1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bàn Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

107 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bàn Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Tác giả Bùi Thị Huế
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Trần Văn Đức
Trường học ĐH Nông nghiệp HN
Chuyên ngành Kinh Tế & PTNT
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khóa luận tốt nghiệp: Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bàn Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với mục tiêu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị gà ta; đánh giá đúng thực trạng kênh tiêu thụ cũng như chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể thông qua việc đánh giá và phân tích từng tác nhân trong kênh tiêu thụ;...

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận “Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bànHuyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” là kết quả nghiên cứu trong thời gian thực tập tốtnghiệp của tôi

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2013

Tác giả

Bùi Thị Huế

LỜI CẢM ƠN

Trang 2

Để hoàn thành đề tài này ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ hết sức nhiệt tình, quý báu của các thầy cô, của Viện Chính sách và Chiếnlược phát triển nông nghiệp nông thôn, gia đình và các bạn.

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Văn Đức, người

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa, các thầy giáo, cô giáo KhoaKinh Tế & PTNT, cùng toàn thể các thầy cô giáo trường ĐH Nông nghiệp HN đãluôn tận tâm giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập và nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Viện Chính sách và Chiếnlược phát triển nông nghiệp nông thôn, lãnh đạo và toàn thể cán bộ Bộ môn Nghiêncứu Chiến lược và Chính sách trực thuộc Viện đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốtthời gian thực tập tại Viện Đặc biệt đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia khảo sátnghiên cứu về tình hình sản xuất, tiêu thụ gà ta tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn cũngnhư tạo điều kiện cho tôi tham gia các buổi sinh hoạt khoa học tại Bộ môn và Viện

Tôi xin gửi lời cảm ơn đếc các bạn đồng môn lớp Kinh tế A, khóa 54 đã giúp

đỡ, hỗ trợ tôi trong việc thu thập các thông tin, tư liệu, số liệu và góp ý để tôi hoànthành khóa luận

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đãtạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ýkiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2013

Tác giả

Bùi Thị Huế

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Trang 3

Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọngtrong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam Trong những năm qua, phong trào pháttriển sản xuất kinh doanh gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể có phát triển, nhưng chưaphát huy tốt tiềm năng thế mạnh về địa bàn chăn thả, lợi thế về môi trường sinh thái,tiềm năng thị trường rộng lớn và liên kết theo chuỗi để có thể tạo được nguồn thu nhậpquan trọng cho gia đình Để có sự nhìn nhận một cách hệ thống trên cơ sở phân tích mốiquan hệ nhiều chiều giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị gà thịt và đề xuất các giải phápkhắc phục khó khăn trong quá trình phát triển chuỗi, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bàn Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” Đề tài nhằm

giải quyết 4 mục tiêu cụ thể: i) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị gà ta; ii) Đánh giá đúng thực trạng kênh tiêu thụ cũngnhư chuỗi giá trị ga ta huyện Ba Bể thông qua việc đánh giá và phân tích từng tác nhântrong kênh tiêu thụ; iii) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị gà

ta huyện Ba Bể; iv) Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm hình thành, hoàn thiện vàphát triển chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

Đề tài được nghiên cứu tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Thời gian nghiên cứu đềtài từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2013

Bên cạnh các thông tin, số liệu thứ cấp, đề tài đã chọn một số hộ nông dân đểkhảo sát điều tra thu thập số liệu sơ cấp Lượng mẫu điều tra là 60 hộ nông dân chănnuôi gà, 2 hộ làm nghề thu gom, 4 hộ làm nghề bán buôn và 7 hộ làm nghề bán lẻ

Dưới đây là tóm tắt các nội dung chính của khóa luận:

1.Tổng quan tình hình chăn nuôi gà của huyện Ba Bể

Gà là vật nuôi phổ biến của địa phương, với lợi thế đất vườn đồi, thời tiết thuậnlợi, huyện Ba Bể trong những năm vừa qua đã có chú trọng hơn đến chăn nuôi gà theohướng sản xuất hàng hóa Trên địa bàn khảo sát, có trên 70% các hộ chăn nuôi vẫn duytrì phương thức nuôi thả tự nhiên, không hạch toán thu chi, rủi ro cao, có 15 - 20% các

hộ chăn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ có kiểm soát quy mô 100 con/lứa đem lại hiệu quảkinh tế khá, 5 - 10 % số hộ chăn nuôi theo hình thức nuôi tập trung quy mô lớn từ 200

- 300 con/lứa, kiểm soát nghiêm ngặt dịch bệnh, tỷ lệ thất thoát thấp, lợi nhuận cao Gàcủa Ba Bể chủ yếu là gà ri, chất lượng thơm ngon, nhưng thị trường tiêu thụ rộng vẫn

Trang 4

còn hạn chế.

2 Thực trạng chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể

Chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể được thực hiện theo 4 kênh chính, trong đókênh 1 là kênh dài nhất và quan trọng nhất:

Kênh 1: Hộ chăn nuôi, thu gom, bán buôn, bán lẻ, người tiêu dùng

Kênh 2: Hộ chăn nuôi, thu gom, người tiêu dùng

Kênh 3: Hộ chăn nuôi, bán lẻ, người tiêu dùng

Kênh 4: Hộ chăn nuôi, người tiêu dùng

Qua phân tích, trong cả 4 kênh thì người chăn nuôi luôn là người chiếm giá trịgia tăng cao nhất, trong khi họ phải bỏ ra một khoản chi phí là thấp nhất Giá trị giatăng của người chăn nuôi trong kênh tiêu thụ 1 chiếm 46,1%, kênh tiêu thụ 2 chiếm64,52%, kênh tiêu thụ 3 chiếm 67,32% và kênh tiêu thụ 4 là 100% do trong kênh nàychỉ gồm 2 tác nhân là người chăn nuôi và người tiêu dùng

3 Đánh giá thực trạng của chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể

Trong chuỗi giá trị gà ta, hộ chăn nuôi chiếm vai trò quan trọng nhất, không chỉ

là tác nhân tạo ra sản phẩm ban đầu, tạo nên giá trị gia tăng lớn nhất của toàn chuỗi và

có cơ hội mở rộng quy mô để tăng thu nhập nhưng cũng phải đối mặt với nhiều rủi ro

về dịch bệnh và sự bấp bênh của thị trường

Trong 4 kênh nghiên cứu thì kênh 1 hoạt động hiệu quả nhất do tạo ra nhiều giátrị gia tăng nhất (82,49 nghìn đồng/kg) và có hiệu quả phân phối Tuy nhiên các tácnhân trung gian trong 3 kênh còn lại có lợi nhuận cao hơn Người thu gom có giá trịgia tăng cao nhất ở kênh 2 (20,91 nghìn đồng/kg), người bán lẻ có giá trị gia tăng caonhất ở kênh 3 (24,14 nghìn đồng/kg)

Chuỗi giá trị gà ta ở Ba Bể có nhiều điểm thuận lợi nhưng cũng phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thách thức, đó là trình độ tiếp cận KHKT và kiến thức thị trườngcủa các tác nhân còn yếu kém, kỹ thuật chăn nuôi lạc hậu, đặc biệt là dịch bệnh ngàycàng nhiều và nguy hiểm làm cho các hộ chăn nuôi có nguy cơ bị lỗ vốn, thậm chí phásản nếu gặp rủi ro về dịch bệnh trong khi đó công tác phòng chống dịch bệnh của địaphương vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém Bên cạnh đó là vấn đề vệ sinh an toàn thựcphẩm, vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi Mối liên kết giữa đã được hình thành

Trang 5

tuy nhiên vẫn lỏng lẻo, chủ yếu được hình thành trên cơ sở thời gian hoạt động, mốiquan hệ Các thỏa thuận đều không chính thức, mối liên kết, ràng buộc trách nhiệm,quyền lợi giữa các tác nhân còn yếu.

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi giá trị gà ta

Yếu tố thuộc về kĩ thuật như con giống, dịch vụ thú y, dịch vụ thức ăn chănnuôi Yếu tố khách quan như rủi ro về thời tiết, dịch bệnh, giá cả, thị trường tiêu thụ,nhu cầu người tiêu dùng đều ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh củacác tác nhân

5 Đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, để tài mạnh dạn đề xuấtmột số giải pháp nhằm phát triển chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể như sau:

- Quy hoạch vùng chăn nuôi gà tập trung: Quy hoạch vùng chăn nuôi gà riêng biệt để

khống chế dịch bệnh, ô nhiễm môi trường

- Mở rộng quy mô chăn nuôi: Khi tăng quy mô cần chú ý xem xét đến nguồn lực

- Nâng cao năng lực cho các tác nhân: Tập huấn, chuyển giao KHKT, tư vấn,

tuyên truyền kiến thức về VS ATTP, kỹ năng phòng chống và xử lý khi có dịch bệnh

- Liên kết sản xuất kinh doanh: Thông qua các thỏa thuận, hợp đồng có tính

ràng buộc, thành lập các nhóm sở thích chăn nuôi gà tại địa phương, tăng cường traođổi thông tin để nắm bắt sự thay đổi của thị trường

- Chính sách, chương trình hỗ trợ: Ban hành chính sách, chương trình hỗ trợ giống,

chuyển giao kỹ thuật và đặc biệt là chính sách về vốn Kiểm soát dịch bệnh gia cầm Xâydựng các chương trình nâng cao nhận thức của người dân trong phòng chống dịch bệnh

- Xây dựng thương hiệu gà ta Ba Bể: Xây dựng thương hiệu gà ta Ba Bể để

người tiêu dùng biết đến nhiều hơn và góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC vi

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC SƠ ĐỒ x

DANH MỤC HÌNH xi

DANH MỤC HỘP xi

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xii

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của đề tài 4

1.5.1 Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoa học 4

1.5.2 Ý nghĩa đối với thực tiễn 4

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cở sở lý luận 5

2.1.1 Các khái niệm và quan điểm về chuỗi giá trị 5

2.1.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị 10

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị gà 14

2.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị 16

2.1.5 Phân biệt chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và ngành hàng 17

2.1.6 Các thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu 18

Trang 7

2.2 Cơ sở thực tiễn 21

2.2.1 Vận dụng chuỗi giá trị vào chăn nuôi và tiêu thụ gà trên thế giới 21

2.2.2 Vận dụng chuỗi giá trị vào chăn nuôi và tiêu thụ gà ở Việt Nam 24

2.2.3 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị trên thế giới và Việt Nam 26

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 38

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 38

3.2.3 Phương pháp chọn mẫu điều tra 40

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 40

3.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 40

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu 41

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

4.1 Thực trạng chăn nuôi gà ta ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 43

4.1.1 Tình hình sản xuất gà ta trên địa bàn 43

4.1.2 Tình hình tiêu thụ gà trên địa bàn 45

4.2 Chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 47

4.2.1 Cấu trúc chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện 47

4.2.2 Nội dung các kênh tiêu thụ gà ta huyện Ba Bể 48

4.2.3 Đánh giá kết quả hoạt động của chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể 75

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 83

4.3.1 Nhóm các yếu tố kỹ thuật 83

4.3.2 Nhóm các yếu tố khách quan 84

4.4 Định hướng, giải pháp hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 86

4.4.1 Định hướng hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị gà tại địa phương 86

4.4.2 Giải pháp hoàn thiện và phát triển chuỗi giá trị gà tại địa phương 87

Trang 8

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91

5.1 Kết luận 91

5.2 Khuyến nghị 92

5.2.1 Đối với cấp chính quyền 92

5.2.2 Đối với các tác nhân tham gia chuỗi giá trị gà ta 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Sản lượng thịt gà chế biến sẵn một số nước trên thế giới trong 3 năm

2006, 2008, 2010 23

Bảng 2.2 Sản lượng gia cầm của Việt Nam qua các năm 24

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Ba Bể qua 3 năm 2010-2012 32

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Ba Bể qua 3 năm 2010- 2012 33

Bảng 3.3 Tình hình cơ sở hạ tầng nông thôn qua 3 năm 2010-2012 35

Bảng 3.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm 2010 - 2012 36

Bảng 4.1 Cơ cấu tổng đàn và sản lượng thịt gia cầm ở Ba Bể 45

Bảng 4.2 Sản lượng và giá bán gà ta huyện Ba Bể 46

Bảng 4.3 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật, đầu tư chi phí và giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của hộ chăn nuôi 51

Bảng 4.4 Đặc điểm về các tác nhân trung gian 52

Bảng 4.5 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật và đầu tư kinh doanh gà ta của các hộ điều tra (tính BQ 1 hộ/ 1 năm) 54

Bảng 4.6 Giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của các tác nhân trung gian tham gia vào kênh tiêu thụ 1 55

Bảng 4.7 Giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ 1 .56 Bảng 4.8 Giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của người thu gom ở kênh 2 61

Bảng 4.9 Giá trị tăng thêm 1kg gà ta của các tác nhân tham gia vào kênh tiêu thụ 2 .62 Bảng 4.10 Tình hình đầu tư chi phí và giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của người chăn nuôi 67

Bảng 4.11 Tình hình đầu tư chi phí và giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của người bán lẻ 68

Bảng 4.12 Giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của các tác nhân tham gia kênh 3 69

Bảng 4.13 Tình hình đầu tư chi phí và giá trị gia tăng trong 1kg gà ta của người chăn nuôi trong kênh tiêu thụ thứ 4 74

Bảng 4.14 Giá trị thuần có thêm 1kg gà ta của các tác nhân trong toàn chuỗi 77

Bảng 4.15 Ma trận phân tích SWOT đối với phát triển chăn nuôi gà ta huyện Ba Bể 81

Trang 10

Bảng 4.16 Tổng hợp các nhu cầu người tiêu dùng gà ta huyện Ba Bể 85

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1 Cấu trúc chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 47

Sơ đồ 4.2 Kênh tiêu thụ gà thứ nhất của người chăn nuôi 48

Sơ đồ 4.3 Giá trị gia tăng trong kênh tiêu thụ 1 của chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 58

Sơ đồ 4.4 Kênh tiêu thụ gà thứ 2 của người chăn nuôi 59

Sơ đồ 4.5 Giá trị gia tăng trong kênh tiêu thụ 2 của chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 63

Sơ đồ 4.6 Kênh tiêu thụ gà thứ 3 của người chăn nuôi 64

Sơ đồ 4.7 Giá trị gia tăng trong kênh tiêu thụ 3 của chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể 70

Sơ đồ 4.8 Kênh tiêu thụ gà thứ 4 của người chăn nuôi 71

Sơ đồ 4.9 Mối quan hệ và liên kết giữa các tác nhân 75

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1.Mô tả chuỗi giá trị 6 Hình 4.1 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng của các tác nhân tham gia vào kênh 1 57 Hình 4.2 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng theo giá bán của các tác nhân tham gia vào kênh tiêu thụ 1 57 Hình 4.3 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng của các tác nhân tham gia kênh 2 62 Hình 4.4 Phần trăm tổng chi phí và giá trị gia tăng theo giá bán của các tác nhân tham gia vào kênh 2 63 Hình 4.5: Chuồng gà chăn nuôi theo phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ có kiểm soát 65 Hình 4.6 Phần trăm của tổng chi phí và giá trị gia tăng của các tác nhân tham gia vào kênh 3 69 Hình 4.7 Phần trăm tồng chi phí và giá trị gia tăng theo giá bán của các tác nhân 70 tham gia vào kênh 3 70

Hình 4.8 Lợi nhuận của các tác nhân trong cùng một kênh 76

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BQCC

Nhân khẩuPhát triển

Trang 13

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lượcphát triển nền kinh tế của đất nước Trong những năm qua, ngành nông nghiệp ViệtNam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăngtrưởng và phát triển kinh tế Bên cạnh nhiều ngành hàng có giá trị sản xuất cao như:lúa gạo, cà phê, cao su…thì chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng trong sản xuấtnông nghiệp Trong những năm gần đây, cùng với ngành trồng trọt thì ngành chănnuôi nước ta đã không ngừng phát triển và đạt được những kết quả quan trọng Trongchăn nuôi, chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí thứ hai(sau chăn nuôi lợn) trong ngành chăn nuôi của nước ta

Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nước ta cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức Do ViệtNam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, dịch bệnh nhiều và dễ tái phát nên số lượng gia cầmchết và tiêu hủy vẫn còn cao Bên cạnh đó, tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, lạc hậucũng là một nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi gà của nước ta chưa phát triển hếttiềm năng vốn có Sản xuất chưa tương ứng với tiềm năng nguồn lực, chưa đáp ứng đủnhu cầu xã hội, sức cạnh tranh của ngành hàng chăn nuôi gà thấp nên lượng gà nhậpkhẩu từ nước ngoài về rất lớn, đặc biệt là sản phẩm gà loại thải của Trung Quốc đangtìm mọi cách xâm nhập thị trường Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường, với xu hướng hội nhập, người sản xuất không chỉquan tâm đến thị trường tiêu dùng trong nước mà còn hướng tới thị trường xuất khẩu

Từ đó, hình thành nên các chuỗi trong ngành hàng Riêng ngành chăn nuôi, các chuỗi

đã bắt đầu được hình thành nhưng còn đơn giản, có ít các tác nhân tham gia Sự liênkết và trách nhiệm của các tác nhân trong kênh tiêu thụ chưa hình thành nên khái niệm

về chuỗi hàng hóa dịch vụ còn mang tính lý thuyết Vì vậy, việc phân phối lợi ích tàichính, quan hệ giữa các tác nhân, vai trò và mức độ ảnh hưởng của các tác nhân trongchuỗi giá trị gà hiện nay vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải

Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là một huyện miền núi phía Bắc với diện tích chủyếu là đất nông, lâm nghiệp Vì vậy, rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gà Tuy

Trang 14

nhiên, do đặc điểm địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn nên thị trường tiêu thụ gàcủa huyện chưa được mở rông ra các tỉnh bên ngoài, đặc biệt là thủ đô Hà Nội – mộtthị trường tiêu thụ rộng lớn Sản phẩm đầu ra ngành chăn nuôi gà của huyện chủ yếu làđáp ứng nhu cầu của chính người dân trong huyện, và một số huyện, tỉnh lân cận.Thông tin về ngành hàng gà đến với nông dân còn ít, sản xuất nhỏ lẻ, giá thành sảnphẩm chưa cao, các hoạt động liên quan đến chăn nuôi gà trong chuỗi giá trị hàng hóacòn rời rạc Bên cạnh đó, chưa có một nghiên cứu nào về chuỗi giá trị gà ta được thựchiện trên địa bàn và việc liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi còn lỏng lẻo, các giaodịch chủ yếu được thực hiện bằng miệng mà chưa có một văn bản hợp đồng chính thứcnào Sự phân bổ chi phí và giá trị gia tăng giữa các tác nhân đôi khi còn bất hợp lý Do

đó, việc nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp cho các nhàquản lý kinh tế, các nhà chỉ đạo sản xuất hiểu rõ hơn hoạt động sản xuất, kinh doanh

gà, những mối quan hệ, các tương tác và sự phân phối lợi ích của từng tác nhân trongchuỗi, từ đó đề xuất những giải pháp tác động hợp lý nhằm hình thành, hoàn thiện vàphát triển chuỗi giá trị gà, góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho từng tác nhân

Xuất phát từ những lý do trên, được sự hướng dẫn của Thầy giáo, TS Trần Văn

Đức tôi xin chọn đề tài “ Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta tại địa bàn huyện Ba Bể,

tỉnh Bắc Kạn” Với mong muốn cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho các hộ

nông dân cũng như các tác nhân trong chuỗi giá trị để có thể phát triển ngành chănnuôi gà ta, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân trong quá trình sản xuất

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng các tác nhân trong chuỗi giá trịsản phẩm gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể tỉnh Bắc Kạn, đề xuất một số giải pháp chủyếu nhằm tăng thêm giá trị của sản phẩm này, hướng tới hài hòa lợi ích các bên thamgia chuỗi giá trị gà trên địa bàn

Trang 15

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

 Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chuỗi giá trị và chuỗigiá trị gà ta

 Đánh giá đúng thực trạng kênh tiêu thụ cũng như chuỗi giá trị gà ta tại huyện Ba

Bể thông qua việc đánh giá và phân tích từng tác nhân trong các kênh tiêu thụ

 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị gà ta tại địa bànhuyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn

 Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm hình thành, hoàn thiện, và phát triểnchuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong những năm tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

 Các hộ chăn nuôi, buôn bán sản phẩm và cung ứng dịch vụ đầu vào cho chănnuôi gà ta

 Người thu gom, người bán buôn, bán lẻ trên địa bàn

 Các hộ không chăn nuôi, các hộ sử dụng sản phẩm chăn nuôi gà ta trên cùng địa bàn

 Cán bộ chính quyền địa phương các cấp, cán bộ kĩ thuật chăn nuôi và thú y

 Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận liên quan đến chuỗi giá trị gà

 Thực trạng chăn nuôi và tiêu thụ gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể

 Nghiên cứu sự tham gia vào chuỗi giá trị gà ta và giá trị gia tăng qua các tác nhân

 Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triểnchuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể đề tài mạnh dạn nêu ra một số

Trang 16

khuyến nghị, giải pháp và hướng tác động của các tác nhân tham gia vào chuỗigiá trị gà ta tại địa bàn

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau liên quan đến phát triển chuỗi giá trịsản phẩm gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn:

 Chuỗi giá trị là gì? Tại sao phải nghiên cứu chuỗi giá trị?

 Nghiên cứu chuỗi giá trị gà ta gồm những nội dung gì?

 Chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể đang hoạt động như thế nào?

 Có những tác nhân nào tham gia vào chuỗi và hoạt động của họ ra sao?

 Khối lượng hay tỷ lệ % sản phẩm của từng tác nhân?

 Giá trị thay đổi như thế nào trong toàn chuỗi giá trị?

 Chuỗi giá trị gà ta huyện Ba Bể có những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, tháchthức, các yếu tố ảnh hưởng nào?

 Cần có những giải pháp nào để phát triển chuỗi giá trị gà ta trên địa bàn huyện

Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn?

1.5 Ý nghĩa của đề tài

1.5.1 Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoa học

 Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụngkiến thức đó trong thực tiễn

 Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo

 Giúp hiểu thêm về tình hình chăn nuôi gà ta trên địa bàn huyện Ba Bể - tỉnhBắc Kạn

1.5.2 Ý nghĩa đối với thực tiễn

 Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải phápnhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quảkinh tế nông hộ

 Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu

Trang 17

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

bỏ sau khi đã sử dụng Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trongchuỗi hoạt động và có trách nhiệm tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi

Định nghĩa chuỗi có thể được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng:

Nếu hiểu chuỗi theo nghĩa hẹp thì chuỗi giá trị là một khối liên kết dọc hoặcmột mạng liên kết giữa một số tổ chức kinh doanh độc lập trong một chuỗi sản xuất.Hay nói cách khác một chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong mộtcông ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể gồm có: giaiđoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thụ

và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi Tất cả các hoạt động này tạo thành một

“chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng, mặt khác mỗi hoạt động lại bổsung giá trị cho sản phẩm cuối cùng

Chẳng hạn như khả năng cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu mãi và sửa chữa cho mộtcông ty điện thoại di động làm tăng giá trị chung của sản phẩm Nói cách khác, mộtkhách hàng có thể sẵn sàng trả giá cao hơn cho một điện thoại di động có dịch vụ hậumãi tốt Cũng tương tự như vậy đối với một thiết kế có tính sáng tạo hoặc một quytrình sản xuất được kiểm tra chặt chẽ Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, một hệthống kho phù hợp cho các nguyên liệu tươi sống (như trái cây) có ảnh hưởng tốt đếnchất lượng của thành phẩm, và vì vậy, làm tăng giá trị sản phẩm

Nếu hiểu chuỗi giá trị theo nghĩa rộng thì đó là một phức hợp những hoạt động

do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến,thương nhân, người cung cấp dịch vụ…) để biến một nguyên liệu thô thành thành

Trang 18

phẩm được bán lẻ Kết quả của chuỗi có được khi sản phẩm đã được bán cho ngườitiêu dùng cuối cùng Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô vàchuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác nhau trong kinh doanh,lắp ráp, chế biến… Cách tiếp cận theo nghĩa rộng không xem xét các hoạt động do mộtdoanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả mối liên kết ngược và xuôi chođến khi nguyên liệu thô được sản xuất được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng.

Hình 2.1.Mô tả chuỗi giá trị

(Nguồn: Giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng)Như vậy, khái niệm về chuỗi giá trị đã bao hàm cả tổ chức và điều phối, cácchiến lược và quan hệ quyền lực của những người tham gia khác nhau trong chuỗi.Ngoài ra chuỗi giá trị còn gắn liền với khái niệm về quản trị, vô cùng quan trọng đốivới những nhà nghiên cứu quan tâm đến các khía cạnh xã hội và môi trường trong

Tiêuthụ

Cung cấp

- Giống

- TACN

Chăn nuôiChăm sócThu hoạch

Thu gomVận chuyển

Vận chuyểnPhân phốiBán hàng

Tiêu thụ

Sử dụng

Chếbiến

Làm sạchĐóng gói

Nông dân

Ngườithu gom

Ngườichế biến

Nhà cung

cấp đầu

vào

Ngườibán sỉ, bán lẻ

Ngườitiêu dùng

Giá trị tăng thêm

Thông tin được trao đổi

Trang 19

phân tích chuỗi giá trị Việc thiết lập chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tàinguyên thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng sinh học

và gây ô nhiễm Thêm vào đó, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh hưởng đến cácmối quan hệ ràng buộc và tiêu chuẩn truyền thống, ví dụ như do quan hệ quyền lựcgiữa các hộ hoặc cộng đồng thay đổi, hoặc những nhóm dân cư nghèo nhất hoặc dễ bịtổn thương chịu tác động tiêu cực từ hoạt động của những người tham gia chuỗi giá trị.Những mối quan hệ này cũng có liên quan đến các chuỗi giá trị nông nghiệp Lý do là

vì các chuỗi giá trị nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào việc sử dụng các nguồn tàinguyên Đồng thời, nghành nông nghiệp còn có đặc thù bởi sự phổ biến các tiêu chuẩn

xã hội truyền thống Cuối cùng là do tỷ lệ người nghèo trong ngành nông nghiệp cao,khung phân tích chuỗi giá trị có thể áp dụng để rút ra kết luận về sự tham gia củangười nghèo và các tác động tiềm tàng của sự phát triển chuỗi giá trị đến giảm nghèo

2.1.1.2 Các quan điểm chính về chuỗi giá trị

Theo phân loại và khái niệm, hiện nay đang tồn tại 3 luồng nghiên cứu chính trongcác tài liệu về chuỗi giá trị là phương pháp Filière, phương pháp của Porter (1985) vàphương pháp toàn cầu của Kaplinsky đề xuất (1999):

a) Phương pháp Filière: Luồng tư tưởng thứ nhất là phương pháp Filière

(Filière nghĩa là chuỗi, mạch) gồm các trường phái tư duy và truyền thống nghiên cứukhác nhau Khởi đầu, phương pháp này được dùng để phân tích hệ thống nông nghiệpcủa các nước đang phát triển trong hệ thống thuộc địa của Pháp Phân tích chuỗi, chủyếu là làm công cụ để nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp(cao su, bông , cà phê, dừa…) được tổ chức trong bối cảnh của các nước đang pháttriển Trong bối cảnh này, khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sảnxuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu vàkhâu tiêu dùng cuối cùng

Do đó khái niệm chuỗi (Filière) luôn bao hàm nhận thức kinh nghiệm thực tếđược sử dụng để lập sơ đồ dòng chuyển động của các hàng hóa và xác định những ngườitham gia và hoạt động (Pagh, J.D.& Cooper, M.C, 1998) Tính hợp lý của chuỗi (Filière)hoàn toàn tương tự như khái niệm chuỗi giá trị mở rộng đã trình bày ở trên Phương phápchuỗi có 2 luồng, có vài điểm chung với phân tích chuỗi giá trị đó, gồm việc đánh giá

Trang 20

chuỗi về mặt kinh tế và tài chính chú trọng vào vấn đề tạo thu nhập và phân phối lợinhuận trong chuỗi hàng hóa; và phân tích các chi phí và thu nhập giữa các thành phầnđược kinh doanh nội địa và quốc tế để phân tích sự ảnh hưởng của chuỗi đến nền kinh tếquốc dân và sự đóng góp của nó vào GDP theo “phương pháp ảnh hưởng”.

b) Công trình nghiên cứu của Micheal Porter: Luồng nghiên cứu thứ 2 có liên

quan đến công trình của Porter (1985) về các lợi thế cạnh tranh Michael Porter đã

dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình

như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cung cấp, khách hàng vàcác đối thủ cạnh tranh khác Trong đó, ý tưởng về lợi thế cạnh tranh của một doanhnghiệp được ông tóm tắt như sau: Một Công ty có thể cung cấp cho khách hàng mộtmặt hàng (hoặc dịch vụ) có giá trị tương đương với đối thủ cạnh tranh của mình nhưngvới chi phí thấp hơn (chiến lược giảm chi phí) Hoặc, làm thế nào để một doanh nghiệp

có thể sản xuất một mặt hàng mà khách hàng chấp nhận mua với giá cao hơn (chiếnlược tạo sự khác biệt)

Trong bối cảnh này, chuỗi giá trị được sử dụng như một khung khái niệm màcác doanh nghiệp có thể dùng để tìm ra các nguồn lợi thế cạnh tranh thực tế và tiềmtàng của mình để dành lợi thế trên thị trường Hơn thế nữa Porter lập luận cho rằng cánguồn lợi thế cạnh tranh không thể tìm ra nếu nhìn vào công ty như một tổng thế Mộtcông ty cần được phân tách thành một lọat các hoạt động và có thể tìm thấy lợi thếcạnh tranh trong một (hoặc nhiều hơn) từ những hoạt động đó Porter phân biệt giữacác hoạt động sơ cấp, trực tiếp góp phần tăng thêm giá trị cho sản xuất hàng hóa (hoặcdịch vụ) và các hoạt động hỗ trợ có ảnh hưởng gián tiếp đến chuỗi giá trị cuỗi cùngcủa sản phẩm

Trong khung phân tích của Porter, khái niệm về chuỗi giá trị không trùng với ýtưởng về chuyển đổi vật chất Porter giới thiệu về ý tưởng theo đó tính cạnh tranh củamột công ty không chỉ liên quan đến quy trình sản xuất Tính cạnh tranh của doanhnghiệp có thể được phân tích bằng cách xem xét chuỗi giá trị bao gồm thiết kế sảnphẩm, mua vật tư đầu vào, hậu cần đến, hậu cần bên ngoài, tiếp thị bán hàng và cácdịch vụ hậu mãi, dịch vụ hỗ trợ như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực,hoạt động nghiên cứu

Trang 21

Trong khung phân tích của mình, Porter phân biệt các hoạt động chính và cáchoạt động bổ trợ:

Các hoạt động chính là những hoạt động hưởng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý

và quản lý sản phẩm hoàn thành để cung cấp cho khách hàng Bao gồm 5 hoạt động sau:

- Hậu cần đến: Gồm việc nhận, lưu trữ và dịch chuyển đầu vào sản phẩm nhưquản trị nguyên vật liệu, kho bãi, kiểm soát tồn kho, lên lịch trình xe cộ và trả lại sảnphẩm cho nhà cung cấp

- Sản xuất: Chuyển đổi đầu vào thành sản phẩm hoàn thành Ví dụ như: giacông cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn và quản lý cơ sở vật chất

- Hậu cần ra ngoài: Là những hoạt động kết hợp với việc thu thập, lưu trữ vàphân phối hàng hóa vật chất sản phẩm đến người mua

- Marketing và bán hàng: Là những hoạt động liên quan đến quảng cáo, khuyếnmãi, lựa chọn kênh phân phối, quản trị mối quan hệ giữa các thành viên trong kênh vàđịnh giá

- Dịch vụ khách hàng: Các hoạt động liên quan đến việc cung cấp dịch vụ nhằmgia tăng giá trị của sản phẩm

Trong các hoạt động trên thì hậu cần đến và hậu cần ra là các thành tố quantrọng và then chốt của chuỗi giá trị, là yếu tố chính tạo ra “giá trị” cho khách hàng củadoanh nghiệp và mang lại lợi ích tài chính cho công ty

Các hoạt động bổ trợ hoặc hỗ trợ các hoạt động chính bao gồm 4 loại:

- Thu mua: Là việc thu mua nguyên vật liệu đầu vào được sử dụng trong chuỗigiá trị của công ty

- Phát triển công nghệ: Là các bí quyết, các quy trình thủ tục hoặc công nghệđược sử dụng trong tiến trình hoặc thiết kế sản phẩm

- Quản trị nguồn nhân lực: Tuyển dụng, đào tạo, phát triển và quản trị thù laocho toàn thể nhân viên

Trang 22

Âu có thể chỉ ra lợi thế cạnh tranh của siêu thị đó so với các đối thủ cạnh tranh là khảnăng cung cấp rau quả nhập từ nước ngoài ( Goletti, F, 2005).

c) Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Luồng tư tưởng mới đây nhất là phương

pháp tiếp cận toàn cầu, khái niệm các chuỗi giá trị được áp dụng để phân tích toàn cầuhóa đã được các tác giả (Gereffi and Korzenicewicz 1994; Kaplinsky 1999) và(Fearne, A and D.Hughes,1998) đề cập Kapinsky và Morris 2001 đã quan sát đượcrằng trong quá trình toàn cầu hóa, người ta nhận thấy khoảng cách thu nhập trong nộiđịa và giữa các nước tăng lên Các tác giả này lập luận rằng phân tích chuỗi giá trị cóthể giúp giải thích quá trình này, nhất là trong một viễn cảnh năng động

Thứ nhất bằng cách lập một sơ đồ chi tiết các hoạt động của chuỗi, phân tíchchuỗi giá trị sẽ thu thập được thông tin, phân tích được những khoản thu nhập của cácbên tham gia trong chuỗi nhận được sẽ là tổng thu nhập của chuỗi giá trị

Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị có thể làm sáng tỏ việc các công ty, vùng vàquốc gia kết nối được với nền kinh tế toàn cầu như thế nào? Hình thức phân tích này

sẽ giúp xác định được kết quả phân phối của các hệ thống sản xuất toàn cầu, các nhàsản xuất cá thể phải nâng cao năng suất và hiệu quả các hoạt động và do đó đặt mìnhvào con đường tăng trưởng thu nhập bền vững

2.1.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị

2.1.2.1 Nội dung nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị

a Lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên để phân tích

Trước khi tiến hành phân tích chuỗi giá trị, phải quyết định xem sẽ ưu tiên chọntiểu ngành nào, sản phẩm hay hàng hóa nào để phân tích Vì các nguồn lực để tiếnhành phân tích lúc nào cũng hạn chế nên phải lập ra phương pháp để lựa chọn một sốnhất định các chuỗi giá trị để phân tích trong số nhiều lựa chọn có thể được

Quá trình lập thứ tự ưu tiên tuân theo 4 bước như trong quy trình tiến hành lựachọn trong một tình huống có nguồn lực khan hiếm

Bước 1: Xác định các tiêu chí

Việc phân tích chuỗi giá trị bắt đầu bằng việc lựa chọn một chuỗi giá trị Quyết

định chọn chuỗi giá trị nào để phân tích có thể phụ thuộc vào các tiêu chí áp dụng đểchọn chuỗi giá trị

Trang 23

Với định hướng tăng cơ hội tham gia và chia sẻ lợi ích cho người nghèo từ cácsản phẩm tiềm năng của địa phương, các tiêu chí đánh giá lựa chọn sản phẩm sau đây

đã được sử dụng, bao gồm:

- Tiêu chí 1: Thể hiện sự hội nhập thị trường của người nghèo

- Tiêu chí 2: Tiềm năng của sản phẩm/hoạt động đối với giảm nghèo

- Tiêu chí 3: Sản phẩm sử sụng nhiều lao động

- Tiêu chí 4: Rào cản tham gia (vốn, kiến thức) đối với người nghèo

- Tiêu chí 5: Sản phẩm mang lại thu nhập khá cho người nông dân

- Tiêu chí 6: Sản phẩm không đòi hỏi kỹ thuật cao

- Tiêu chí 7: Sản phẩm không đòi hỏi vốn đầu tư lớn

Bước 2: Định lượng mức độ quan trọng của các tiêu chí

Bước 3: Liệt kê các sản phẩm/hoạt động có tiềm năng

Một khi các tiêu chí chọn chuỗi giá trị đã được xác định và xếp theo mức độquan trọng, bước tiếp theo là xác định danh sách tất cả các chuỗi giá trị/sản phẩm/hànghóa tiềm năng có thể cân nhắc trong phạm vi địa lý được xem xét Danh sách này nênđược lập với sự tham gia của các bên liên quan

Bước 4: Bảng xếp thứ tự các loại sản phẩm/hoạt động theo các tiêu chí

Khi đã xác định xong các tiêu chí mà mức độ quan trọng cũng như các chuỗigiá trị có tiềm năng, bước tiếp theo là lập một ma trận (bảng) gồm các tiêu chí và cácchuỗi giá trị Sau đây là một ví dụ về bảng xếp thứ tự:

Trang 24

b Lập sơ đồ chuỗi giá trị

Để hiểu được chuỗi giá trị mà chúng ta đang phân tích, chúng ta có thể dùngcác mô hình, bảng, số liệu, biểu đồ và các hình thức tương tự để mô tả các tác nhân,đặc điểm và kết quả hoạt động của từng tác nhân Việc sử dụng các sơ đồ các chuỗi giátrị sẽ giúp chúng ta dễ nhận thấy và hiểu dễ hơn trong quá trình nghiên cứu

Sơ đồ chuỗi thể hiện các hoạt động sản xuất/kinh doanh (khâu), các tác nhânchính trong chuỗi và những mối liên kết của họ Lập sơ đồ chuỗi giá trị có nghĩa là vẽmột sơ đồ về hiện trạng của hệ thống chuỗi giá trị

c Lượng hóa và mô tả chi tiết chuỗi giá trị

Bao gồm các con số kèm theo bản đồ chuỗi:

-Về số lượng chủ thể

- Số lượng việc làm và người lao động của mỗi nhóm nhà vận hành

- Sơ đồ dòng lưu chuyển số lượng sản phẩm qua từng tác nhân trong chuỗi

- Lập sơ đồ các mối quan hệ và liên kết giữa những người tham gia

d Phân tích đặc điểm, kết quả, hiệu quả hoạt động của từng tác nhân

- Phân tích đặc điểm hoạt động của từng tác nhân.

- Phân tích chi phí và lợi nhuận: tức là xác định số tiền mà một tác nhân thamgia trong chuỗi giá trị bỏ ra đầu tư cho việc sản xuất kinh doanh và số tiền mà tác nhân

đó nhận lại sau khi bán sản phẩm

- Phân tích hiệu quả hoạt động của từng tác nhân dựa trên chi phí và lợi nhuận

đã xác định

e Đánh giá kết quả và hiệu quả toàn chuỗi: Bao gồm các nội dung sau:

- Đánh giá kết quả và hiệu quả của từng kênh tiêu thụ, phân tích sự phân bổ chiphí và lợi nhuận giữa các tác nhân trong từng kênh, so sánh và đánh giá hiệu quả củatừng kênh tiêu thụ

- Đánh giá kết quả và hiệu quả của toàn chuỗi bao gồm phân tích tác động, phân

bổ thu nhập trong và giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị theo cấp bậc Phântích tác động của hệ thống quản trị chuỗi giá trị tới sự phân bổ thu nhập và giá sảnphẩm cuối cùng Miêu tả sự đa dạng của thu nhập, rủi ro thường gặp và các tác độngđến chuỗi giá trị

Trang 25

- Sự liên kết giữa các tác nhân: mối liên kết giữa những người tham gia trongchuỗi giá trị và mối liên kết của họ với các tác nhân ngoài chuỗi Miêu tả những camkết, trách nhiệm và lợi ích giữa những người tham gia, sự áp dụng đối với sự phát triểnchung của chuỗi.

- Phân tích SWOT: Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức củatoàn chuỗi

- Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị: Bao gồm các thể chế, chính sách cóliên quan, cơ sở hạ tầng, thị trường, đầu tư

2.1.2.2 Phương pháp luận nghiên cứu chuỗi giá trị

* Phân tích ngành hàng CCA: Như đã trình bày ở trên, có 3 phương pháp sử dụng trong phân tích chuỗi giá trị đó là:

1 Phương pháp ngành hàng Nghiên cứu chuỗi về hệ thống

sản xuất nông nghiệp

2 Khung khái niệm do Porter lập ra (1985) Nghiên cứu chuỗi về các công

ty/nhà máy sx chế biến

3

Phương pháp chuỗi giá trị toàn cầu do

Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi (1994;

1999; 2003) và Gereffi, và Korzeniewicz

(1994)

Nghiên cứu về các chuỗi giá trịcủa các quốc gia/nhà máy hộinhập toàn cầu

Do gà ta là một sản phẩm nông nghiệp nên phương pháp phân tích ngành hàng

là phương pháp thích hợp nhất

Phân tích ngành hàng gồm 3 đặc điểm: thứ nhất tập trung vào những vấn đề củacác mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; thứ hai là sơ đồ hóa các dòng chảycủa hàng hóa vật chất và cuối cùng là sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm

Phương pháp phân tích ngành hàng tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính,chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trongngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các tác nhân, và phân tích vai trò của ngànhhàng đối với nền kinh tế quốc gia

Trong phương pháp phân tích ngành hàng có 8 công cụ sử dụng để phân tíchchuỗi giá trị, được chia thành 3 nhóm công cụ như sau:

Trang 26

- Nhóm thứ 1: Là nhóm các công cụ chung bao gồm lựa chọn chuỗi giá trị ưutiên để phân tích và lập sơ đồ chuỗi giá trị

- Nhóm thứ 2: Là nhóm các công cụ phân tích định tính bao gồm: Các mối liên

hệ, quan hệ xã hội và lòng tin; Quản trị: điều phối, quy định và chế tài kiểm soát

- Nhóm thứ 3: Là nhóm các công cụ phân tích định lượng bao gồm: Các sự lựachọn để nâng cấp: Kiến thức, kỹ năng, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ; Phân tích chi phí

và lợi nhuận; Phân tích phân phối thu nhập; Phân tích phân bổ lao động

* Phân tích tài chính: Xác định các chi phí, đánh giá toàn bộ giá trị gia tăng, lợi

nhuận của các tác nhân và của toàn chuỗi dựa trên giá tài chính nhằm đánh giá hiệuquả hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tác nhân tham gia trong chuỗi Xác định

sự phân phối lợi ích giữa các tác nhân tham gia chuỗi; năng lực của nhà vận hành(năng lực sản xuất, sản lượng, lợi nhuận)

2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị gà

2.1.3.1 Nhóm các yếu tố kỹ thuật

* Yếu tố giống: Giống là yếu tố đầu tiên và cũng rất quan trọng quyết định chăn

nuôi gà có đạt hiệu quả hay không Nếu giống gà tốt, sức chống chịu tốt, khả năngchống lại dịch bệnh cao thì tỷ lệ chết thấp và cho năng suất tốt Vì vậy, chất lượng giốngquyết định rất nhiều đến hiệu quả chăn nuôi gà Nhưng hiện nay tình trạng thiếu nguồncung cấp gà giống đảm bảo cả về số lượng và chất lượng đang là yếu tố cản trở đối với

sự phát triển chăn nuôi của người dân Vì vậy, giúp người dân chủ động được nguồncung giống tại chỗ là một trong những giải pháp quan trọng cho phát triển

* Yếu tố thức ăn: Trong chăn nuôi gà thức ăn chiếm khoảng 70% trong tổng chi

phí nên nó là yếu tố quyết định trong chăn nuôi Ngoài ra thức ăn chăn nuôi là điềukiện nuôi dưỡng, là cơ sở nâng cao năng lực sản xuất của gia súc, gia cầm Tốc độ táisản xuất đàn và hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi phụ thuộc trực tiếp vào mức độđảm bảo thức ăn, xây dựng khẩu phần thức ăn đáp ứng nhu cầu của gà phù hợp vớitừng giai đoạn sinh trưởng nhằm mang lại hiệu quả hiệu quả cao trong chăn nuôi làcần thiết Trong từng giai đoạn phát triển khác nhau của đàn gà thì nhu cầu thức ăncũng phải khác nhau Gà con mới nở không thể cho ăn theo khẩu phần của gà to được

Trang 27

và ngược lại do đó phải sử dụng thức ăn theo đúng quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng, phùhợp với nhu cầu sinh trưởng và phát triển của từng giai đoạn.

* Yếu tố công tác thú y: Trong chăn nuôi gà thường gặp rất nhiều rủi ro Những

năm qua dịch bệnh gia súc, gia cầm trên toàn quốc diễn biến rất phức tạp tác động rấtlớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi.Hạn chế được các rủi ro trong chăn nuôi gà

sẽ giúp các hộ chăn nuôi tăng kết quả và hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho ngườilao động Chính vì vậy công tác thú y cần phải được chú trọng, phòng bệnh và kịp thờidiệt gọn những ổ bệnh ngay từ khi mới phát sinh bệnh Công tác tiêm phòng phải được

tổ chức định kỳ, công tác kiểm dịch chặt chẽ, tăng cường công tác tuyên truyền giáodục, chuyển giao kiến thức chăn nuôi, thú y cho người chăn nuôi

* Yếu tố chuồng trại: Hệ thống chuồng trại và chế độ chăm sóc cũng ảnh hưởng

rất lớn đến sự phát triển của đàn gà Gà có thể sống trong điều kiện rất khác nhaunhưng chúng chỉ thực sự cho năng suất cao trong điều kiện khí hậu nhất định phù hợpcho từng loại, lứa tuổi Chính vì vậy chuồng trại phải xây dựng làm sao để khí hậu thờitiết thay đổi không ảnh hưởng tới sự phát triển của đàn gà Những yêu cầu cơ bản vềmột chuồng trại hiện đại bao gồm thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, tránhgió lùa, thích hợp với đặc tính sinh lý Chuồng trại phải dễ vệ sinh và thuận tiện cho sựchăm sóc đàn gà của người chăn nuôi

2.1.3.2 Nhóm các yếu tố khách quan

* Thời tiết: Yếu tố thời tiết tác động khá lớn đến năng suất và kết quả sản xuất

của các hộ chăn nuôi Sự thay đổi bất thường của thời tiết, các đợt rét đậm kéo dàicũng là nguyên nhân gây chết gà hàng loạt dẫn đến tỷ lệ hao hụt lớn

* Dịch bệnh: Dịch bệnh là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng vật nuôi

và là nguy cơ rủi ro cao nhất đối với người chăn nuôi Dịch bệnh chủ yếu là bệnhNewcastle (dịch tả) và tụ huyết trùng ở gà (bệnh gà toi) bên cạnh đó là các đợt dịchcúm thường xuyên xảy ra làm cho gà thường chết hàng loạt Dịch bệnh khôngnhững gây thiệt hại cho người chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến nguồn cung chotoàn bộ chuỗi giá trị

* Thị trường tiêu thụ: Thị trường có vai trò hết sức quan trọng đối với sản xuất

kinh doanh và sự phát triển của nền kinh tế xã hội Đây là khâu tất yếu của sản xuất

Trang 28

hàng hóa, thị trường chính là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng Nó chochúng ta biết kết quả sản xuất của một chu kỳ kinh doanh, đặc biệt phát triển một nềnsản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường tiêu thụ sản phẩm rất được quan tâm Vì vậythị trường tiêu thụ sản phẩm là nhân tố quyết định đến sự phát triển chăn nuôi gà Thịtrường bao gồm cung, cầu và giá cả Xác định lượng cung bao nhiêu để đáp ứng đủnhu cầu của thị trường là rất quan trọng Giá cả ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêuthụ Nếu giá thấp thì lợi nhuận thấp không thúc đẩy được quá trình sản xuất, giá caothì người tiêu dùng khó có khả năng tiếp cận Việc định giá như thế nào vừa đảm bảolợi nhuận, vừa có sức cạnh tranh với các loại sản phẩm tương tự khác trên thị trườngbên ngoài là rất khó khăn và cần thiết Nhìn chung với mức giá gà ri như hiện nay thìngười chăn nuôi có lãi, tuy nhiên trong trường hợp dịch bệnh thì gần như không có lợinhuận do giá cả giảm mạnh, người tiêu dùng chuyển hướng sang tiêu dùng sang mặthàng khác Trong mọi trường hợp người chăn nuôi là người chấp nhận giá, họ không

có quyền quyết định giá bán sản phẩm nên thường xuyên bị ép giá

2.1.4 Ý nghĩa của phân tích chuỗi giá trị.

Chuỗi giá trị có thể được phân tích từ góc độ của bất kỳ tác nhân nào trongchuỗi Phép phân tích chuỗi thường được sử dụng cho các công ty, doanh nghiệp hay

cơ quan nhà nước Bốn khía cạnh trong phân tích chuỗi giá trị áp dụng trong nôngnghiệp mang nhiều ý nghĩa đó là:

- Thứ nhất: Phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta lập sơ đồ một cách hệ thống cácbên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể

- Thứ hai: Phân tích chuỗi giá trị có vai trò trung tâm trong viêc xác định sự phânphối lợi ích của những người tham gia chuỗi Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nướcđang phát triển (nhất là về nông nghiệp) khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa

- Thứ ba: Phân tích chuỗi giá trị có thể dùng để xác định vai trò của việc nângcấp chuỗi giá trị

- Thứ tư: Phân tích chuỗi giá trị có thể nhấn mạnh vai trò của quản trị chuỗi giá trị

Trang 29

Như vậy, phân tích chuỗi giá trị có thể làm cơ sở cho việc hình thành cácchương trình, dự án hỗ trợ cho một chuỗi giá trị hoặc một số chuỗi giá trị nhằm đạt đượcmột số chuỗi kết quả phát triển mong muốn hay nó là động thái bắt đầu một quá trìnhthay đổi chiến lược hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng ổn định, bền vững.

Trên quan điểm toàn diện, phân tích chuỗi giá trị gà thịt sẽ cho phép chỉ ranhững tồn tại, bất cập trong quá trình hoạt động của chuỗi, hạn chế trong quá trìnhgiao dịch, phân phối lợi nhuận, mối liên kết và thông tin giữa các tác nhân để đưa ragiải pháp thúc đẩy chuỗi giá trị làm cho chuỗi hoạt động hiệu quả hơn

2.1.5 Phân biệt chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và ngành hàng

Khi nhấn mạnh đến hoạt động sản xuất, ta xem xét chúng như các quy trình sảnxuất, khi nhấn mạnh khía cạnh Marketing ta chú trọng kênh phân phối, khi nhìn nhận

về cách thức thỏa mãn nhu cầu của khách hàng ta gọi là chuỗi nhu cầu, khi tập trungvào sự dịch chuyển nguyên vật liệu, phân phối dòng sản phẩm ta gọi là chuỗi cung ứng

và khi đứng ở góc độ tạo ra giá trị ta gọi là chuỗi giá trị

Micheal Porter – người đầu tiên phát biểu khái niệm chuỗi giá trị vào thập niên

1980 , biện luận rằng chuỗi giá trị của một doanh nghiệp bao gồm các hoạt động chính

và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh khi được cấp cấu hình một cáchthích hợp Porter phân biệt các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ Các hoạt độngchính là những hoạt động hướng đến việc chuyển đổi về mặt vật lý và quản lý sảnphẩm hoàn thành để cung cấp cho khách hàng

Chuỗi cung ứng được xem như một tập con của chuỗi giá trị Tập hợp các hoạtđộng chính của chuỗi giá trị chính là chuỗi cung ứng, việc hoàn thiện chuỗi cung ứngnhằm mục tiêu nâng cao chuỗi giá trị đem lại lợi ích cho các tác nhân trong chuỗi

Theo Fabre “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trực tiếpvào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của cáchoạt động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sảnphẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra mộthay nhiều sản phẩm hoàn chỉnh ở mức độ người tiêu thụ” Nói cách khác “Ngành hàng làtập hợp những tác nhân kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất, tiếp đó là gia công sảnphẩm, chế biến và đi đến một thị trường hoàn tất của các sản phẩm nông nghiệp”

Trang 30

Theo J.P Boutonnet, INRA France “Ngành hàng là một hệ thống được xâydựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối mộtsản phẩm, và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên và các yếu tố bên ngoài”

Như vậy, giữa khái niệm ngành hàng và khái niệm chuỗi giá trị có sự khác nhau

ở xuất phát điểm hay ở bối cảnh ra đời Ngành hàng xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào năm

1960, được sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nôngnghiệp Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sảnxuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu vàtiêu dùng nông sản Trong khi đó chuỗi giá trị được Porter đưa ra vào những năm 1985với nội dung xuyên suốt đó là phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty xácđịnh vị trí của mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các nhà cungcấp, khách hàng và trước đối thủ cạnh tranh

Phân tích chuỗi giá trị hỗ trợ cho phân tích ngành hàng, đưa ra các yếu tố mới tăngcường khả năng phân tích ngành hàng và dựa trên bộ khung của phân tích ngành hàng

- Xu hướng và đặc điểm thị trường

- Quan hệ giữa các bên tham gia

- Cơ hội và thách thức

- Vẽ bản đồ xác định mối liên hệ giữa các

bên tham gia

- Cấu trúc phân bố giữa các bên tham gia

- So sánh khả năng cạnh tranh

- Quan hệ giữa các bên tham gia

- Quản trị thị trường

2.1.6 Các thuật ngữ sử dụng trong nghiên cứu

2.1.5.1 Chuỗi sản xuất - cung ứng

Một chuỗi cung ứng được định nghĩa là một hệ thống các hoạt động vật chất vàcác quyết định thực hiện liên tục gắn với dòng vật chất và dòng thông tin đi qua cáctác nhân (Vander Vorst 2000)

Theo TS.Hau Lee và C.Billington thì chuỗi cung ứng là mạng lưới các phươngtiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩmtrung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua hệthống phân phối

Trang 31

Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếplàm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhàsản xuất, các nhà cung cấp mà còn có những người vận chuyển, hệ thống kho bảoquản, những nhà bán lẻ và cả khách hàng (Nguyễn Kim Anh, 2006)

Cũng có định nghĩa khác về chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng là môitrường nơi dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin di chuyển từ nhà cung ứng đầu tiên tớikhách hàng cuối cùng và ngược lại (David Sharpe, 2008)

Theo Lambert and Cooper (2000) một chuỗi cung ứng có bốn đặc trưng cơ bản:

- Thứ nhất, chuỗi cung ứng bao gồm nhiều công đoạn (bước) phối hợp bêntrong các bộ phận, phối hợp giữa các bộ phận (tổ chức) và phối hợp dọc

- Thứ hai, một chuỗi bao gồm nhiều doanh nghiệp độc lập nhau, do vậy cầnthiết phải có mối quan hệ về mặt tổ chức

- Thứ ba, một chuỗi cung ứng bao gồm dòng vật chất và dòng thông tin có địnhhướng, các hoạt động điều hành và quản lý

- Thứ tư, các thành viên của chuỗi nỗ lực để đáp ứng mục tiêu là mang lại giá trịcao cho khách hàng thông qua việc sử dụng tối ưu nguồn lực của mình

Như vậy, chuỗi cung ứng là một mạng lưới phức tạp bao gồm các tác nhân liênquan trực tiếp hay gián tiếp đến việc cung ứng sản phẩm cho khách hàng cuối cùng mộtcách nhanh và hiệu quả thông qua dòng sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin Qua đó,

nó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm

2.1.5.2 Ngành hàng

Theo Fabre “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế quy tụ trựctiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng” Như vậy ngành hàng đã vạch ra sự kếtiếp của các hoạt động, xuất phát từ điểm ban đầu đến điểm cuối cùng của một nguồnlực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều công đoạn của qúa trình gia công, chếbiến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoản chỉnh ở mức độ người tiêu thụ

Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiêncứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng là một hệ thốngđược xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến,phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bênngoài" (J.P Boutonnet, INRA.France)

Trang 32

Nói chung, ngành hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động được gắn kết chặt chẽvới nhau trong một quá trình sản xuất, vận chuyển, chế biến đến phân phối sản phẩmnhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Chúng ta thấy rằng ngành hàng làmột chuỗi tác nghiệp, chuỗi các tác nhân và cũng là một chuỗi những thị trường, nókéo theo những luồng vật chất và những bù đắp bằng giá trị tiền tệ.

2.1.5.3 Sản phẩm

Sản phẩm là một nhóm sản phẩm có chung các đặc tính vật lý hữu hình cũngnhư các dịch vụ có chung đặc tính được bán cho khách hàng Chuỗi giá trị được xácđịnh bởi một sản phẩm hay một nhóm sản phẩm Ví dụ như chuỗi giá trị rau tươi,chuỗi giá trị cà chua, chuỗi giá trị thịt lợn, chuỗi giá trị gà thịt

2.1.5.4 Kênh tiêu thụ

Kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuấtđến người tiêu dùng cuối cùng Nó cũng được coi như một dòng chuyển quyền sở hữucác hàng hóa khi chúng được mua bán qua các tác nhân khác nhau

Kênh tiêu thụ (kênh phân phối) là tập hợp những cá nhân hay những cơ sở sảnxuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vậnchuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng Có thể nói đây làmột nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầungười mua và người tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất Tất cả những người thamgia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữangười sản xuất và người tiêu dùng là những trung gian thương mại, các thành viên nàytham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau

Có 2 loại kênh tiêu thụ là kênh trực tiếp và kênh gián tiếp: Kênh trực tiếp làkênh mà nhà sản xuất trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng cuối cùng, không thôngqua kênh trung gian Kênh gián tiếp là kênh mà người sản xuất bán hàng cho ngườitiêu dùng cuối cùng thông qua hệ thống trung gian (thu gom, bán buôn, bán lẻ )

2.1.5.5 Tác nhân

Tác nhân là một “tế bào” sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyếtđịnh hành vi của mình Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp,những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ Tácnhân được phân ra làm hai loại:

Trang 33

- Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh, )

- Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy )

Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp cácchủ thể có cùng một hoạt động Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộnông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân

“bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích

Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính làchức năng của nó trong chuỗi hàng Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân Ví

dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bánbuôn có chức năng bán buôn Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng Cácchức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chấttrong ngành hàng

Quá trình vận hành của một sản phẩm từ khâu đầu tiêu cho đến khâu cuối cùngthực hiện là nhờ các tác nhân, có thể nói tác nhân là những mắt xích quan trọng trongbất cứ một chuỗi giá trị nào Thông qua các mắt xích ấy lượng hàng vật chất được vậnchuyển nhịp nhàng để đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng

Giữa các tác nhân trong từng mắt xích luôn tồn tại những mối quan hệ nhấtđịnh Khi nền kinh tế càng phát triển, sản xuất chuyên môn hóa ngày càng sâu thì mốiquan hệ đan xen ràng buộc càng chặt chẽ, không chỉ có quan hệ về lượng vật chất màcòn quan hệ công tác quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Vận dụng chuỗi giá trị vào chăn nuôi và tiêu thụ gà trên thế giới

Theo số liệu thống kê thế giới dự kiến đến năm 2050, dân số toàn cầu có sốlượng trên 9,5 tỷ người Các vấn đề liên quan đến con người, đến nông nghiệp, lươngthực, thực phẩm, môi trường sống và đói nghèo là những vấn đề luôn được cả loàingười quan tâm Khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới từ năm 2007 đã ảnh hưởngđến tốc độ phát triển kinh tế của nhân loại và có nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ nghèo đóitrên toàn cầu (FAO) Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO)năm 2009 số lượng gà là 14.191,1 triệu con Tốc độ tăng trưởng về số lượng vật nuôihàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạt dưới 1%

Trang 34

Các cường quốc về chăn nuôi gà được thống kê vào năm 2009 đứng số một làTrung Quốc có 4.704,2 triệu con, thứ hai là Indonesia với 1.341,7 triệu con, thứ ba làBrazil với 1.205,0 triệu con, thứ tư là Ấn Độ với 613 triệu con và thứ năm là Iran với

513 triệu con Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng số 13 thế giới

Ở Châu Á, năm nước có nhiều thịt gà nhất ở Châu Á: Thứ nhất Trung Quốc11,4 triệu tấn; thứ hai Iran 1,6 triệu tấn; thứ ba Indonesia 1,4 triệu tấn; thứ tư Nhật Bản1,39 triệu tấn; thứ năm Thổ Nhĩ Kỳ 1,29 triệu tấn

Đa số những vấn đề trong chăn nuôi gia cầm mới nảy sinh ở các trang trại nuôithâm canh kết hợp với hệ thống chăn nuôi xuyên quốc gia (Hans Wagner of the FAO

in GRAIN 2006) Chăn nuôi gia cầm hiện nay là một sự kết hợp toàn cầu Ví dụ công

ty Charoen Pokphand (CP) của Thái Lan là một nhà sản xuất gia cầm và thịt gia cầmlớn nhất Châu Á, và tự coi mình là “gà của thế giới” CP trước đây cung cấp choTesco, chuỗi siêu thị lớn nhất nước Anh, họ là nhà cung cấp thịt gà lớn nhất TrungQuốc và Indonesia, và họ cũng chi phối toàn bộ thức ăn cho gia cầm; và kiểm soát mộtnửa trại chăn nuôi gia cầm thâm canh ở Việt Nam (GRAIN 2006)

Trong tin tức của CP “các trại nuôi gà giò được cung cấp bởi các lò ấp trứngbên cạnh, với công suất hàng năm khoảng 2 triệu con mỗi tuần Các trại nuôi gà giòcung cấp 330.000 con một ngày cho các lò mổ và xí nghiệp chế biến, khi nó đạt côngsuất tối đa vào trung tuần tháng 6 là 60.000 tấn gia cầm đã qua chế biến một năm (từwww.cpthailand.com)

Trong 3 năm trước, sản lượng thịt gà thế giới tăng 13% Sản lượng ở Mỹ, Brazil

và Trung Quốc chiếm khoảng 55% tổng sản lượng thế giới Do nguồn cung lớn và giágiảm, tốc độ tăng trưởng của ngành thịt gà Brazil dự báo sẽ giảm mạnh, xuống chỉ còntăng 3% so với năm 2011

Tiêu thụ thịt gà trên thế giới dự báo sẽ tăng nhẹ, ở mức thấp hơn tỷ lệ tăng củanhững năm qua Tại EU, mặc dù giá gia cầm trong nước tăng, tiêu thụ thịt gà vẫn sẽvẫn tiếp tục tăng lên Tiêu thụ ở Mỹ dự báo sẽ giảm do điều kiện kinh tế sa sút Tiêuthụ tại Trung Quốc sẽ chậm lại vì người tiêu dùng chuyển sang thịt lợn, loại thịt vẫnđược tiêu thụ phổ biến, bởi kinh tế khó khăn hơn các năm trước

Trang 35

Bảng 2.1 Sản lượng thịt gà chế biến sẵn một số nước trên thế giới trong 3 năm

Nguồn: World’s Poultry Science Journal

Năm 1970 các nước Châu Âu dẫn đầu về xuất khẩu thịt gà, đến năm 2008 các nướcnày lại trở thành nước nhập khẩu thịt gà, chiếm 50% lượng thịt gà nhập khẩu trên thế giới.Bốn nước nhập khẩu thịt gà chính thuộc Châu Á và một nước Trung Mỹ Nhưng đến năm

2004, xu hướng này thay đổi, Nga là nước nhập khẩu thịt gà lớn chiếm 12,6%, sau đó làTrung Quốc và Nhật Bản Đức chiếm vị trí thứ 5, chiếm 6,3% tổng lượng thịt gà nhập khẩucủa thế giới Điều đó cũng cho thấy rằng thịt gà hấp dẫn hơn các loại thịt khác

Trong năm 2008, Hoa Kỳ vẫn là nước đứng đầu thế giới về thịt gà Broiler sảnxuất với sản lượng 17 triệu tấn thịt gà (đã giết mổ); thứ 2 là Trung Quốc và Brazil 11triệu tấn mỗi nước, khối EU (27 nước) đứng thứ 4 với 8 triệu tấn (World’s Poultry

Science Journal, December 2009)

2.2.2 Vận dụng chuỗi giá trị vào chăn nuôi và tiêu thụ gà ở Việt Nam

Chăn nuôi gà là ngành chăn nuôi quan trọng thứ 2 của nước ta đứng sau chănnuôi lợn Từ năm 2003 dịch cúm gia cầm đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới chănnuôi gia cầm trong nước nói chung và chăn nuôi gà nói riêng Từ tháng 12/2003 đến

Trang 36

tháng 6/2007, dịch cúm gia cầm đã xảy ra 5 đợt, số gà chết và tiêu huỷ gần 50 triệucon, thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ đồng Trong đó phải kể tới tình trạng thiếu giốnggia cầm sau khi xẩy ra dịch làm cho giá gà giống tăng cao.

Hiện nay, đàn gia cầm trong nước đã được khôi phục và phát triển trở lại Rútkinh nghiệm từ các đợt dịch công tác tiêm phòng, vệ sinh chăn nuôi đã được ngườichăn nuôi chú trọng giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh

Bảng 2.2 Sản lượng gia cầm của Việt Nam qua các năm Chi tiêu

Số lượng (triệu con) So sánh (%)

-bé Bình quân sản lượng thịt xẻ, trứng/người chỉ đạt 4,5 - 5,4 kg/người/năm và 35trứng/người/năm

Việt Nam có nhiều giống gà nội được chọn lọc thuần hoá từ lâu đời như gà Ri,

gà Mía, gà Hồ, gà H’Mông, gà Tre, gà Ác… Một số giống trong đó có chát lượng thịt,trứng thơm ngon như gà Ri, gà H’Mông Tuy nhiên, do không được đầu tư chọn lọc laitạo nên năng suất còn rất thấp (khối lượng xuất chuồng bình quân của các giống gà nộichỉ đạt 1,2 - 1,5 kg/con) với thời gian nuôi kéo dài 6 - 7 tháng, sản lượng trứng chỉ đạt

60 - 90 quả/mái/năm Một số giống quý nhưng chỉ tồn tại ở một số địa bàn rất hẹp như

gà Hồ, gà Đông Tảo, gà Mía Do năng suất thấp chăn nuôi các giống gà nội chỉ đượcnuôi nhỏ lẻ trong nông hộ theo phương thức quảng canh, vì vậy việc sản xuất và cung

Trang 37

cấp con giống do các hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức tự sản, tự tiêu tại địaphương Hiện nay, cả nước chỉ có một cơ sở nghiên cứu chọn lọc, cải tạo giống gà Rinhưng quy mô quần thể và đầu tư kinh phí còn rất hạn chế, giống được cải tiến chậm,chất lượng chưa cao, số lượng đưa ra sản xuất chưa nhiều (giống gà Ri lông vàngrơm) Việc sản xuất giống tự cung, tự cấp, không có cơ sở giống gốc, không có chọntạo… dẫn đến con giống bị đồng huyết làm giảm năng suất, hiệu quả chăn nuôi củacác giống nội địa, thậm chí còn nguy cơ triệt tiêu các giống quý hiếm, các giống gà nộicần được quan tâm để bảo tồn và phát huy những tính năng ưu việt phù hợp với chănnuôi nông hộ, nhất là tại các vùng nông thôn, trung do, miền núi.

Hiện nay, chăn nuôi gà và chăn nuôi gia cầm nói chung chưa đáp ứng được nhucầu tiêu dùng của xã hội Sản lượng thịt, trứng/người/năm so với các nước trong khuvực và trên thế giới còn thấp rất nhiều Sản lượng thịt mới đạt 4,5-5,4 kg, sản lượngtrứng đạt 35 quả/người/năm Tiêu thụ của Trung Quốc năm 2004 đạt 8,4 kg thịt và10,4 kg trứng/người/năm; Hoa Kỳ: 28 kg thịt gia cầm/người/năm 2003 (Trần CôngXuân, 2008) Thức ăn chăn nuôi giá thành còn cao do một phần nguyên liệu phải nhập

từ nước ngoài (ngô, đậu tương, bột cá, premix, khô dầu)… Các cơ sở giống gốc cònquá nhỏ, các giống công nghiệp cao sản vẫn phụ thuộc nước ngoài Trước xu thế hộinhập khi gia nhập WTO vào những năm tới, ngành chăn nuôi gà phải đối mặt với sựcạnh tranh rất lớn của các công ty, tập đoàn nước ngoài với tiềm lực tài chính lớn,trình độ công nghệ, kỹ thuật cao, ưu thế chủ động về con giống, nguồn nguyên liệu giárẻ… Đó thực sự là thách thức lớn của ngành chăn nuôi gà trong tiến trình hội nhập sắptới ở nước ta

Trang 38

2.2.3 Một số nghiên cứu về chuỗi giá trị trên thế giới và Việt Nam

Trên thế giới người ta đã áp dụng lý thuyết về chuỗi giá trị vào việc nghiên cứu cácsản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sảnphẩm và cải thiện giá trị gia tăng cho sản phẩm cũng như đem lại lợi nhuận nhiều hơn chocác bên tham gia Người ta đã nhận thấy tầm quan trọng của liên kết giữa các bên thamgia trong thương mại quốc tế như trường hợp thành công của ô tô Nhật Bản vào nhữngnăm 1970 Trong thập niên 80 và 90 trên thế giới người ta quan tâm đến chuỗi giá trị, đặcbiệt là quản lý chuỗi cung cấp, chuỗi giá trị quan tâm đến việc chia sẻ thông tin giữa cácbên tham gia để giảm chi phí về mặt thời gian, giảm giá thành sản phẩm, tăng hiệu quảtrong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng và tăng giá trị của sản phẩm đó

Fearne và Hughev cũng như đã phân tích được ưu điểm của việc áp dụng chuỗigiá trị trong kinh doanh Về ưu điểm giảm mức độ phức tạp trong mua và bán, giảm chiphí và tăng chất lượng sản phẩm, giá cả đầu vào ổn định,giảm thời gian tìm kiếm nhữngnhà cung cấp mới, cùng nhau thực thi kế hoạch và chia sẻ thông tin dựa trên sự tin tưởnglẫn nhau Bên cạnh đó phát hiện ra những nhược điểm khi áp dụng chuỗi giá trị là tăng

sự phụ thuộc giữa các bên tham gia chuỗi, giảm sự cạnh tranh giữa người mua và ngườibán, phát sinh chi phí mới trong chuỗi (Fearne, A and D Hughes, 1998)

Ở Việt Nam việc áp dụng chuỗi giá trị trong thực tế đã được nhiều tổ chức quốc

tế như tổ chức GTZ, SNV, CIRAD, Ngân hàng phát triển Châu Á phối hợp cùng các

cơ quan chính phủ Việt Nam tiến hành nghiên cứu, triển khai các dự án hỗ trợ nhằmphát triển Tổ chức SNV đã nghiên cứu chuỗi giá trị ngành cói của tỉnh Ninh Bìnhnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành cói qua phát triển chuỗi giá trị trình bày ởhội thảo “Ngành cói Việt Nam – Hợp tác để tăng trưởng” ngày 04/12/2008 tại NinhBình do Nico Janssen, cố vấn cao cấp – SNV Sau khi tiến hành chương trình nghiêncứu tổ chức SNV đã chuyển giao kiến thức từ nhà nghiên cứu đến nông dân, nâng caonăng lực của nhóm kỹ thuật địa phương về cung cấp dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ quátrình hoạch định chính sách liên quan đến ngành cói của tỉnh, hỗ trợ thành lập cácnhóm đại diện như nông dân trồng và chế biến cói, hiệp hội cói, phát triển thị trườngcho công nghệ sau thu hoạch, cải thiện việc tiếp cận thị trường …(SNV, 2009)

Trang 39

Trung tâm Tin học Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ICARD), Viện nghiêncứu Chè Việt Nam (VTRI), Viện nghiên cứu Rau quả Việt Nam (IFFVA) và Công ty

Tư vấn Nông sản Quốc tế (ACI) phối hợp thực hiện dưới sự tài trợ của Ngân hàngPhát triển Châu Á Nghiên cứu về chuỗi giá trị chè trong khuôn khổ dự án nâng caohiệu quả hoạt động của thị trường cho người nghèo do Ngân hàng phát triển Châu Á

và quỹ phát triển Quốc tế của Anh đồng tài trợ

Chương trình hợp tác phát triển doanh nghiệp nhỏ giữa Bộ kế hoạch đầu tư và

Tổ chức hỗ trợ phát triển kỹ thuật Đức (GTZ) đã triển khai dự án “Phát triển chuỗi giátrị bơ Đắk Lăk” từ tháng 3/2007 có sự tham gia của Công ty Fresh Studio InnovationAsia Ltd, DOST, CSTA, WASI, AEC Mục đích của dự án là xây dựng chuỗi giá trị

bơ nhằm khắc phục những điểm yếu trong chuỗi, ví dụ như nguồn cung không đồngđều, sản xuất và vận hành không chuyên nghiệp dẫn đến tỷ lệ hư hại cao, lợi nhuậncho các tác nhân tham gia thấp trước đây ở Đắk Lăk cây bơ chủ yếu được trồng đểlàm bóng mát và chắn gió xung quanh cánh đồng cà phê, lĩnh vực quả bơ ở Đắk Lăkchưa được các nhà hoạch định chính sách để ý Sau khi triển khai dự án “Phát triểnchuỗi giá trị trái bơ Đắk Lăk” đã làm nâng cao nhận thức giữa người lập chính sách ởtỉnh về tầm quan trọng kinh tế của quả bơ ở Đắk Lăk (MPI – GTZ SMEDP, 2007)

Giá trị gia tăng đạt được từ các hoạt động xây dựng thương hiệu, đóng gói, thiết

kế và marketing đã mang lại giá bán cao hơn cho người sản xuất và lượng hàng hóa tiêuthụ nhiều hơn Trong nhiều trường hợp, các sản phẩm đã có được thị trường mới ở cáckhu thương mại, siêu thị lớn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, một số sản phẩm đã

có được thị trường xuất khẩu Tiếp cận và phát triển thị trường được cải thiện thông quacác hoạt động nâng cấp chuỗi và mối quan hệ hợp tác của các tác nhân trong chuỗi

Tại khu vực phía Bắc chương trình GTZ cũng hỗ trợ triển khai dự án “Phân tíchchuỗi giá trị rau cải ngọt tại tỉnh Hưng Yên” từ đầu năm 2008 với sự tham gia củacông ty Fresh Studio Innovation Asia Ltd, Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnhHưng Yên (DARD) Mục đích của dự án là cùng các bên liên quan đến chuỗi cải ngọttạo ra phương hướng phát triển và lập kế hoạch can thiệp trên cơ sở yêu cầu thị trườngnhằm thúc đẩy chuỗi giá trị rau cải ngọt thành công hơn, có khả năng cạnh tranh caohơn từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia

Trang 40

Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) hỗ trợ về mặt tài chính để triển khai hàngloạt các nghiên cứu nhằm “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” – (M4P),với mục tiêu đánh giá các điều kiện để gia tăng sự tham gia của người nghèo vào kênhngành hàng sản phẩm thực phẩm, nông sản được điều phối bởi các siêu thị và các điểmbán hàng truyền thống Thúc đẩy sự phát triển chuỗi và tăng thêm giá trị gia tăng chocác sản phẩm nông nghiệp

Các nghiên cứu về ngành hàng rau an toàn trên địa bàn Hà Nội, Thái Bình, HàTây của tác giả Đào Thế Anh, Đào Đức Huấn, Ngô Sỹ Đạt, Đặng Đức Chiến, Lê VănPhong thuộc bộ môn Hệ thống Nông nghiệp, Viện KHKT nông nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng rau bắp cải của huyện Văn Lâm, tỉnhHưng Yên của tác giả Lê Thị Phương Loan hay Nghiên cứu chuỗi giá trị của sản phẩmcây dược liệu lam thuốc tắm tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai của tác giả Ngô Văn Nam,trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Như vậy, với một số minh chứng nêu trên, chứng tỏ rằng nghiên cứu chuỗi giátrị ở Việt Nam đã được quan tâm ở cấp độ vi mô và vĩ mô, được tiến hành triển khairộng rãi trên nhiều ngành

Ngày đăng: 26/04/2021, 00:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, bài viết “Tình hình chăn nuôi thế giới và khu vực” truy cập website http://fcri.com.vn/article_d/c153-166/tinh-hinh-chan-nuoi-the-gioi-va-khu-vuc, ngày truy cập 5/3/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình chăn nuôi thế giới vàkhu vực
3.Giáo trình chuỗi cung ứng, 2008, download tại http://www.ebook.edu.vn Link
13. Trần Xuân Công (2006) Phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững trong chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020http://www.hua.edu.vn/khoa/cnts/index.php?option=com_content&task=view&id=976&Itemid=330, ngày truy cập 5/3/2013 Link
1. Đào Thế Anh, Các nguyên lý, công cụ phân tích chuỗi giá trị nông sản và tiếp cận thị trường của nông dân nhỏ Khác
2. Đinh Ngọc Loan (2012) Ngiên cứu chuỗi giá trị ngành chăn nuôi gà nhiều cựa trên địa bàn xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
4. GTZ (2007), Cẩm nang Valuelinks – Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị Khác
6. MP4 (2008), Để chuỗi giá trị hiệu quả hơn cho người nghèo – Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị Khác
7. Nguyễn Thị Bình (2010) Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng lợn Huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội. Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
8. Phạm Vân Đình (1999), Phương pháp phân tích ngành hàng nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
9. Phạm Xuân Hoa (2011) Nghiên cứu chuỗi giá trị rau tại xã Tiền Yên, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w