tiện chính cung cấp thông tin là truyền hình (97,6%) Tuy nhiên, điểm kiến thức hiểu biết của họ về bệnh của họ trung bình chỉ là 13 điểm so với số điểm đầy đủ là 22 điểm Trong đó, một nửa trong số họ (50,4%) có mức điểm hiểu biết thấp và chỉ 3,7 % có kiến thức tổng thể cao Có tới 31,8% trong số họ có thể không xác định bất kỳ triệu chứng nào của bệnh TCM Ngoài ra, họ có thể nhầm lẫn giữa bệnh TCM với các bệnh về chân và miệng khác Chỉ 39% trong số họ biết rằng bệnh TCM không phải là bệnh tương tự như bệnh về chân và miệng, và 47,1% nghĩ rằng cừu, gia súc và lợn có thể lây truyền bệnh TCM sang người [24].

Nghiên cứu của Nursyuhadah Othman và cộng sự năm 2012 tại Malaysia được thực hiện với tổng số 32 người được phỏng vấn, có 72% (n = 23) số người được hỏi nằm trong khoảng từ 21-40 tuổi Gần 69% (n = 22) trong số những người được hỏi đã kết hôn, 31% (n = 9) chưa kết hôn Cuộc khảo sát có sự tham gia của 87% (n = 27) người trả lời là nữ và 13% (n = 5) người trả lời là nam Gần 50% (n = 16) số người được hỏi đã tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học trong khi 37,5% (n = 12) học trung học, 6,3% (n = 2) học tiểu học và có tới 6,3% (n = 2) người không bao giờ tham dự bất kỳ một trường giáo dục chính thức nào, 84,4% (n = 27) người được hỏi đang làm việc và 15,6% (n = 5) người được hỏi đang thất nghiệp Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ trên những người được hỏi kiến thức về bệnh TCM và kinh nghiệm có con / trẻ bị nhiễm TCM Thấy rằng, có 59,4% (n = 19) có kiến thức cơ bản về TCM mặc dù con cái họ chưa bao giờ bị nhiễm TCM, 9,4% (n = 3) người được biết TCM từ kinh nghiệm trước đây của họ khi con / trẻ bị nhiễm bệnh tật Tám người được hỏi (25%) không có con bị nhiễm bệnh, được thông báo rằng họ không chắc chắn và không quen thuộc vớiTCM Đáng ngạc nhiên, 3,1% (n = 1) người được hỏi đã có một kinh nghiệm đối phó với bệnh TCM Trong số 22 người được hỏi biết về TCM, có 40,1% (n = 9) lấy thông tin từ báo, 22,7% (n = 5) lấy thông tin từ truyền hình, 18,2% (n = 4), 13,6% (n = 3) số người được hỏi tiếp xúc với TCM từ chuyến thăm bệnh viện của họ và một người được hỏi (4,5%) biết từ việc nghe nói từ những người trong khu vực sinh sống của họ Mười bảy người được hỏi (53,1%) thông báo rằng họ biết về các triệu chứng của bệnh TCM Trẻ bị nhiễm TCM có thể bị một số triệu chứng sau đây như sốt, loét họng, miệng và lưỡi, phát ban với mụn nước ở tay, chân, đế và ở vùng tã lót sau đó là nôn mửa và tiêu chảy Tám người được hỏi (25%) cho biết họ không chắc chắn về các triệu chứng và 21,9% còn lại (n = 7) không biết gì về các triệu chứng Dựa trên cuộc phỏng vấn với những người được hỏi, một số người trong số họ nhầm lẫn với sốt nói chung, bao gồm các triệu chứng giống như sốt như tiêu chảy và nôn mửa Có 56,3% (n = 18) số người được hỏi đồng ý rằng TCM có thể gây tử vong Chín người được hỏi (28,1%) không chắc chắn về điều đó và năm người được hỏi (15,6%) không tin rằng TCM có thể gây bệnh Có 40,6% (n = 13) người được hỏi tin rằng TCM lây lan qua tiếp xúc với người hoặc chạm từ người bị nhiễm bệnh Chín người được hỏi (28,1%) quyết định rằng họ không chắc chắn về đường lây truyền Sáu người được hỏi (18,8%) cho rằng TCM là bệnh truyền qua đường nước và bốn người được hỏi (n = 12,5%) cho rằng TCM lây lan qua không khí [31].

Nghiên cứu khác tại Malaysia của tác giả Qudsiah Suliman và cộng sự năm 2017 phỏng vấn tổng số 353 bà mẹ trong độ tuổi từ 22 đến 56, thấy tỷ lệ trả lời là 80,2% Hầu hết những người được hỏi đã kết hôn (96,3%), nội trợ (44,2%) và có trình độ học vấn cho đến trung học cơ sở (64,8%) Hơn nữa, hầu hết những người được hỏi nói rằng họ chưa bao giờ thuê bất kỳ người giúp việc nào cho đến nay (96,9%) [35].

Xác nhận kiến thức về bệnh TCM, tổng điểm trung bình là 13,61 (SD 4,04) Hơn nữa, năm câu hỏi hàng đầu mà những người được hỏi trả lời sai là

Thang Long University Library về loét miệng và họng đảm bảo nhập viện (97,7%), phát ban, ngứa gây ra bởi triệu chứng của bệnh TCM (94,9%) Bệnh TCM còn được gọi là bệnh lở mồm long móng (81,3%) Tiêu chảy là triệu chứng của bệnh TCM (80,2%) và cừu có thể truyền bệnh TCM sang người (70,2%) Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh TCM sẽ hồi phục trong vòng 1 tuần (52,1%), bệnh TCM có thể được liên kết với viêm màng não (52,1%), người bị nhiễm bệnh có thể bài tiết mầm bệnh TCM trong phân có thể truyền sang người khác (49,4%) và tác nhân gây bệnh TCM xâm nhập vào cơ thể người qua đường tiêu hóa (40,2%) [35].

Nghiên cứu của Q Liao tại Hồng Kông năm 2014 khi khảo sát quan điểm của phụ huynh về bệnh TCM ở trẻ em, kết quả thu được như sau: Khoảng 19% số người được hỏi nói rằng con của họ trước đó đã bị nhiễm bệnh TCM và tỷ lệ nhiễm được báo cáo là cao hơn ở những gia đình có nhiều hơn một đứa trẻ trong độ tuổi mục tiêu so với những gia đình chỉ có một đứa con (26% so với 15%, P 0,001) Chỉ có 24% số người được hỏi cho biết họ lo lắng về việc con họ bị nhiễm bệnh TCM và chỉ 5% nhận thấy khả năng cao là con của họ sẽ bị nhiễm bệnh TCM Tuy nhiên, bệnh TCM được coi là phổ biến vừa phải ở Hồng Kông. Cảm nhận tác động của việc trẻ em nhiễm bệnh TCM đối với việc ở trường học cao hơn so với các hoạt động hàng ngày của phụ huynh và gánh nặng tài chính gia đình Cha mẹ đi làm nhận thấy ít ảnh hưởng của bệnh TCM của trẻ với gánh nặng tài chính của gia và công việc ở trường của con Khoảng hai phần ba số người được hỏi nhận thấy rằng con của họ ít nhất có khả năng phải nhập viện và hơn 60% dự đoán ít nhất một số điều hối tiếc nếu con họ bị nhiễm bệnh TCM [28] Trong số những người được phỏng vấn, 61% tin rằng,nếu có sẵn, tiêm chủng sẽ có hiệu quả hoặc hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa bệnh TCM Hầu hết, những người được hỏi chỉ ra rằng họ ít nhất có phần tự tin trong việc bảo vệ con mình chống lại bệnh TCM Ảnh hưởng của nhận thức về phòng bệnh là trung bình đến cao trong số những người được hỏi So với những người được hỏi chưa từng bị nhiễm TCM, những người có con bị nhiễm trước đó nhận thấy tỷ lệ mắc bệnh TCM cao hơn và khả năng cao là con họ sẽ bị nhiễm bệnh, nhưng tác động của con họ thấp hơn một chút.

Theo dõi hơn 80% số người được hỏi nói rằng họ thường xuyên rửa tay cho con mình và tránh cho con mình chia sẻ vật dụng cá nhân với người khác và khử trùng hộ gia đình trong 1 tuần qua Ngoài ra, khoảng 42% và 46% số người được hỏi nói rằng nên để con họ tránh xa những nơi đông người và khử trùng đồ chơi của trẻ Tuy nhiên, chỉ có 3 người (8%) số người được hỏi báo cáo thực hiện các hành động này để ngăn ngừa bệnh TCM Những người được hỏi có hai con không có khả năng khử trùng đồ chơi của con mình nhiều hơn những người chỉ có một con Có 90% (408/452) số người được hỏi cho biết họ sẽ không cho con đi học nếu bị nhiễm TCM Trong số 374 người được hỏi có con đang theo học tại một trung tâm chăm sóc trẻ em, mẫu giáo hoặc trường học, 16% (60/374) cho biết họ sẽ giữ không cho con đi học nếu một trường hợp mắc bệnh TCM được báo cáo ở trường, tăng lên 40% (151 / 374) nếu một trường hợp tử vong được báo cáo do nhiễm trùng Trong số những người trả lời hoàn thành khảo sát tiếp theo, 53% (238/52) chỉ ra rằng họ sẽ chấp nhận tiêm vắc-xin TCM cho con của họ Điều này bao gồm 29% (132/452), 9% (40/452) và 15% (66/452) nói rằng họ sẽ 'có khả năng', 'rất có thể' và 'chắc chắn', đưa con họ đi tiêm phòng Chấp nhận cho đi học và tiêm chủng không liên quan đến lịch sử trẻ em mắc bệnh TCM [28].

Nghiên cứu của Ha Thi Kim Phung tại bệnh viện Mỹ Phước cho thấy: trong phần phân tích, dữ liệu được trích xuất từ 52 người chăm sóc trẻ em dưới

5 tuổi trước và sau một buổi giáo dục sức khỏe Kết quả cho thấy các biện pháp can thiệp đã cải thiện kiến thức về bệnh TCM ở những người tham gia sau can thiệp Ở mức đẹp nhất, 34,6% người chăm sóc có mức độ hiểu biết kém và rất kém, 38,5% có mức độ trung bình và 26,9% có mức độ hiểu biết tốt và rất tốt Kết quả này so với 86,5% người chăm sóc đạt mức kiến thức rất tốt sau can thiệp [42].

Nghiên cứu của Trần Triệu Ngọc Huyền tại một số xã cho kết quả: nhóm được khảo sát tại các trung tâm chăm sóc trẻ em ban ngày không chính thức có kiến thức về bệnh tốt hơn so với nhóm ở hộ gia đình Đa số những người chăm sóc trẻ em được khảo sát nghĩ rằng bệnh TCM có thể xảy ra với những đứa trẻ mà họ đang chăm sóc Những người cung cấp thông tin tại các trung tâm giữ trẻ thể hiện thái độ tích cực hơn trong việc tìm hiểu về căn bệnh này so với những người ở hộ gia đình và họ cũng bày tỏ sự quan tâm hơn nếu có trường hợp mắc bệnh TCM xảy ra trong cộng đồng của họ Họ quan tâm vì họ nghĩ bệnh TCM là nguy hiểm đến tính mạng của trẻ và có thể truyền từ người này sang người khác. Nhóm được khảo sát tại các trung tâm giữ trẻ thực hành rửa tay thường xuyên hơn nhóm tại các hộ gia đình Nhóm này cũng sử dụng xà phòng, chất lỏng chống vi khuẩn để rửa tay của họ hoặc trẻ em thường xuyên hơn Việc thực hành rửa tay cho trẻ tại các nhà trẻ tốt hơn nhiều so với tại các hộ gia đình Nhóm hộ không chú ý đến các bước làm sạch ngón tay, kẽ ngón tay, móng tay và rửa sạch xà phòng dưới vòi nước đang chảy Tại các trung tâm giữ trẻ, trẻ em 3 tuổi có thể tự rửa tay với sự giám sát của người giữ trẻ Nhóm khảo sát tại nhà trẻ sử dụng xà phòng, chất sát khuẩn khi vệ sinh đồ chơi của trẻ với tỷ lệ cao hơn so với cùng nhóm hộ gia đình Không có sự khác biệt thống kê về tần suất sử dụng xà phòng, chất sát trùng để lau sàn giữa hai nhóm khảo sát Hầu hết những người được khảo sát cho biết họ biết về bệnh TCM chủ yếu qua các phương tiện thông tin đại chúng Thông tin về căn bệnh này trên các phương tiện thông tin đại chúng đã bão hòa và các nhóm đối tượng cần được thông tin sâu hơn và tập trung hơn vào mức độ thay đổi hành vi [43].

Một cuộc khảo sát KAP về người giám hộ của những bệnh nhân mắc bệnh TCM dưới 5 tuổi ở Trùng Khánh năm 2015 của tác giả ZHANG Shi-yong và cộng sự cho thấy: Tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ là cha mẹ (46 9%, 6 9 ± 2 1) cao hơn người giám hộ khác (29 7%, 4 7 ± 1 6); tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ nữ (43 3%, 6 7 ± 1.

9) cao hơn người giám hộ nam (33 2%, 5 0 ± 2 0); tỷ lệ nhận thức và điểm trung bình của người giám hộ từ thành phố (54 9%, 7 2 ± 2 4) cao hơn so với người giám hộ là người nhập cư (30 8%, 4 7 ± 1 6) [22].

Nghiên cứu của tác giả Vorapoj Promasatayaprot nhằm điều tra kiến thức, thái độ và hành vi về phòng chống bệnh tay chân miệng của những người chăm sóc trẻ em tại các trung tâm phát triển trẻ em, tỉnh Ubon Ratchathani Kết quả cho thấy đa số là nữ (96,3%), trung bình 41 tuổi (68,3%), tình trạng hôn nhân là vợ chồng (85,7%) và đang học đại học (75,2%) với thời gian làm giáo viên tại các trung tâm phát triển trẻ em từ 10 đến 14 tuổi là 58,7% và 71,8% trong số họ đã được nhân viên y tế tập huấn về kiểm soát bệnh TCM Kiến thức phòng bệnh tay chân miệng cho người chăm sóc trẻ ở mức cao Điểm trung bình là 2,76 (SD

= 0,114) Thái độ của người chăm sóc trẻ ở mức vừa phải Điểm trung bình của nó là 2,28 (SD = 0,247) Mặt khác, mức độ quản lý môi trường để ngăn ngừa bệnh TCM còn thấp Điểm trung bình là 1,34 (SD = 0,215) Các yếu tố về đặc điểm cá nhân như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, thời gian làm việc, kiến thức và thái độ phòng ngừa bệnh TCM có liên quan đến Phòng ngừa hành vi ở mức có ý nghĩa thống kê (p 35 chiếm 34,2%.

Bảng 3.3 Đặc điểm giới của người chăm sóc (n= 380)

Bảng 3.4 Đặc điểm dân tộc của người chăm sóc (n= 380)

Trong số 380 người chăm sóc trẻ được phỏng vấn, có tới 323 người (85,5%) là nữ giới, nam giới chiếm một tỉ lệ rất nhỏ (14,5%), trong đó đa số đều là người dân tộc Kinh (98,7%).

Bảng 3.5 Đặc điểm người có con dưới 5 tuổi (n= 380)

Không có con dưới 5 tuổi

Số người không có con dưới 5 tuổi là 93 người (24,5%), số người có 1 con dưới 5 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 55%, người có 3 con dưới 5 tuổi chỉ có 2 trường hợp (5%).

Bảng 3.6 Đặc điểm thu nhập bình quân đầu người của người chăm sóc (n= 380)

Từ 10 đến dưới 20 triệu đồng

Từ 20 triệu đồng trở lên

Thu nhập trung bình đầu người ở nhóm từ 10 – 20 triệu/tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 50%, nhóm >20 triệu/tháng chiếm 14%, còn lại là nhóm 70% Biện pháp không cho trẻ bệnh đến lớp/không cho trẻ tiếp xúc với trẻ bệnh chỉ chiếm 66,3% và vẫn có 0,5% (2 NCS) không có biện pháp thực hành nào để phòng bệnh TCM.

Bảng 3.14 Thực hành rửa tay cho trẻ của NCS( n80)

Cách rửa tay cho trẻ của

Khi phỏng vấn 380 NCS thì thấy 100% đều luôn luôn rửa tay cho trẻ, trong đó có 26,6% NCS rửa tay cho trẻ bằng nước đơn thuần, và 73,4% NCS rửa tay cho trẻ bằng nước kết hợp với xà phòng.

Bảng 3.15 Thực hành rửa tay của NCS( n80)

Thời điểm rửa tay của NCS Rửa tay trước khi chăm sóc trẻ

Rửa tay sau khi đi vệ sinh, sau thay tã, vệ sinh cho trẻ

2 Rửa tay nước sạch và xà phòng

Về thực hành rửa tay của NCS thì 99,2% luôn luôn rửa tay trước khi chăm sóc trẻ, 99,7% NCS luôn rửa tay sau khi đi vệ sinh, sau thay tã hay vệ sinh cho trẻ Trong đó, rửa tay bằng nước sạch và xà phòng là 84,2%, rửa tay bằng nước sạch đơn thuần là 15,8%.

Bảng 3.16 Thực hành vệ sinh đồ đạc trong nhà của NCS

Vệ sinh đồ đạc trong nhà của NCS

Cách vệ sinh đồ chơi của trẻ (n50)

3 Ngâm bằng nước sạch và xà phòng

4 Ngâm bằng dung dịch khử khuẩn

NCS lau sàn nhà, bàn ghế, giường tủ…nơi trẻ thường bám tay (n80)

2 Thỉnh thoảng, vài ba ngày/lần

Cách thức lau sàn nhà, bàn ghế (n80)

2 Lau nước sạch và xà phòng/dung dịch khử khuẩn

Cho trẻ dùng riêng khăn lau mặt, lau tay (n80)

Có 350 NCS trong số 380 NCS có vệ sinh đồ chơi của trẻ Cách vệ sinh đồ chơi của NCS trẻ đa số là rửa bằng nước sạch và xà phòng chiếm tới 50,1

%, sau đó là biện pháp rửa bằng nước sạch 38,3%, các biện pháp dùng dung dịch khử khuẩn và lau bụi chiếm hơn 14%, các biện pháp khác chiếm 2% (hấp đồ chơi, rửa bằng dung dịch rửa bình sữa).

Có 378 NCS (chiếm 99,7%) hàng ngày đều lau sàn nhà, bàn ghế, giường tủ nơi trẻ bám vào, chỉ có 1 NCS (chiếm 0,3%) thi thoảng vài ba ngày/lần lau chùi Trong đó, cách thức lau sàn nhà, bàn ghế bằng nước sạch và xà phòng/dung dịch khử khuẩn là 288 người (chiếm 75,7%), lau bằng nước sạch đơn thuần là 92 người (chiếm 24,3%).

Có 347 NCS (chiếm 91,3%) sử dụng khăn riêng để lau tay, lau mặt cho trẻ, và 33 NCS (8,7%) không sử dụng khăn riêng để lau cho trẻ.

Bảng 3.17 Cách xử trí của NCS khi có trẻ mắc TCM (n= 96)

Cách xử trí của NCS khi trẻ mắc TCM Đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và điều trị

Cho trẻ nghỉ học đến khi khỏi hẳn

Báo cho các nhà hàng xóm có trẻ biết

Báo cho cán bộ y tế biết

Báo cho chính quyền biết

Báo cho cô giáo/người trông trẻ biết

Trong những NCS được phỏng vấn, có 96 người đã và đang chăm sóc cho trẻ 30%, báo cho chính quyền chỉ có 10,3%.

Bảng 3.18 Điểm quan sát thực hành của NCS có trẻ mắc TCM(nG)

Khi phỏng vấn NCS trẻ tại khoa Nhi bệnh viện Vinmec, nhóm nghiên cứu đã quan sát được 47 NCS có trẻ nhi đang mắc bệnh TCM tại khoa Các hoạt động quan sát bao gồm cách thức rửa tay của NCS, cách thức vệ sinh răng, miệng, vệ sinh da, nốt phỏng của trẻ, cách thức rửa đồ chơi, vật dụng của trẻ, cách thức rửa tay cho trẻ Sau khi quan sát thực hành chúng tôi thấy có 33 NCS (chiếm 70,2%) đạt yêu cầu, 14 NCS (29,8%) chưa đạt yêu cầu.

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của NCS bệnh nhi 43 CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

Quan hệ với bệnh nhi

Không có con dưới 5 tuổi

Thu nhập trung bình đầu người/hộ gia đình/tháng

Có mối liên quan giữa nhóm dân tộc với kiến thức về bệnh TCM của

NCS Từ kết quả trên cho thấy, nhóm người dân tộc khác có kiến thức đúng về bệnh TCM chỉ bằng 8% so với nhóm dân tộc kinh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p=0,004635 tuổi chiếm 34,2%, tuổi trung bình của NCS trẻ là 35,7% Không có trường hợp nào mà NCS trẻ

Ngày đăng: 26/04/2021, 07:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Admin (2019). Kiến thức về bệnh tay chân miệng của người dân tại xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2013. Luận Văn Y Học,&lt;https://luanvanyhoc.com/kien-thuc-ve-benh-tay-chan-mieng-cua-nguoi-dan-tai-xa-son-thinh-huyen-van-chan-tinh-yen-bai-nam-2013/&gt;, accessed:16/09/2019 Khác
3. Cao Thị Thuý Ngân (2012), Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt quân Đống Đa Hà Nội. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Khác
4. Chủ động phòng bệnh tay chân miệng - Các văn bản liên quan - Bo Y Te. &lt;https://www.moh.gov.vn/web/dich-benh/cac-van-ban-lien-quan/-/asset_publisher/zDIqD44ouwbX/content/chu-ong-phong-benh-tay-chan-mieng&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
5. Đặng Quang Ánh (2013), Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan đến thực hành phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê, Đà Nẵng. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Khác
7. Hướng dẫn chẩn đoán bệnh tay chân miệng – Bệnh Viện Nhi Trung Ương.&lt;http://benhviennhitrunguong.org.vn/huong-dan-chan-doan-benh-tay-chan-mieng.html&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
8. Khảo sát về kiến thức chăm sóc bệnh Nhi Tay chân miệng của các bà mẹ tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ - Tạp Chí Y học Thực Hành - Bộ Y Tế.&lt;http://www.yhth.vn/khao-sat-ve-kien-thuc-cham-soc-benh-nhi-tay-chan- Khác
9. Khoa học công nghệ. &lt;https://huemed-univ.edu.vn/coxsackievirus-va-benh-tay-chan-mieng-sckhcn-c71&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
10. Khuyến cáo phòng bệnh tay chân miệng - Các văn bản liên quan - Bo Y Te. &lt;https://www.moh.gov.vn/web/dich-benh/cac-van-ban-lien-quan/-/asset_publisher/zDIqD44ouwbX/content/khuyen-cao-phong-benh-tay-chan-mieng&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
11. Nam H.Y. học dự phòng V. Kiến thức và thực hành về phòng chống bệnh tay chân miệng của người chăm sóc trẻ chính trong gia đình có trẻ dưới 5 tuổi tại xã Liên Hồng – Đan Phượng – Hà Nội, năm 2016.&lt;http://www.tapchiyhocduphong.vn/tap-chi-y-hoc-du-phong/2019/01/kien-thuc-va-thuc-hanh-ve-phong-chong-benh-tay-chan-mieng-cua-nguoi-cham-soc-tre-o81E207C7.html&gt;, accessed: 27/08/2020 Khác
12. Nam H.Y. học dự phòng V. Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính trẻ dưới 5 tuổi tại xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa, năm 2018.&lt;http://www.tapchiyhocduphong.vn/tap-chi-y-hoc-du-phong/2018/04/kien-thuc-thuc-hanh-va-mot-so-yeu-to-lien-quan-den-phong-benh-tay-chan-mieng-cua-o81E20729.html&gt;, accessed: 27/08/2020 Khác
13. Nguyễn Thanh Liêm (2015), Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh Tay chân miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại 3 xã, huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Tế Công cộng Khác
14. Nguyễn Thị Hồng Lụa (2015), Thực trạng bệnh TCM và kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của người dân tại hai xã của huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai. Luận văn Thạc sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
15. Tìm hiểu về EV71 - Tác nhân gây viêm não, tay chân miệng. &lt;http://www.vinmec.com/vi/tin-tuc/thong-tin-suc-khoe/nhi/tim-hieu-ve-ev71-tac-nhan-gay-viem-nao-tay-chan-mieng/&gt;, accessed: 13/09/2019 Khác
16. Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng: Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thực hành phòng chống bệnh tay-chân-miệng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã An Lão, Bình Lục, Hà Nam.&lt;https://tailieu.vn/doc/tom-tat-luan-an-tien-si-y-te-cong-cong-danh-gia-ket-qua-can-thiep-cai-thien-kien-thuc-thuc-hanh-ph-2081255.html&gt;,accessed: 16/09/2019 Khác
17. Trần Hữu Quang (2013), Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến phòng, chống bệnh TCM của người chăm sóc chính với trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lệ Chi, Huyện Gia Lâm, Hà Nội. Luận văn thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng Khác
18. Trần Thị Anh Đào và cộng sự (2013), Kiến thức và thực hành về phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai năm 2012. Trường Đại học Y Dược Huế Khác
19. Văn phòng Khu vực Tây Thái Bình Dương | Bệnh tay chân miệng. WPRO,&lt;http://www.wpro.who.int/vietnam/topics/hand_foot_mouth/factsheet/vi/&gt; , accessed: 13/09/2019 Khác
20. Vũ Trọng Phòng (2013), Thực trạng bệnh và kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM của bà mẹ có con dưới 10 tuổi tại huyện Bình Giang, Hải Dương. Luận văn Thạc sỹ Y tế Công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình.Tiếng Anh Khác
21. (2019). Hand Foot and Mouth Disease | Home | HFMD | CDC.&lt;https://www.cdc.gov/hand-foot-mouth/index.html&gt;,accessed Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w