Hoạt động học tập của sinh viên Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập: Có rất nhiều con đường và cách tiếp cận để tìm kiếm và nắm vững tri thức, kỹnăng, kỹ xảo tuy nhiê
Trang 1
-TRƯƠNG HOÀI TRUNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BẰNG CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2019
Trang 2
-TRƯƠNG HOÀI TRUNG
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
BẰNG CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứucủa riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án
là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Các khái niệm liên quan sử dụng trong quá trình nghiên cứu 4
1.1.1 Sinh viên 4
1.1.2 Nhận thức 8
1.1.3 Thái độ 12
1.1.4 Nhu cầu – Nhu cầu vận động của con người 23
1.1.5 Khái niệm về giải pháp, biện pháp 28
1.2 Khái quát về giáo dục thể chất 29
1.2.1 Quan điểm, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước đối với thể dục thể thao trường học 29
1.2.2 Công tác giáo dục thể chất trong trường học 33
1.3 Khái quát về Trường Đại học Nha Trang 48
1.3.1 Giới thiệu Trường Đại học Nha Trang 48
1.3.2 Khái quát về bộ môn Giáo dục thể chất của Trường Đại học Nha Trang 49 1.4 Các công trình nghiên cứu liên quan 50
1.4.1 Các công trình nghiên cứu liên quan trên thế giới 51
1.4.2 Các công trình nghiên cứu liên quan tại Việt Nam 51
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 56
2.1 Đối tượng nghiên cứu 56
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 56
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 56
2.2 Phương pháp nghiên cứu 56
Trang 52.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 57
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm xã hội học 59
2.2.5 Phương pháp phân tích SWOT 59
2.2.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 61
2.2.7 Phương pháp toán học thống kê 61
2.3 Tổ chức nghiên cứu: 62
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 64
3.1 Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên trường Đại học Nha Trang 64
3.1.1 Thực trạng tham gia tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Nha Trang 64
3.1.2 Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên trường đại học Nha Trang 85
3.1.3 Bàn luận về thực trạng thể chất của sinh viên trường Đại học Nha Trang .97
3.2 Xây dựng giải pháp nâng cao thể chất cho SV trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 104
3.2.1 Cơ sở và nguyên tắc xây dựng giải pháp 104
3.2.2 Phân tích SWOT về thực trạng hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa của sinh viên trường Đại học Nha Trang 108
3.2.3 Xây dựng giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 111
3.2.4 Bàn luận kết quả xây dựng giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa .120 3.3 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm giải pháp ngắn hạn nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 121
3.3.1 Thực nghiệm các giải pháp ngắn hạn nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 121
Trang 63.3.3 Bàn luận về hiệu quả thực nghiệm các giải pháp ngắn hạn nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa 144
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
KẾT LUẬN 149
KIẾN NGHỊ: 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Asian Games
Trang 9Bảng 3.1: Kết quả thống kê thực trạng tham gia các loại hình giải trí trong ngày của
SV 65Bảng 3.2: Kết quả thống kê các môn TDTT ngoại khóa sinh viên Trường ĐH Nha
Trang đang tập luyện 66Bảng 3.3: Kết quả thống kê về mức độ tham gia tập luyện các môn TDTT ngoại khóa
của SV trường ĐH Nha Trang 72Bảng 3.4: Thang đo nhận thức của SV về hoạt động TDTT ngoại khóa tại trường ĐH
Nha Trang 73Bảng 3.5: Kết quả thống kê thực trạng thái độ của SV về hoạt động TDTT ngoại khóa
tại trường ĐH Nha Trang 73Bảng 3.6: Kết quả thống kê môn TDTT ngoại khóa SV có NC tập luyện 80Bảng 3.7: Thang đo NC tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐH Nha Trang
Sau trang 83Bảng 3.8: Kết quả Đánh giá, phân loại thể lực SV lứa tuổi 20 theo tiêu chuẩn của Bộ
GD&ĐT 87Bảng 3.9: Thực trạng thể lực của nam SV Trường ĐH Nha Trang (n= 200) 87Bảng 3.10: Kết quả thực trạng thể lực của nữ SV Trường ĐH Nha Trang (n= 200) 89Bảng 3.11: Các vấn đề đánh giá trong bộ câu hỏi SF-36 92Bảng 3.12: Cách tính điểm cho mỗi câu trả lời trong bộ câu hỏi SF-36 92Bảng 3.13: Độ tin cậy của các yếu tố trong thang điểm SF - 36 94Bảng 3.14: Kết quả thống kê phân loại chất lượng cuộc sống của SV theo tổng điểm
của thang đo SF36 94Bảng 3.15: Kết quả thống kê sự khác biệt chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH
Nha Trang theo giới tính 95Bảng 3.16: Sự khác biệt chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH Nha Trang theo
năm học 95
Trang 10Bảng 3.18: Sự khác biệt chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH Nha Trang theo nơi
ở hiện tại 96Bảng 3.19: Đặc điểm nhân khẩu học của các chuyên gia tham gia khảo sát 113Bảng 3.20: Kết quả lựa chọn của chuyên gia về giải pháp nâng cao thể chất cho SV
trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa Sau trang 1014Bảng 3.21: Kết quả phân tích wilcoxon lựa chọn của các chuyên gia về mức độ khả thi
của các giải pháp nâng cao thể chất cho SV trường Đại học Nha Trang bằngcác hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa Sau trang 103Bảng 3.22: Nội dung tổ chức TN các giải pháp Sau trang 121Bảng 3.23 Thống kê kết quả TN giải pháp Xây dựng nội dung và hình thức tổ chức
các hoạt động tập luyện TDTT ngoại khóa phù hợp với yêu cầu của SVcũng như các điều kiện thực tế trong Nhà trường 123Bảng 3.24: Thống kê kết quả TN giải pháp Tổ chức thường xuyên các hoạt động thông
tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về ý nghĩa, vai trò của cáchoạt động TDTT ngoại khóa cho SV trong Nhà trường 124Bảng 3.25: Thống kê thực trạng đổi mới về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công
tác TDTT ngoại khóa của trường ĐH Nha Trang 124Bảng 3.26: Thống kê kết quả TN giải pháp 126Bảng 3.27: Thực trạng thể chất của SV Nam Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm trước
TN Sau trang 132Bảng 3.28: Thực trạng thể chất của SV Nữ Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm trước TN
Sau trang 132Bảng 3.29: Đánh giá, xếp loại thể lực của SV lứa tuổi 19 (Quyết định 53 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo) 132Bảng 3.30: Thể chất của SV Nam Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm sau TN 133Bảng 3.31: Thể chất của SV Nữ Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm sau TN 136
Trang 11Bảng 3.33: So sánh về sức khỏe tinh thần sau TN của nhóm SV ĐC và nhóm SV TN
139Bảng 3.34: So sánh về phân loại điểm chất lượng cuộc sống sau TN của của nhóm SV
ĐC và nhóm SV TN 139Bảng 3.35: Kết quả thống kê sự khác biệt về chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH
Nha Trang theo giới tính sau TN Sau trang 143Bảng 3.36: Kết quả thống kê sự khác biệt về chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH
Nha Trang theo năm học sau TN Sau trang 143Bảng 3.37: Kết quả thống kê sự khác biệt về chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH
Nha Trang theo chi tiêu hàng tháng sau TN Sau trang 143Bảng 3.38: Kết quả thống kê sự khác biệt về chất lượng cuộc sống của SV Trường ĐH
Nha Trang theo nơi ở hiện tại sau TN Sau trang 143
Trang 12Sơ đồ 1.2: Tổ chức quản lý TDTT quần chúng ở trường……… 42Biểu đồ 3.1: Kết quả thống kê thực trạng về tình hình học các môn học trong ngày của
SV
64 Biểu đồ 3.2: Kết quả thống kê thực trạng Thời điểm tham gia các hoạt động giải trí của
SV
65 Biểu đồ 3.3: Kết quả thống kê thực trạng chuyên cần tập luyện TDTT ngoại khóa của
SV
66 Biểu đồ 3.4: Thực trạng tập luyện TDTT ngoại khóa các ngày trong tuần của SV
trường ĐH Nha Trang 68 Biểu đồ 3.5: Kết quả thống kê thực trạng về thời điểm trong ngày tham gia các hoạt
động TDTT ngoại khóa của SV 69 Biểu đồ 3.6: Kết quả thống kê thực trạng về hình thức tổ chức các hoạt động TDTT
ngoại khóa của SV 69 Biểu đồ 3.7: Kết quả thống kê thực trạng về thời gian dành cho mỗi lần tập luyện
TDTT ngoại khóa của SV 70 Biểu đồ 3.8: Kết quả thống kê thực trạng về địa điểm tập luyện TDTT ngoại khóa của
SV
70 Biểu đồ 3.9: Kết quả thống kê thực trạng về những khó khăn, trở ngại khi tham gia tập
luyện TDTD ngoại khóa của SV 71 Biểu đồ 3.10: Kết quả thống kê Nhận thức chung của SV về hoạt động TDTT ngoại
khóa tại trường ĐH Nha Trang 73 Biểu đồ 3.11: Kết quả so sánh Nhận thức của SV về kiến thức chung liên quan đến
hoạt động TDTT ngoại khóa tại trường ĐH Nha Trang 74 Biểu đồ 3.12: Kết quả so sánh Nhận thức của SV về chương trình hoạt động TDTT
ngoại khóa tại trường ĐH Nha Trang 75 Biểu đồ 3.13: Kết quả so sánh Nhận thức của SV về lợi ích của hoạt động TDTT ngoại
khóa tại trường ĐH Nha Trang 76
Trang 13chọn 79 Biểu đồ 3.15: Kết quả thống kê NC của SV về hình thức tổ chức các hoạt động TDTT
ngoại khóa 81 Biểu đồ 3.16: Kết quả thống kê NC về thời điểm tham gia các hoạt động TDTT ngoại
khóa của SV 82 Biểu đồ 3.17: Kết quả thống kê NC về thời gian cho mỗi lần tập luyện TDTT ngoại
khóa của SV 82 Biểu đồ 3.18: Kết quả thống kê NC về địa điểm tập luyện TDTT ngoại khóa của SV
83 Biểu đồ 3.19: Thống kê NC tập luyện TDTT ngoại khóa của SV Trường ĐH Nha
Trang 84 Biểu đồ 3.20: Kết quả thống kê hình thái của SV Trường ĐH Nha Trang 86 Biểu đồ 3.21: Nhịp tăng trưởng thể chất của SV Nam Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm
sau TN 135 Biểu đồ 3.22: Nhịp tăng trưởng thể chất của SV nữ Trường ĐH Nha Trang ở 2 nhóm
sau TN 138
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của mỗi cá nhân, xã hội, vì đó chính là hànhtrang để đi vào cuộc sống Sức khỏe là tiền đề để con người phát triển trí tuệ, tiếp thukiến thức, kỹ năng kỹ xảo vận động trong cuộc sống Chăm sóc và nâng cao sức khỏe
là trách nhiệm là nghĩa vụ của mỗi công dân và toàn xã hội và là vấn đề quan trọng củaĐảng và Nhà nước trong chiến lược xây dựng và phát huy nhân tố con người ở nước tahiện nay Vì vậy, việc tăng cường giáo dục thể chất và thể thao trong trường học trongthời kỳ đất nước đổi mới hiện nay là rất cần thiết
Giáo dục thể chất trong các trường đại học (ĐH), cao đẳng là một bộ phận hữu
cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế
hệ trẻ nhằm tạo ra lớp người mới, có năng lực, phẩm chất, có sức khỏe, đó là lớp người
“phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng
về đạo đức” Mục tiêu chiến lược này thể hiện rõ những yêu cầu bức bách về sức khỏe
và thể chất của lớp người lao động mới phục vụ phát triển kinh tế xã hội và đặc biệttrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Theo đó giờ học nội khoá theo chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo(GD&ĐT) ban hành Hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá (còn gọi là hoạt động thểthao ngoại khóa - Luật TDTT - 2006) theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lýgiáo dục, bao gồm: Tự luyện tập, luyện tập có hướng dẫn, luyện tập theo nội dung tiêuchuẩn rèn luyện thân thể áp dụng cho từng lứa tuổi, luyện tập các môn thể thao cótrong chương trình thi đấu của Hội khoẻ Phù đổng, Đại hội TDTT, sinh viên, học sinhchuyên nghiệp trong và ngoài nước; Luyện tập trong các câu lạc bộ thể dục, thể thaohoặc các trung tâm thể dục, thể thao trong và ngoài nhà trường; Luyện tập và thi đấutrong các đội tuyển TDTT của trường, địa phương, ngành và quốc gia [28] Có thểthấy đến nay, tại các trường chỉ giảng dạy GDTC nội khóa trong khoảng từ 90 - 150tiết, mỗi tuần khoảng 3 tiết, gói gọn trong 2 - 3 học kỳ dành cho khối đại học, các khốicao đẳng , trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thì thời lượng môn học còn ít hơnnữa Đặc biệt các hoạt động TDTT ngoại khóa dành cho SV ở các trường thực hiện rất
ít, thậm chí một số trường gần như bỏ ngỏ, trong khi nhu cầu được vận động, tậpluyện, nhu cầu vui chơi, giao tiếp của SV là rất lớn, GDTC nội khóa chưa thể đáp ứng
Trang 15được Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo chung mà rõ nhất làthể chất sinh viên khi ra trường Vì vậy tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa sao chohiệu quả là cần thiết và luôn được sự quan tâm, đầu tư phát triển thường xuyên củaĐảng và Nhà nước ta Trong đó vai trò quan trọng thuộc về các cơ sở giáo dục, đào tạonguồn nhân lực của cả nước.
Trường ĐH Nha Trang tiền thân là trường ĐH Thuỷ sản Nha Trang, đây là cáinôi để đào tạo các kỹ sư chuyên ngành về Chế biến thuỷ sản, Nuôi trồng thuỷ sản vàKhai thác thuỷ sản Được sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, bộ môn GDTCcủa trường trong thời gian qua đã không ngừng phát triển về cơ sở vật chất cũng nhưtrình độ của các giảng viên (GV) trong bộ môn ngày càng được nâng cao Trongchương trình đào tạo của trường ĐH Nha Trang, môn học GDTC được nhà trường hếtsức coi trọng và trường ĐH Nha Trang là một trong những trường có bề dày phát triểnphong trào TDTT trong khu vực Nam trung bộ và Tây nguyên
Bên cạnh đó, trong những năm qua Bộ môn GDTC của trường cũng đã có một
số công trình khoa học do các giáo viên thực hiện nhằm cải tiến công tác GDTC và thểthao cho SV như đề tài nghiên cứu “Động cơ học tập GDTC của SV ĐH Thủy sản”của Trần Văn Tự năm 1999, “Nghiên cứu thực trạng thể lực SV trường ĐH NhaTrang” các tác giả Nguyễn Hữu Tập và Doãn Văn Hương năm 2001, hoặc “Nghiêncứu đánh giá chất lượng GDTC SV trường ĐH Nha Trang” của Nguyễn Hồ Phongnăm 2012
Mặc dù GDTC là một môn học bắt buộc trong nhà trường nhằm góp phần nângcao sức khỏe thể chất cho SV, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
bộ môn này chưa thực sự được SV chú trọng và còn tồn tại một bộ phận không nhỏcho rằng TDTT chỉ là môn phụ nên có tâm lý xem nhẹ Vì thế, việc nghiên cứu nângcao hiệu quả hoạt động TDTT cho SV là hết sức cần thiết trong việc nâng cao sứckhỏe thể chất và tinh thần của SV Vấn đề quan trọng nhất để hoạt động thể dục thểthao ngoại khóa được tổ chức có hiệu quả, đó là hoạt động này phải có nội dung vàhình thức phù hợp nhằm lôi cuốn được đông đảo sinh viên tham gia Trong đó, việcthường xuyên nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng các vấn đề đang tồn tại trong công tácthể dục thể thao ngoại khóa, để đưa ra ra các biện pháp, giải pháp khắc phục là mộttrong những vấn đề cần được quan tâm thực hiện trong công tác đào tạo của nhà
Trang 16trường Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng, tính cấp thiết của vấn đề nghiêncứu, cũng như xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn nêu trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động ngoại khóa”
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển thể chất và công tác thể dục thaongoại khóa, luận án nghiên cứu lựa chọn một số môn thể thao phù hợp và các giải phápđảm bảo tính khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn nhà trường, nhằm đẩy mạnhphong trào hoạt động tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa cho sinh viên trường ĐH NhaTrang, góp phần nâng cao thể lực và kết quả học tập cho đối tượng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thể chất của sinh viên trường ĐH Nha Trang Mục tiêu 2: Xây dựng giải pháp nâng cao thể chất cho sinh viên trường Đại học
Nha Trang bằng các hoạt động TDTT ngoại khóa
Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả thực nghiệm giải pháp ngắn hạn nâng cao thể chất
cho sinh viên trường Đại học Nha Trang bằng các hoạt động TDTT ngoại khóa
Giả thuyết khoa học:
Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn và tác dụng của công tác tổchức hoạt động TDTT ngoại khóa đối với việc rèn luyện và phát triển sức khỏe thểchất và sức khỏe tinh thần cho SV trường ĐH Nha Trang, sẽ giúp việc nghiên cứu tìm
ra các giải pháp có đủ cơ sở khoa học, được kiểm chứng trong thực tế phù hợp vớiđiều kiện hoạt động TDTT ngoại khóa của SV trường ĐH Nha Trang Thành công củaluận án sẽ là nhân tố quan trọng thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, gópphần nâng cao được thể lực cũng như kết quả học tập của SV trong thời gian học tậptại nhà trường
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm liên quan sử dụng trong quá trình nghiên cứu
1.1.1 Sinh viên
1.1.1.1 Khái niệm sinh viên
Theo tác giả Nguyễn Thạc (1992): “Sinh viên là người học tập tại các trườngĐH
, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản
về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhậnqua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phươngpháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học” [42] Thuật ngữ
“sinh viên” được bắt nguồn từ gốc Latinh: “Students” với nghĩa là người làm việc, họctập, tìm hiểu và khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ
“Students” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng Pháp và “Ctudent” trong tiếng Nga [42]
Theo Nguyễn Thị Tứ (2013), thì Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặcbiệt, là những người đang trong quá trình tích lũy tri thức nghề nghiệp để trở thànhnhững chuyên gia có trình độ chuyên môn cao để hoạt động, lao động trong một lĩnhvực nhất định có ích cho xã hội [49]
Tuy có một số khái niệm khác nhau, trong nghiên cứu của luận án, sử dụngkhái niệm của tác giả Nguyễn Thạc: “Sinh viên là người học tập tại các trường ĐH , cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản vềmột ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ” là khái niệm chung sử dụngcho việc nghiên cứu của đề tài
1.1.1.2 Hoạt động học tập của sinh viên
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học tập:
Có rất nhiều con đường và cách tiếp cận để tìm kiếm và nắm vững tri thức, kỹnăng, kỹ xảo tuy nhiên học tập là con đường ngắn nhất để đạt được mục đích 49
Đối với con người thì học tập là một trong những hình thức hoạt động chính,không thể thiếu nhằm tiếp thu, lĩnh hội những thành tựu, tri thức, kinh nghiệm xã hội –lịch sử của xã hội loài người đã được tích lũy qua nhiều thế hệ Trong thực tiễn, conngười có nhiều cách học khác nhau để tiếp thu kinh nghiệm xã hội, nhưng thông
Trang 18thường học tập được thường có hai dạng cơ bản: học ngẫu nhiên và học có mục đích
+ Học ngẫu nhiên: Đây là dạng học được thực hiện một cách không chủ định.Kết quả của hoạt động này chỉ thu được những tri thức rời rạc, không hệ thống, ngẫunhiên, tiền khoa học Mục đích của cách học này là nhằm ứng phó với những tìnhhuống, những vấn đề cụ thể trong cuộc sống Tuy nhiên để tồn tại và phát triển cũngnhư tác động, cải tạo thế giới hiện thực con người không chỉ dừng lại ở những tri thứckinh nghiệm mà đòi hỏi cần có một hệ thống tri thức khoa học, có tính khái quát cao
để áp dụng vào mọi tình huống trong thực tiễn Để đạt được mục đích này con ngườicần tiến hành hoạt động học có hiệu quả hơn đó là học có mục đích
+ Học có mục đích: là một dạng hoạt động đặc thù của con người Hoạt độnghọc chỉ có thể thực hiện được khi con người phát triển ở một trình độ nhất định, có khảnăng điều chỉnh những hành động của mình theo mục đích đã được ý thức Khả năngnày thường bắt đầu hình thành vào lúc 5-6 tuổi.Và khi hoạt động học được tiến hànhđúng nghĩa của nó thì mới có thể hình thành hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, cấutrúc tương ứng của hoạt động giúp phát triển toàn diện nhân cách cho con người
Theo A.N.Leonchiev, P.Ia.Ganperin và N.P.Taludina xem quá trình học tậpxuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thứctâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động đó N.V.Cudomina coi học tập là loạihoạt động nhận thức cơ bản của SV được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộgiảng dạy Trong đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thìkhông thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai [25]
Về phía các tác giả Việt Nam, như tác giả Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan, khinghiên cứu về hoạt động học tập đã có quan niệm như sau: hoạt động học tập là hoạtđộng đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những trithức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định.[19], [23], 19
Tóm lại, hoạt động học tập có thể hiểu khái quát như sau: Hoạt động học tập làmột hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, kinhnghiệm của xã hội loài người được kết tinh trong nền văn hoá xã hội, qua đó giúp chủthể phát triển và hoàn thiện nhân cách
Trang 19Trong hoạt động nói chung, hoạt động học tập nói riêng thường diễn ra hai quátrình: quá trình nội tâm hoá và quá trình ngoại tâm hoá
- Quá trình thứ nhất (quá trình nội tâm hoá) là quá trình cá nhân bằng hoạt độngtích cực của mình biến những kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người thành vốnkinh nghiệm của chính bản thân
- Quá trình thứ hai (quá trình ngoại tâm hoá) là quá trình cá nhân sử dụngnhững tri thức tiếp thu được vận dụng vào hoạt động thực tiễn, làm biến đổi theohướng tích cực các sự vật hiện tượng phục vụ cho con người
Hai quá trình này có mối quan hệ qua lại gắn bó chặt chẽ với nhau trong quátrình hoạt động học tập 49
1.1.1.3 Bản chất của hoạt động học tập
Đối tượng của hoạt động học tập là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độtương ứng của nó Cái đích mà hoạt động học hướng tới là chiếm lĩnh tri thức, kỹnăng, kỹ xảo và thái độ thông qua sự tái tạo của cá nhân.Việc tái tạo này sẽ không thểthực hiện nếu người học chỉ là khách thể bị động của những tác động sư phạm, nếu trithức chỉ được tiếp nhận một cách thụ động Muốn học có kết quả, người học phải tíchcực tiến hành các hoạt động học tập bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ củabản thân mình
Mục đích của hoạt động học là hướng vào làm thay đổi chính bản thân ngườihọc (trong khi các hoạt động khác hướng vào làm thay đổi khách thể) Chủ thể hoạtđộng học là người học (nhân vật chính của hoạt động học) sẽ chiếm lĩnh tri thức màloài người đã tích lũy - đối tượng của hoạt động học Nhờ có sự chiếm lĩnh này màtâm lý chủ thể mới có thể được thay đổi và phát triển Người học giác ngộ mục đíchnày càng sâu sắc thì sức mạnh vật chất và tinh thần của họ càng được huy động trongquá trình học tập, do đó tâm lý ngày càng phát triển
Hoạt động học tập là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếpthu tri thức, kỹ năng kỹ xảo Sự tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động họcmang tính tự giác cao Đối tượng tiếp thu đã trở thành mục đích của hoạt động học Những tri thức cũng được chọn lọc tinh tế và tổ chức thành hệ thống
Hoạt động học không chỉ nhằm tiếp thu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn hướng
Trang 20vào việc tiếp thu tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu cảphương pháp giành lấy tri thức (phương pháp học).
Công cụ, phương tiện của hoạt động học tập
- Công cụ, phương tiện chính là những tri thức mà người học đã được học và đãnắm vững
- Công cụ, phương tiện là trình độ phát triển trí tuệ của người học từ trước đến nay
- Công cụ, phương tiện là toàn bộ nhân cách, phẩm chất tốt đẹp của người học.42
1.1.1.4 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên
Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người Họ là lớpngười giàu nghị lực, giàu mơ ước và hoài bão Họ luôn cố gắng phấn đấu để trở thànhnhững chuyên gia, những tri thức hữu dụng cho bản thân, gia đình, đất nước.Về cơbản, hoạt động học tập của SV mang bản chất của họat động học tập nói chung Có thểđịnh nghĩa hoạt động học tập của SV “Hoạt động học tập của SV là một loại hoạt độngđược tổ chức một cách có ý thức nhằm tiếp thu những tri thức khoa học chuyên sâuchuẩn bị cho họ trong tương lai trở thành những chuyên gia phát triển toàn diện và cótrình độ nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định.”
Đặc điểm hoạt động học tập của SV bao gồm các đặc điểm sau:
+ Tính chuyên nghiệp: thể hiện trong mục đích của hoạt động học tập ở SV lànhằm hướng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người chuyên giatrong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng Vì vậy học tập ở ĐH có sự khác biệt rất lớn
so với học ở phổ thông Học tập của SV mang tính đặc trưng của hoạt động nghềnghiệp tương lai Tóm lại, trong quá trình học tập, SV phải xây dựng cho mình mộtnhân cách đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp sau này
+ Tính độc lập cao trong học tập: Do yêu cầu cao của việc học để trở thànhchuyên gia trong một lĩnh vực nghề nghiệp nhất định nên trong hoạt động học tậpngười SV đòi hỏi phải có sự độc lập cao, sự tự ý thức đầy đủ về học tập của bản thân
Đó là sự nhận thức được mình là chủ thể của hoạt động học tập, là người định hướng,
tổ chức và kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của bản thân dưới sự hướng dẫn, trợgiúp của GV Tính độc lập trong học tập của SV thể hiện trong suốt quá trình học tập,
từ việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đem việc tìm kiếm tài liệu phục vụ
Trang 21cho việc học, lập kế hoạch học tập phù hợp và nỗ lực ý chí thực hiện nó Bên cạnh đó,việc học tập của SV mang tính chất nghiên cứu khoa học nên buộc SV phải có tínhđộc lập cao trong học tập
+Tính thực tiễn: thể hiện ở việc chú trọng phương pháp học bộ môn, chuyênngành, cách thức tiến hành nghiên cứu khoa học, làm thí nghiệm,… phục vụ cho nghềnghiệp tương lai Học tập của SV trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức lý luận, pháttriển kỹ năng ứng dụng và năng lực sáng tạo trong chuyên môn của mình Tính thựctiễn trong học tập của SV còn thể hiện ở sự đáp ứng về những đòi hỏi của xã hội trongviệc đào tạo một lực lượng chuyên gia về nghề phục vụ cho xã hội trong tương lai
+Tính sáng tạo: Tính sáng tạo trong hoạt động học tập của SV thể hiện ở việctham gia nghiên cứu khoa học Tính sáng tạo của SV một mặt xuất phát từ kết quả của
sự phát triển của tuổi trưởng thành vừa là yêu cầu của bản thân hoạt động học tập của
SV trong thời đại mới
Từ những đặc điểm riêng trên trong hoạt động học tập của SV đã kéo theo một sựthay đổi lớn về nội dung, phương pháp, điều kiện học tập cần có ở bậc ĐH Học tập của
SV diễn ra không chỉ trên lớp mà còn ở ngoài lớp, không chỉ tiến hành dưới sự hướng dẫncủa GV mà còn được tiến hành một cách độc lập, do bản thân mình tự sắp xếp, tổ chứcthực hiện và kiểm tra đánh giá Nội dung học tập bao gồm việc tiếp nhận kiến thức, học
kỹ năng, học các thái độ Chính sự thay đổi về tính chất, mục tiêu của học tập ở ĐH sovới phổ thông đã dẫn đến việc hoạt động học tập của SV mang tính chuyên nghiệp, tínhđộc lập cao, tính thực tiễn và tính sáng tạo 38
1.1.2 Nhận thức
1.1.2.1 Khái niệm về nhận thức
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhận thức
- Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quảphản ánh và tái hiện vào trong tư duy, là quá trình con người nhận biết, hiểu biết về thếgiới khách quan hoặc kết quả nghiên cứu của quá trình đó” [34]
- Theo từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam: “Nhận thức là quá trình biệnchứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người
tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [55]
Trang 22- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan đã cho rằng: “Nhận thức chỉ là sự phức hợpnhững cảm giác của con người” Error: Reference source not found
- Theo chủ nghĩa duy tâm khách quan: “Nhận thức là sự hồi tưởng lại của linhhồn bất tử về thế giới các ý niệm mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng đã bị lãngquên” Error: Reference source not found
- Theo quan điểm của C.Mac và Ănghen: “Nhận thức là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào bộ óc của con người Sự phản ánh đó không phải là một hành độngnhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt độngtrí tuệ tích cực và sáng tạo” Error: Reference source not found
- Theo V.I.Lênin: “Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan bởi con ngườinhưng không phải là sự phản ánh đơn thuần, trực tiếp hoàn toàn Quá trình này là cả mộtchuỗi những sự trừu tượng, sự cấu thành và sự hình thành nên các khái niệm, quy luật vàchính các khái niệm, quy luật này lại bao quát một cách có điều kiện gần đúng tính quyluật phổ biến của thế giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển” Error: Referencesource not found
- Dưới góc độ Tâm lý học: Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sốngtâm lý của con người (nhận thức – tình cảm – hành động ý chí) Nó có mối quan hệchặt chẽ với hai mặt kia và với các hiện tượng tâm lý khác
- Nhận thức là một quá trình, ở con người quá trình này gắn với mụcđích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật củahoạt động nhận thức là phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ, quan hệ của bảnthân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.19
Nhận thức là một cơ chế tâm lý đi trước trong hành vi có ý thức, có mục đíchcủa mỗi người Nó là cơ sở để lựa chọn các cách thức hành động, hình thành tính tíchcực, thế giới quan, niềm tin của mỗi người.19
Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhận thức Trong phạm vi nghiêncứu của đề tài này, chúng tôi lấy khái niệm về nhận thức dưới góc độ Tâm lý học làmkhái niệm công cụ
1.1.2.2 Các giai đoạn của nhận thức
Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt đến những mức độ nhận
Trang 23thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Hoạt động nhận thức củacon người bao gồm nhiều quá trình phản ánh hiện thực khách quan với những mức độphản ánh khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng) và mang lại cho
ta những sản phẩm khác nhau (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm…)
Căn cứ vào tính chất phản ánh, có thể chia toàn bộ hoạt động nhận thức thànhhai giai đoạn lớn: Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
- Nhận thức cảm tính: Đây là giai đoạn đầu, sơ đẳng trong hoạt động nhận thức
của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộctính bề ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giácquan Nhận thức cảm tính bao gồm hai quá trình: Cảm giác và tri giác
Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật,hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bềngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta
Nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong việc định hướng và điều chỉnh hoạtđộng của con người, giúp con người thích nghi với môi trường Nó là nguồn cung cấpnguyên liệu cho nhận thức lý tính
- Nhận thức lý tính: Là giai đoạn nhận thức cao hơn nhận thức cảm tính Nó
phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ, quan hệ bản chất của sự vật,hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó con người chưa biết Nhận thức lýtính bao gồm hai quá trình: Tư duy và tưởng tượng
Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mốiliên hệ, quan hệ bên trong có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong hiện thựckhách quan mà trước đó con người chưa biết
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinhnghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểutượng đã có
Nhận thức lý tính có vai trò rất quan trọng, là điều kiện để con người làm chủ
tự nhiên, xã hội và bản thân
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính có quan hệ chặt chẽ với nhau Nhận
Trang 24thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính, là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhậnthức lý tính Ngược lại, nhận thức lý tính chi phối, tác động trở lại nhận thức cảm tính,giúp con người nhận thức đúng đắn, đầy đủ về thế giới.
Từ mối quan hệ này, V I.Lênin đã tổng kết thành quy luật của hoạt động nhậnthức như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượngđến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thứcthực tại khách quan” 21
- Ngoài hai giai đoạn trên, hoạt động nhận thức còn có quá trình trung gian giữanhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, đó là trí nhớ
Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá nhândưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại sau đó ở trong óccái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm, hành động hay suy nghĩ trước đây
Trí nhớ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý của con người, nó phản ánhkinh nghiệm của con người ở mọi lĩnh vực, giúp con người đáp ứng những yêu cầungày càng cao của cá nhân và của toàn xã hội.21
1.1.2.3 Vài nét về đặc điểm nhận thức của sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ chữ Latinh “student” – những người làmviệc, tìm kiếm, khai thác tri thức
Sinh viên là những người có độ tuổi từ 18 đến 25, đang học ở các trường Đạihọc, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp
Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội, là lớp người đang được chuẩn bị chohoạt động trong lĩnh vực nhất định Họ là người có học vấn cao, bổ sung cho đội ngũcán bộ của đất nước trong tương lai
Đây là thời kỳ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất cũng như nhận thức, trí tuệ.Sinh viên là lớp người đang từng bước tích luỹ tri thức về mọi lĩnh vực Sinh viên cóthể xử lý các vấn đề của hiện thực khách quan bằng nhận thức lý tính nhiều hơn nhậnthức cảm tính nên hiệu quả cao hơn.Trong thời kỳ này, sinh viên có sự biến độngmạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp
Nhận thức của sinh viên diễn ra từ mức độ thấp là cảm giác đến mức độ cao là
tư duy Nét đặc trưng cho hoạt động nhận thức của sinh viên là họ có thể hoạt động trí
Trang 25tuệ tập trung, có thể tiến hành hoạt động tư duy với sự phối hợp của nhiều thao tác:Phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá… Họ đi sâu vào tìm hiểunhững môn học, những chuyên nghành khoa học cụ thể để nắm vững đối tượng, nhiệm
vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó với mục đích trở thành các chuyên gia
về các lĩnh vực nhất định
Khả năng nhận thức của sinh viên phát triển mạnh, thể hiện ở tốc độ phản ánh vàkhả năng định hướng hoạt động tăng Nhiều sinh viên khi được giao các nhiệm vụ nhậnthức đã nhanh chóng định hướng được các hoạt động thông qua việc xác định mục đích,yêu cầu và tìm kiếm cách thức tiến hành hợp lý Năng lực nhận thức, sự tự tin và phảnứng nhanh được coi là hạt nhân cơ bản về khả năng nhận thức của sinh viên
Tính độc lập, sáng tạo ở các quá trình nhận thức của lứa tuổi sinh viên đạt mức
độ cao hơn nhiều so với các giai đoạn lứa tuổi trước Sinh viên đã xác định cho mìnhmột hướng đi tương lai, bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội Sinh viên có khát vọng được cống hiến, mong muốn được xã hội đánh giá và cókhả năng tự đánh giá mình, mong muốn tự hoàn thiện mình
Xuất phát từ những đặc điểm cơ bản về nhận thức của sinh viên, ta có thể khẳngđịnh rằng: Giáo dục đúng hướng sẽ giúp họ có nhận thức đúng đắn và hành động thíchhợp với những vấn đề đặt ra trong hiện thực khách quan Error: Reference source notfound
1.1.3 Thái độ
1.1.3.1 Khái niệm thái độ
Khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, từ đó thái độ trởthành một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học, đặc biệt làtâm lý học xã hội.Trong “Sổ tay tâm lý học xã hội” G.W.Allport đã cho rằng kháiniệm thái độ “có lẽ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm lý học xãhội hiện đại Mỹ”.Sự nghiên cứu của các nhà tâm lý về thái độ đã cho ra đời rất nhiềukhái niệm thái độ khác nhau.Thái độ là một khái niệm tâm lý học khó xác định mộtcách chính xác vì vậy mặc dù được nghiên cứu nhiều nhưng các nhà tâm lý vẫn chưathể thống nhất quan điểm về thái độ 60
Trang 26Trước hết phải kể đến đinh nghĩa về thái độ trong từ điển Theo từ điển tiếngViệt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận, hành động của cá nhân về mộthướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể nhữngbiểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sựviệc nào đó” [34
Trong từ điển Anh-Việt, “thái độ” được viết là “Attitude” và được định nghĩa là
“cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân” Từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Việnchủ biên cũng nhấn mạnh: “tâm thế-thái độ-xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phứctạp, bao gồm các thành phần nhận thức, xúc cảm, hành vi” [60] Còn trong từ điển cácthuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New York năm 1996 thì lại cho rằng:
"Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào
sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải nhưbản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sựnhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng.Trạng thái sẵn sàng có ảnhhưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng”
Như vậy, các từ điển khi định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là “cách ứng xửcủa cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề của xã hội” Nó được cấu thành rấtphức tạp, với nhiều bộ phận hợp thành, cho dù cách sử dụng từ ngữ khi định nghĩa vềthái độ là khác nhau
Còn các nhà tâm lý, mà trước nhất phải nói đến hai tác giả W I Thomas và F.Znaniecki (1918), những người đầu tiên đưa ra khái niệm thái độ, theo đó “thái độ làđịnh hướng chủ quan của cá nhân như một thành viên (cộng đồng) đối với giá trị nàyhay giá tị khác, làm cho cá nhân có phương pháp hành động này hay hành động khácđược xã hội chấp nhận” Với định nghĩa thía độ chính là sự định hướng giá trị của mội
cá nhân trong cộng đồng xã hội 16
Từ sự phát hiện trên, bắt đầu bùng nổ các cuộc nghiên cứu về thái độ xã hội.Nhiều tác giả khác cũng có quan điểm tương tự và mỗi người đều đưa ra các lý do củamình, nhưng có thể tóm tắt lại là: khái niệm thái độ được sử dụng rộng rãi vì nó baohàm các mối liên hệ cơ bản với các vấn đề như dư luận xã hội, tuyên truyền, sự mâuthuẫn giữa các nhóm, cạnh tranh kinh tế niềm tin tôn giáo, thay đổi hành vi và nhiều
Trang 27vấn đề có ý nghĩa to lớn khác về mặt lý luận và thực tiễn về các mối quan hệ xã hội nói
chung H Fillmore (1935) nhận định, thái độ là sự sẵn sang phản ứng tích cực hay
tiêu cực đối với đối tượng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trường… Thái độ là
sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của mội trường và là cấu trúc
có tính động cơ 16 W Allport (1935), nhà tâm lý học xã hội người Mỹ cho rằng, “thái
độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinhnghiệm, điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đến các phản ứng của cá nhân với tất
cả các khách thể và tình huống mà có mối liên hệ” Định nghĩa về thái độ của G W.Allport được nhiều nhà tâm lý học thừa nhận vì qua định nghĩa thái độ là gì, tác giảcòn nêu ra nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ Tuy nhiên, trong định nghĩa củaAllport, một lần nữa lại thấy, thái độ chỉ bó gọn “trong đầu” của một cái tôi chủ quan,
mà không thấy vai trò của các yếu tố môi trường và những người khác trong xã hội đốivới việc hình thành thái độ chủ quan của mỗi người 16 Sau này, nhà tâm lý họcT.M.Newcom cũng đưa ra một định nghĩa tương tự như định nghĩa của Allport.Ôngcho rằng:“thái độ chính là một thiên hướng hành động, tư duy nhận thức, cảm nhậncủa cá nhân tới một đối tượng hay sự việc có liên quan” Vào năm 1964, nhà tâm lýhọc nhân cách người Mỹ là J.P.Guilford đã đưa ra một định nghĩa về “thái độ”, dựatrên quan niệm cho rằng nhân cách bao gồm bảy khía cạnh tạo nên một cấu trúc độcđáo Bảy khía cạnh đó là: Năng lực, khí chất, giải phẫu, hình thái, nhu cầu, hứng thú
và thái độ Và ông đã định nghĩa: “Thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liênquan đến những hoàn cảnh xã hội ” Không chỉ một mình Guilford, mà hầu như tất cảcác tác giả viết về tâm lý học nhân cách đều coi “thái độ” như là một thuộc tính củanhân cách 16
C Trianodis (1971) coi “thái độ là tư tưởng được hình thành từ những xúc cảmgây tác động đến hành vi nhất định ở một giai cấp nhất định trong những tình huống
xã hội Thái độ của con người bao gồm những điều người ta suy nghĩ và cảm thấy vềđối tượng, cũng như thái độ xử sự của họ đối với nó” Khi xem xét định nghĩa củaTrianodis, ta thấy có một điểm tương đồng với định nghĩa của Allport, vì Allport chorằng “thái độ” có “tính gây tác động” tới một tình huống nào đó 16
Trang 28R.Marten khi phân tích định nghĩa của Allport và định nghĩa của Triandis đãnhận thấy điểm chung này Ông cho rằng thái độ được hình thành nhờ kinh nghiệmsống của mỗi cá nhân Nó có tính ổn định và tuỳ theo từng tình huống, thái độ sẽ thayđổi tuỳ theo từng tình huống đó Ông khẳng định, thái độ là xu hướng thường xuyênđối với các tình huống xã hội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ, tình cảm và hànhđộng.thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi, được xác định bằngtình huống thống nhất bên trong Còn gần đây, James.W.Kalat đưa ra định nghĩa:
“Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, từ
đó có ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” Nhàtâm lý học John Traven cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hànhđộng tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó” 16
Như vậy, khi điểm qua một số định nghĩa về thái độ do các nhà tâm lý học đạicương và tâm lý học xã hội Mỹ nêu ra, chúng ta cũng thấy sự không đồng nhất vè kháiniệm thái độ của họ Tuy nhiên, có một số nhận định chung về nội hàm của khái niệmnày, đó là tính “sẵn sang phản ứng”, tính gây tác động đến hành vi
Trong tâm lý học xã hội Mỹ hiện đại, khi định nghĩa về thái độ, một số tác giảthường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức năng của thái độ, nhưDavis Myers đã coi “thái độ” là “phản ứng có thiện chí hay không thiện chí về một điều
gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủđịnh 16 Hay như nhà tâm lý học W.J.Mc Guire thì định nghĩa rằng: “thái độ là bất cứ sựthể hiện nào đó về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng củathái độ, về bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tưtưởng” 16 V N Miaxisev cho rằng, thái độ là khía canh chủ quan bên trong, có tínhchọn lọc của các mối liên hệ đa dạng của con người với các khía cạnh khác nhau củahiện thực Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con người, biểu thịkinh nghiệm cá nhân và quy định nội hành động cũng như các trải nghiệm của họ.Kháiniệm “thái độ” là khái cạnh tiềm năng của quá trình tâm lý, liên quan đến tính tích cựcchủ quan, có chọn lọc của nhân cách Trong nghiên cứu của mình, các nhà tâm lý họcXô-viết ít dung thuật ngữ “thái độ” vì tính đa nghĩa của nó trong tiếng Nga (từ này phầnnhiều được dung chỉ mối quan hệ giữa các sự vật hiên tượng) Khi nói đến thái độ, thuật
Trang 29ngữ tâm thế chủ quan (và sau này B Ph Lomov gọi là thái độ chủ quan của nhân cách)được sử dung nhiều hơn, điển hình là Uznatze với “thuyết tâm thế” Uznatze cho rằng
“thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bịtách rời, đối lập lại với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qualại với nó, mà nó là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể…Tính khuynh hướngnăng động mà tâm thế là một yếu tố toàn vẹn theo một khuynh hướng nhất định nhằmmột tính năng động nhất định Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đối với tác động củatình huống, mà trong đó, chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”25 “Tâm thế xã hội
là một dạng tâm thế được xem như một yếu tố hình thành hành vi xã hội của nhân cách,xuất hiện dưới dạng các quan hệ của nhân cách với các điều kiện hoạt động của nó vàcủa những người khác”
Iadob nghiên cứu vai trò của thuyết định vị trong hành vi xã hội của nhân cách.Ông cho rằng con người có một hệ thống các tổ chức định vị khác nhau phức tạp vàhành vi của con người bị điều khiển bởi các tổ chức đó Các định vị này được tổ chứctheo 4 bậc, mức độ khác nhau
Bậc một: bao hàm các tâm thế bậc thấp (như quan niệm của Uznatze), hìnhthành trên cơ sở các nhu cầu và tình huống đơn giản nhất
Bậc hai: các định vị phức tạp hơn, được hình thành trên cơ sở và các tình huốnggiao tiếp của con người trong các nhóm nhỏ
Bậc ba: các định vị mà trong đó định hướng chung của các sở thích được hìnhthành trong các lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể
Bậc bốn: bậc cao nhất hình thành nên hệ thống định hướng giá trị của nhâncách, nó điều chỉnh hành vi và hoạt động của nhân cách trong những tình huống màtính tích cực xã hội có giá trị nhất định đối với nhân cách 16
Tác giả K K Platonov thì cho rằng thái độ là “một cấu thành tích cực của ýthức cá nhân và là các mối liên hệ ngược của chủ thể với thế giớ, được phản ánh vàđược khách thể hóa trong tâm vận động” Theo tư tưởng nếu trên, phản ánh được hiểukhông chỉ là kết quả tác động của môi trường bên ngoài lên con người mà là biểu hiệncủa sự tác động qua lại giữa chúng; chính xác hơn, bản thân phản ánh là sự tác độngqua lại được thực hiện bằng phương cách thái độ có ý thức 16 Các nhà tâm lý học của
Trang 30Leningrad thuộc Liên xô trước đây thì coi thái độ là “những cơ cấu tâm lý sẵn có, địnhhướng cho sự ứng phó của cá nhân”; trong khi đó, dưới góc độ tâm lý học nhân cáchKosacowski và Lompscher (1975) đều khằng định thái độ là thuộc tính tâm lý baogồm niềm tin, hứng thú, thái độ xã hội Có thể nói, thái độ được định nghĩa khác nhau,xuất phát từ khia cạnh nghiên cứu của mình, nhưng các tác giả Xô-viết đều giải thích
“thái độ” dưới góc độ chức năng của nó, đều có chung khẳng định thái độ là sự phảnánh ý thức, là thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định hướng hành vi xãhội của con người Nó thúc đẩy, tăng cường tinh thần sẵn sàng của những hành vi,phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan 25 Những quan niệm về thái độcũng được phản ánh trong quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam Đó là quanniệm cho rằng “thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bảncủa ý thức” hay “thái độ, về mặt cấu trúc, bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm vàmặt hành vi”
Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ Người nghiên cứusau khi xem xét, phân tích các định nghĩa đó, và cho rằng: Thái độ là một bộ phận hợpthành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của conngười đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông quahành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người đó trong những tình huống, điều kiện cụthể
1.1.3.2 Cấu trúc của thái độ
Hiện nay, phần lớn các nhà tâm lý học đồng ý với quan điểm cấu trúc ba thànhphần của thái độdo M Smith đưa ra vào năm 1942.“Thái độ, vềcấu trúc bao hàm cácmặt nhận thức, mặt tình cảm và hành vi” Theo ông, thái độ có cấu trúc bao gồm cácmặt sau:
- Nhận thức: Là những quan niệm, ý nghĩ, tri thức của con người hoặc những ý kiến
cụ thể về một hiện tượng hay một đối tượng nào đó Thành phần này thể hiện ở quanniệm đánh giá của cá nhân đối với đối tượng
- Tình cảm: Là những phản ứng cảm xúc của con người đối với một đối tượng nào đó.
Thành phần này bao gồm những xúc cảm, tình cảm của cá nhân đối với đối tượng Xúccảm, tình cảm là sự biểu thị thái độ của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ra trong thế
Trang 31giới khách quan, trong cơ thể, liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầucủa con người Tình cảm được hình thành từ những xúc cảm đồng loại được lặp đi lặplại, có tính ổn định tương đối và là một trong ba thành phần cấu trúc của thái độ Quabiểu hiện của xúc cảm, tình cảm có thể thu được những đặc điểm và tính chất của thái
độ chủ cá nhân đối với hiện thực khách quan
- Hành vi: Gồm xu hướng hành động, những phản ứng, cách cư xử của cá nhân đối
với đối tượng Mặc dù các nhà nghiên cứu đều thừa nhận cấu trúc thái độgồm 3 thànhphần nhưng họ đưa ra cách nhìn nhận khác nhau về mối quan hệ giữa các thành phầncủa cấu trúc thái độ
- Quan điểm về ba thành phần riêng biệt
Đây là quan điểm lý thuyết mới về cấu trúc của thái độ trong đó ba thành phầnnày được thể hiện một cách riêng biệt.Các thành phần tách biệt này có thể không liênquan đến nhau, điều này chỉ phụ thuộc vào những hoàn cảnh cụ thể Quan điểm nàyđược sự ủng hộ mạnh mẽ của hai nhà tâm lý học là Fishbein và Ajzen
- Quan điểm ba thành phần thống nhất
Quan điểm này cho rằng, ba thành phần trên luôn phải mang tính thống nhấtcao, như vậy thái độ mới được xác định Đại diện cho quan điểm này là nhà tâm lý họcM.J Rosenberg
Qua việc tìm hiểu và xem xét các quan điểm về mối quan hệgiữa các thànhphần trong cấu trúc thái độ, tác giả cho rằng quan điểmba thành phần thống nhất làhợp lý hơn cả Thái độ phải là sự kết hợp biện chứng giữa nhận thức, tình cảm và hành
vi, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng, sự thích thú với đối tượng vàtính tích cực hoạt động của bản thân với đối tượng.Trên thực tế, chúng ta có th ểgặpnhững tình huống mà ở đó không có sự cân bằng giữa các thành tố trong cấu trúc thái
độ, nhưng ngay sau đó, trạng thái cân bằng được lặp lại và tạo ra các mức độvà cácdấu hiệu khác nhau của thái độ 13
1.1.3.3 Chức năng của thái độ
Con người luôn có khả năng ứng xử linh hoạt trong các tình huống khác nhaudựa trên các khuôn mẫu thái độ xã hội nhất định, điều này có ý nghĩa quan trọng trongđới sống tâm lý con người Thái độ có một số chức năng cơ bản sau:
Trang 32Chức năng thích nghi: Tùy vào từng trường hợp cụ thể mà con người thay đổi
thái độ do tác động của môi trường xung quanh nhằm đạt được mục đích đề ra
Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về
đối tượng, bằng việc biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như sẵn sàng hành động của cácnhân có thể biểu hiện giá trị nhân cách của mình
Chức năng tiết kiệm trí lực: Nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được
hình thành mà cá nhân tiết kiệm được trí lực, năng lượng thần kinh, cơ bắp trong hoạt động
Chức năng tự vệ: Khi trong mỗi cá nhân có sự xung đột mỗi người thường biện
minh, tự lý giải nhằm tạo ra một thái độ mới tương ứng nhằm giảm bớt và loại bỏ những
“bất đồng nội tâm”, từ đó làm giảm căng thẳng, tạo nên sự cân bằng cho nội tâm
Chức năng thỏa mãn nhu cầu: Thái độ được hình thành như là kết quả của
những thành công hay thất bại trong quá khứ Thái độ sau khi được hình thành vẫntiếp tục có ích trong việc giúp mỗi con người thỏa mãn các nhu cầu hoặc đạt được cácmục đích
Chức năng điều chỉnh hành vi và hành động: Chức năng điều chỉnh hành vi và
hành động là chức năng mà các nhà tâm lý quan tâm làm sáng tỏ cơ chế thực hiện cácchức năng của thái độ và tìm ra các điều kiện để các chức năng đó được thực hiện.[11]
Tóm lại: Nghiên cứu thái độ cần thiết phải nghiên cứu nó trong mối quan hệ đa
dạng với các thuộc tính tâm lý khác, trong hành động, trong giao tiếp của cá nhân
1.1.3.4 Phân loại thái độ 36
Có rất nhiều các nghiên cứu khác nhau về thái độ, vì vậy cũng có nhiều cách phân loại khác nhau của các nhà tâm lý học
- Dựa vào tính chất của thái độ V.N.Miaxiser phân thành hai loại: thái độ tíchcực – thái độ tiêu cực; thái độ trung tính – thái độ phân hóa
- Dựa vào tính chi phối của thái độ B.Ph.Lomov chia thái độ thành hai loại:thái độ chủ đạo, thái độ thứ yếu Thái độ chủ đạo là các thái độ liên quan đến mục đíchsống và động cơ chủ đạo của cá nhân chi phối toàn bộ hệ thống thái độ 36
- Ngô Công Hoàn phân thái độ thành hai loại: Thái độ tích cực và thái độ tiêucực Ông cho rằng thái độ tích cự đối với hành động hay hoạt động của mình thì kết
Trang 33quả hành động thường đạt hiệu quả tốt hơn so với thái độ tiêu cực Thái độ tích cựcthường có chí tiến thủ, luôn nghĩ về trách nhiệm cá nhân đối với hành động và ngược lại.
- Nguyễn Thị Phương Hoa (Viện tâm lý học) chia thái độ thành 3 loại: Tíchcực, trung tính, tiêu cực Tích cực là có nhận thức đúng đắn về vấn đề có trách nhiệm
và biểu hiện hành vi đúng mực Trung tính là không tỏ rõ thái độ Tiêu cực là chốngđối, không hài lòng
- Trần Hiệp (Tâm lý học xã hội) Thái độ có thể là tích cực có thể là tiêu cực,ủng hô hoặc phản đối tức là chiều (+) hay (-)
- Hoàng Anh nghiên cứu thái độ của sinh viên ĐH Sư phạm Hà Nội đưa ra cácmức đánh giá: Tốt, trung bình và kém
- Đỗ Thành Nga tổng hợp ba chỉ số: Nhận thức, cảm xúc và hành vi phân loạithái độ theo các mức độ: cao, thập, trung bình
- Vũ Ngọc Hà (Viện tâm lý học) chia thái độ theo các mức: nhiều, ít, không
1.1.3.5 Mối quan hệ giữa thái độ và các khái niệm có liên quan:
Thái độ là khái niệm tâm lý khó định nghĩa một cách chính xác, tuy nhiên thái
độ cũng là mặt biểu hiện sinh động nhất nhân cách của con người vì nó gắn liền vớinhững thuộc tính sâu xa và nhạy cảm của mỗi cá nhân như: Nhu cầu, tính cảm, hứngthú, tâm thế… Khi nhu cầu được thỏa mãn thì người ta có thái độ hài lòng, phấn khởi
và ngược lại nếu nhu cầu không được thỏa mãn sẽ có thái độ khó chịu, bực tức Dotính phức hợp đó mà khi nghiên cứu thái độ cần thiết phải xem xét những biểu hiện đadạng của nó trong mối quan hệ với các khái niệm liên quan
Thái độ với ý thức cá nhân:
Ý thức là “hình thức phản ánh bậc cao đặc trưng của loài người, là khả năngnhận thức được cái phổ biến và cái bản chất trong hiện thực khách quan, đồng thời lànăng lực định hướng, điều khiển một cách tự giác thái độ, hành vi, quan hệ giữa conngười và hoàn cảnh tự nhiên xã hội” Cấu trúc của ý thức gồm ba phần: Nhận thức,thái độ và mặt năng động của ý thức Chức năng của ý thức là định hướng, điều chỉnh,điều khiển hành vi hoạt động của con người Thái độ cũng là một hình thức biểu hiệntính tích cực của mối quan hệ ngược trở lại của ý thức với hiện thực Tuy nhiên không
Trang 34phải lúc nào ý thức cũng điều khiển được thái độ Thái độ có thể biểu hiện bột phátkhông ý thức, thái độ cũng biểu hiện tự nhiên vô ý thức, có thể thiếu ý thức hay mất ýthức Như vậy thái độ và ý thức có mối quan hệ hữu cơ với nhau Thái độ phản ánh cáchiện thực của thế giới khác quan một cách có chọn lọc, đồng thời là hình thức tác độngtrở lại của con người đối với hiện thực Vì vậy khi nghiên cứu thái độ phải nghiên cứuthông qua ý thức và ngược lại 23
Thái độ với nhu cầu:
Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người cần thỏa mãn để tồn tại và pháttriển, là động lực đầu tiên để thúc đẩy hoạt động Nhu cầu có vai trò quyết định tới sựphát triển nhân cách, nhu cầu là nền tảng của động cơ Mục đích của hoạt động là thúcđẩy cá nhân hành động để chiếm lĩnh đối tượng Khi nhu cầu được thỏa mãn sẽ đồngthời cũng có các thành phần thái độ của con người bao gồm: quan điểm, nhân thức,cảm xúc, cách cư xử với đối tượng thỏa mãn nhu cầu Do thái độ được hình thành trên
cơ sở của nhu cầu và tình huống thỏa mãn nhu cầu
Vì vậy, nhu cầu là nguồn gốc, là cơ sở bên trong của thái độ, đồng thời phản ánhtính chất, cường độ, mức độ thỏa mãn động thái của nhu cầu Xem xét mối quan hệ giữathái độ và nhu cầu cho thấy chúng có quan hệ khăng khít với nhau vì vậy khi
nghiên cứu thái độ cần thiết phải xem xét đến các biểu hiện của nhu cầu 23
Thái độ và xúc cảm
Trong đời sống con người thường tham gia vào nhiều hoạt động với nhiều vaitrò khác nhau, vì vậy con người thường xuyên có mối quan hệ với con người và môitrường xung quanh, ngoài ra con người còn chịu tác động của chính môi trường bêntrong cơ thể mình Trước một hiện tượng xảy ra trong đời sống cá nhân và xã hội, mỗi
cá nhân luôn bộc lộ thái độ của mình một các cụ thể Có thể thấy rằng cảm xúc và tínhcảm của cá nhân chính là những nét biểu hiện thái độ của các cá nhân đối với các hiệntượng xảy ra, “tính chất của mỗi thái độ có quan hệ mật thiết đến việc thỏa mãn haykhông thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của mỗi người” Như vậy trong quátrình con người tiếp xúc với đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân thì cảmxúc, tình cảm xuất hiện Trong quá trình này cảm xúc, tính cảm lại điều chỉnh hành vi
Trang 35của mỗi cá nhân Nhờ có cảm xúc tình cảm mà chúng ta biết được tính chất, mức độ,dặc điểm của thái độ của cá nhân đối với đối tượng như thế nào 23
Thái độ và tính cách
Thái độ và tính cách có mối quan hệ mật thiết với nhau là vì tính cách đượcbiểu hiện thông qua thái độ của từng cá nhân Nói cách khác thái độ là một mặt nộidung của tính cách Tính cách là thái độ đã được củng cố trong những phương thứchành vi quen thuộc và tính cách là sự kết hợp của nhiều dặc điểm tâm lý con ngườiđồng thời mang tính ổn định qua đó có thể thấy tính ổn định của tính cách là do tính ổnđịnh của thái độ cũng như hệ thống hành vi đem lại 23
Thái độ đối với hứng thú
Hứng thú là xu thế của các nhân nhằm vào đối tượng nào đó có ý nghĩa trongcuộc sống và hấp dẫn tính cảm của nó Hứng thú là động lực thúc đẩy, duy trì hoạtđộng của các nhân Hứng thú là một dạng đặc biệt chứa dựng những quan điểm, xúccảm, cách thức sử dụng quen thuộc với đối tượng Vì vậy khi biết cá nhân có hứng thúvới đối tượng nào chúng ta có thể biết được thái độ của họ với đối tượng đó Hứng thúđược hình thành thông qua các quá trình nhận thức như: nhận thức ý nghĩa của đốitượng với cá nhân, hình thành cảm xúc tích cực, phương thức tác động của cá nhân vớiđối tượng Thái độ của cá nhân thể hiện rõ thông qua hứng thú, hứng thú càng mạnh và
ổn định thì càng củng cố thái độ 23
Thái độ đối với tâm thế
Tâm thế là trạng thái trọn vẹn cơ động của chủ thể, là trạng thái sẵn sàng hànhđộng Trạng thái được quy định bởi hai yếu tố: Nhu cầu của chủ thể và tình huốngkhách quan tương ứng Nói cách khác “Tâm thế là trạng thái tâm lý của chủ thể sẵnsàng đối với tính tích cực nhất định Trạng thái được hình thành khi nhu cầu của chủthể phù hợp với hoàn cảnh khách thể” 23
Tâm thế chế ước hành vi trong những định hướng cụ thể và qui định bởi cácquan điểm hình thành trên cơ sở những kinh nghiệm đã thu được trong những điềukiện tương tự Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “tâm thế” nhưng khái niệm
“tâm thế” vẫn được dùng để xây dựng khái niệm thái độ 23
Trang 36Thái độ đối với định hướng giá trị
Định hướng giá trị có một số định nghĩa như sau:
- Là cơ sở (chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ…) của các giá trị của chủ thể
về hiện thực xung quanh và định hướng trong đó
- Là khả năng chủ thể phân biệt các đối tượng theo ý nghĩa của chúng
- Được hình thành trong khi tiếp thu kinh nghiệm xã hội, trong quá trình xã hộihóa và được thực hiện trong các mục đích, lý tưởng, niềm tin, hứng thú
Trong cấu trúc hoạt động của con người định hướng giá trị có liên quan đến giátrị nhận thức, lý trí Hệ thống định hướng giá trị tạo thành mặt nội dung của xu hướngnhân cách thể hiện như là cơ sở bên trong của thái độ đối với cá nhân trong việc thựchiện 23
Thái độ với hoạt động của cá nhân
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người (lao động, học tập…), làphương thức tác động có đối tượng, có mục đích của con người với hiện thực nhằmthỏa mãn nhu cầu trực tiếp hay gián tiếp của bản thân và xã hội Tâm lý học hoạt động
đã xác định hoạt động là phạm trù cơ bản thể hiện tập chung nhất tâm lý con người
“bằng hành động trong hoạt động của mỗi cá thể sinh thành ra mình tự tạo ra nhâncách của mình” Trong mối quan hệ hoạt động – nhân cách – thái độ thì hoạt động lànhân tố trực tiếp của sự hình thành nhân cách nó qui định thái độ của cá nhân đối vớihiện thực Vì vậy, thái độ được hình thành và càng được củng cố vững chắc thì càngđảm bảo sự ổn định và bền vững của hoạt động 23]
Thái độ với hành vi
Thái độ và hành vi có mối liên hệ qua lại với nhau Thái độ tác động đến hành
vi và trong nhiều trường hợp hành vị định hình thái độ Theo nhà tâm lý học người MỹDarry Bem thì khi quan sát hành vi của người khác có thể rút ra ra kết luận về thái độcủa người đó đối với sự vật, hiện tượng nào đó Hành vi là một trong những yếu tố cấutạo nên thái độ của con người Vì vậy khi nghiên cứu thái độ cần phải xem xét đến yếu
tố hành vi của cá nhân 23
1.1.4 Nhu cầu – Nhu cầu vận động của con người
1.1.4.1 Nhu cầu của con người
Trang 37Từ lâu nhu cầu (NC) đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoahọc nghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về NC đượctìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham,Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S Herman Đó
là hiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm NC Trong phạm
vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa NC là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạngthái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầutối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu yếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâudài tồn tại, phát triển và tiến hóa
Theo Philip Kotler, chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: Nhu cầu là cảmgiác thiếu hụt cái gì đó mà con người cảm nhận được, NC của con người rất đa dạng
và phức tạp Nhu cầu ăn uống, NC tài sản, NC thể lực, NC giải trí…khi nhận thức được
NC, con người sẽ tìm cánh tìm vật gì đó để thỏa mãn nó
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người Là đòi hỏi, mong muốn,nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theotrình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những
Theo Maslow, về căn bản, NC của con người được chia làm hai nhóm chính:
NC cơ bản (basic needs) và NC bậc cao (meta needs)
Trang 38Nhu cầu cơ bản liín quan đến câc yếu tố thể lý của con người như mong muốn
có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ Những NC cơ bản năy đều lă câc NCkhông thể thiếu hụt vì nếu con người không được đâp ứng đủ những NC năy, họ sẽkhông tồn tại được nín họ sẽ đấu tranh để có được vă tồn tại trong cuộc sống hăngngăy
Câc NC cao hơn NC cơ bản trín được gọi lă NC bậc cao Những NC năy baogồm nhiều nhđn tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tđm, vui vẻ, địa vị xê hội, sựtôn trọng, vinh danh với một câ nhđn…
1.1.4.2 Thuyết thâp bậc nhu cầu của Maslow [74]
Abraham Maslow được xem lă cha đẻ của chủ nghĩa nhđn văn trong tđm lý học
vă lă người đâng chú ý nhất với sự đề xuất về Thâp NC Maslow đê đưa ra 5 cấp NC vẵng đê sắp xếp chúng trong một hệ thống như hình kim tự thâp gọi lă thức bậc của câc
NC, do chúng có mức độ quan trọng khâc nhau Maslow khẳng định rằng nếu tất cả NCcủa con người được thỏa mên văo một thời điểm nhất định cụ thể, thì việc thỏa mênnhững NC trội nhất sẽ tạo ra động lực mạnh nhất Những NC xuất hiện trước tiín phảiđược thỏa mên trước khi một NC cao cấp hơn xuất hiện Năm NC trong Thâp NC củaMaslow được phđn tích như sau
Nhu cầu cơ bản (Basic needs)
Nhu cầu năy còn được gọi lă NC của cơ thể (body needs) hoặc NC sinh lý(physiological needs), bao gồm câc NC cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, khôngkhí để thở, tình dục, câc NC lăm cho con người thoải mâi, Đđy lă những NC cơ bảnnhất vă mạnh nhất của con người Trong hình kim tự thâp, chúng ta thấy những NC năyđược xếp văo bậc thấp nhất Maslow phât biểu: “Một người thiếu thức ăn, sự an toăn,tình yíu, sự quý trọng, chắc chắn sẽ khao khât thức ăn mạnh hơn mọi thứ khâc”
Nhu cầu về an toàn, an ninh (Safety, security needs)
Khi con người đê được đâp ứng câc NC cơ bản, tức câc NC năy không còn điềukhiển suy nghĩ vă hănh động của họ nữa, khi đó câc NC về an toăn, an ninh sẽ bắt đầuđược kích hoạt NC an toăn vă an ninh năy thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần
Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi câc nguyhiểm NC năy thường được khẳng định thông qua câc mong muốn về sự ổn định trong
Trang 39cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, cónhà cửa để ở, Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết họccũng là do NC an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần.Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm, chính là thể hiện sự đáp ứng NC an toàn này về mặt vật chất.
Nhu cầu về xã hội (Social needs)
Nhu cầu này còn được gọi là NC mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổchức nào đó (belonging needs) hoặc NC về tình cảm, tình thương (needs of love) Nhucầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lậpgia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câulạc bộ, làm việc nhóm,
Mặc dù Maslow xếp NC này sau 2 NC phía trên, nhưng ông nhấn mạnh rằngnếu NC này không được thỏa mãn, đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng vềtinh thần, thần kinh
Nhu cầu được quý trọng (Esteem needs)
Nhu cầu này còn được gọi là NC tự trọng (self-esteem needs) vì nó thể hiện 2cấp độ: NC được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân,
và NC cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự
tự tin vào khả năng của bản thân
Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người đượckhích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động của mình, họ sẵn sàng làm việc hăng sayhơn, hiệu quả hơn NC này được xếp sau NC “thuộc về một tổ chức”, NC xã hội phíatrên Sau khi đã gia nhập một tổ chức, một đội nhóm, chúng ta luôn muốn được mọingười trong nhóm nể trọng, quý mến, đồng thời chúng ta cũng phấn đấu để cảm thấymình có vị trí trong nhóm đó
Nhu cầu được thể hiện mình (Self-actualizing needs)
Maslow định nghĩa những NC này là: “Lòng mong muốn trở nên lớn hơn bản thânmình, trở thành mọi thứ mà mình có thể trở thành” Điều đó có nghĩa là cá nhân sẽ thểhiện đầy đủ mọi tài năng và năng lực tiềm ẩn của mình Maslow cho rằng chỉ có thể thỏamãn được NC tự thể hiện mình sau khi thỏa mãn được tất cả những NC khác Hơn thế
Trang 40nữa, ông còn phát biểu rằng việc thỏa mãn những NC tự thể hiện mình có xu hướng làmtăng cường độ các NC khác Vì thế khi người ta có thể đạt được việc tự thể hiện mình, thì
họ có xu hướng tự thúc ép bởi những cơ hội to lớn để thỏa mãn NC đó
Cũng giống như những lý thuyết khác, lý thuyết này dĩ nhiên không phải là một
sự tuyệt đối hóa và toàn vẹn, nó cũng nhận được nhiều ý kiến trái ngược và phản bác.Tuy nhiên, trong hơn 60 năm qua, lý thuyết này vẫn được nhắc đến và sử dụng rộngrãi
Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow
1.1.4.3 Nhu cầu vận động của con người
Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động con người ta khi thấy một sự cần thiếtnhất định nào đó Nhu cầu của con người rất đa dạng được chia làm ba nhóm chính: NCvật chất, NC cảm xúc, NC xã hội Nhu cầu vật chất là NC tất yếu liên quan đến hoạt độngsống của con người Nhu cầu tinh thần liên quan đến sự tồn tại, là đặc thù biểu thị sự pháttriển nhân cách của con người Nhu cầu xã hội, thể hiện bản chất xã hội của con người (sựgiao tiếp) TDTT là biện pháp tốt nhất để thỏa mãn NC giao tiếp
Nhu cầu vận động là một trong những NC cần thiết của con người, ngay từngày đầu tiên trong cuộc đời NC vận động của một đứa trẻ đã được thỏa mãn thôngqua hoạt động vận động Trong quá trình hoạt động thể thao NC vận động khôngnhững được thỏa mãn mà còn nảy sinh một NC mới là NC căng thẳng thể chất lớn(lượng vận động lớn) phù hợp với cường độ, thời gian và tính chất của hoạt động vậnđộng Tích tích cực của người tập TDTT phụ thuộc vào NC của người đó do vậy, NC