Hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lựctrong giao tiếp hành chính tiếng Việt, trường hợp giao tiếp pháp đình cũngchưa được khai thác một cách hệ thống và toàn diện.. Lự
Trang 1-LƯƠNG THỊ HIỀN
CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ
BIỂU THỊ QUYỀN LỰC TRONG GIAO TIẾP
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI
VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Đỗ Việt Hùng
2 TS Bùi Thị Minh Yến
Vào hồi giờ ngày tháng năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Xuất phát từ thực tế hệ thống chính trị của Việt Nam, nền hànhchính - hiểu theo nghĩa rộng - không chỉ giới hạn ở công việc của bộ máyhành pháp, mà còn bao gồm hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các
cơ quan tổ chức lập pháp và tư pháp; trong đó, tòa án có vị trí trung tâm vàxét xử là hoạt động trọng tâm
1.2 Ngôn ngữ hành chính trong các quá trình giao tiếp của các chủthể hành chính chưa được các nhà Việt ngữ học quan tâm nhiều; đặc biệt làngôn ngữ trong phạm vi giao tiếp pháp đình tiếng Việt hầu như còn bỏ ngỏ.1.3 Hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lựctrong giao tiếp hành chính tiếng Việt, trường hợp giao tiếp pháp đình cũngchưa được khai thác một cách hệ thống và toàn diện
Lựa chọn đề tài "Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực
trong giao tiếp hành chính tiếng Việt", trường hợp giao tiếp pháp đình,
chúng tôi mong muốn phần nào khỏa lấp “khoảng trống” đó
2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp hành chính
Trong phần này, đối với tình hình nghiên cứu ngoài nước, chúng tôi
sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ học pháp luật (forensic linguistics) bởi hướng
nghiên cứu này trên thế giới đã là một phân ngành độc lập Đối với tình
hình nghiên cứu trong nước, chúng tôi xếp ngôn ngữ pháp luật trong phạm
vi ngôn ngữ hành chính theo truyền thống Việt ngữ học.
Sự phát triển của ngôn ngữ học pháp luật ở Anh, Mĩ và một số nước
Châu Âu có thể phân chia thành hai giai đoạn: 1) Trước năm 1970, ngôn ngữ được coi là “một khách thể” (as object) để nghiên cứu Các nhà ngôn
ngữ học chủ yếu tìm hiểu những đặc điểm về ngữ âm, hình thái, từ vựng vàcấu trúc ngữ pháp của các đơn vị ngôn ngữ trong các văn bản quy phạmpháp luật; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các nhân tố xã hội chưa đượcquan tâm 2) Sau năm 1970, trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học phápluật chuyển từ dạng văn bản sang tương tác lời nói trong hoạt động tố tụng
Trang 4của tòa án, hoạt động tư vấn của luật sư, hoạt động thẩm vấn, điều tra củacảnh sát… Theo Liao Meizhen (2004), những nghiên cứu quy vào ba
hướng: (i) Hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như là một diễn trình (as
process): Nhà ngôn ngữ học trực tiếp tham dự và quan sát các hoạt độngpháp luật (xét xử, hòa giải, tư vấn, thẩm vấn…), trên cơ sở đó khám phángôn ngữ pháp luật được sản sinh và được hiểu như thế nào trong tương
tác; (ii) Hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như là một công cụ (as
instrument): Nhà ngôn ngữ tìm hiểu ngôn ngữ được sử dụng như thế nào đểthực thi pháp luật và khám phá biến xã hội - quyền lực - trong mối quan hệ
với ngôn ngữ pháp luật (iii) Hướng nghiên cứu ngôn ngữ pháp luật như là nhân chứng chuyên gia (as expert witnesses): Nhà ngôn ngữ học hoạt động
như một nhân viên điều tra, truy tìm dấu vết tội phạm từ những lá thư đedọa khủng bố, những mẩu tin điện thoại, thư tuyệt mệnh, lời khai của nghican Kết quả thu được sẽ trở thành bằng chứng tại tòa án
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường xếp ngôn ngữ pháp luậtvào phạm vi giao tiếp hành chính - công vụ với bốn hướng nghiên cứu
chính: 1) Theo hướng phong cách học, các nhà nghiên cứu như Đinh Trọng
Lạc và Nguyễn Thái Hòa (1996), Bùi Minh Toán, Lê A và Đỗ Việt Hùng(1998), Hữu Đạt (2000), Phạm Tất Thắng (2002), Nguyễn Thị Thanh Hà(2002), Nguyễn Thị Hường (2010) xác lập khái niệm và phân loại các loạivăn bản hành chính; xác định chức năng của văn bản hành chính; tìm hiểunhững đặc trưng ngôn ngữ cơ bản, những đặc điểm diễn đạt về từ vựng, ngữ
pháp của các loại văn bản hành chính nói chung; 2) Theo hướng ngữ dụng học, các công trình nghiên cứu văn bản hành chính của Phan Xuân Dũng
(2008), Vũ Ngọc Hoa (2012) chủ yếu khai thác hành động ngôn từ
(HĐNT) cầu khiến 3) Theo hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác, Nguyễn
Văn Khang, Nguyễn Thị Thanh Bình, Bùi Minh Yến, Mai Xuân Huy coigiao tiếp hành chính là một hành vi xã hội được hiện thực hóa trong mốiquan hệ giữa con người với con người; gắn chặt với quyền lực và nghĩa vụ
của mỗi bên tham gia; 4) Theo hướng phân tích diễn ngôn, các tác giả Lê
Hùng Tiến (1999), Nguyễn Xuân Thơm (2001), Dương Thị Hiền (2008),
Trang 5Nguyễn Thị Hà (2011) tiếp cận ngôn ngữ hành chính từ quan điểm đối
chiếu cấu trúc ở các cấp độ: từ vựng, ngữ pháp và văn bản Đối tượng ngôn ngữ pháp luật nhìn chung không được xem xét độc lập mà hòa vào dòng
chảy nghiên cứu ngôn ngữ hành chính tiếng Việt
2 2 Tình hình nghiên cứu quyền lực trong giao tiếp ngôn ngữ
Khởi nguồn từ những quan điểm về quyền lực mang tính chính trị
-xã hội của Foucault và Bourdieu, những nghiên cứu về quyền lực tronggiao tiếp ngôn ngữ trên thế giới phát triển theo bốn hướng chính gồm: ngữdụng học, ngôn ngữ học xã hội, phân tích hội thoại và phân tích diễn ngônphê phán Ở Việt Nam, quyền lực trong giao tiếp ngôn ngữ có khi đồng
nhất với vị thế xã hội, có khi được gọi tên trực tiếp trong những công trình
ngôn ngữ theo hướng ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội
Các kết quả nghiên cứu trên đã tạo ra những tiền đề để chúng tôitiếp tục nghiên cứu, triển khai trong luận án này
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp hànhchính tiếng Việt, trường hợp giao tiếp pháp đình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu hội thoại trong 11 phiên tòa hình sự tại Tòa án nhân dânthành phố Hà Nội từ tháng 6/2010- 8/2012 được quan sát, ghi chép tốc kí vàvăn bản hóa với tổng số 6572 lượt lời của các nhân vật giao tiếp (NVGT)
4 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Xác định đặc điểm của các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lựctrong giao tiếp hành chính tiếng Việt, trường hợp giao tiếp pháp đình để từ
đó xây dựng một khung phân tích phù hợp với loại hình giao tiếp thể chế
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Hệ thống hóa những nghiên cứu về ngôn ngữ học pháp luật; vềquyền lực trong giao tiếp ngôn ngữ nói chung, giao tiếp pháp đình nói
Trang 6riêng; xác định đặc điểm cơ bản của giao tiếp pháp đình trong giao tiếphành chính tiếng Việt Trên cơ sở đó xây dựng hướng tiếp cận của luận án.2) Hệ thống hóa những lí thuyết làm cơ sở cho nghiên cứu cácphương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp pháp đình.
3) Nghiên cứu quyền lực trong ngôn ngữ tương tác pháp đình trênbình diện tổng thể: cấu trúc tương tác, phân phối lượt lời, chủ đề tương tác;
và trên bình diện đơn vị tương tác cụ thể - đơn vị cấu trúc cặp trao đáp.4) Nghiên cứu các phương tiện cụ thể biểu thị quyền lực trong giaotiếp pháp đình: phương tiện từ ngữ xưng hô (PTTNXH), từ vựng tình thái
và các hành động ngôn từ (HĐNT)
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhằm thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án sử dụngphương pháp miêu tả, phương pháp thống kê, phân loại và một phầnphương pháp phân tích diễn ngôn phê phán; sử dụng các thủ pháp cụ thểgồm so sánh, mô hình hóa, trực quan quy trình xử án
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
1 Về lí thuyết
Luận án góp phần cung cấp cho ngôn ngữ học một số cứ liệu về đặcđiểm của các phương tiện ngôn ngữ biểu thị quyền lực trong giao tiếp hànhchính tiếng Việt nói chung, trường hợp giao tiếp pháp đình nói riêng
2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để xây dựngcác kĩ năng giao tiếp ngôn ngữ phù hợp cho các chủ thể khác nhau tronggiao tiếp pháp luật và có thể được tham khảo để dùng trong các hoạt độngđào tạo và nghiên cứu tiếng Việt
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được chia thành bốn chương (ngoài phần mở đầu, kết luận,danh mục những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến luận án,danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục): 1) Chương 1: Cơ sở lí luận; 2)Chương 2: Quan hệ quyền lực trong tương tác pháp đình; 3) Chương 3: Cácphương tiện từ vựng biểu thị quyền lực trong giao tiếp pháp đình; 4)Chương 4: Các HĐNT biểu thị quyền lực trong giao tiếp pháp đình
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 KHÁI QUÁT VỀGIAO TIẾP HÀNH CHÍNH VÀGIAO TIẾP PHÁPĐÌNH
1.1.1 Về thuật ngữ hành chính và giao tiếp hành chính
Trong khoa học hành chính, theo nghĩa rộng, thuật ngữ "hành chính" chỉ những biện pháp tổ chức và điều hành của các tổ chức, các
nhóm, các đoàn thể hợp tác trong hoạt động của mình để đạt được mục tiêuchung Tất cả hoạt động của các cơ quan tổ chức thi hành pháp luật, thựcthi quyền lực nhà nước - bao gồm cả ba lĩnh vực hành pháp, lập pháp và tư
pháp - đều được gọi là giao tiếp hành chính Luận án xác lập quan niệm
về hành chính theo nghĩa rộng Trên cơ sở đó mà giao tiếp pháp đình được xem xét trong phạm vi giao tiếp hành chính.
1.1.2 Đặc điểm của giao tiếp pháp đình
Bên cạnh những đặc điểm chung của phong cách ngôn ngữ hành
chính - công vụ bao gồm: “tính khuôn mẫu, rập khuôn; tính chuẩn mực, rõ ràng; tính khách quan, phi biểu cảm” (Nguyễn Văn Khang (2002)) thì giao
tiếp pháp đình còn mang những đặc điểm riêng biệt, đặc thù Trước hết,
đây là loại hình “giao tiếp đa thoại”, số lượng người tham gia phiên tòa có
thể thay đổi tùy theo tính chất của vụ việc, song số lượng vai giao tiếp đãđược luật định nên không thay đổi Quan hệ vai giao tiếp giữa các NVGTđược mô hình hóa như sau:
Hình 1.1 Quan hệ vai giao tiếp trong giao tiếp pháp đình
Trang 8Trong giao tiếp pháp đình, quan hệ vai nổi lên ba đặc trưng cơ bản:
1) Tính chất bất bình đẳng về vị thế giao tiếp thể hiện qua hai tầng
bậc: 1) Bậc 1: Quan hệ giữa những NVGT thuộc hệ thống tư pháp gồm Hội đồng xét xử (HĐXX), đại diện Viện kiểm sát (VKS) và luật sư; 2) Bậc 2: Quan hệ giữa những NVGT thuộc hệ thống tư pháp và các công dân.
2) Tính chất phi tương hỗ của giao tiếp thể hiện ở chỗ: HĐXX có
đặc quyền tạo lập phát ngôn hỏi và điều khiển Đại diện VKS và luật sư cóquyền xét hỏi và tranh luận khi được HĐXX cho phép Còn những NVGT
vị thế thấp nhất trong bậc phân cấp vai giao tiếp như bị cáo, người bị hại(hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại), người có quyền lợi và nghĩa vụliên quan (QL&NVLQ) bị hạn chế về nhiều phương diện
3) Tính đối lập về mục đích giao tiếp gắn với vai trò, nhiệm vụ cụ
thể của NVGT trong phiên tòa Chẳng hạn HĐXX có mục đích xem xétchứng cứ, đưa ra phán quyết cuối cùng; đại diện VKS có mục đích luận tội;luật sư có mục đích bào chữa Các NVGT khác như bị cáo, người bị hại(hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại), người có QL&NVLQ, ngườilàm chứng lại có những mục đích cá nhân khác nhau
Quan hệ vai giao tiếp tuy nằm trong khung nghi thức được luật hóa,song các NVGT ở vị thế thấp vẫn có thể thực hiện thương lượng vị thế giaotiếp để cải thiện vị thế giao tiếp của mình ít nhiều tùy vào ngữ cảnh giao tiếp
cụ thể và năng lực của họ ở nhiều phương diện
1.2 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN LỰC TRONG GIAO TIẾP PHÁP ĐÌNH
1.2.1 Thuật ngữ quyền lực với tư cách một phạm trù khoa học xã hội
Trong luận án, quyền lực được hiểu là khả năng chi phối, kiểm soát, điềukhiển của người này (nhóm này) đối với người khác (nhóm khác) Bản chất củaquyền lực là quan hệ, nghĩa là quyền lực chỉ được tạo ra trong tổ chức (ít nhất làhai người) Quyền lực tồn tại rõ rệt trong các tổ chức chính trị, thể chế xã hội
1.2.2 Những hướng tiếp cận quyền lực trong giao tiếp pháp đình
Ngôn ngữ pháp đình vừa là phương tiện nguyên cấp của quyền lực,vừa chịu sự điều chỉnh của quyền lực Những công trình nghiên cứu quyềnlực trong giao tiếp pháp đình có thể quy về hai hướng tiếp cận chủ yếu
Trang 91) Hướng tiếp cận nhằm chỉ ra sự bất bình đẳng về vị thế xã hội của những người tham gia phiên tòa của các nhà ngôn ngữ học đấu tranh cho bình quyền xã hội Theo Liao Meizhen (2004), quan hệ quyền lực bất bình
đẳng biểu hiện ở ba phạm vi: (i) Bất bình đẳng về giới tính nam - nữ, trong
đó vị thế bất lợi thường rơi vào giới nữ và khẳng định “Pháp luật là nam”;
(ii) Bất bình đẳng về chủng tộc, trong đó những người thuộc chủng tộckhác hoặc thuộc dân tộc thiểu số, nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ khi
bị thẩm vấn, nền tảng học vấn thấp và địa vị xã hội thấp có nguy cơ rơi vào
vị thế bất lợi về quyền lực trong giao tiếp pháp luật; và (iii) Bất bình đẳng
về vai trò của người làm chứng, chỉ ra những người này có rất ít hoặc hầunhư không có quyền lực trước tòa trong khi họ là người cung cấp thông tin
2) Hướng tiếp cận nhằm chỉ ra những chiến lược ngôn ngữ mà các chủ thể giao tiếp sử dụng nhằm gìn giữ, củng cố và đấu tranh giành quyền lực trong giao tiếp pháp đình O’Barr (1982) và các đồng nghiệp so sánh
phong cách ngôn ngữ pháp đình trên bốn thế đối lập: 1) quyền lực mạnh vàquyền lực yếu; 2) trần thuật và phân mảnh; 3) nghi thức và vượt chuẩn; 4)liên tục và ngắt vụn Walker (1987), Harris (1984) xem xét biểu hiện củaquyền lực thông qua cách thức đặt câu hỏi của NVGT quyền lực cao LvWan -Ying (2011) nhận thấy quyền lực của NVGT xét trên cấp độ cấu trúcbiểu hiện ở khả năng điều khiển phân phối lượt lời, kiểm soát chủ đề hộithoại; xét trên cấp độ hiệu quả giao tiếp biểu hiện ở sự phối hợp nhiềuchiến lược như chiến lược hỏi - đáp, ngắt lời, bác bỏ, bình luận ngữ dụng,
sử dụng đại từ nhân xưng
1.2.3 Hướng tiếp cận quyền lực trong giao tiếp pháp đình của luận án
Luận án tiếp cận quyền lực trong giao tiếp pháp đình từ góc độ phântích và miêu tả các phương tiện ngôn ngữ, tìm hiểu cơ chế hoạt động củangôn ngữ với tư cách là công cụ làm việc tại tòa án Những người tiến hành
tố tụng bao gồm HĐXX, đại diện VKS sử dụng phương tiện ngôn ngữ
để điều khiển hoạt động xét xử, xác lập quyền và nghĩa vụ đối với công dân.Những người tham gia tố tụng bao gồm bị cáo, người bị hại, luật sư bàochữa cũng sử dụng phương tiện ngôn ngữ để đòi hỏi những quyền lợi hợppháp của mình được pháp luật bảo vệ
Trang 101.3.KHÁI QUÁT VỀCÁC PHƯƠNG TIỆNNGÔNNGỮBIỂU THỊQUYỀN LỰCNhững chỉ dẫn quyền lực có thể nằm ở bình diện ngôn ngữ hoặc phingôn ngữ, thuộc về những cấp độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ: ngữ
âm, từ vựng, phát ngôn Luận án chỉ tập trung vào nhóm PTTNXH, từ vựngtình thái biểu thị lập trường, quan điểm (ở cấp độ từ vựng); và phương tiệnHĐNT (ở cấp độ phát ngôn) Những phương tiện ngôn ngữ được xem xét
cả ở khả năng biểu thị khung quan hệ quyền lực cố định theo luật định và
khả năng biểu thị quan hệ quyền lực “mềm” phụ thuộc chiến lược ngữ dụng
của mỗi NVGT được xác định trong ngữ cảnh cụ thể
1.4 TIỂU KẾT
Giao tiếp pháp đình thuộc giao tiếp hành chính, có đặc trưng là hìnhthức giao tiếp đa thoại, quan hệ giữa các NVGT mang tính bất bình đẳng,phi tương hỗ, đối lập về mục đích giao tiếp Dựa vào những khái niệm líthuyết nền tảng của ngữ dụng học về phương tiện từ ngữ xưng hô, từ vựngtình thái và hành động ngôn từ, luận án nhận diện, miêu tả và lí giải khảnăng biểu thị khung quyền lực của các phương tiện ngôn ngữ
Chương 2 QUYỀN LỰC TRONG TƯƠNG TÁCPHÁP ĐÌNHTIẾNG VIỆT
2.1 CÁC BÌNH DIỆN TỔNG THỂ CỦA TƯƠNG TÁC PHÁP ĐÌNH VÀ QUYỀN LỰC
2.1.1 Quyền lực và cấu trúc của tương tác pháp đình
Theo tiến trình thời gian, mỗi phiên tòa hoàn chỉnh bao gồm nămgiai đoạn theo thủ tục tố tụng luật định: Phần thủ tục, phần xét hỏi, phầntranh luận, phần nghị án và phần tuyên án Trong đó, phần nghị án chỉ xảy
ra trong nội bộ HĐXX, các phần còn lại ở dạng công khai Áp dụng môhình phân tích diễn ngôn của Sinclair và Coulthard, luận án xác định năm
bậc của diễn ngôn pháp đình bao gồm: 1) Bậc 1: Cuộc thoại xét xử: phiên tòa; 2) Bậc 2: Phiên giao dịch xung quanh một vấn đề cụ thể trong cuộc thoại xét xử có nhiều vấn đề; 3) Bậc 3: Cặp trao đáp nằm trong phiên giao dịch được hình thành từ hai vận động trao lời và đáp lời; 4) Bậc 4: Bước
thoại nằm trong một cặp trao đáp; 5) Bậc 5: Hành động ngôn từ - đơn vị cơ
bản cấu tạo nên bước thoại Cấu trúc tương tác pháp đình nằm trong cái
Trang 11khung trình tự tố tụng hình sự theo luật định, không phát triển ngẫu hứngtheo trạng thái nhận thức tâm lí nhất thời của mỗi cá nhân Quan hệ quyềnlực trong giao tiếp pháp đình chỉ được thừa nhận khi từng phần, từng bướccủa cuộc tương tác đảm bảo đúng đắn về mặt pháp lí.
2.1.2 Quyền lực và phân phối lượt lời trong tương tác pháp đình
HĐXX (trung tâm là chủ tọa) có quyền lực tối cao, sở hữu số lượng3105/ tổng số 6572 lượt lời (chiếm tỉ lệ 47.1 %); chủ động nắm quyền tạolập phát ngôn; có đặc quyền chỉ định quyền/ nghĩa vụ nói cho bất cứ đối tácgiao tiếp nào, thường xuyên sử dụng thủ pháp ngắt lời, gối lời Quyền lựcthể chế mà chủ tọa sở hữu là cơ sở để NVGT này phân phối lượt lời hợp lí,giữ gìn tương tác quy thức hài hòa Đại diện VKS và luật sư không sở hữunhiều lượt lời, nhưng lượt lời thường dài, trình bày nhiều nội dung phức tạp
2.1.3 Quyền lực và điều khiển chủđềhội thoại trong tương tác pháp đình
Quyền lực “toàn năng” của HĐXX biểu hiện ở khả năng kiểm soáttoàn bộ hệ thống chủ đề trong toàn bộ tiến trình xử án: từ chủ đề chung đếnchủ đề bộ phận Chủ tọa là NVGT duy nhất nắm quyền khởi phát, duy trì,triển khai và chuyển đổi chủ đề hội thoại cho tất cả các giai đoạn xét xử.Đại diện VKS và luật sư ở vị thế quyền lực thấp hơn HĐXX một bậc, không
có quyền nêu ra chủ đề chung cho từng giai đoạn xét xử mà chỉ tham gia điềukhiển chủ đề bộ phận khi được HĐXX chuyển giao quyền Ngữ liệu cho thấyvai trò điều khiển chủ đề bộ phận của đại diện VKS, luật sư chưa thực sự rõrệt: tỉ lệ tham gia đặt phát ngôn hỏi về những nội dung, chi tiết cụ thể của vụ
án ở dưới mức 10% tổng số phát ngôn hỏi được khảo sát Như vậy, tronggiao tiếp pháp đình tiếng Việt, tòa án (HĐXX) có quyền lực lớn, hầu nhưnắm giữ toàn bộ trách nhiệm thẩm vấn, chứng minh và kiểm tra chứng cứ.2.2 CẤU TRÚC CẶP TRAO ĐÁP VÀ QUYỀN LỰCTRONG TƯƠNG TÁC PHÁP ĐÌNH
2.2.1 Cấu trúc các cặp trao đáp
Cấu trúc điển hình của đơn vị cặp trao đáp (exchange) theo Sinclair
và Coulthard gồm ba bước thoại I (khởi phát) - R (hồi đáp) - F (phản hồi).
Ví dụ:
Chủ tọa: Quen nhau từ bao giờ? (I)
Trang 12Bị cáo: Bị cáo quen khoảng hơn 2 năm (R)
Chủ tọa: Hơn 2 năm Tức là từ năm 2010 (F)
Luận án sử dụng thuật ngữ cặp trao đáp bởi lẽ đơn vị tương tác này
được hình thành từ hai vận động chính là trao lời và đáp lời
Khảo sát 2600 cấu trúc cặp trao đáp trong 6572 lượt phát ngôn, kết quảcho thấy có sáu dạng cấu trúc cặp trao đáp trong giao tiếp pháp đình bao gồm:
116 cấu trúc I (4.5%); 1579 cấu trúc I - R (60.7%); 322 cấu trúc I - R - F2 (12.4%); 152 cấu trúc I - R - F1- F2 - F3- F4 (5.8%); 125 cấu trúc I - R
F1 Ir- Rr(4.8%) và 306 cấu trúc I - R - F (11.8%) (Kí hiệu bước thoại: Khởi
phát - I; Hồi đáp - R; Phản hồi - F; Phản hồi và khởi phát phụ thuộc - F1, F2, F3, F4 ; Khởi phát lặp - I r ; Hồi đáp lặp - R r ) Như vậy, quá trình
tương tác pháp đình được điều phối nhịp nhàng với sự tích cực tham gia
của cả bên phát và bên nhận dựa trên trục “khởi phát (I) - hồi đáp (R)"
đóng vai trò xương sống Các dạng cấu trúc cặp trao đáp khác trong tươngtác pháp đình có xu hướng phức hóa biểu hiện ở tỉ lệ 23 % đối với cặp traođáp hai bước thoại mở rộng (I - R - F1 - F2; I - R - F1 - F2 - F3 - F4 ; I - R
- Ir- Rr) và tỉ lệ 11.8% đối với cấu trúc ba bước thoại Xu hướng này phầnnào phản ánh thái độ thận trọng của những người tiến hành tố tụng trongviệc đấu tranh với đối tác giao tiếp để khai thác và xác nhận thông tin,chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đi đến phán quyết cuối cùng
2.2.2 Biểu hiện của quyền lực trong các dạng cấu trúc cặp trao đáp
Tính chất bất bình đẳng được duy trì ổn định như một “mẫu số chung” trong cả quá trình giao tiếp, song tùy từng dạng cấu trúc cặp trao
đáp cụ thể mà yếu tố quyền lực có thể được duy trì ổn định hoặc được mởrộng ở những khía cạnh phức tạp hơn, tinh tế hơn Về cơ bản, có thể quysáu dạng cấu trúc cặp trao đáp đã nói ở trên thành ba nhóm trong quan hệvới những đặc điểm khác nhau của tham biến quyền lực:
1) Nhóm 1 gồm các dạng cấu trúc cặp trao đáp I; I - R gắn với tính chất quyền lực một chiều, trực tiếp, công khai
Cấu trúc gồm một bước thoại I chủ yếu do chủ tọa khởi phát, thực
hiện chức năng thông tin như công bố chủ đề xét xử, tuyên bố mở đầu hay
Trang 13kết thúc mỗi giai đoạn xét xử, công bố các văn bản quy phạm pháp luật liênquan Cấu trúc này cho thấy quyền lực tối cao của chủ tọa trong điều hànhxét xử và giữ gìn trật tự tại phiên tòa; đồng thời minh bạch trình tự, thủ tục
tố tụng theo quy định của pháp luật
Chuỗi cấu trúc hai bước thoại I - R mang tính chất cơ giới trong
phần thủ tục mở đầu phiên tòa có tác dụng giúp những người tham gia tốtụng hình thành khái niệm tối thiểu về tính tôn nghiêm và nghi thức của tòa
án, về quyền và trách nhiệm mỗi cá nhân, tạo tâm thế sẵn sàng hợp tác.Trong suốt quá trình xét xử, mỗi bước thoại khởi phát I lại gắn với một yêucầu buộc phải có bước thoại hồi đáp R; mật độ bước thoại I càng dày thì áplực đòi hỏi bước thoại hồi đáp R càng tăng Quan hệ quyền lực bất bình đẳnggiữa các NVGT được công khai hóa, không cần che chắn
2) Nhóm 2 gồm các dạng cấu trúc I R F1 F2; I R F1 F2 F3 - F4 và I - R - I r - R r là những điểm nhấn áp lực tâm lí đối với NVGT
-vị thế thấp, buộc NVGT này phải nói ra sự thật rõ ràng, minh bạch
Cấu trúc bốn bước I - R - F1 - F2 gắn với thời điểm HĐXX, đại
diện VKS, luật sư khai thác những nút thắt thông tin quan trọng của vụ án:1) vừa yêu cầu đối tác giao tiếp xác nhận một lần nữa thông tin đã biết,nhấn mạnh sắc thái quyền uy trong phong cách lời nói; 2) vừa đặt đối tácdưới áp lực phải cung cấp thêm thông tin mới cụ thể, chi tiết, rõ ràng hơn
Cấu trúc chuỗi liên hoàn I - R - F1 - F2 - F3 - F4 biểu hiện khả
năng kiểm soát cuộc thoại, dẫn dắt chủ đề thoại cả ở chiều rộng lẫn chiềusâu trong tương tác của NVGT quyền lực cao Các bước thoại khởi phát mởrộng F1 - F3 của NVGT quyền lực cao có cấu trúc gồm hai phần: Phầnnhắc lại thông tin “cũ” mà NVGT quyền lực thấp vừa cung cấp nhằm nhắcnhở đối tác tập trung vào chủ đề thoại, không được phép sao nhãng, tìmđường lùi hay trốn tránh; phần còn lại tiếp tục yêu cầu đối tác bổ sung tinmới Những tình tiết được khai thác từ nhiều khía cạnh, cho đến khi NVGTquyền lực cao đủ thông tin thì chuỗi I - R - F1- F2 - F3 - F4 mới kết thúc
Dạng cấu trúc lặp I- R- I r- R r gắn với mục đích của những ngườitham gia tố tụng: buộc bị cáo ý thức sâu sắc về hành vi phạm tội; khắc sâu