Các chỉ số về thành phần hoá học là nhân tố quyết định chất lượng của đại mạch đểxem xét loại đại mạch đó có đủ tiêu chuẩn để sản xuất malt và bia hay không... Mặt trái của hai hợp chất
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, Việt nam đang dần vươn lên và tựkhẳng định mình Với quan điểm ăn no, mặc ấm như ngày xưa không còn nữa mà thayvào đó là không những ăn ngon mà còn mặc đẹp Để đáp ứng nhu cầu của người tiêudùng các ngành công nghiệp nói chung và công nghệ thực phẩm nói riêng đã khôngngừng hoàn thiện và cho ra đời những sản phẩm rất phong phú và đa dạng về chủng loại,trong đó có bia - đây là đồ uống được ưa chuộng hầu hết các nước trên thế giới, mànguyên liệu chính để sản xuất bia là malt
Malt là một loại bán thành phẩm nhưng rất giàu chất dinh dưỡng Hiện nay, maltchủ yếu được sử dụng trong các lĩnh vực: trong công nghiệp sản xuất rượu etylic từnguyên liệu tinh bột, malt là tác nhân đường hóa tinh bột; trong công nghiệp sản xuất bia,malt vừa là tác nhân đường hóa tinh bột vừa là nguyên liệu chính; công nghiệp sản xuấtmật tinh bột (đường nha, mạch nha) và một số ngành sản xuất thức ăn sinh dưỡng, thức
ăn kiêng Trong đó, malt dùng để sản xuất bia là nhiều nhất Có nhiều loại malt khácnhau: malt vàng, malt đen, malt diastilin, malt proteolin và những loại này được dùng đểsản xuất các sản phẩm khác nhau
Malt diastilin là loại malt có đặc điểm nổi bật là sử dụng trong trường hợp maltnguyên liệu không được đồ hóa tốt, độ nhuyễn không cao hoặc trong trường hợp dùngnguyên liệu thay thế chưa qua giai đoạn ươm mầm Đây là một loại malt chất lượng cao,ngày càng được sử dụng phổ biến trong nước và trên thế giới
Để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở nước ta hàng loạt các nhà máy bia đượcmọc lên, nhưng nhà máy sản xuất malt lại rất ít, vì vậy nguyên liệu phải nhập từ nướcngoài nên kéo theo giá thành sản phẩm cũng tăng cao Trước tình hình đó, việc thiết kế
và xây dựng nhà máy sản xuất malt là rất cần thiết, do đó em đã được giao đề tài:
“ Thiết kế nhà máy sản xuất malt diastilin với năng suất 15.000 tấn sản phẩm/
năm” Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của
cô giáo hướng dẫn – TS Bùi Xuân Đông và thầy cô giáo khác cùng bạn bè Em xin chânthành cảm ơn những sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 2Có hai loại đại mạch, đại mạch hai hàng và đại
mạch đa hàng Trong công nghiệp sản xuất bia dùng
chủ yếu là đại mạch hai hàng, dấu hiệu đặc trưng của chúng là hình dáng của hạt rất cânđối
Đối với loại malt diastilin thì được sản xuất từ hạt đại mạch loại 2 có hàm lượngprotein cao, loại malt này có chứa hoạt lực cao nhóm enzym diastaza và loại malt nàyđược sử dụng bổ sung trong trường hợp malt nguyên liệu không được đồ hóa tốt, độnhuyễn không cao, hoặc trong giai đoạn nguyên liệu thay thế chưa qua giai đoạn ươmmầm [1, tr 206]
1.1.1 Cấu tạo của hạt đại mạch
Cấu tạo của hạt đại mạch gồm ba bộ phận chính: vỏ, nội nhũ và phôi
Hình 1.2 Cấu tạo của hạt đại mạch
Hình 1.1 Cây đại mạch
Trang 31.1.1.1 Vỏ
Hầu hết hạt các loại đại mạch được bao bọc bên ngoài bằng lớp vỏ trấu Vỏ trấu đượchình thành từ đài hoa Đài hoa dưới hình thành nên vỏ trấu phía ngoài và kết thúc bằngsợi râu, còn đài hoa phía trên hình thành nên vỏ trấu phía trong của hạt Đài hoa là công
cụ bên để bảo vệ các cơ quan trong của hạt trong quá trình hình thành và chuyển hoá củanó
Thành phần hoá học của vỏ trấu chủ yếu là xelluloza kết chặt lại nhờ chất khoáng vàlignin
Dưới lớp vỏ trấu là lớp vỏ quả, được cấu tạo từ ba lớp tế bào - cứ một lớp xếp ngangthì tiếp đến là một lớp xếp dọc Với cấu trúc như vậy lớp vỏ quả sẽ rất dai và bền vững.Dưới lớp vỏ quả là lớp vỏ hạt bao gồm hai lớp tế bào Tế bào của lớp ngoài có thành rấtdày, lớp trong thì trong suốt Lớp vỏ hạt có vai trò như một màng bán thấm: chỉ cho nướcthấm vào bên trong hạt đồng thời giữ các chất hoà tan trong hạt không cho thấm ra bênngoài
Lớp vỏ quả và vỏ hạt liên kết chặt với nhau, mối liên kết đó chắc hơn rất nhiều do sựliên kết giữa chúng với lớp vỏ trấu Vỏ trấu là cấu tử chiếm nhiều nhất trọng lượng của
vỏ Ở đại mạch hai hàng có chất lượng cao, lượng vỏ trấu chiếm khoảng 7-8% trọnglượng chất khô của hạt, còn ở đại mạch đa hàng chiếm đến 11% Trọng lượng của vỏchiếm từ 10,5 - 13% trọng lượng của hạt Kích thước hạt càng bé, tỉ lệ vỏ càng cao so vớitrọng lượng của khối hạt [1, tr 9]
1.1.1.2 Nội nhũ
Nội nhũ là phần lớn nhất đồng thời là phần giá trị nhất của hạt Ngoài cùng của nộinhũ, tiếp giáp với vỏ hạt là lớp alơron Lớp alơron rất giàu protein, chất béo, đường,xelluloza, pentoza, vitamin và chất tro Vì lớp alơron của đại mạch đa hàng dày hơn đạimạch hai hàng cho nên hàm lượng protein của chúng nhiều hơn
Dưới lớp alơron mới đến phần nội nhũ thật của hạt Cấu trúc của nội nhũ gồm các tếbào lớn có thành mỏng chứa đầy các hạt tinh bột, một ít protein, xelluloza, chất béo, chấttro và đường [1, tr 10]
Trang 4Với loại malt diastilin tươi yêu cầu là toàn bộ nội nhũ phải ở trạng thái trắng đục [1,
tr 206]
1.1.1.3 Phôi
Phôi là phần sống của hạt Trọng lượng của phôi chỉ chiếm khoảng 2,2 ÷ 5% so vớitrọng lượng của hạt Vai trò của phôi có tầm quan trọng đặc biệt không những đối với sựsống lưu truyền của cây mà ngay cả trong công nghệ sản xuất bia
Phôi nằm ở dưới, gần đế của hạt bao gồm phôi lá, phôi rễ và nằm giữa chúng là phôithân.Tiếp giáp giữa phôi và nội nhũ là ngù Ngù là một màng bán thấm: nó chỉ cho phépcác chất hoà tan từ nội nhũ thấm qua để chuyển về phôi và nước từ phía phôi đi vào nộinhũ
Phôi chiếm tỉ lệ không đáng kể so với trọng lượng của hạt Mặt khác trong quá trìnhchế biến, các thành phần trong phôi hoà tan rất ít vào dịch đường Như vậy đối với côngnghệ sản xuất bia, giá trị dinh dưỡng của phôi hầu như không đáng kể, mà vai trò to lớncủa nó là ở chỗ: đây là trạm hoạt hoá và là nhà máy sản xuất enzim, mà nếu thiếu nó thì
cơ sở lí thuyết của quá trình sản xuất malt coi như sụp đổ [1, tr 11]
1.1.2 Thành hoá học của đại mạch
Thành phần hoá học của đại mạch rất phức tạp Nó phụ thuộc vào giống đại mạch,điều kiện đất đai, khí hậu, kĩ thuật canh tác và điều kiện bảo quản
Các chỉ số về thành phần hoá học là nhân tố quyết định chất lượng của đại mạch đểxem xét loại đại mạch đó có đủ tiêu chuẩn để sản xuất malt và bia hay không [1, tr 11]
Trang 5Đại mạch có thuỷ phần cao sẽ làm tăng chi phí vận tải một cách vô ích Người ta đãxác định được rằng, hàm ẩm của đại mạch tăng 1% thì hiệu suất chiết thu hồi giảm0,76% Hàm ẩm tối đa cho phép khi đưa đại mạch vào bảo quản là 14% [1, tr 12]
1.1.2.2 Gluxit
Gluxit của hạt chia làm bốn nhóm: monosaccharid, disaccharid, trisaccharid vàpolysaccharid
- Monosaccharid bao gồm : glucoza, fructoza (C6H12O6) và xiloza (C5H10O5)
- Disaccharid chủ yếu là saccharoza và maltoza (C12H22O11)
- Trisaccharid chủ yếu là rafinoza
- Polysaccharid là hợp phần chiếm nhiều nhất trong thành phần gluxit của hạt đạimạch
Chúng bao gồm tinh bột, xelluloza, hemixelluloza, pentozan, amilan và các hợp chấtdạng keo Ba cấu tử đầu tiên có ý nghĩa quan trọng nhất trong công nghệ sản xuất bia
a) Tinh bột:
Hơn một nửa khối lượng chất khô của đại mạch là tinh bột Trong công nghệ sản xuấtmalt, tinh bột có chức năng là nguồn thức ăn dự trữ cho phôi và là nguồn cung cấp chấthòa tan cho dịch đường trước lúc lên men
Khi tiếp xúc với nước tinh bột sẽ hút nước và trương nở Ở nhiệt độ cao, nếu lượngnước không tương ứng thì thể tích trương nở chúng sẽ tăng lên rất nhiều và độ nhớt tănglên mạnh Nhiệt độ mà tại đó hệ số trương nở và độ nhớt của tinh bột đạt giá trị lớn nhấtgọi là điểm hồ hóa Tính chất hồ hóa của tinh bột có ý nghĩa rất lớn trong công nghệ sảnxuất bia : tinh bột đã được hồ hóa sẽ cho đường hóa nhanh hơn và triệt để hơn [1, tr 14]
Trang 6d) Saccharit thấp phân tử:
Saccharit thấp phân tử hay saccharit đơn giản trong đại mạch chủ yếu là một sốđường đơn và đường kép Cấu tử chiếm nhiều nhất trong nhóm này là saccharoza, đạt tới1,8% chất khô của hạt Loại đường này được phân bố rất nhiều ở phôi, chiếm đến 5,5%trọng lượng của bộ phận này
e) Các hợp chất pectin dạng keo:
Nói là dạng keo vì khi chúng hòa tan vào nước nóng thì tạo thành dung dịch có độnhớt rất cao Các hợp chất pectin phân bố ở thành tế bào để tạo ra màng trung gian.Trong các hợp chất pectin chiếm nhiều nhất về khối lượng phải kể đến protopectin
Sự tồn tại của các hợp chất pectin và các chất dạng keo trong dịch đường mang tínhchất hai mặt Mặt tiêu cực là làm cho dịch đường có độ nhớt cao, khó lọc còn mặt tíchcực là làm cho bia có vị đậm đà và làm tăng khả năng tạo và giữ bọt của sản phẩm
[1, tr 16]
1.1.2.3 Các hợp chất chứa nitơ
Hàm lượng các hợp chất chứa nitơ trong đại mạch khoảng 9 11% so với lượng chấtkhô của hạt Tuy chiếm tỷ lệ thấp nhưng vai trò của chúng đối với công nghệ sản xuất biathì lại rất quan trọng vì ở chừng mực nào đó, chúng quyết định chất lượng của sản phẩmcuối cùng
Phần lớn các hợp chất này tồn tại dưới dạng cao phân tử, chúng được gọi là protit,còn một phần rất nhỏ tồn tại dưới dạng thấp phân tử, dể hoà tan, có các tính chất khác vớinhóm cao phân tử [1, tr 16]
Trang 7a) Protit
Là chỉ số quan trọng thứ hai (sau tinh bột) để đánh giá xem lô hạt có đủ tiêu chuẩn đểsản xuất malt hay không Nếu hàm lượng cao quá, bia dễ bị đục, rất khó bảo quản.Ngược lại nếu quá thấp, quá trình lên men sẽ không triệt để, bia kém bọt vị kém đậm đà
và kéo theo nhiều chỉ số non yếu khác Hàm lượng protit tốt nhất cho mục đích sản xuấtbia là 810%
Khu vực phân bố của protit ở trong hạt là lớp vỏ alơron và phôi, một phần nhỏ ở lớp
tế bào bao quanh nội nhũ
Sự thuỷ phân là một trong những quá trình quan trọng nhất trong công nghệ sản xuấtmalt và bia Đặc biệt quan trọng là sản phẩm tạo thành do quá trình tương tác giữa cácsản phẩm thuỷ phân của các hợp phần trong nội nhũ như phản ứng melanoid
Khả năng tạo bọt và giữ bọt của bia cũng như độ bền keo của chúng phụ thuộc vàomức độ thuỷ phân của protit Không những thế, các thông số này còn phụ thuộc vào tỉ lệgiữa các cấu tử sản phẩm tạo thành trong quá trình thuỷ phân
Theo cách phân loại cổ điển, protit trong đại mạch được chia thành hai nhóm: protitđơn giản hay còn gọi là protein và protit phức tạp hay còn gọi là proteid
Trong nhóm protein, các đại diện tiêu biểu là levkozin, edestin, hodein và glutein.Trong suốt quá trình sản xuất malt và bia thì levkozin, edestin và một phần nhỏ củahodein hoà tan vào dịch đường và tồn tại trong bia, còn những cấu tử khác thì bị kết lắng
và bị thải ra ngoài theo bã malt và cặn lắng
Proteid là những hợp chất được tạo thành từ một phân tử có bản chất protein và mộtphân tử khác có bản chất là phi protein Đại diện tiêu biểu của nhóm này lànucleoproteid, lipoproteid, glucoproteid và phosphoproteid
Đặc điểm chung của proteid là kém hoà tan hoặc hoà tan không bền vững Trongcông nghệ sản xuất bia proteid gây ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm vì thế ta phảiloại bỏ tối đa cấu tử này ra khỏi dịch đường [1, tr 17]
b) Các hợp chất chứa nitơ phi protit
Các đại diện tiêu biểu của nhóm hợp chất này là: albumoza, pepton, peptit, polypeptit
và axit amin Albumoza và pepton có vai trò rất lớn trong việc tạo và giữ bọt, đồng thời
Trang 8làm tăng thêm độ đậm đà của bia Mặt trái của hai hợp chất hữu cơ này là ở hàm lượngcao, chúng sẽ làm giảm độ bền keo của bia vì chúng là tác nhân gây đục bia.Peptit là hỗnhợp nhiều hợp chất mà phân tử của chúng cũng được tạo thành từ các gốc axit aminnhưng số lượng ít hơn rất nhiều so với albumoza và pepton.
Căn cứ vào số gốc axit amin hợp thành, chúng được chia ra dipeptid, tripeptid,polypeptid chúng dễ hoà tan vào dịch đường để tạo thành dung dịch bền vững và tồn tạitrong bia như là một trong những thành phần dinh dưỡng
Axit amin tự do tồn tại trong đại mạch với một lượng không nhiều: chỉ chiếmkhoảng 0,1% so với lượng chất khô của hạt Tuy chiếm một tỉ lệ rất nhỏ nhưng vai tròcủa axit amin trong công nghệ sản xuất bia rất lớn: là nguồn cung cấp nitơ cho nấmmen, là tác nhân chính tạo melanoid, tham gia tạo bọt và tồn tại trong bia như một hợpphần dinh dưỡng quan trọng [1, tr 18]
1.1.2.4 Các hợp chất không chứa nitơ
Trong nhóm này bao gồm các hợp chất hữu cơ và vô cơ không chứa nitơ và khi đượcchiết ly bằng nước thì chúng hòa tan thành dung dịch Các đại diện tiêu biểu trong nhómnày là: polyphenol, chất đắng, fitin, axit hữu cơ, vitamin và chất khoáng
a) Polyphenol và chất đắng
Polyphenol trong hạt đại mạch tập trung chủ yếu ở lớp vỏ Phần lớn những hợp chấthoà tan được và tồn tại trong bia đều là những dẫn xuất của catechin, chúng thuộc nhómflavonid Những hợp chất này có tính chất rất có lợi cho công nghệ sản xuất bia là dễdàng kết hợp với protit cao phân tử để tạo thành phức chất dễ kết lắng, làm tăng độ bềnkeo của sản phẩm Mặt khác sự hoà tan của polyphenol vào dịch đường lại là nhân tố làmxấu đi hương và vị của bia
Chất chát và chất đắng có trong đại mạch thuộc nhóm lipoid, chúng gây ra vị đắngkhó chịu cho bia
Hầu hết chất đắng, chất chát và các chất màu của hạt đựơc phân bố chủ yếu ở lớp vỏ
Để loại trừ chúng ta ngâm hạt trong môi trường kiềm nhẹ [1, tr 19]
b) Fitin
Trang 9Fitin là muối đồng thời của canxi và magie với axit inozitphosphoric
C6H6O6 (H2PO3)6 Chúng tập trung ở vỏ và chiếm đến 0,9% chất khô của vỏ Khi bị thuỷphân sẽ tạo thành inozit C6H6(OH)6 và axit phosphoric Hợp chất cuối cùng này lànguồn cung cấp phospho cho nấm men, đồng thời làm tăng độ chua tác dụng của dịchcháo ở giai đoạn đường hoá – một phương pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu suất thủyphân [1,tr 19]
c) Vitamin
Đại mạch chứa các loại vitamin B1, B2, B6, C, PP2; tiền vitamin A, E, axitpantotenic, biotin, axit pholievic và nhiều dẫn xuất vitamin khác Tuy hàm lượng rất ítnhưng hệ vitamin trong đại mạch đóng vai trò rất quan trọng trong công nghệ sản xuấtmalt vì chúng là nhân tố điều hoà sinh trưởng của mầm [1, tr 19]
d) Chất khoáng
Trong đại mạch bao gồm các chất khoáng sau: SiO2, MgO, CaO, Na2O, ,
Fe2O3, P2O5, K2O, Cl Các chất khoáng của đại mạch đóng vai trò rất quan trọng trongquá trình sản xuất malt và bia Đặc biệt có ý nghĩa là nguyên tố phospho vì nó đóng vaitrò chủ yếu trong việc hình thành hệ thống đệm của dịch đường [1, tr 19]
Chất béo và lipid tồn tại trong bia sẽ làm giảm độ bền keo của sản phẩm [1, tr 20]
Trang 10Trong hạt đại mạch chứa một lượng enzim rất phong phú, chúng đựơc xếp vào cácnhóm khác nhau Theo khóa phân loại trong hóa sinh học, chúng được phân thành hainhóm chính: hidrolaza và decmolaza.
a) Hydrolaza (nhóm enzim thuỷ phân)
Phụ thuộc vào cơ chất bị thuỷ phân, các enzim xúc tác được chia thành các phânnhóm: cacbohydraza, proteaza và esteraza
Cacbohydraza
Nhóm enzim này thuỷ phân gluxit cao phân tử thành các sản phẩm thấp phân tửhơn Trong nhóm này có hai phân nhóm nhỏ: polyaza và hexozidaza Hexozidaza lànhững enzim tham gia xúc tác thủy phân disaccharid, trisaccharid và một số glucozidkhác, polyaza là những enzim thuỷ phân gluxit cao phân tử chúng bao gồm diastaza,amylaza và sitaza
- Diastaza
Ditastaza phân cắt tinh bột thành các sản phẩm dạng đường và dextrin Đây lànhóm enzim quan trọng nhất trong công nghệ sản xuất bia Diastaza bao gồm hai enzim:
-amylaza và -amylaza
+ Enzim -amylaza phân cắt tinh bột thành glucoza và dextrin Nhờ quá trình
phân cắt này, độ nhớt của dịch cháo nhanh chóng giảm xuống Trong kỹ thuật sản xuất
Trang 11bia, quá trình này được gọi là quá trình dịch hóa Trong đại mạch khô, không chứa amylaza hoạt tính Chúng chỉ được hoạt hoá ở giai đoạn ngâm và ươm mầm, là enzimchịu nhiệt nhưng -amylaza lại kém chịu chua, nhiệt độ tối ưu của nó là 70°C còn pH=5,7.
-+ Enzim -amylaza tác động trực tiếp lên mạch amyloza, mạch nhánh và hai đầu
mạch chính của amylopectin Sản phẩm của quá trình phân cắt này là đường maltoza vàdextrin Nhiệt độ tối ưu của nó là 630C, còn pH = 4,7
- Sitaza
Sitaza bao gồm hai enzim sitoclactaza và sitolitaza Sitoclastaza thuỷ phânhemixelluloza thành các sản phẩm trung gian còn sitolitaza thuỷ phân các sản phẩmtrung gian thành các sản phẩm cuối cùng là pentoza và hexoza Nhờ quá trình phân cắtnày mà thành tế bào bị phá huỷ, tạo điều kiện thuận lợi cho các enzim khác xâm nhậpvào và nâng cao hoạt lực Cũng do thành tế bào bị vỡ mà đến lúc sấy các hạt trở nênxốp Trong kỹ thuật sản xuất malt, hiện tượng này ảnh hưởng trực tiếp đến mức độnhuyễn của bán thành phẩm
- Proteinaza
Nhóm enzim này thuỷ phân protein thành albumoza và pepton Sau đó chúng tiếptục bị phân cắt thành peptid và polypeptid Proteinaza được phân bố chủ yếu ở lớpalơron và phôi Trong đại mạch chín chúng nằm ở trạng thái liên kết Ở giai đoạn ngâmhạt và ươm mầm hoạt lực của chúng tăng 35 lần Độ chua thích hợp cho các nhómenzim này hoạt động là ở pH= 4,6 5,0 còn nhiệt độ là 500C Trong điều kiện sản xuấtlượng albumoza và pepton được tạo ra nhiều nhất ở nhiệt độ 580C
Trang 12- Lipaza
Chúng phá vỡ liên kết este giữa rượu đơn hoặc đa chức với các axit béo bậc cao.Enzim này được phân bố chủ yếu ở phôi và lớp alơron Trong giai đoạn ươm mầm, hoạtlực của chúng tăng rất nhanh nhưng đến giai đoạn sấy malt thì chúng bị phá huỷ Nhiệt
độ tối ưu cho hoạt động của của lipaza là 350C, còn pH là 5
Trang 13c) Decmolaza (enzim oxy hoá-khử)
Nhóm enzim decmolaza xúc tác phản ứng oxi hoá khử của quá trình hô hấp và phângiải yếm khí gluxit (thực chất là quá trình lên men rượu), nghĩa là chúng tham gia quátrình trao đổi chất của tế bào Nhóm enzim này đóng vai trò quyết định trong việc hoạthoá và phát triển của phôi ở giai đoạn ươm mầm
Một số enzim trong nhóm decmolaza còn tham gia vào phản ứng oxy hóa – khử cáchợp chất polyphenol, protein và các hợp chất khác Và bằng cách đó chúng đã gây ảnhhưởng gián tiếp đến các chỉ số chất lượng của dịch đường và bia thành phẩm Đại diệntiêu biểu trong nhóm enzim này là dehydraza, oxydaza và catalaza [1, tr 23]
1.2 Các chất hỗ trợ kỹ thuật
1.2.1 Nước
Trong công nghệ sản xuất malt, nước được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:nước dùng để rửa, ngâm đại mạch mạch, vệ sinh phân xưởng v.v nên lượng nước dùngtrong nhà máy rất nhiều
Những yêu cầu cơ bản của nước dùng trong sản xuất malt:
+ Nước phải trong suốt không mùi, không có vị lạ và không chứa sinh vật gâybệnh Độ cứng của nước tốt nhất là 7 mg đương lượng /lít
+ Độ pH = 6,7 7,3
+ Độ oxy không khí >12mg/lít
+ Chuẩn độ coli 300 ml.
+ Chỉ số coli 3
Ngoài ra các ion kim loại nặng cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất malt vì
nó gây cản trở sự hút nước của hạt trong giai đoạn ngâm Yêu cầu: Fe2+< 0,3 mg/l;
Mn2+<0,05mg/l; Pb+ <0,1mg/l; Cu2+ < 3 mg/l; Na+<35 mg/l Đặc biệt là nguyên tố sắt cóảnh hưởng lớn nhất, ở giai đoạn ngâm trên vỏ hạt bị kết một lớp màng Fe(OH)3 Lớp này
sẽ cản trở tốc độ hút nước của hạt và làm cho hạt có màu nâu [1, tr 45]
1.2.2 Hoá chất
Trang 141.2.2.1 Axit gibberellin hay gibberelat natri
Chất điều hòa sinh trưởng axit gibberellin có chức năng là một loại hormol kích thíchsinh trưởng ở thực vật, là hợp chất có hoạt tính sinh học cao Lợi dụng đặc điểm này,người ta đã đưa gibberellin vào công nghệ sản xuất malt để kích thích hệ enzyme sangtrạng thái hoạt động nhằm chuyển các chất dự trữ thành các chất hòa tan cho mầm sửdụng Hoạt lực của amylaza và proteaza của malt sẽ cao hơn hẳnso với các phương phápkhông sử dụng gibberellin Qua trình thủy phân tinh bột và protein trong nội nhũ xảy ranhanh hơn, triệt để hơn Phôi phát triển nhanh nên thời gian ươm mầm được rút ngắn,malt sản xuất theo công nghệ này có thời gian đường hóa ngắn hơn và hiệu suất đườnghóa cũng cao hơn Nói tóm lại, gibberellin tác động nhiều mặt đến quá trình ươm mầm
và chất lượng sản phẩm [1, tr 169]
Để tăng lượng enzim của malt, hạt được xử lí bằng dung dịch giberelic 16 giờ trướclúc cho vào nảy mầm theo tỉ lệ axit gibbereic hay giberelat natri: 10 mg/1kg đại mạch.[1, tr 170]
1.2.2.2 Chất sát trùng Formalin
Để sát trùng hạt người ta cũng có thể dùng nhiều chất khác nhau như formalin,
H2O2, KMnO4, Ca(OH)2 Nhà máy sử dụng formalin để làm sạch hạt, lượng formalin sửdụng là: Cứ 1 tấn đại mạch cần 1 1,5 kg
1.3 Các quá trình sinh hóa cơ bản trong quá trình sản xuất
Xảy ra chủ yếu ở giai đoạn ngâm, ươm và sấy Dưới đây là một số quá trình cơ bản:
1.3.1 Giai đoạn ngâm
Giải phóng enzyme ra khỏi trạng thái liên kết thành trạng thái tự do, bắt đầu dấuhiệu phát triển cây con ở phôi
Sự thẩm thấu và khuếch tán của nước vào hạt, thẩm thấu một số ion và muối hòatan vào trong hạt; hòa tan một số chất polyphenol, chất chát, chất màu ở vỏ vào môitrường, [1, tr 81]
Sự hô hấp của hạt, có 2 kiểu hô hấp: hiếu khí và kỵ khí
Hiếu khí: C6H12O6 ⃗EZ (Oxi ) CO2 + H2O + Q
Trang 15Yếm khí: C6H12O6 → 2C2H5OH + CO2 + Q
Hệ enzyme oxy hóa khử sẽ phân cắt các hợp chất cao phân tử như gluxit, proteinthành các hợp chất thấp phân tử:
Tinh bột ⃗α , β amylaza đường glucose, maltoza, dextrin
Hemixenlluloza ⃗sistaza phá vỡ thành tế bào [2, tr 86]
1.3.2 Giai đoạn ươm
Tiếp tục quá trình hô hấp ở ngoài tế bào như ở giai đoạn ngâm,
Xảy ra quá trình oxi hóa cục bộ (monosacairde) tạo axit oxalic, axit xitric:
C6H12O6 + 9 O2 → 6 (COOH)2 + 6 H2O
Axit oxalic
Hoạt hóa các enzyme:
Hemixelluloza⃗sistaza pentoza, hexoza [2, tr 111]
Protein ⃗proteaza axit amin [2, tr 119]
Hệ enzyme amylaza thủy phân tinh bột thành đường đơn giản như: glucoza, maltoza
và dextrin.[1, tr 116]
Enzyme esteraza phân cắt các muối liên kết ester của các hợp chất hữu cơ, đây lànhân tố quyết định độ chua định phân của malt.[1, tr 125]
1.3.3 Giai đoạn sấy
Sấy malt tươi xảy ra nhiều sự biến đổi như: quá trình tách nước, các quá trìnhenzyme, một số quá trình khác là nguyên nhân của sự tạo thành các chất hương, vị vàtăng cường độ màu của sản phẩm.[1, tr 177]
Phụ thuộc vào bản chất của quá trình chuyển hóa trong từng thời điểm, quá trình sấymalt tươi có thể chia làm ba pha chính sau:
Pha sinh lý: thời kỳ này kéo dài từ lúc bắt đầu sấy cho đến khi nhiệt độ đạt 45oC vàhàm ẩm đạt 30%, đặc điểm của giai đoạn này là rễ và lá mầm vẫn phát triển Vì độ ẩm vànhiệt độ thích hợp nên quá trình này diễn ra với cường độ khá mạnh
Trang 16Pha enzyme: giai đoạn này nằm trong khoảng 45 - 70oC và hàm ẩm còn 10% Hoạtđộng sống của hạt bị ức chế rất mạnh, sự phát triển của rễ và lá mầm bị ngừng lại, nhưnghoạt động của hệ enzyme thủy phân vẫn tiếp tục diễn ra Kết quả trong hạt tích lũy thêmmột lượng chất chiết hòa tan Ở pha này, nếu tốc độ tách ẩm càng nhanh thì tốc độ cácquá trình sinh hóa và quá trình enzyme càng chậm, sự tạo thành các chất chiết hòa tan bổsung càng ít.
Pha hóa học: pha này nằm trong thời điểm mà hàm ẩm của hạt giảm từ 10% xuống 6.Các chất này được tạo thành do phản ứng melanoid, caramen và một số phản ứng khác.Những quá trình xảy ra ở pha hóa học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình sản xuấtmalt và bia.[1, tr 178-179]
Quá trình quan trọng nhất ở giai đoạn sấy malt là phản ứng tạo melanoid- một hỗnhợp bao gồm nhều hợp chất ở mức độ rất cao, chi phối chất lượng của bia vàng Và quátrình này xảy ra chủ yếu ở pha hóa học Melanoid là hợp chất mà thành phần chưa đượcxác định một cách rõ ràng, là hỗn hợp sản phẩm tạo thành do sự tương tác phản ứng giữacác hợp chất chứa nhóm cacbonyl, nhóm amin,… Các phản ứng ngưng tụ là mấu chốttrong chuỗi phản ứng tạo melanoid.[1, tr 180]
1.4 Sản phẩm (malt diastilin)
Malt là loại hạt hòa thảo (hạt cốc) nảy mầm trong những điều kiện nhân tạo (nhiệt
độ, độ ẩm, thời gian) Malt là sản phẩm được chế biến từ các hạt hòa thảo như: đại mạch,tiểu mạch, ngô, thóc,… sau khi cho nảy mầm và sấy trong điều kiện thích hợp
Malt là một loại bán thành phẩm nhưng rất giàu chất dinh dưỡng: chứa 16-18% cácchất thấp phân tử dễ hòa tan chủ yếu là đường đơn giản, dextrin bậc thấp, các axit amin,các chất khoáng, các nhóm vitamin và đặc biệt có hệ enzyme phong phú chủ yếu làproteaza và amylaza Trong malt diastilin nhiều nhất là nhóm enzym diastaza
Malt có thể dùng để chế biến các loại thực phẩm có chất lượng cao như: bột dinhdưỡng cho trẻ em, các loại đồ uống hợp cho người già và phụ nữ có thai, dùng làm tácnhân dịch hóa trong công nghệ sản xuất rượu cồn từ tinh bột, làm tác nhân đường hóatrong sản xuất kẹo mạch nha, … Nhưng ứng dụng lớn nhất hiện nay của malt là dùng để
Trang 17sản xuất các loại đồ uống có độ cồn thấp Malt đại mạch là nguyên liệu chủ yếu để sảnxuất các loại bia.[1, tr 68]
Đặc điểm nổi bật của malt diastilin là sử dụng trong trường hợp malt nguyên liệukhông được đồ hóa tốt, độ nhuyễn không cao hoặc trong trường hợp dùng nguyên liệuthay thế chưa qua giai đoạn ươm mầm Hoạt lực tối thiểu của diastilin là 300 Wk Maltdiastilin dùng để sản xuất các loại bia.[1, tr 206]
Trang 18CHƯƠNG 2 DÂY CHUYỀN CÔNG NGHỆ
2.1 Sơ đồ dây chuyền công nghệ
Sơ đồ 2.1: Công nghệ sản xuất malt diastillin
T= 10 ngày
Trang 19Ta nhập đại mạch loại II nên không cần phân loại, mà đưa vào xilô bảo quản dự trữ.Trong đại mạch chứa nhiều tạp chất vô cơ và hữu cơ Do đó phải làm sạch trước khi đemvào sản xuất [2, tr 30]
2.2.2.2 Thiết bị
Khối hạt được làm sạch lần lượt qua hai thiết bị sau: quạt sàng và thiết bị làm sạchbằng từ tính
Quạt sàng:
Quạt sàng dùng để quạt bụi, thóc lép, các tạp
chất nhẹ, đá, sỏi, … còn sót lại ra khỏi khối hạt
1 Cửa nguyên liệu vào 5 Đại mạch sạch
2 Cửa tạp chất lớn ra 6 Bụi
3 Rơm, rác 7 Con quay điều
4 Tạp chất bé chỉnh hạt
Trang 20Bộ phận làm việc của quạt sàng bao gồm một vít tải để chuyển hạt đến quạt, mộthoặc hai quạt hút (hoặc quạt nén) và hệ thống sàng rung gồm hai hoặc ba sàng Sau khikhối hạt qua mỗi sàng thì được làm sạch dần.
Nguyên tắc hoạt động:
Đại mạch được vít tải đổ vào quạt qua phễu, tại đây có con quay để điều chỉnh lưulượng của hạt vào một cách đều đặn Hạt được rơi xuống sàng thứ nhất, sàng này bé nhấttrong ba sàng của quạt và nằm hơi nghiêng so với hai sàng kia Sàng này có lỗ hình trònđường kính 10÷20mm hoặc hình bầu dục dài với kích thước 35x8 mm Với kích thướcnhư vậy sàng này sẽ giữ lại các tạp chất lớn như đá, sỏi, … đồng thời lúc này hệ thốngquạt hút làm việc, không khí bị hút đi qua lớp hạt sẽ cuốn theo bụi, các tạp chất nhẹ vàsau đó chúng được lắng xuống phễu (3), còn bụi cuốn theo không khí theo đường ống để
đi vào Xiclon
Các tạp chất lớn được loại ra khỏi hạt sau khi qua sàng thứ nhất, khốt hạt được tiếptục rơi xuống sàng thứ hai, sàng này có kích thước lỗ sàng nhỏ hơn sàng thứ nhất, lỗ sànghình bầu dục có kích thước 25x4,5 mm Sàng thứ hai tiếp tục giữ lại các tạp chất lớn hơnhạt đại mạch Sau khi qua sàng thứ hai hại được đổ xuống sàng thứ ba, sàng này có lỗhình bầu dục kích thước 20x2 mm hoặc hình tròn đường kính 1÷1,5mm Với kích thước
lỗ sàng như vậy nó sẽ giữ lại đại mạch và cho qua cát, sỏi và các tạp chất bé hơn kíchthước của lỗ sàng Các tạp chất được thu gom ở thùng chứa riêng, đại mạch đã được làmsạch thu gom ở một kênh riêng, ở đó chúng được thổi bằng luồng không khí mạnh vànhư vậy các tạp chất nhẹ, bụi nếu như còn sót lại trong khối hạt sẽ bị loại trừ triệt để
Thiết bị làm sạch bằng từ tính:
Sau khi khốt hạt ra khỏi quạt sàng thì các tạp chất như rác, bụi, sỏi, … đã bị loạinhưng các mạt sắt, kim loại vẫn còn tồn tại trong khối hạt, vì vậy khối hạt được cho vàothiết bị làm sạch từ tính để loại bỏ các tạp chất kim loại này
Bộ phận làm việc chủ yếu của thiết bị này là thanh nam châm vĩnh cửu hoặc cuộnnam châm điện từ Mặt phẳng mà hạt phải trượt qua ở máy làm sạch bằng nam châm
Trang 21Hình 2.2: Nguyên tắc hoạt động của máy làm sạch từ tính.
vĩnh cửu được đặt với độ nghiêng 450 Để điều chỉnh dòng khối hạt đổ xuống mặt phẳngnghiêng một cách đều đặn người ta lắp đặt một van hãm
Chú thích:
a) Nam châm vĩnh cửu
b) Nam châm điện từ
sẽ bị giữ lại trên mặt phẳng, còn đại
mạch sẽ rơi xuống phễu và được
chuyển ra ngoài
Để những vật chất có từ tính bị giữ
lại trên mặt phẳng thì nam châm dùng để chế tạo thiết bị phải có mật độ từ trường ít nhất
là 9000 Gaus đồng thời chiều dày lớp hạt chảy trên mặt phẳng nghiêng không được quádày, cho phép tối đa là 5mm và tốc độ chảy của chúng chỉ nên vào khoảng 0,5m/s [1, tr53]
2.2.3 Rửa và sát trùng hạt
2.2.3.1 Mục đích
Đại mạch tuy đã qua giai đoạn làm sạch nhưng vẫn còn nhiễm bẩn, côn trùng và các
vi sinh vật Vì vậy cần được trước khi đưa vào ngâm
Quá trình rửa sẽ là sạch các chất bụi bẩn nhờ chúng tan vào nước hoặc nổi lên trên.Ngoài ra nếu trong hạt còn dư lượng thuốc trừ sâu cũng sẽ tan vào nước và ra ngoài.Các loại côn trùng và vi sinh vật lẫn trong khối hạt sẽ bị tiêu diệt nhờ quá trình sát trùnghạt Hạt được sát trùng bằng formalin, cứ một tấn đại mạch cần 1-1,5 kg formalin
Trang 222.2.3.2 Thiết bị
Để rửa hạt người ta sử dụng các thiết bị rửa chuyên dùng Nước dùng để rửa phải đảm bảo các tiêu chí về hóa học và sinh học Để hạt được sạch hơn người ta
có thể thêm vào nước rửa một số chất như : NaOH- 0,35 kg/m3 nước; Na2CO3- 0,9 kg/m3 nước.
Để sát trùng hạt người ta có thể sử dụng nhiều chất khác nhau như: formalin, H2O2, KmnO4 Tuy nhiên, khi sử dụng các chất sát trùng cần chọn những chất
không gây ảnh hưởng xấu đến quá trình ươm mầm cũng như chất lượng malt thành phẩm.
Nước vôi giúp cho quá trình rửa nhanh hơn, sạch hơn, làm tăng pH môi trường nên hòa tan nhiều hơn các hợp chất polyphenol và chất đắng trong vỏ hạt vào
nước Nhưng phải chú ý rửa thật kĩ nếu không vôi sẽ bám lên bề mặt cản trở quá trình hô hấp và ảnh hưởng xấu đến quá trình ươm mầm [ 3, tr 51]
2.2.4 Ngâm hạt
2.2.4.1 Mục đích
Đại mạch khô với hàm ẩm 13% sau khi bảo quản đưa vào sản xuất malt Ngâm hạtđại mạch để tạo điều kiện để hạt hút thêm một lượng nước tự do sao cho tổng hàm ẩmcủa hạt đạt khoảng 45% Chỉ với hàm ẩm cao như vậy, quá trình ươm mầm sau này mớiđảm bảo được tiến trình bình thường
Quá trình ngâm hạt còn giúp loại bỏ những hạt lép, những hạt không chắt, các tạpchất, bụi, vi sinh vật còn sót lại từ các công đoạn trước
Tuy nhiên quá trình ngâm không chỉ bao gồm cung cấp nước cho hạt thôi mà phảiđảm bảo giữ cho hạt không bị ngạt thở, không bị nhạy cảm với nước và giảm tối đa cácchất kìm hãm nẩy mầm
Hạt trước khi ngâm hạt có độ ẩm từ 13% vừa đủ để duy trì sự sống Khi độ ẩm củahạt vượt quá 15% thì trong hạt sẽ xuất hiện nước tự do Nước tự do làm cho các chấtdinh dưỡng được hoà tan và chuyển đến mầm, làm quá trình hô hấp của hạt xảy ra mãnhliệt Quá trình này làm cho nhiệt độ của khối hạt tăng và là điều kiện thuận lợi cho chấtđiều hòa sinh trưởng gibberellin kích thích hệ enzyme sang trạng thái hoạt động nhằmchuyển các chất dự trữ thành các chất hòa tan cho mầm sử dụng Do đó, quá trình ngâmkhông những tạo ra các chất dinh dưỡng để nuôi mầm mà dẫn đến quá trình sinh hóatrong hạt [2, tr 113]
2.2.4.2 Các phương pháp ngâm hạt
Trang 23Có nhiều phương pháp ngâm hạt khác nhau, nhưng nó có mục đích chung là tăng độ
ẩm của hạt trong điều kiện cung cấp đủ oxy và thải hết khí CO2 và các sản phẩm trao đổikhác kìm hãm sự phát triển của mầm
Các phương pháp:
- Ngâm lì trong nước
- Ngâm hoán vị nước - không khí
- Ngâm trong dòng liên tục nước - không khí
- Ngâm bằng phương pháp phun nước
- Ngâm bằng phương pháp phun nước - hút khí
Với phương pháp ngâm trong dòng liên tục nước - không khí có nhiều ưu điểm hơnđược chọn trong công nghệ này vì phương pháp này có:
- Thời gian mà hạt hút nước đến hàm ẩm cần thiết là ngắn nhất
- Chế độ thông khí đầy đủ, hạt nguyên vẹn
- Trạng thái cơ học và trạng thái sinh lý của hạt tốt, bảo đảm cường lực nẩy mầmcủa hạt cao [2, tr 114]
2.2.4.3 Thiết bị
a) Cách tiến hành ngâm hạt:
- Ngâm đại mạch khoảng 4-8h trong nước với nhiệt độ là 12oC để độ ẩm đạt 31%
- Sau đó để ráo 10- 20h (tuỳ theo độ mẫn cảm của hạt với nước)
- Tiếp tục ngâm 2-5h trong nước để độ ẩm đạt 38%
- Để ráo 12- 20h
- Sau đó ngâm 1-5h trong nước ở nhiệt độ 15- 20oC để độ ẩm đạt 45%, và sau đóchuyển thùng [2, tr 118]
b) Cấu tạo thiết bị ngâm:
Thiết bị ngâm có cấu tạo là thân trụ đáy côn, được chế tạo bằng thép thông thường,bằng inox hay thép trắng Phía dưới gần sát đáy thiết bị có gắn tấm thép đục lỗ mắt sànghình nón cụt để thuận tiện cho quá trình cung cấp nước ngâm và tháo nước bẩn
c) Nguyên tắc hoạt động:
Trang 245 4
2 1
3
Đại mạch theo vít tải chuyển vào cửa trên của thiết bị ngâm Khi chuyển đại mạchvào người ta mở rộng van đáy để nước chảy vào qua (4), đồng thời thổi khí vào qua (2).Hạt được đảo trộn và rửa sạch nhờ ống đảo (1): vừa hút hạt lên xuống vừa quay Trongquá trình rửa, người ta bổ sung thêm formalin để sát trùng khối hạt Các hạt lép và rác sẽnổi lên trên bề mặt được cánh gạt ở phía trên thiết bị gạt vào camera (6) Sau khi rửaxong, nước bẩn được tháo ra ngoài qua (5) và bắt đầu
thực hiện quá trình ngâm
Quá trình ngâm cũng cũng thực hiện tương tự như
trên: người ta cho nước sạch vào qua (4) và khí nén
vào qua (2) Không khí sục đều vào khối hạt nhờ các
lỗ đục mắt sàng và ống đảo (1) nên: hạt được đảo
đều, bảo đảm khả năng cung cấp oxi đều trong khối
hạt và giải phóng CO2 trong khối hạt ra ngoài
Nước ngâm của khối hạt được thay đổi theo chu
kỳ hoặc được cấp liên tục Cuối quá trình ngâm
tiến hành cho axit Gibberelic nhằm tăng tốc độ
nảy mầm
Quá trình ngâm và sát trùng được thực hiện
trong khoảng 40 ÷ 60h [2, tr 94 ], ở đây ta chọn 48 h và nhiệt độ của nước ngâm daođộng trong khoảng 15 ÷ 200C
Kết thúc quá trình ngâm nước được tháo ra ở đáy nhờ van khí nén Nguyên liệuđược vít tải chuyển qua thiết bị ươm
Các quá trình xảy ra khi ngâm hạt.
- Sự thẩm thấu và khuyếch tán của nước vào hạt
- Sự hoà tan các chất poliphenol, các chất chát, chất màu ở vỏ hạt vào môi trường
- Sự thẩm thấu một số ion và muối hoà tan trong nước vào hạt
- Sự hút nước và trương nở của tế bào
- Sự hoà tan các hợp chất thấp phân tử trong nội nhủ vào nước
- Sự vận chuyển các chất hoà tan về phôi
Hình 2.3 Thiết bị ngâm
1 - Ống đảo đại mạch; 2 - Đường ống dẫn khí nén; 3 - Đường ống ruột gà sủi khí; 4 - Nước sạch; 5 - Nước bẩn; 6 - Camera gom tạp chất nổi
Trang 25- Sự hoà tan tất cả các enzim có trong hạt vào nước hay là sự giải phóng enzimkhỏi trạng thái liên kết thành trạng thái tự do.
- Sự hoạt hoá hệ enzim oxi hoá khử và hệ enzim thuỷ phân
- Sự hô hấp của hạt
- Sự thủy phân của các chất hữu cơ cao phân tử
- Xuất hiên dấu hiệu ở sự phát triển cây non ở phôi
Trong các quá trình trên thì hô hấp và của hạt và sự hoạt hóa hệ enzym thủy phân làhai quá trình quan trọng nhất [1, tr 81]
2.2.5 Ươm mầm
2.2.5.1 Mục đích:
Tạo hay hoạt hoá hệ enzim trong hạt đại mạch từ trạng thái nghĩ sang trạng thái hoạt động.
- Làm thay đổi khả năng thẩm thấu của màng tế bào nội nhũ nhờ enzim sitaza.
- Làm biến tính hay hoà tan protêin của tế bào nội nhũ nhờ hệ enzim proteaza.
- Làm nội nhũ mềm ra do tác dụng của enzim.
Chuyển các chất ở dạng phức tạp sang dạng đơn giản.
2.2.5.2 Các quá trình xảy ra khi ươm mầm.
Sự biến đổi hình thái
+ Bên ngoài: Mầm và rễ bắt đầu xuất hiện từ từ.
+ Bên trong: Dưới tác dụng của các enzim tiến sâu vào các tế bào của hạt để thủy phân các chất có trong hạt.
Sự hoạt hóa của các enzim.
Sau khi nảy mầm, số lượng và hoạt lực của enzim tăng lên rất nhiều.
- Amylaza.
+ α-amylaza: Tăng lên đáng kể ở ngày thứ ba và thứ tư.
+ β-amylaza: Tồn tại ở hai dạng liên kết và tự do Trong thời gian ươm mầm, hoạt lực đều tăng lên.
+ Amylophotphataza: Cũng tăng lên nhưng không nhiều.
- Proteaza: Khi nẩy mầm, hoạt tính tăng lên 4 lần Nhóm này bao gồm các enzim proteinaza, pectidaza và amydaza.
- Xitaza: Hoạt lực tăng lên rất nhiều trong quá trình ươm mầm.
Trang 26- Esteraza: Trong thời kì ươm mầm, hoạt tính của photphataza tăng 7-10 lần Lipaza tăng nhiều vào cuối thời kì ươm mầm.
- Các enzim hô hấp: Tăng nhiều, nhưng vẫn ít hơn amylaza.
Sự hô hấp.
Quá trình hô hấp xảy ra trong điều kiện yếm khí hoặc hiếu khí tuỳ thuộc vào các điều kiện của môi trường.
Quá trình hô hấp sẽ sinh ra nhiệt, CO2 và làm hao tổn lượng chất khô trong hạt.
Sự thay đổi thành phần hoá học.
Sự hoà tan thành tế bào dưới tác dụng của enzim xitaza.
Sự thuỷ phân tinh bột dưới tác dụng của hệ enzim amylaza.
Sự thuỷ phân protein nhờ proteaza.
Sự thuỷ phân chất béo nhờ enzim lipaza
2.2.5.3 Các phương pháp ươm mầm
Nhiệm vụ của quá trình là tạo được malt giàu enzyme, chứa các chất hoà tan tốt vàmất mát tinh bột là ít nhất
Có nhiều phương pháp ươm mầm:
- Ươm mầm không thông gió
- Ươm mầm thông gió
+ Ươm mầm thông gió trong catset (trong ngăn)
+ Ươm mầm thông gió trong thùng quay
+ Ươm mầm thông gió trong ngăn có luống di động…
Ở đây ta chọn ta chọn phương pháp ươm mầm trong ngăn có luống di động Phươngpháp này tuy tốn nhiều diện tích nhưng có những ưu điểm là dễ cơ khí hóa và tự độnghóa các thao tác công nghệ, hệ số sử dụng mặt bằng cao hơn các nhóm thiết bị các hệkhác, chất lượng của malt đồng đều
Trang 27sen phun Để phun mù được đều khắp, các vòi phun nên bố trí lệch theo kiểu bàn cờ.Nước nén để phun mù có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ phòng ươm - về mùa hè và cao hơn
về mùa đông [1, tr 141]
Nguyên tắc hoạt động:
Để không khí sau khi đi ra khỏi buồng xử lí có các thông số như ta yêu cầu, lưu lượngquạt thổi, đường đi của không khí, nhiệt độ và áp lực phun của nước, ta phải tính toáncho phù hợp
Không khí sau khi xử lí được chuyển đến (bằng quạt nén hoặc quạt hút ) thiết bị ươmmầm bằng hệ thống mương dẫn Đường đi của không khí hay là độ dài của mương dẫnphải phù hợp với tốc độ di chuyển của không khí Nếu độ dài của mương dẫn quá lớn thìtrên đường di chuyển, hơi nước của không khí sẽ ngưng tụ lại trên thành mương Trongtrường hợp như vậy, trong mương dẫn nên lắp bổ sung các ống phun mù (3) để tăngcường độ ẩm cho không khí Mương dẫn không khí phải nhẵn ở phía trong và tránh gấpkhúc quá nhiều và cũng không nên có những gấp khúc kiểu “tay áo” (góc gấp khúckhông được thấp hơn 900)
Buồng xử lí không khí dùng chung một buồng xử lí trung tâm, sau đó không khí đượcthổi đến các nơi cần sử dụng theo đường ống riêng [1, tr 142]
Hình 2.4 Buồng xử lý không khí
Trang 28Hình 2.5 Thiết bị ươm mầm
b) Cách tiến hành ươm trong các luống ươm.
Đầu tiên hạt đã ngâm đưa vào luông thứ nhất Sau một ngày lô hạt này được chuyểnsang luống thứ hai, còn luống thứ nhất lại đón lô hạt mới từ thiết bị ngâm chuyển sang và
cứ chuyển như vậy cho đến khi đầy các luống Trong đó cư 12h thì đảo hạt một lần
c) Cấu tạo và nguyên tắc làm việc của luống ươm:
Luống ươm bao gồm một
dãy ngăn hở hình chữ nhật
Các ngăn được cách với nhau
bằng các bức tường lửng bằng
bê tông cốt thép hoặc gạch
tráng xi măng Đáy chính của
ngăn bằng xi măng và hơi
nghiêng để cho nước dễ thoát
Cách đáy chính một khoảng có
đặt đáy lưới bằng kim loại
Tiết diện của các lỗ không nhỏ hơn 10%
Đáy lưới có thể có cấu tạo tháo được đặt cách đáy chính 0,7m Dọc theo các tườngngăn có đặt đường ray cho máy đảo làm việc Số ngăn ươm bằng số ngày ươm.Chiềucao của lớp hạt trong các ngăn phụ thuộc vào thể tích của hạt nảy mầm và nó thay đổitừng ngày Cuối thời kỳ ươm mầm thể tích của hạt tăng lên khoảng 1,5 lần
Hạt đã ngâm từ thùng ngâm chuyển vào phòng ươm bằng cách tự chảy hoặc nhờ bơm
ly tâm Hạt được phân bố đều trên bề mặt sàn ươm và lúc đầu không thổi khí Khi nhiệt
độ của hạt đạt từ 15170C ta bắt đầu cho không khí ẩm thổi qua lớp hạt từ dưới lên trên.Thổi không khí có thể tiến hành gián đoạn hoặc liên tục Cứ 12 giờ tiến hành đảo hạt mộtlần, riêng ở thời kì hạt phát triển mạnh thì sau 8 giờ đảo một lần
Sau khi ươm xong malt tươi được đưa đi xử lý tiếp
Quá trình ươm mầm được thực hiện trong 10 ngày sau đó ta tiến hành đem đi sấy.Nhiệt độ ươm mầm dao động trong khoảng 15 ÷ 200C [1, tr 150]
Trang 292.2.6 Sấy malt
2.2.6.1 Mục đích:
Giai đoạn cuối cùng của quá trình malt hóa đại mạch là sấy malt tươi Ở giai đoạn nàytính chất công nghệ của malt được định hình và ở chừng mực nào đó nó quyết định tínhchất cảm quan của sản phẩm
Sấy malt tươi nhằm các mục đích sau:
- Malt tươi có độ ẩm 44%, là đối tượng lý tưởng cho vi sinh vật tấn công, là sản phẩmkhông bền vững Mục đích chính của quá trình sấy là đưa hàm ẩm của malt xuống còn6% để chuyển chúng thành sản phẩm bền vững, dễ dàng cho việc vận chuyển, bảo quản
và loại trừ khả năng xâm nhập và phát triển của vi sinh vật
- Trong quá trình sấy, nhiệt độ của khối hạt được tăng dần và tăng rất chậm, còn hàm
ẩm của chúng cũng giảm dần và giảm rất chậm Trong phạm vi nhiệt độ dưới 40oC vàhàm ẩm của hạt trên 20% là điều kiện lý tưởng cho hệ enzyme thuỷ phân hoạt động Kếtquả của các quá trình enzyme này là một lượng đáng kể các hợp chất cao phân tử đượcphân cách thành sản phẩm thấp phân tử dễ hoà tan, làm tăng hàm lượng chất chiết hoàtan của thành phẩm
- Song song với việc tách nước còn diễn ra các quá trình sinh hoá, hoá học và hoá lýkhác Nó là nguyên nhân của việc tạo thành các chất tạo hương, vị và tăng cường độ màucho sản phẩm
- Do quá trình sấy được tiến hành ở nhiệt độ cao nên hầu hết các loại vi sinh vật bámtrên hạt, hoặc bị tiêu diệt, hoặc chuyển về dạng bào tử, hạn chế đến mức tối thiểu khả
năng hư hỏng do chúng gây ra, làm tăng độ bền sinh học của sản phẩm.
- Đối với malt diastilin: malt phải được sấy ở nhiệt độ thấp hơn 500C, với điều kiệnsấy như vậy malt sẽ có hoạt lực diastaza rất cao [3, tr 66]
2.2.6.2 Các quá trình xảy ra khi sấy.
Khi nhiệt độ nhỏ hơn 45 o C
Trang 30Khi độ ẩm của hạt vẫn còn đủ, tức là lớn hơn 20%, sự sống của hạt và sự phát triểncủa mầm vẫn còn tiếp diễn Sự phát triển của phôi dừng lại ở 38oC và chết ở 55oC trongmôi trường ẩm Kéo theo:
- Sự tăng nhẹ năng lực diastaza
- Tăng hàm lượng đường khử và đường sáccaroza
- Sự hoà tan một phần hợp chất nitơ
- Sự tái tổng hợp trong mầm
Khi nhiệt độ vượt quá 45 đến 55- 60 o C
Phôi vô hiệu hoá nhưng hoạt tính vẫn còn, kéo theo
- Tăng lượng đường dextrin, sản phẩm của quá trình phân huỷ tinh bột
- Tăng hàm lượng chất nitơ hoà tan: pecton khi nhiệt độ ¿ 50oC; axitamin khinhiệt độ đạt 45- 50oC Những hợp chất này sẽ được tích luỹ trong malt
- Hoạt lực enzim lớn khi w >20%, yếu khi w= 10-12% và bị vô hoạt ở w= 7-8%.Đối với malt diastilin ta chỉ sấy ở nhiệt độ < 50oC sẽ làm tăng hàm lượng enzimdiastaza
2.2.6.3 Thiết bị sấy
Căn cứ vào tính chất tiên lục của dòng malt vào và ra thiết bị sấy được chia thành:
- Thiết bị sấy gián đoạn
- Thiết bị sấy bán liên tục
- Thiết bị sấy liên tục
Căn cứ vào hình dáng của thiết bị và tư thế “nằm” của malt lúc sấy, chúng được chia thành:
- Thiết bị sấy đứng
- Thiết bị sấy nằm ngang
Để đáp ứng yêu cầu công nghệ ở đây ta chọn thiết bị sấy liên tục [3, tr 63]
Trang 312.2.6.4 Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động
Trong quá trình sấy ta sử dụng tháp sấy
RCD-120 [7]
a) Cấu tạo
Thiết bị được cấu tạo như hình vẽ:
Tháp chứa gồ các tầng ghép lại với nhau theo
chiều cao, tăng sứ chứa hạt giảm diện tích lắp đặt, khả
năng tiếp xúc không khí sấy với hạt, đồng thời có cơ cấu
tháo liệu dạng trục rải nên giảm độ ẩm của khối hạt như
nhau, hạt sau khi sấy có độ đồng đều cao.
Quạt ly tâm được thiết kế phù hợp, hiệu suất cao,
độ ồn thấp tiêu thụ điện năng thấp.
Khi không khí cung cấp, cụm thiết bị sẽ chuyển sang chế độ làm mát.
Bên cạnh có hệ thống gia nhiệt cho tác nhân sấy.
b) Nguyên tắc hoạt động:
Malt tươi từ thiết bị ươm mầm nhờ vít tải đưa vào hệ thống sấy qua cửa nạp liệu đặtphía trên nắp Sau khi nguyên liệu vào được đưa vào tầng chứa hạt, sau đó chúng đượcchuyển xuống tầng sấy hạt số 1 và số 2, khối malt được sang đều nhờ hệ thống cào, malttươi ban đầu được sấy ở tầng hạt số 1 đến giai đoạn cuối được đổ xuống tầng hạt số 2nhiệt độ tối đa ở tầng 2 là 500C [1, tr 190]
Không khí trước khi thổi vào khối malt phải được gia nhiệt Nhờ hệ thống van khínén, không khí sau khí sấy được gia nhiệt và tuần hoàn trở lại
Sau khi sấy tới độ ẩm còn 6 % thì chúng được chuyển xuống vùng thiết bị làm mát để
ổn định nhiệt độ và vùng làm mát cũng có tác dụng để điều chỉnh nhiệt độ của tác nhânsấy
Kết thúc quá trình sấy, khối nguyên liệu được tháo xuống dưới theo vít tải qua thiết bịtách mầm
Tiến hành sấy malt ở nhiệt độ 50oC
Nhiệt độ malt vào là 26oC tương đương với nhiệt độ môi trường
Hình 2.6 Tháp sấy RCD-120 [7]
Trang 32Malt trước khi sấy sẽ có độ ẩm 44% và sau khi sấy xong sẽ đạt độ ẩm là 6%.
2.2.7 Tách mầm và rễ cho malt khô:
2.2.7.1 Mục đích
Malt và rễ cần tách khỏi malt, vì chúng có tính chất hút nước mạnh, đồng thời gây ra
hương vị không mong muốn cho công nghệ sản xuất bia Nếu không tách rễ ra khỏi malt
thì trong quá trình bảo quản chúng sẽ hút nước và phá vỡ sự cân bằng ẩm trong hạt, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật và những quá trình không thuận lợi
cho đến chất lượng malt Tách rễ và mầm cần phải tiến hành ngay sau khi sấy, nếu để lâu
rễ sẽ hút nước, khiến cho rễ bị dai khó tách khỏi malt
Malt sau khi sấy xong cần loại bỏ mầm, rễ vì trong thành phần của chúng có nhiều
hợp chất có thể gây ra vị đắng khó chịu cho bia
Dừng quá trình nảy mầm và quá trình chuyển hóa tiếp theo
Cung cấp cho malt hương vị phù hợp cho loại bia làm từ chúng [2, tr 142]
Việc loại bỏ rễ cần được tiến hành ngay vì:
- Công đoạn này góp phần làm nguội malt
- Rể có tính háo nước cao khi còn đang nóng
2.2.7.2 Cách thực hiện.
a) Cấu tạo
Muốn tách mầm và rễ, người ta dùng máy cắt Máy cắt là một lưới hình trụ quay
chậm và đặt hơi nghiêng trong thùng gỗ kín Lỗ lưới dài 25mm và rộng 1,5mm bên trong
gây ra một lực ma sát giữa malt
Trang 33Hình 2.8 xilô bảo quản malt [8]
và các cánh quạt Nhờ lực ma sát này mà rễ bị cắt đứt và đi qua các lỗ lưới ra ngoài.Công suất của máy tách mầm thường là 1000 ÷ 2000 kg/giờ Malt sau khi tách mầm và
rễ đi qua các cân
tự động và đưa đến xilô chứa [1, tr 209]
2.2.8 Bảo quản malt khô
Sau khi sấy và tách rễ xong malt chưa thể dùng ngay để sản xuất bia, vì các lý do sauđây:
- Vỏ giòn, nghiền bị nát, trong quá trình đường hóa sẽ hòa tan một lượng lớnpolyphenol làm cho bia kém độ bền keo, dịch đường khó lọc
- Hoạt lực enzyme thủy phân chưa ổn định, quá trình đường hóa diễn ra khó khăn,hiệu suất thu hồi sản phẩm chưa đạt giá
trị cao nhất
Vì những lý do trên đây, trước lúc trở
thành nguyên liệu sản xuất bia, malt khô
nhất thiết phải trải qua giai đoạn bảo quản,
thời gian ít nhất là 3 – 4 tuần
Malt được bảo quản trong xilô chứa là
thích hợp vì trong thời gian bảo quản, bề
mặt tiếp xúc với không khí ít hạt sẽ hút
nước làm tăng hàm ẩm nên vỏ của hạt sẽ
mềm và dẻo, lúc nghiền không bị nát, tạo lớp màng lọc lý tưởng cho quá trình lọc bãmalt Cũng do hạt hút thêm nước, thể tích của chúng sẽ tăng lên, đồng thời trong lúc này
ở trong hạt xảy ra một số quá trình mà kết quả của chúng là:
- Hoạt lực amylaza và proteaza tăng
- Hàm lượng đạm hoà tan tăng nhưng không đáng kể
Trước lúc bảo quản, nhiệt độ của malt cần hạ xuống 200C
Trang 34CHƯƠNG 3: TÍNH CÂN BẰNG VẬT CHẤT
3.1 Chọn các thông số ban đầu
3.1.1 Năng suất của nhà máy
Malt thành phẩm 15.000 tấn sản phẩm /năm
3.1.2 Chọn các số liệu ban đầu của nguyên liệu
- Độ ẩm ban đầu của đại mạch khi nhập : W=13%
- Khối lượng riêng của đại mạch: = 665 kg/m3
- Khối lượng riêng của malt sau khi sấy: = 600 kg/m3
- Độ ẩm của đại mạch sau khi rửa, ngâm: W= 45%
- Hệ số trương nở thể tích của đại mạch sau khi rửa và ngâm so với đại mạch trướckhi ngâm: 1,42 [1, tr 97]
- Độ ẩm của đại mạch sau khi ươm mầm: W= 44%
- Hệ số trương nở thể tích của đại mạch sau khi ươm mầm so với đại mạch trước khingâm là: 2 [1, tr 217]
- Độ ẩm của malt sau khi sấy: W= 6%
- Hệ số trương nở thể tích của malt sau khi sấy so với đại mạch trước khi ngâm là:1,25
3.1.3 Sự hao phí nguyên liệu qua từng công đoạn
Bảng 3.1 Mức hao phí qua từng công đoạn
Công đoạn Làm sạch Rửa và ngâm Nảy mầm Sấy Tách rễ và mầm
Mức tổn thất nguyên liệu trong quá trình sấy sơ bộ, làm sạch, rửa và ngâm, nẩymầm, sấy và tách mầm và rễ được tính theo phần trăm hàm lượng chất khô trước đó
Trang 353.2 Cân bằng vật chất
3.2.1 Tính cân bằng vật chất cho 1.000 kg nguyên liệu
3.2.1.1 Lượng chất khô trong nguyên liệu
Thể tích của nguyên liệu:
3.2.1.2 Lượng nguyên liệu sau khi làm sạch
Lượng chất khô sau khi làm sạch và phân loại:
kgLượng nguyên liệu sau khi làm sạch :
kgThể tích của nguyên liệu sau khi làm sạch :
V = m3
3.2.1.3 Lượng nguyên liệu sau khi rửa và ngâm
Độ ẩm nguyên liệu sau rửa và ngâm: W = 45%
Lượng chất khô sau khi rửa và ngâm:
kg
Trang 36Lượng nguyên liệu sau khi rửa và ngâm:
kgThể tích nguyên liệu sau khi rửa và ngâm:
3.2.1.4 Lượng malt tươi sau khi ươm mầm
Độ ẩm malt tươi sau khi ươm mầm: W = 44%
Lượng chất khô sau khi ươm mầm:
kgLượng malt tươi sau khi ươm mầm:
M= 100−44775,95 × 100=1385,63kgThể tích malt tươi sau khi ươm mầm:
m3
3.2.1.5 Lượng malt sau khi sấy
Độ ẩm còn lại sau khi sấy: W= 6%
Lượng chất khô sau khi sấy:
kgLượng malt sau khi sấy:
kg Thể tích malt sau khi sấy:
V= 1,49x1,25=1,86 m3
3.2.1.6 Lượng malt sau khi tách rễ và mầm
Lượng chất khô sau khi tách rễ và mầm:
Trang 37kgLượng malt thành phẩm:
kgThể tích của malt thành phẩm:
V= 1,86-1,29 = 0,57 (m3)
3.2.1.8 Lượng nước cần thiết cho quá trình rửa và ngâm đại mạch
Ngâm 1000 kg đại mạch khô thì thể tích hữu dụng của thùng là:
665: khối lượng riêng của đại mạch
Cứ 1000 kg đại mạch sẽ chiếm thể tích 0,74 m3 chặt tuyệt đối [1, tr 97]
Lúc đó lượng nước ngâm cần cho vào lúc ban đầu:
1,88 - 0,74 = 1,14 m3Khi quá trình ngâm kết thúc hạt trương nở 1,25 lần, có nghĩa là khi đó lượng nước chỉchiếm: 1,88 – 0,74¿1,25= 0,955 m3
Lượng nước cần thiết cho quá trình rửa 1000 kg đại mạch là 2 m3 [1, tr 97]
Lượng nước cần thiết cho cả quá trình ngâm đại mạch là:
Trang 38Trong đó: a: là lượng nước ngâm ban đầu, a=1,14
c: lượng nước ngâm trước khi kết thúc quá trình ngâm hạt, c= 0,955
Vậy lượng Gibberelin cần dùng là: kg
3.2.1.11 Lượng khí nén cần dùng trong quá trình ngâm và rửa
Ta có lượng khí nén dùng cho 1 tấn đại mạch : 6 m3/h, đây là lượng khí nén chỉ sửdụng cho quá trình hô hấp của hạt [1, tr 85]
Theo bài ta tính được lượng nguyên liệu sau khi làm sạch là 990 kg Vậy lượng khínén cần là:
6×990
1000 =5,94m3/h
Trang 39Giả sử lượng không khí sử dụng cho quá trình hô hấp của hạt chiếm 20% lượngkhông khí cung cấp, vậy ta có lượng khí thực tế:
V kn =5 ,94×100
20 =29,7m3/h=712,8 m3/ngày
3.2.1.12 Lượng không khí điều hòa cần dùng trong quá trình ươm
Qua bảng 7.1 [1, tr 109], ta có lượng O2 hấp thụ (ml) tính theo 100g chất khô qua cácngày ươm như sau:
3.2.2 Kế hoạch sản suất của nhà máy
Nhà máy làm việc một năm 12 tháng, mỗi tuần làm việc 6 ngày (nghỉ chủ nhật) vàmột ngày làm việc 3 ca Nghỉ các ngày lễ theo quy định của nhà nước, tết và chủ nhật,nếu ngày lễ đúng vào ngày chủ nhật thì nghỉ bù vào ngày sau Riêng đối với phân xưởngsấy malt và ngân rửa do đặc thù của công nghệ nên làm việc liên tục Các thiết bị có thểđược vệ sinh vào ngày chủ nhật
Trang 40Các ngày nghỉ trong năm:
+ Tết Dương Lịch : 1 ngày
+ Tết Âm lịch : 4 ngày
+ Ngày 30-4 : 1 ngày
+ Quốc Tế lao động : 1 ngày
+ Ngày Quốc Khánh : 1 ngày
+ Giỗ tổ Hùng Vương : 1 ngày
Bảng 3.2 Biểu đồ sản xuất của nhà máy
Số ngày
3.2.3 Tính chi phí nguyên liệu cho 1 ngày
3.2.3.1 Năng suất của nhà máy:
Nhà máy có năng suất 15000 tấn malt /năm tức là
3.2.3.3 Lượng nguyên liệu sau khi làm sạch :
Lượng chất khô sau khi làm sạch :
G=63474,87×861,30