KHỔNG TỬ. Khổng Tử nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị lỗi lạc của Trung Quốc cổ đại, được tôn vinh là Vạn thế sư biểu. Là người sáng lập ra Nho giáo, một trong những trường phái triết học lớn của Trung Quốc. Từ xưa cho đến nay rất nhiều tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu về ông cũng như tư tưởng của ông, trong đó có tư tưởng giáo dục. Có thể nêu lên một số tác phẩm tiêu biểu sau: “Khổng Tử” của Lý Tường Hải, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002. “Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995. “Nho giáo họ Khổng” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992. “Khổng Phu Tử và Luận ngữ” của Phạm Văn Khoái, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi, 2004. “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001. “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1993. “Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi cử” của Nguyễn Thế Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995. “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người” của TS. Nguyễn Thị Nga TS. Hồ Trọng Hoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người” của TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009. Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí Triết học, giáo dục lý luận như : Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, Tạp chí triết học, số 3, Lê Ngọc Anh, 1999. Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và đào tạo con người, Tạp chí Triết học, số 3, Doãn Chính (6 – 2000). Góp phần tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử trong “Luận ngữ”, Giáo dục lý luận, số 7, Cung Thị Ngọc (2005)…
Trang 1KHỔNG TỬ.
Khổng Tử - nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị lỗi lạc của TrungQuốc cổ đại, được tôn vinh là Vạn thế sư biểu Là người sáng lập ra Nho giáo,một trong những trường phái triết học lớn của Trung Quốc Từ xưa cho đến nayrất nhiều tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu về ông cũng như tư tưởng của ông,trong đó có tư tưởng giáo dục
Có thể nêu lên một số tác phẩm tiêu biểu sau:
- “Khổng Tử” của Lý Tường Hải, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
- “Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995.
- “Nho giáo họ Khổng” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992.
- “Khổng Phu Tử và Luận ngữ” của Phạm Văn Khoái, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nôi, 2004
- “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
- “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1993.
- “Nho học ở Việt Nam - giáo dục và thi cử” của Nguyễn Thế Long, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1995
- “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người” của TS Nguyễn Thị
Nga - TS Hồ Trọng Hoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003
- “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người” của TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí Triết học, giáo dục lýluận như :
- Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, Tạp chí triết học, số 3, Lê NgọcAnh, 1999
- Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và đào tạo con người, Tạp chí Triếthọc, số 3, Doãn Chính (6 – 2000)
- Góp phần tìm hiểu tư tưởng giáo dục của Khổng Tử trong “Luận ngữ”,Giáo dục lý luận, số 7, Cung Thị Ngọc (2005)…
Trang 2Các tác phẩm trên phần nào đã thể hiện rõ tư tưởng giáo dục của Khổng Tử,
đó là một người hết lòng vì sự nghiệp, có tâm huyết với nghề nghiệp, là mộtngười đã đóng góp to lớn cho nền giáo dục của nhân loại
I NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
1 Mục đích giáo dục
- Đào tạo ra những người “lý tưởng”, biết đạo, hiểu đạo, mà còn cao hơn
nữa ông muốn là đào tạo ra người có đủ năng lực để tham gia gánh vác công việcquốc gia, bình ổn xã hội
Chính vì vậy, ông dành tâm huyết của mình cho việc đào tạo người quân tử
Trần Trọng Kim cho rằng: “Đã nói rằng đạo của Khổng Tử là đạo người quân
tử cốt dạy người ta cho thành người có đức hạnh hoàn toàn và có nhân phẩm tôn quý, cho nên bao nhiêu những sự dạy dỗ, học tập của Khổng giáo đều chứa cả vào sự gây thành người quân tử” [13; 99]
Nhằm mục đích trên, Khổng Tử luôn hướng học trò vào mục đích làmngười cai trị Khổng Tử cho rằng: mục đích của học giả đời xưa là học để có trithức, để sửa mình, còn mục đích của học giả đời nay là học để có địa vị và danh
phận trong xã hội, tức là học để làm quan, để dẫn dắt xã hội tới thịnh trị: “Người đời xưa vì mình mà học đạo; người đời nay vì người mà học đạo” (Cổ chi học giả vị kỷ; kim chi học giả vị nhơn) [15; 226-227] Tư tưởng “Học dĩ ứng dụng”,
tức là học để ứng dụng có ích cho quốc gia xã hội, luôn là mục đích cao nhất của
Trang 3người học Nếu học mà không ứng dụng được, không thể đưa tài học để giúpnước thì việc học đó chẳng há vô ích, học phải có mục đích rõ ràng ứng dụngtrong cuộc sống Học để phân định phải trái, thực hư, điều gì thấy còn nghi ngờ,còn khuyết thì đừng nói; điều gì thấy ít kinh nghiệm, còn khuyết đã thì khôngnên làm; cẩn thận trong lời nói, trong việc làm thì ít lỗi, ít ăn năn Học phải có gì
ích dụng nếu không thì cũng chẳng để làm gì Khổng Tử dạy rằng: “Đọc ba trăm thiên Kinh Thi, giao cho việc chính trị mà làm không nên, sai đi sứ bốn phương mà không biết ứng đối như vậy học nhiều để làm gì ?” [16; 214].
Nếu người học chỉ có khư khư ôm lấy cái đạo học ấy mà không đem ra ứngdụng thực hành thì sao có thể gọi là thực học được Vì vậy, học đạo để hành đạo
là yêu cầu thiết thân đối với người giáo dục
Tư tưởng học để làm chính sự, làm quan để biến xã hội từ “loạn thành trị”
của Khổng Tử được các học trò rất thấm nhuần Tử Lộ, một học trò của ông cho
rằng: “người có học, có tài đức mà không ra làm quan là không hợp đạo nghĩa Người quân tử ra làm quan là để thi hành cái nghĩa lớn trung quân ái quốc mà thôi, chứ không phải mưu cầu phú quý” [15; 291] Tử Hạ, một học trò khác của Khổng Tử, cho rằng: “học ra làm quan là một quá trình học đạo và hành đạo bổ sung cho nhau Người đã làm quan thì cũng cần phải học thêm, còn người học thì nên làm quan” [15; 301].
Trang 4Tuy nhiên, để truyền bá một cách rộng rãi tư tưởng nhân nghĩa của mình,mục đích của Khổng Tử không chỉ là giáo dục cho người quân tử, mà đồng thờiông cũng giáo dục cho cả bậc thứ dân Một mặt, ông muốn kén chọn nhữngngười có đủ đức, đủ tài trong nhân dân tham gia vào công việc chính trị quốc gia
để ổn định trật tự xã hội, nhưng quan trọng hơn, Khổng Tử còn nhằm giáo dụccho dân chúng đạo lý tam cương, ngũ thường, nhân, lễ, hiếu, nghĩa, với mụcđích để họ hiểu được đạo lý, sống đúng với đạo lý, khuyên họ nên biết an phậnthủ thường, nên sống đúng với cái danh của mình, chịu sự cai trị của tầng lớptrên, phục tùng mênh lệnh của nhà cầm quyền, tất cả cũng nhằm duy trì trật tự,
kỷ cương và sự ổn định của xã hội phong kiến Ông nói: “Người quân tử ở ngôi trên nhờ học đạo mà thương dân mến chúng; kẻ tiểu nhân ở bậc dưới nhờ học đạo mà biết tuân lệnh nhà cầm quyền” (Quân tử học đạo tắc ái nhân Tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã) [15; 270-271]
Với Khổng Tử, dạy học trước hết là để biết, để hiểu đạo lý ở đời, để tự sửamình thành người có nhân cách, phẩm chất và để làm người quân tử mọi ngườihiểu được đạo, hiểu được đạo mới biết cách thao thư để có cái phẩm giá đạo đứchơn người thường Cái đích của Khổng Tử là dạy người ta thành người nhânnghĩa, trung chính, tức dạy người quân tử Song có dạy mà không học thì dẫu sựdạy hay thế nào cũng mặc lòng, cũng không sao thành công được Vậy nên Khổng
Tử lấy sự học là một điều rất trọng yếu Như cổ nhân từng nói: “Học là cốt học đạo của thánh hiền để hiểu nghĩa lý, biết phải trái mà sửa mình để cho thành
Trang 5người có đức hạnh, chứ không chỉ vì lấy biết nghề kiếm ăn” [13; 125] Như vậy,
cuộc đời của con người quan trọng nhất là phải học, học để biết đạo lý làm người
và nâng cao trí thức cho mình, mang tài trí của mình ra giúp đời, cứu người
Cuộc đời của Khổng Tử là một tấm gương ham học cầu tiến Thể hiện rõ rệtmột phẩm cách tinh thần cứng cỏi, truy cầu không mệt mỏi, Khổng Tử đã nhiều
lần nhấn mạnh rằng: “không phải ta sinh ra đã có am hiểu tri thức, chẳng qua là
ta đam mê các tri thức văn hóa của bậc thánh hiền cổ xưa nên cố gắng tầm học”
[16; 129] Khổng Tử là người có chí hướng cao xa, mong muốn được đem sựhiểu biết của mình ra giúp dân cứu nước, nhưng chí nguyện không thành công,đành quay về dạy học truyền bá tư tưởng thông qua học trò của mình, với hi vọnghọc trò lĩnh hội và thực hiện được phần nào tư tưởng của ông
Theo Khổng Tử, học để “Tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ” và đây
cũng chính là con đường đi của người quân tử Và trong đó tu thân là nhiệm vụquan trọng nhất của mỗi người Người quân tử muốn trở thành người có ích cho
xã hội, xây dựng một xã hội tốt đẹp, hòa đồng, thì trước hết phải tu thân Ở đời tuthân là quan trọng nhất, không tự tu thân thì không thể giúp đời được không làm
tròn bổn phận của mình với thiên hạ được“Những vị vua, những vị thánh thửa xưa muốn cho đức của mình tỏa sáng, trước hết phải lo sửa trị nước mình; muốn sửa, trị nước mình trước hết phải lo sửa mình; muốn sửa trị nhà mình trước hết phải tu tập lấy mình bằng cách thấu suốt đạo trời đất để giữ cho lòng ngay thẳng” [3; 80]
Trang 6Việc tu thân không chỉ của người quân tử, mà là việc của tất cả mọi người.Đây chính là mục đích sâu xa trong mục đích giáo dục, để xây dựng một xã hội trật
tự, một đất nước thanh bình của Khổng Tử Vì vậy trong quá trình dạy học, ông luônkhuyên học trò rèn luyện được như người quân tử với những phẩm chất sau:
1 Khi nhìn phải nhìn cho minh bạch, nhìn đúng vấn đề
2 Khi nghe phải nghe cho rõ ràng, nghe lời người trung thành
3 Nói về hình thức sắc mặt phải ôn hòa
4 Nói năng phải trung thực
5 Tướng mạo phải trang nghiêm
6 Làm việc trọng sự kính nể
7 Điều gì còn nghi hoặc thì phải xem xét, phải hỏi han cho rõ ngọn nguồncủa sự việc hay vấn đề
8 Khi tức giận phải nhớ đến hậu họa
9 Khi thấy lợi phải nghĩ đến điều nghĩa [28; 599]
Đó là mục đích giáo dục của Khổng Tử, mong muốn của ông là đào tạođược nên những con người có phẩm chất tốt đẹp như vậy, để xây dựng một xã
hội lý tưởng từ “vô đạo” thành “hữu đạo”, đó là một xã hội được xây dựng trên nền tảng “đức trị” nặng đức mà nhẹ hình.
Quan điểm giáo dục của Khổng Tử dựa trên cơ sở học thuyết về đạo nhân,
nên ông chủ trương giáo dục với mục đích là “Tiên học lễ, hậu học văn”, trước
Trang 7hết là phải giáo dục ý thức, sau đó mới giáo dục tri thức, nên ông thường khuyên
học trò “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất sắc để cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân, hành hữu dư lực tắc dĩ học văn”- Con em ở trong nhà thì hiếu thảo với cha mẹ, ra ngoài kính nhường bậc huynh trưởng, thận trọng lời nói mà thành thật, yêu khắp mọi người mà gần gũi với người nhân đức, làm được như vậy rồi
mà còn dư sức sẽ học văn hóa” [16; 28].
Mục đích giáo dục của Khổng Tử, là để làm người và giáo dục lòng nhân vìnhân là nội dung quan trọng trong tư tưởng Khổng Tử Là phẩm chất bao trùmmọi đức tính khác của con người Khi người quân tử đã có được nhân đạt đượcđạo, thì phải hành đạo giúp đời cứu người, phải được thực hành ứng dụng, sửdụng những gì mình đã học để tham gia xây dựng quốc gia xã tắc đấy chính làmục đích cao nhất của việc học, chứ đâu phải lấy sự học ra làm quan sang màhưởng bổng lộc
Mục đích giáo dục của vị thánh sư này còn là thông qua việc giáo dục sẽgiúp học trò tìm thấy chân lí trong cuộc sống, và ông cũng mong sao học trò sẽtìm thấy được chân lý cuộc đời qua mỗi bài học Khổng Tử hết sức phản đối cáihọc cầu danh lợi, tranh đấu vì quyền lợi mà chú trọng vào mục đích tìm chân lýtrong giáo dục Chân lý ở đây tức là đạo lý, cho nên Khổng Tử định nghĩa cho
giáo dục là: “Tu đạo chi vị giáo - tu sửa đạo lý gọi là giáo dục “Đạo của Khổng
Tử, lấy hai chữ chí thiện làm cực điểm, chí thiện tức là nhân Từ đầu chí cuối chỉ
Trang 8có một mối, chỉ lấy theo thiên lý làm gốc, dùng hiếu đễ, lễ nhạc mà khiến người
ta tiến đến bậc nhân” [13; 103], để trở thành bậc nhân, bậc thánh con người phải
hiểu đạo lý ở đời Khổng Tử cho là cái đạo ấy có cái vui, cái thú và ông đã cực tả
lòng hâm mộ nhiệt thành đạo lý trong sự học ở câu nói: “Triêu văn đạo tịch tử khả hỹ” - Buổi sáng được nghe mà hiểu đạo, buổi tối chết cũng thỏa [16; 76].
Tóm lại, mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm đào tạo ra cho xã hội
con người có đủ “đức”- “tài”, đem tài trí và sức lực của mình ra giúp đời, dám
xả thân vì nghĩa lớn, vì sự bình yên cho xã hội, cho thiên hạ Con người mà tàiđức song toàn Khổng Tử hướng đến là bậc quân tử có nhân cách cao thượng, tâmđịa rất thánh hiền sống vì điều nghĩa Như vậy, xuất phát từ việc coi giáo dục làmột phương tiện chính trị hữu hiệu nhất nhằm ổn định trật tự xã hội, mục đíchcủa nền giáo dục Khổng Tử không thể không gắn liền và góp phần thực hiệnnhững mục tiêu chính trị Có thể nói, trước yêu cầu của xã hội, Khổng Tử đã
“chính trị hóa” giáo dục một cách sâu sắc, trong đó, mục đích giáo dục con
người và mục đích phục hưng xã hội là thống nhất, không tách rời nhau Nhữngmục đích này đã chi phối đến việc lựa chọn đối tượng giáo dục của Khổng Tử
1.2.2 Đối tượng giáo dục
Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dânlầm than cơ cực, chiến tranh liên miên giữa các nước chư hầu, xuất hiện thêmnhiều giai cấp tầng lớp mới trong xã hội Trước xu thế biến đổi của thời đại,
Trang 9con người đó là “Hữu giáo vô loại” [16; 298], có nghĩa là mọi người trong xã
hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo,chủng tộc, thiện ác, sang hèn, thông minh hay đần độn và được giáo dục là quyềnlợi của tất cả mọi người Khi được giáo dục con người trở về với tính thiện, sẽhiểu được đạo, hành đạo và đạt đạo Đây là tư tưởng có tính đột phá trong một xãhội còn nhiều quan điểm bảo thủ, phải đặt tư tưởng Khổng Tử vào thời điểm lịch
sử lúc bấy giờ chỉ có tầng lớp thống trị có đặc quyền ấy mới thấy hết tính cách
mạng trong tư tưởng của ông, “Hữu giáo vô loại” như phát đại bác nã vào cái
thành trì giáo dục đẳng cấp nặng nề tồn tại từ lâu ở Trung Quốc cổ đại
Khổng Tử còn đặt ra nền giáo dục toàn dân Trước đây chỉ có con em quanlại quý tộc, vua chúa mới được cắp sách tới trường Trường học là của Nhà nướcchỉ tính trên đầu ngón tay Giờ thì công việc học tập dành cho tất cả mọi đẳngcấp trong xã hội Đây là đóng góp to lớn của Khổng Tử cho nền giáo dục nhânloại, mà ngày nay chúng ta đang học tập và làm theo
Bên cạch đó, Khổng Tử cũng là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại thời
kỳ cổ đại mở trường tư với quy mô lớn Trường học của Khổng Tử luôn mở rộngcửa đón tất cả mọi người vào học, đối tượng giáo dục rộng lớn bất kể người nào,chỉ cần có lòng ham muốn học hỏi, tìm hiểu tri thức, học đạo làm người là ông
nhận Với quan niệm “hữu giáo vô loại”, Khổng Tử đã có đông đủ học trò theo
học Học trò của ông đủ các lứa tuổi, tầng lớp, hạng người, bởi ai đến xin học
Trang 10ông đều nhận dạy Khổng Tử nói: “Ai dưng lễ xin học thì từ một bó nem trở lên
ta chưa từng chê là ít không dạy” [16; 123] Theo Khổng Tử, người ham học hỏi
thì dù nghèo khó đến đâu thì ông vẫn tận tình dạy bảo tuần tự dẫn dắt từng bước
để người học tiến đến chỗ hiểu biết, kể cả những người kém cỏi, năng lực nhận
thức yếu ông vẫn nhận làm học trò và chỉ dạy chu đáo Ông nói: “Nếu có kẻ thô
bỉ đến hỏi ta, dầu là kẻ tối tăm mờ mịt tới đâu, ta cũng đem hai bề từ đầu chí đuôi mà dẫn giải cho thật tường tận mới nghe” [15; 134-135].
Thậm chí Khổng Tử còn sẵn sàng dạy cho cả những người ác nghịch, khó
dạy nhưng biết hối cải, có ý thức tự giác vươn lên Ông nói: “Người ta có lòng tinh khiết mà đến với mình, thì mình vì lòng tinh khiết ấy mà thâu nhận người, chớ mình không bảo lãnh những việc đã qua của người Lại nữa, ngày nay người
ta đến với mình thì mình thâu nhận, chớ mình chẳng bảo đảm người khi người thôi ra Chỉ có thế thôi, cần gì phải nghiêm khắc thái quá? - Nhơn khiết kỷ dĩ tấn, dữ kỳ khiết dã, bất bảo kỳ vãng dã; dữ kỳ tấn dã, bất dữ kỳ thối dã Dã hà thậm” [15; 112-113].
Với tư tưởng “hữu giáo vô loại”, học trò của Khổng Tử đến từ nhiều tầng
lớp khác nhau trong xã hội Trong số các học trò của ông, vừa có con em quý tộcnhư Tử Du, Tử Tiên, Nam Cung Kinh Thúc ; lại có cả bình dân gia cảnh bầnhàn, xuất thân hèn kém như Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiêm, Nhiễm Cầu, NhiễmUng ; vừa có những người buôn bán như Tử Cống, Tử Trương ; vừa có con nhà
Trang 11lao động như Tăng Sâm; vừa có người trước đây là hạng bất thiện như Nhan Trác
Du, hay “cuồng phong” như Sầm Trương, Mục Bì
Xét trong bối cảnh lịch sử thời bấy giờ, xã hội mà con người đặc biệt làngười nô lệ chỉ được xem là công cụ biết nói thì những tư tưởng tiến bộ có tínhnhân văn, là giá trị lịch sử mà Khổng Tử đem lại cho nhân loại
Xuất phát từ quan niệm về bản chất con người, Khổng Tử đặt ra yêu cầugiáo dục tính thiện cho con người Khổng Tử nhận thấy nhân cách của con ngườikhông phải bẩm sinh mà có, bởi bản chất con người khi sinh ra đều giống nhau,
nhưng do tập quán thói quen mà làm cho bản tính con người xa nhau.“Tính tương cận dã, tập tương viễn dã” [16; 284] Chính vì vậy, Khổng Tử lấy giáo
dục làm phương tiện để làm cho con người trở về bản tính ban đầu Do đó, việc
giáo dục là quan trọng đối với mỗi người Ông chủ trương giáo dục “học hạ tư nhân”, tức là việc giáo dục phải tiến hành từng bước, trước tiên phải giáo dục từ
trong gia đình đó là trường học đầu tiên của mỗi người, sau đó mới đến nhàtrường phân ra các cấp học cơ sở, để phù hợp với mọi trình độ lứa tuổi, điều nàyrất phù hợp trong thời đại xã hội ngày nay
Với tư tưởng “hữu giáo vô loại”, hướng tới đối tượng giáo dục cho tất cả
mọi người, đối tượng dạy bảo là rộng lớn nhưng trong đó vẫn chủ yếu dành cho
người quân tử Vì “Quân tử học đạo tắc ái nhân, tiểu nhân học đạo tắc dị sử dã” - có nghĩa là người quân tử học đạo thì yêu người, còn tiểu nhân học đạo thì
Trang 12dễ sai khiến [16; 285] Cũng xuất phát từ lợi ích và địa vị đẳng cấp xã hội, nên
Khổng Tử cũng cho rằng đối với dân việc gì cần thiết thì cứ sai khiến không nên
giảng giải, vì dân không có khả năng hiểu ý nghĩa công việc mình làm “Dân khả
sử do chi, bất khả sử tri chi” [16; 143] Như vậy, thực chất đối tượng giáo dục
mà Khổng Tử hướng đến chỉ là người quân tử, còn người dân lao động và kẻ tiểunhân thì có dạy cũng không hiểu gì cả
Khổng Tử cho rằng, có hai hạng người không thể thay đổi được là thượng
trí và những kẻ hạ ngu.“Duy thượng trí dữ hạ ngu bất di” [16; 285], Khổng Tử chia thiên hạ ra làm nhiều người: “Sinh ra đã biết là bậc trên, học rồi mới biết là bậc thứ, gặp cảnh khốn nạn rồi mới chịu học, lại còn thấp hơn nữa, thấp nhất là gặp cảnh khống nạn rồi vẫn không chịu học” [16; 277] Đặc biệt, trong đối tượng
giáo dục của ông, Khổng Tử còn xem thường không có thiện cảm đối với sự giáo
dục, dạy học cho người phụ nữ: “Chỉ có hạng tì thiếp và tôi tớ là khó cư xử với
họ, thân cận với họ thì nhờn, xa cách với họ thì tắc oán” - Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã Cận chi tắc bất tốn viễn chi tắc oán [16; 297] Đây là một
hạn chế do lập trường giai cấp nặng nề và là hạn chế của lịch sử, trong tư tưởnggiáo dục của Khổng Tử
Như vậy, đối tượng giáo dục của Khổng Tử, một mặt mang tính chất bìnhđẳng và hết sức tiến bộ, nhưng mặt khác, nó không vượt qua được hạn chế bởitầm nhìn lịch sử và tính chất hết sức nghiệt ngã của chế độ phong kiến Nhìn
Trang 13chung đối tượng giáo dục của Khổng Tử có thể chia làm hai loại: trước hết làtầng lớp quý tộc thống trị, đây là đối tượng giáo dục chính của Khổng Tử Sau đótầng lớp thứ dân, tuy vậy chỉ có những người biết lắng nghe lời khuyên bảo củathánh hiền, còn đối với kẻ vô đạo, tiểu nhân thì mãi không cải tạo được Mặc dùcòn nhiều hạn chế nhất định, nhưng chúng ta không thể phủ nhận những giá trị
mà ông đã đạt được trong giáo dục Đặc biệt là về đối tượng giáo dục Với quanđiểm đó, Khổng Tử là người có tầm nhìn vượt thời đại Tư tưởng đó rất đáng trântrọng, cần được giữ gìn và phát huy một cách tốt nhất trong thời đại ngày nay
1.2.3 Nội dung giáo dục
Khổng Tử căn cứ vào nhu cầu xã hội đương thời mà xác định nội dung giáodục Xuất phát từ quan niệm bản tính con người là ngay thẳng, là thiện; cũng như
quan niệm cho rằng nguyên nhân của “vương đạo suy vi, bá đạo nổi lên” là ở con người Do con người không có “đạo”, làm trái với “đạo” “Đạo” mà Khổng
Tử nói đến ở đây thực chất là “đạo làm người” Chính vì con người không có
“đạo” mới dẫn đến chuyện tranh giành quyền lực, địa vị, đất đai, chém giết lẫn
nhau làm cho kỷ cương phép tắc đảo lộn, làm cho xã hội rối loạn Để cho xã hội
trở lại thanh bình, theo Khổng Tử phải làm cho con người có “đạo”, hiểu
“đạo”, làm theo “đạo” Đạo mà Khổng Tử nói đến ở đây chính là Nhân, Lễ và
Chính danh định phận
Nội dung giáo dục của Khổng Tử là dạy về đạo lý làm người “Để chí vào học, giữ gìn đức hạnh, nương theo điều nhân, vui với lục nghệ, tức là lễ, nhạc,
Trang 14xạ, ngự, thư - viết số, số - toán pháp” [16; 123] Tập trung vào ngũ thường - năm
phẩm chất của người quân tử là: nhân - lễ - nghĩa - trí - tín Nội dung đó được tậphợp trong sáu ngành: lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số và bốn khoa: đức hạnh, chính trị,ngôn ngữ, văn học Đức hạnh nhằm phát triển cho những người thực hành phẩmchất đạo đức Chính trị dành cho những người hoạt động chính trị, cai quản quốcgia Ngôn ngữ chủ yếu dành cho những người cần biện luận lý thuyết Văn họcdành cho những người muốn đi sâu nghiên cứu văn chương Dựa vào bốn loại
đó, Khổng Tử đã đào tạo thành công các học trò của mình Về đức hạnh có:Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung Về chính trị có:Nhiệm Hữu, Qúy Lộ Về ngôn ngữ có: Tể Ngã Tử Cống Về văn học có: Tử Du,
Tử Hạ Đây là chính là Khổng Tử dựa vào sở trường của từng người mà bồidưỡng thành nhân tài Từ đó chúng ta cũng có thể thấy sự phân loại trong giáodục của ông
Tài liệu học tập và giảng dạy chỉ tập trung vào Lục Kinh: Thi, Thư, Dịch,
Lễ, Nhạc, Xuân Thu Kinh điển được ông coi trọng hơn cả là kinh Thi, vì vậy nóđứng đầu lục kinh, sau đó là kinh Thư, kinh Dịch, kinh Lễ, kinh Nhạc, kinh XuânThu Kinh Lễ và kinh Nhạc là để bồi đắp thêm cho kinh Thi, ba cái đó cùng kếthợp, bồi đắp với nhau
Kinh Thi: là một bộ sách sưu tập các loài ca dao, dân ca, nghi lễ của cácnước, từ thời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu Khổng Tử giới thiệu
Trang 15Kinh Thi cho học trò với nhiều lý do: thứ nhất là giúp học trò hiểu được phongtục tập quán của các quốc gia khác, thứ hai giúp học trò sống hòa thuận vớinhững người khác, thứ ba vì nó là phương tiện để giải tỏa tình cảm Khổng Tử làngười có công lớn trong việc chỉnh lại Kinh Thi.
Kinh Thư: là bộ sách chép những lời dạy của vua từ đời Vua Nghiêu, VuaThuấn cho tới đời Tần Mục Công (khoảng từ năm 2350 - 520 tr.CN) Bộ sáchtrình bày tỉ mỉ hoạt động, đường lối, tư tưởng của người cổ về đối nhân xử thế,
đề cao phương pháp trị vì thiên hạ bằng đạo lý
Kinh Lễ : là sách trình bày tổ chức hành chính, trật tự xã hội, chính trị thờinhà Chu Bao gồm Chu lễ, lễ nghi, lễ kỷ Chỉ có Chu Lễ mang tính chất triết học.Kinh Lễ là bộ sách lý luận và biện pháp tổ chức xã hội mà Khổng Tử rất tâm đắc.Kinh Dịch : là bộ sách chủ yếu để bói toán nhưng lại chứa đựng tư tưởngtriết học sâu sắc Đây là bộ sách nói lên tư tưởng của người Trung Hoa cổ đại, từgiải thích thế giới theo bản chất âm dương, bát quái để đi đến giải thích số phậncon người và sự biến dịch của xã hội Khổng Tử là người say mê Kinh Dịch.Kinh Xuân Thu: là bộ sách ghi lại lịch sử nước Lỗ từ thời thứ nhất Lỗ ẤnCông (năm 722 tr.CN - năm thứ 14 Lỗ Ái Công 481 tr.CN), gồm 242 năm.Khổng Tử viết Kinh Xuân Thu để khen thiện, chê ác, dạy phép trị vì thiên hạ cho
các thiên tử Phép trị nước này là thuyết “Chính danh” xuyên suốt sách Xuân
Thu mà trọn đời Khổng Tử tuân theo
Trang 16Khổng Tử thường hay giảng luận về kinh Thi, kinh Thư, kinh Lễ để giữphép tắc, đây là ba thứ kinh mà Khổng Tử thường giảng luận Trong Ngũ Kinhtrừ kinh Xuân Thu là trước tác của ông, còn kinh Nhạc, kinh Thi thì Khổng Tửchỉnh lý lại cho phù hợp với quan điểm chính trị của mình Theo Khổng Tử NgũKinh là tài liệu cơ bản để giảng dạy nhằm xây dựng mẫu hình, phẩm chất caoquý của con người quân tử
Trong cốt cách của con người quân tử thì nhân hay đức nhân là phạm trù cơbản, phạm trù xuất phát Các yếu tố khác: Nghĩa - Lễ - Trí - Tín chỉ là bộ phậncủa nhân, biểu hiện của nhân trong các mối quan hệ ứng xử cụ thể
Khi không còn tham gia vào việc triều chính, Khổng Tử quay sang dạy học,ông cho rằng giáo dục là biện pháp để thực hiện đức trị Vì vậy, Khổng Tử làmcông tác giáo dục, không chỉ đơn thuần là truyền thụ tri thức cho học trò, mà cònxem việc giáo dục là phương tiện trọng yếu để thực hiện rộng rãi đạo trị quốc
Khi có người hỏi vì sao không ra làm quan, Khổng Tử trả lời rằng: “có hiếu với cha mẹ, hòa thuận với anh em, đưa phong khí đó vào trong chính trị, ấy cũng là tham gia chính trị rồi, tại sao cứ phải ra làm quan?” [16; 50] Những kiến thức
mà ông dạy học trò đều rất thiết thực, gắn liền với cuộc sống thường ngày, Thi đểdạy về chí, Thư để dạy về việc, Lễ để dạy về đức hạnh, Nhạc để dạy về hòa, Dịch
để dạy về âm dương, Xuân Thu để dạy về danh phận Trước Khổng Tử nền giáo
Trang 17dục về lục nghệ chỉ được thi hành cho một nhóm người quý tộc, đến Khổng Tử làngười có công đầu tiên đã dùng lục nghệ để dạy cho đại chúng.
Tùy theo từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà Khổng Tử đề cập đến Nhântheo những nghĩa khác nhau Theo nghĩa sâu rộng nhất, nhân là một nguyên tắcđạo đức trong triết học Khổng Tử, nhân được ông coi là cái quy định bản tínhcon người thông qua lễ, nghĩa, quy định quan hệ giữa người và người từ trong giatộc đến ngoài xã hội
Thế nào là nhân ? Các đệ tử hỏi Khổng Tử, thì ông tùy theo học lực, tư cáchcủa từng người mà trả lời mỗi người một khác Khi Phan Trì hỏi Khổng Tử về
nhân là gì? Khổng Tử đáp: “Nhân là yêu người” (Ái nhơn) [12; 207] Nhan Tử hỏi nhân - Khổng Tử nói rằng:“Khắc kỉ phục lễ vi nhân - Thắng được ham muốn của bản thân làm theo lễ ấy là nhân” [13; 294] Khi Nhan Uyên hỏi nhân, Khổng
Tử đáp:“Khắc kỉ thắng chế tư dục mà trở về lẽ đạo lý thì là nhân Một ngày khắc
kỉ trở về lễ thì khắp thiên hạ sẽ khen đức nhân của mình Làm điều nhân là cho mình, chứ đâu có do con người” [12; 196] Trọng Cung hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp: “Xuất môn nhi kiến đại tân sử dân như thừa đại tế Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Ra khỏi cửa thì phải kính cẩn như gặp khách quý Sai khiến dân thì phải thận trọng như một cuộc tế lễ lớn, cái gì mình không muốn thì đừng ép người”
[14; 295]
Trang 18Khổng Tử cũng nói: “Người có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh loạn lạc Người có đức nhân vui lòng làm điều nhân, người thông minh sáng suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân” [16; 73].
Trả lời học trò nhiều cách khác nhau về chữ nhân, nhưng Khổng Tử vẫn chưa
định nghĩa được chữ nhân là gì và như lời nhận xét của Cao Xuân Huy: “Nhân” là tính người, nhưng tính người là gì? Phải xác định được tính người mới bết bản thể của chữ nhân Nhưng đó là một điều kiện không gì khó hơn thế ” [12; 410] Song, về
cơ bản thì như Doãn Chính nói: “Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân nghĩa là nghĩa rộng lớn của đạo làm người Đạo là người có hàng ngàn, hàng vạn điều, nhưng chung lại chỉ là những điều đối với mình và đối với người, nên nhân có thể hiểu là cách cư xử với mình và với người” [3; 63].
Đối với mình thì người có nhân phải: “Nhân giả tiên nan nhi hậu hạnh, khả
vị nhân hĩ” - có nghĩa là đối với bản thân thì người có đức nhân phải chịu khó nhọc làm lụng để rồi sau mới lượm được kết quả, như vậy mới là người có đức nhân [16; 155] Đối với người nguyên tắc suốt đời của nhân, là phải yêu thương
người khác, quý trọng người khác Vì có nhân là khi mình muốn tự lập thì cũngphải thành lập cho người, mình muốn thành công thì cũng phải giúp người khácthành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân Người làm điều nhân
Trang 19phải luôn giữ mình trung tín, cung kính, nói năng thận trọng Công phu ấy có tínhchất hướng nội không lo buồn vì thấy mình không có lỗi, an bần lạc đạo.
Khổng Tử cho rằng bản tính con người là giống nhau, chỉ do vị trí xã hội
làm cho họ khác nhau “tính tương cận tập tương viễn” Về cơ bản con người
sinh ra bản tính là ngay thẳng, cái bẩm tính ngay thẳng này thể hiện ở chữ nhân
Đó là gốc của đạo làm người, là Trung - Thứ
Trung là đối với mình, đó là thái độ xử kỉ “kỉ dục lập nhi lập thân, kỷ dục đạt nhân” [16; 119] - nghĩa là mình muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập
thân, mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt
Thứ là cái mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” [16; 196] Như vậy, đạo của Khổng Tử chỉ có một lẽ thông suốt ta nên học tập theo “đạo của thầy chỉ có trung thứ mà thôi” [16; 79].
Nhân còn bao hàm năm tiêu chí: cung, khoan, tín, huệ, mẫn Năm điều “đứchạnh” này theo Khổng Tử đó là nghiêm trang tề chỉnh (cung), có lòng rộng lượng(khoan), có đức tín thật (tín), may mắn siêng năng (huệ) và thi ân bố đức (mẫn)
Khổng Tử cũng giải thích vì sao có năm điều “đức hạnh” này lại có nhân Ông nói: “Nếu mình nghiêm trang tề chỉnh, thì chẳng ai đám khinh dễ mình Nếu mình có lòng rộng lượng, thì mình thâu phục lòng người Nếu mình có đức tín thật, thì người ta tin cậy mình Nếu mình may mắn, siêng năng, thì làm được công việc hữu ích Nếu mình thi ân bố đức, thì mình sai khiến được người” -
Trang 20Cung tắc bất vũ; khoan tắc đắc chúng; tín tắc nhơn nhậm yên; mẫn tắc hữu công; huệ tắc túc dĩ sử nhơn [15; 272-273].
Ngoài ra, Nhân còn bao gồm Hiếu đễ Hiếu đễ là tiêu chuẩn trong gia đình.Hiếu là tiêu chí của con cái đối với cha mẹ Đễ là tiêu chí của người em đối vớianh, chị và người lớn tuổi Khổng Tử xem Hiếu đễ là cái gốc của nhân Ông chorằng, người mà biết giữ gìn nết hiếu, nết đễ, tức là biết nắm lấy cái gốc của nhân.Người có nhân là người biết kính yêu cha mẹ và người lớn trong nhà, có như vậymới biết yêu thương người ngoài Người cầm quyền muốn trị nước an dân thì cầnphải có hiếu đễ
Chính vì vậy, Khổng Tử yêu cầu rất chặt chẽ về Hiếu đễ Những người biếtđem hết sức mình thờ phụng cha mẹ, liều thân phục vụ vua, chân tình với bằnghữu đó là những người có học Đối với cha mẹ, Khổng Tử yêu cầu không chỉchăm sóc cha mẹ có hiếu đễ, mà đồng thời phải có lòng thành kính
Theo Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vuilâu dài với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên
ổn thanh thản Do vậy, theo ông “bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn, người quân tử không bao giờ sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân” [15; 52-53].
Đức nhân là biểu hiện đặc biệt của người quân tử, nó bao trùm chi phối cácphạm trù còn lại: lễ, nghĩa, trí, tín
Trang 21Lễ là hình thức của nhân, là quy phạm đạo đức điều chỉnh hành vi của conngười trong trật tự xã hội Lễ mà Khổng Tử dạy cho học trò có nội dung là lễ tế,pháp điển phong kiến, phong tục với tập quán và kỷ luật tinh thần Đối với các họctrò có tư chất cao, ông mới dạy cho những lễ tế quan trọng của triều đình và phápđiển của chế độ phong kiến; còn những người hạng dưới thì ông chỉ dạy chonhững phong tục tập quán, tức phép cư xử và luyện cho họ có kỷ luật tinh thần.Khổng Tử dạy học trò phải có sự kính cẩn, nghiêm túc, cẩn thận trong khi hành lễ.Chẳng hạn, Khổng Tử dạy học trò khi tế tổ tiên hay thần linh thì phải rất mực cungkính như có tổ tiên và thần linh hiện tại [15; 38-39] và dù mình có khó khăn thì khicúng tế đồ tế phải thật hậu và đồ mặc cúng tế phải đẹp [15; 130-131].
Nội dung quan trọng nhất của Lễ mà Khổng Tử giáo dục học trò là phápđiển của chế độ phong kiến Nguồn gốc nảy sinh của Lễ từ việc tế tự, cầu khẩn tổtiên, quỷ thần của con người Khổng Tử xem Lễ với tư cách là một pháp điển củachế độ phong kiến, là nội dung quan trọng nhất trong Lễ của ông không phải làmột điều khó hiểu Ông sinh ra trong thời kỳ loạn lạc, lễ tiết đang băng hoại, màtheo ông vua không ra vua, tôi không ra tôi, cha không ra cha, con không ra con
Do đó, để lập lại trật tự xã hội, ông chủ trương khôi phục lại Lễ của nhà Chu.Lấy đó làm chuẩn mực để dạy các học trò hướng tới xây dựng một xã hội lýtưởng, vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con Khổng Tử giáo dục học tròcách thức và biện pháp để có thể khôi phục và củng cố lễ chế nhà Chu Khổng
Trang 22Tử chủ trương dùng người học lễ nhạc trước rồi sau đó mới làm quan, chứ khôngchọn người làm quan rồi mới học lễ nhạc.
Một nội dung quan trọng nữa của Lễ mà Khổng Tử giáo dục học trò là nhữngquy phạm đạo đức xã hội Khổng Tử là người đã đem lễ tiết nhà Chu cải biếnthành một quy phạm trù đạo đức được coi là mực thước cho các hành vi của conngười trong xã hội Đây là một nội dung mới của Lễ kể từ thời Xuân Thu Ông dạycác học trò phải biết lễ, hiểu lễ Bởi vì Lễ rất quan trọng đối với con người Việcnhìn, nghe, nói, hành động của con người đều nằm trong phạm vi của lễ Mộtngười mà mọi cảm giác, lời nói, hành động, không thất lễ mới có thể có chỗ đứng
trong xã hội Chỉ có khi nào có lễ thì lúc đó con người mới “tề chỉnh”, “thông đạt” Nếu con người không biết lễ, hiểu lễ thì sẽ dẫn đến hại mình, thậm chí gây loạn cho xã hội Ông nói: “Cung kính quá lễ thành ra lao nhọc thân hình, cẩn thận quá lễ thành ra nhát gan; dũng cảm quá lễ thành ra loạn nghịch; ngay thẳng quá lễ thành ra gắt gỏng, cấp bách” - Cung nhi vô lễ, tắc lao; thận nhi vô lễ, tắc tỹ; dõng nhi vô lễ, tắc loạn; trực nhi vô lễ, tắc giảo [15; 120-121] Do vậy, Khổng
Tử dạy học trò phải theo Lễ mà thực hiện mọi hành động của mình Nếu điều gì
không hợp Lễ thì không nên làm: “sắc chi chẳng hợp lễ thì mình đừng ngó, tiếng chi chẳng hợp lễ mình đừng nghe; lời chi chẳng hợp lễ thì mình đừng nói; việc chi chẳng hợp lễ thì mình đừng làm” - Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn,
Trang 23phi lễ vật động [15; 180-181] Chỉ có lấy Lễ làm chuẩn mực cho hành vi của mình
thì con người mới đạt được đức nhân
Lễ và Nhân trong tư tưởng Khổng Tử có quan hệ chặt chẽ với nhau Người
nào muốn có nhân thì phải “khắc kỷ, phục lễ”, tức là phải chế ngự, phải thắng
được mình, dẹp bỏ tư dục để theo đuổi lễ thì thiên hạ sẽ coi mình là người nhân.Nhân là cái bao trùm nhiều đức khác trong đó có Lễ Khổng Tử dạy dỗ khôngphải chú ý đến cái hình thức biểu hiện bên ngoài mà hướng đến đức nhân bên
trong nội dung lễ Ông nói: “Người mà chẳng có lòng nhân sao thi hành lễ tiết”
[15; 32-33] Nhân là nội dung, lễ là hình thức của nhân, do đó, không có lòngnhân thì lễ chỉ là giả dối
Như vậy, với những nội dung của Lễ, có thể thấy xã hội mà Khổng Tử xây
dựng là một xã hội hết sức “lý tưởng” Tuy nhiên, bên cạnh những điều tốt đẹp
thì Lễ của Khổng Tử cũng còn rất nhiều hạn chế Lễ biểu hiện tư tưởng đạo đứccủa Khổng Tử, đồng thời phản ánh tư tưởng đạo đức của giai cấp thống trị nhàChu Lễ, về mặt đạo đức, đòi hỏi phải tuân theo những quy tắc định sẵn, nhưngKhổng Tử đã đề cao quá mức Lễ, coi đó như là trang sức của con người Ông bóbuộc con người vào một khuôn thước nhất định, chỉ có một hướng duy nhất làcúi đầu tuân thủ, không thể làm trái những gì lễ đã quy định Trong giáo dục Lễ,Khổng Tử cũng chỉ chú ý một chiều từ trên xuống, tức là từ xã hội đến cá nhân.Ông chưa thấy được và thực sự chưa biết khơi dậy tính tự giác của mỗi cá nhân
Trang 24trong việc tìm hiểu lễ và thực hành lễ, ngược lại, lại đè nén cá tính sôi động vàkhả năng sáng tạo của con người Do đó, có thể nói, nội dung Lễ của Khổng Tử
là cứng nhắc, giáo điều và có khuynh hướng bảo thủ, lạc hậu
Một phẩm chất quan trọng của người quân tử đó là Nghĩa Nghĩa bao gồmnhững cái cao thượng chính trực, tốt đẹp và phù hợp với nhân và lễ Làm điều
“nghĩa” là để thi hành đạo nhân và giữ gìn lễ tiết Khổng Tử đánh giá rất cao đức
“nghĩa” và cho rằng nghĩa chỉ có ở người quân tử và chủ trương: “Quân tử nghĩa dĩ vì thượng, quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo - Quân tử lấy nghĩa làm trên hết, quân tử có dũng mà không
có nghĩa thì làm loạn, tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thành trộm cướp”
[16; 296] Người quân tử khi làm việc nghĩa họ không cầu danh lợi lộc, còn kẻ
tiểu nhân thì làm việc chỉ mong cầu lợi: “quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi”
[16; 79] Người quân tử hiểu rõ việc nghĩa nên mới dốc lòng làm việc nghĩa, như
vậy “người quân tử làm việc gì cũng lấy nghĩa làm gốc”, nghĩa khí của người
quân tử rất đáng trân trọng và học hỏi
Nhưng để thực hiện điều nghĩa, làm điều nghĩa thì người quân tử phải cótrí Trí là tri thức Nhờ có trí mà người quân tử không bị mê hoặc, không bị lầmlạc và đủ sức phân biệt đúng sai Nhờ có trí mà người quân tử ứng xử đúng lễ,làm đúng điều nhân, mà nhờ có nhân thì người quân tử mới có trí
Trang 25Khi Phàn Trì hỏi về “Trí”, Khổng Tử đáp “Trí là biết người”, Phàn Trị chưa hiểu thấu, Khổng Tử giảng “là dùng người trực, bỏ kẻ gian như vậy mới có thể giáo hóa kẻ gian thành trực” [16; 207] Trí còn là khả năng xét đoán con
người và thời thế cho nên người có trí là người biết phân biệt kẻ tiểu nhân vàngười quân tử, để từng đó dùng đúng người đúng việc - việc nhỏ không nên giaocho người quân tử, việc lớn không nên giao cho kẻ tiểu nhân
Trí còn là sự thông minh sáng suốt, người có nghĩa sẵn sàng xả thân vìngười khác nhưng không phải mù quáng mà rất tỉnh táo và có “Trí’, nên Tể Dư
hỏi: “Giả sử người nhân biết có kẻ ngã xuống giếng, nên nhảy xuống cứu chăng?, Khổng Tử đáp: nên đến đó tìm cách để cứu chứ không thể để cho người
ta hãm hại mình; có thể bị gạt một cách hợp lý, chứ không thể bị gạt một cách vô lý” [16; 117].
Trong quan hệ giáo tiếp hoặc giả tranh luận một vấn đề gì đó, chủ thể được
gọi là trí nhân phải tuân thủ: “biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế mới là biết” [2; 23] Có nghĩa là biết thì nói biết đã đành, không biết thì nói là
không biết, đó là người có trí Người quân tử không bao giờ nói dối, phải trungthực, sự trung thực đó bao hàm thái độ cầu thị, để từ chỗ người quân tử chưa biết,vươn lên để biết, để chiếm lĩnh tri thức
Chỉ có người quân tử mới có “Trí” còn kẻ tiểu nhân không có “Trí” nên
quân tử không học cũng biết, còn kẻ tiểu nhân có học cũng không biết Khổng Tửcho rằng “Trí” không phải ngẫu nhiên mà có, đó là kết quả của quá trình học tập,
Trang 26do đó“ưa làm điều nhân mà không ham học thì bị sự che lấp là ngu muội, ham đức trí mà không ham học thì bị sự che lấp là phóng đãng” [16; 288] Vì vậy để
trở thành người quân tử hoàn thiện có đủ đức và tài thì phải hỏi
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định với quân tử, cái trí ở đây bao hàm sựchân thật, chứa đựng chữ tín ở trong đó
Tín là một trong năm phẩm chất của người quân tử Tín là ngôn (lời nói) vàhành (việc làm) phải đi đôi với nhau, thống nhất với nhau Tín cũng có nghĩa làthật thà, cũng có nghĩa giữ đúng lời hứa: Kính sự như tín Đối với bạn bè thì phải
thật lòng “Bằng hữu tín chi” Đối với người quân tử phải luôn giữ chữ tín, những
lời mình nói ra những gì mình đã hứa thì phải cố gắng hoàn thành cho tốt, không
nên nói lời xuông, hứa suông “Quân tử nhất ngôn” Vì vậy, người quân tử rất trọng chữ “Tín”, “Tín” là phẩm chất vô cùng có ý nghĩa đối với việc lãnh đạo
dân - nếu làm mất niềm tin nơi người dân thì khó có thể giữ được trật tự lề nghĩa,
đối với người quân tử trọng đạo trị nước thì chữ “Tín” là quan trọng Trong ba
điều quan trọng của một đất nước: lương thực cho dồi dào, binh lực cho mạnh mẽ
và được lòng tin của dân, trong ba điều ấy thì quan trọng nhất vẫn là lòng tin củadân, đó chính là chữ tín Vậy nên ông dạy người quân tử phải hết sức thận trọnglời nói, bởi vì nếu lời nói và việc làm không đi đôi với nhau thì sẽ không thể giữđược chữ tín, nó là sự biểu hiện nhân cách trong cuộc sống thường nhật
Với những nội dung giáo dục như trên, Khổng Tử đã thành công trong việcđào tạo nên những con người có tài đức song toàn cho việc xây dựng đất nước
Trang 27khi đưa ra những nội dung giáo dục tiến bộ như thế Khổng Tử dạy, đào tạo nênnhững con người toàn diện phụng sự cho quốc gia, qua đây, ta thấy nội dung giáo
dục của ông thật phong phú: “kẻ thì hay về đức hạnh như Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiêm, kẻ thì giỏi về ngôn ngữ như Tử Cống, Tể Ngã, kẻ giỏi về chính sự như Nhiên Hữu, kẻ hay về văn học như Tử Cống, Tử Hạ ” [29; 224].
Tuy nhiên, với việc giáo dục có bốn khoa, sáu ngành nhưng nội dung giáodục của Khổng Tử vẫn rất ít ỏi, hạn hẹp và phiến diện nặng về giáo dục các môn
xã hội, nặng về đạo đức ứng xử, còn về tự nhiên, khoa học thì chưa đề cập tới,ông coi thường những nghề lao động chân tay, ông không bao giờ dạy học trò vềbinh bị, chiến trận, trồng trọt và cày cấy xem đó là những nghề hạ đẳng Ông
giải thích rằng: “Nếu người bề trên chuộng lễ, thì dân chẳng dám bỏ niềm cung kính Nếu người bề trên háo nghĩa, thì dân chẳng bội lẽ công chính Nếu người
bề trên biết tín thật, thì dân chẳng sai ngoa trong tình giáo ước Nếu nhà cầm quyền ở đủ lễ, nghĩa, tín như vậy, thì dân chúng từ bốn phương xa sẽ đai con đến
để phục dịch mình Cần chi phải học nghề cày cấy” [15; 200-201] Chỉ có lễ,
nghĩa mới có thể thu phục được lòng người, lao động chân tay không phải côngviệc của người quân tử, mà là của thứ dân, những người có ý chí hạn hẹp Tuy
còn nhiều hạn chế, nhưng nhìn chung ông vẫn xứng đáng là “vạn thế sư biểu”
bởi những đóng góp có giá trị to lớn của Khổng Tử cho nền giáo dục nhân loại
Trang 28Chúng ta thấy có nhiều điều sâu sắc rất cần tiếp thu, phát triển và vận dụng vàonền giáo dục của chúng ta hiện nay.
1.2.4 Phương pháp giáo dục
Trong quá trình dạy học, Khổng Tử đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học
có tầm nhìn chiến lược, ý nghĩa thiết thực và có hiệu quả cao trong quá trình dạy
và học như: phương pháp dạy tùy đối tượng; phương pháp kết hợp học với suyngẫm; phương pháp học đi đôi với hành; phương pháp nêu gương; phương pháp
ôn cũ biết mới
- Phương pháp dạy tùy đối tượng: là phương pháp căn cứ vào tư chất, trình
độ và nhu cầu của người học mà đưa ra nội dung, yêu cầu và phương pháp giảngdạy phù hợp để từ đó nâng cao tối đa năng lực của mỗi người Thường ngày,
Khổng Tử quan sát rất kỹ các học trò, ông thường nói: “Trò Sài (Cao Sài tự Tử Cao) thì kém thông minh; trò Sâm (Tăng Tử) chậm lụt thật thà; trò Sư (Tử Trương) thì hay chưng diện bề ngoài; còn trò Do (Tử Lộ) thì thô tục kém văn nhã” [16; 168] Trên cơ sở nắm vững tính cách, trình độ, sở thích, ưu điểm,
khuyết điểm của từng người, ông mới đưa ra những nội dung giáo dục phù hợp Ông không thích áp đặt cách giáo dục cứng nhắc, rập khuôn sáo rỗng mà ôngluôn khuyến khích học trò phát huy sở trường, sở đoản, ý thích và khả năng củatừng người Khi dạy ông cũng dựa vào tính tình từng người, mà Khổng Tử trả lờimột nội dung khác nhau Mạnh Ý Tử nhiều khi thất lễ với cha mẹ nên Khổng Tử
Trang 29thường tính mạng, không thận trọng lấy thân nên khi Mạnh Võ Bá hỏi về Hiếu,Khổng Tử dạy: phải giữ gìn thân thể khỏe mạnh, tránh nỗi lo của cha mẹ Tử Dubiết nuôi cha mẹ nhưng lại không có lòng hiếu kính nên Khổng Tử dạy: phải hiếu
và kính với cha mẹ, nếu nuôi cha mẹ mà không hiếu kính thì chẳng khác gì nuôichó ngựa
Từ những nội dung trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy cách giáo dục củaKhổng Tử rất tiến bộ so với thời đại ông Trong phương pháp của Khổng Tử, ôngnhấn mạnh đến vai trò chủ thể của người học và tính linh hoạt của người dạy.Người thầy chỉ giữ vai trò hướng dẫn và tạo điều kiện để học trò tự phát huynăng lực bản thân Có thể nói Khổng Tử là người đầu tiên đề xuất và quán triệtphương pháp này và đã thu được những thành công to lớn trong lĩnh vực giáodục Điều này đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn trong điều kiện giáo dục đòi hỏingười học làm trung tâm
- Phương pháp kết hợp học với suy nghĩ: Trong quá trình dạy học, Khổng
Tử luôn khích lệ học trò tự suy nghĩ, người thầy chỉ giữ vai trò hướng dẫn Chính
vì vậy, Khổng Tử đòi hỏi học trò phải phát huy tính năng động, linh hoạt của
mình để suy nghĩ ra vấn đề Có như vậy học trò mới phát triển được: “Học mà chẳng suy nghĩ thì chẳng được thông minh Suy nghĩ mà chẳng chịu học thì lòng
dạ không được yên ổn - Học nhi bất bất tư, tắc võng, tư nhi bất học, tắc đãi” [15;
22-23] Khổng Tử không bao giờ giảng dạy một cách chi tiết vấn đề học trò hỏi
Trang 30mà ông chỉ nói một cách khái quát mang tính gợi mở để học trò tự suy ngẫm,người nào không chịu suy nghĩ thì dạy cũng vô ích.
Như vậy, Khổng Tử rất chú ý đến tính chủ động, tích cực suy nghĩ củangười học, xóa bỏ sự thụ động trong việc tiếp thu tri thức Ông đặt ra yêu cầungười học phải có lòng yêu thích đạo lý, biết bực bội, uất ức tức giận vì sự kém
cỏi của mình để có ý chí vươn lên Ông nói: “Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng khai phát cho được Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy cho kẻ ấy nữa” [15; 100-101] Chỉ có như vậy người học mới có thể hiểu được sự vật, mới
biết ít hiểu nhiều, học một biết mười Đối với việc học, suy nghĩ là một khâukhông thể thiếu được, nó là tiền đề cần thiết cho sự tiếp tri thức của người học.Bản thân Khổng Tử cũng thừa nhận ông không phải là biết hết mọi thứ một cách
dễ dàng mà là quá trình đào sâu suy nghĩ, đi từ biết ít đến biết nhiều
Trong mối quan hệ giữa học và suy nghĩ, theo Khổng Tử, thì học có vai trò
quyết định Ông nói: “Trước đây, ta mảng trầm tư mặc tưởng mà trọn ngày quên
ăn, trọn đêm quên ngủ Xét ra, sự ấy không mấy gì có ích cho ta Chẳng bằng chậm học còn hơn” [9; 250-251] Ông khuyên học trò không nên suy nghĩ quá
nhiều, qua sâu xa mà thành câu nệ do dự, thiếu quả quyết, mà theo ông chỉ nên
suy nghĩ hai lần là đủ “tài tư khả hỹ” [15; 76-77]
Trang 31Như vậy, từ việc đặt ra yêu cầu học kết hợp với suy nghĩ, suy nghĩ gắn liềnvới học, Khổng Tử đã nhận thấy mối quan hệ biện chứng giữa học với suy nghĩ,
đã chỉ ra được mối liên hệ giữa nhận thức cảm tính, trực quan với nhận thức lýtính Ông đòi hỏi học trò phải nghe nhiều, quan sát nhiều từ đó có cơ sở để suynghĩ sâu rộng, nhưng cái gì còn nghi ngờ thì phải trừ lại để đòi hỏi cho rõ ràng,cái gì đã nghe thấy, trông thấy thì phải thận trọng trong nói và làm Có như vậymới đảm bảo tinh thần trung thực, khách quan trong quá trình học tập và tiếp thutri thức và thực hành đạo Ở đây, Khổng Tử ít nhiều đã coi trọng nhận thức cảmtính, nhưng ông cũng khẳng định nhận thức đó chỉ đúng khi người ta biết suynghĩ và hoài nghi về những gì mà giác quan đem lại Bằng cách đó, Khổng Tử đãkhơi gợi và kích thích tư duy của học trò vận động linh hoạt trên cơ sở thực tiễnphong phú và sinh động
- Phương pháp học kết hợp với tập: là phương pháp kết hợp học với việc
tập luyện, vận dụng những điều đã học và đem tri thức đã học vào cuộc sống.Đây là tư tưởng nhất quán trong thực tiễn giáo dục của Khổng Tử Ông dạy họctrò phải củng cố những kiến thức đã học bằng cách vận dụng ngay chứ khôngphải bằng cách ôn luyện trong sách vở, ở câu văn, lời nói của thầy Học và tập lànhững giai đoạn tất yếu kế tiếp nhau và bổ sung cho nhau trong quá trình học tập
Chính vì thế, Khổng Tử luôn nêu cao tinh thần học phải tập Ông nói: “Kẻ học đạo lý mà thường ngày luyện tập cho tinh thông, thuần nhã, há không lấy đó làm
Trang 32vui sao” [15; 4-5] Nếu học đem lại cho người học tri thức thì tập đem lại cho
người học sự nhuần nhuyễn, linh hoạt và sấu sắc hơn về những tri thức đã học.Chính vì sự quan trọng của việc luyện tập nên Tăng Sâm trong một ngày
thường xuyên tự xét mình về việc luyện tập: “Đạo lý do thầy truyền dạy, ta có học tập hay chăng” [15; 4-5] Luyện tập thường xuyên, người học hiểu sâu sắc
hơn và nắm vững hơn những điều đã học Và khi người học đã nắm chắt nhữngtri thức đã học thì sẽ có cơ sở để hiểu biết thêm nhiều tri thức mới Vì thế Khổng
Tử nói: “Người nào ôn lại những điều đã học, do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người ấy có thể làm thầy thiên hạ đó” [15; 20-21].
- Phương pháp học kết hợp với hành: Khổng Tử yêu cầu học trò học phải
gắn với hành tức là phải vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống.Theo Khổng Tử nếu chỉ biết thế nào là Nhân, Lễ, Trí, Tín mà không thực hànhthì đó mới chỉ là cái biểu hiện hời hợt bên ngoài, không có ý nghĩa, nên ông đòihỏi học trò phải thực hành những điều đã học được với những người khác như
với vua, với cha mẹ, với anh em, với bạn bè Khổng Tử nói: “Đức hạnh chẳng trau dồi, học vấn chẳng giảng cứu cho tinh tường, nghe biết điều nghĩa mà chẳng làm theo, tự mình có điều chẳng phải mà không hay sửa đổi, đó là những việc mà ta lấy làm lo vậy” [15; 98-99] Khổng Tử phản đối việc học đơn thuần,
tức là học để cho biết Theo Khổng Tử, học không chỉ để mở mang thêm kiếnthức mà học còn để sửa mình, học là để biết làm người, cho nên việc học và hành
Trang 33là rất quan trọng Theo Khổng Tử, hằng ngày học bao nhiêu điều hay, bao nhiêuđiều lẽ phải nhưng nếu không đem những điều đã học thực hành vào cuộc sốngthì những điều đã học là những điều sáo rỗng, vô ích Vì vậy, học - tập - hành lànhững công đoạn hết sức quan trọng của quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức.Đây là một đóng góp rất quan trọng của Khổng Tử cho giáo dục về khía cạnhphương pháp Tuy nhiên, Khổng Tử chủ dạy học trò Học, Tập, Hành ở phươngdiện đạo đức, giao tiếp, lễ nghi mà không dạy học trò về các lĩnh vực lao độngsản xuất - lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống xã hội Đây cũng là hạn chếtrong nội dung giáo dục và trong quan niệm Học và Hành của ông.
- Phương pháp nêu gương: là một phương pháp và là một yêu cầu quan
trọng trong giáo dục của Khổng Tử Người thầy không chỉ có kiến thức cao thâm
để có thể dạy học trò giỏi, mà muốn học trò giỏi còn đòi hỏi ở người thầy tư cách
và phẩm chất cao đẹp làm gương cho học trò noi theo Cuộc đời và sự nghiệp củaKhổng Tử là minh chứng cho tấm gương mẫu mực của người thầy
Theo Khổng Tử, nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh mẽ đốivới người học, người học nhìn vào tấm gương người thầy mà tin rằng những điềuthầy dạy là chân lý, là những điều tốt đẹp Cho nên, để trở thành tấm gương chohọc trò thì người thầy phải là người đi trước Người thầy muốn dạy học trò điều
gì thì thầy phải là người làm điều đó trước đã để chứng minh điều đó đúng đắn:
“Mình muốn dạy người ta điều gì, trước hết mình hãy làm điều đó đi Rồi cứ
Trang 34theo đó mà dạy” [15; 20-21] Diễn ra thì ý Khổng Tử muốn nói là người thầy
muốn quở trách học trò điều gì, trước hết người thầy đừng phạm điều ấy Ngườithầy muốn khuyên học trò làm điều gì, trước hết người thầy phải làm cho xongđiều đó Như vậy mới làm thầy người ta được Trên nguyên tắc đó, những gìKhổng Tử dạy người khác thì ông đã làm trước bằng chính cuộc đời và sự cốgắng vươn lên của bản thân
Phương pháp nêu gương không chỉ được sử dụng trong dạy học trò, màKhổng Tử còn dùng để dạy những người làm quan Theo Khổng Tử, người trên
có làm gương cho người dưới thì mới dạy bảo được người dưới, mới trị được
người dưới và mới cai trị được thiên hạ Ông nói: “Như người nào đã sửa trị lấy mình, thì đứng ra cai trị có khó gì? Nhược bằng mình chẳng có thể sửa trị lấy mình, làm sao cai trị dân cho được” [15; 204-205] Người làm quan làm gương
cho dân không chỉ dạy dân, trị dân mà còn làm cho dân tin Làm cho dân tin vàobậc cầm quyền là điều khó nhất và quan trọng nhất trong trị nước Cho nên, khitrả lời Tử Cống, trong ba thứ quan trọng của nhà cầm quyền gồm lương thực,binh lực và dân tin điều gì là quan trọng nhất thì Khổng Tử trả lời là dân tin Bởi
vì, theo ông “dân không tin nhà cầm quyền thì chính quyền sẽ sụp đổ” [15;
184-185] Nếu bậc cầm quyền tự sửa mình làm gương cho dân thì dân sẽ theo đó mà
trở nên tốt đẹp, việc trị nước từ đó mà cũng nên dễ dàng hơn: “Nếu nhà cầm quyền tự mình giữ theo chính đạo, chẳng đợi ra lệnh, dân cũng ăn ở trúng phép;
Trang 35còn như tự mình chẳng giữ theo chính đạo, dẫu có ra lệnh buộc dân theo, họ cũng không theo” [15; 200-201].
Như vậy, những cống hiến mà Khổng Tử đóng góp cho lịch sử tư tưởnggiáo dục là vô cùng to lớn Ông đã đặt ra phương phương giáo dục từ hai phía cảngười thầy và người học Ngưởi thầy là người hướng dẫn, gợi mở, tạo hứng thú,kích thích người học và là tấm gương cho người học noi theo; còn người học thìphải suy nghĩ, luyện tập, thực hành những vấn đề đã tiếp thu Những tư tưởng vềphương pháp giáo dục của Khổng Tử đã được thực tiễn lịch sử giáo dục cũngnhư lý luận giáo dục phương Đông nói riêng và thế giới nói chung kiểm chứng
Có thể nói, những phương pháp giáo dục được Khổng Tử nêu ra không những cótác dụng tích cực đối với đương thời mà còn có ý nghĩa gợi mở cho giáo dụcngày nay
1.3 Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Không ai có thể phủ nhận sự ảnh hưởng to lớn của Khổng Tử đối với sựphát triển của Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác, trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên, những ảnh hưởng đó không đơn thuần chỉ là những ảnh hưởng mangtính tích cực mà có cả những ảnh hưởng tiêu cực Điều này có nguyên nhân từ tưtưởng giáo dục của Khổng Tử Bởi bên cạnh những tư tưởng tích cực thì tư tưởngcủa ông bộc lộ không ít hạn chế Những giá trị cũng như hạn chế này được thểhiện trong quan điểm của ông về đối tượng, mục đích, nội dung và phương phápgiáo dục
Trang 36- Về mục đích giáo dục: như đã trình bày ở trên, mục đích giáo dục của
Khổng Tử là nhằm truyền bá sâu rộng tư tưởng nhân nghĩa vào trong nhân dân,bao trùm của Khổng Tử là nhằm đào tạo những con người phù hợp với địa vị xãhội mà mình có, nghĩa là sống đúng danh của mình Nếu tầng lớp thường dânđược giáo dục để biết phục tùng người trên, thì người quân tử được giáo dục đểlàm người cai trị Trong đó, Khổng Tử ưu tiên cho mục tiêu đào tạo lớp người caitrị Tư tưởng này của Khổng Tử có nhiều yếu tố tích cực nhưng cũng bộc nhiềuhạn chế Chúng ta đều biết rằng muốn xây dựng xã hội phồn vinh, phát triển thìyếu tố đóng vai trò quan trọng nhất đó là con người, nhất là những người hiền tài.Khổng Tử hiểu rõ vấn đề này, nên mục đích giáo dục của ông là phát hiện và đàotạo những người hiền tài có tri thức và năng lực để cứu người, giúp dân, xâydựng một xã hội thái bình, thịnh trị Tư tưởng đào tạo người hiền tài để tham giaquản lý xã hội của Khổng Tử có giá trị ở chỗ nó đã đánh vào chế độ chuyên chế
quý tộc “thế khanh thế lộc” - quan chế và bổng lộc cha truyền con nối Nêu lên
đòi hỏi của xã hội cần nhiều người tài giỏi để quản lý xã hội mà không để ý đếnthành phần xuất thân Điều này là động lực tạo ra một xã hội học tập, mọi thànhphần trong xã hội có thể lấy học tập làm hy vọng để thay đổi số phận và địa vịcủa mình
Bên cạnh những điểm tích cực đó, mục đích giáo dục của Khổng Tử cũngbộc lộ nhiều hạn chế Trước hết, đó là tư tưởng coi thường người dân, ông luôn
Trang 37đánh giá thấp khả năng nhận thức của tầng lớp dưới so với bậc quan lại và quýtộc Do vậy, việc giáo dục họ chỉ là để họ biết nghe lời nhà cầm quyền Bên cạnh
đó, Khổng Tử cũng không thấy được sức mạnh của tầng lớp mới lên Không thừanhận địa vị của chư hầu, các quan đại phu Chính điều đó làm cho tư tưởng của
ông đi đâu cũng không được trọng dụng đến nổi ông phải than rằng:“đạo của ta chẳng ai dùng”, “chẳng ai biết ta”, “biết ta chăng chỉ có trời” Hơn nữa, do
không thấy được sự suy sụp của nhà Chu là một tất yếu lịch sử cho nên ông vẫnlấy việc khôi phục lại chế độ tông pháp nhà Chu làm mục đích giáo dục củamình Cũng chính từ mục tiêu giáo dục gắn liền và xoay quanh mục đích chínhtrị, cho nên nó không tránh khỏi hạn chế là bó buộc con người trong khuôn khổchật hẹp của những mối quan hệ đã được định sẵn Xây dựng con người theohướng thích hợp với trật tự xã hội phong kiến đã làm thui chột khả năng sáng tạocủa con người, hướng mục đích của việc học chủ yếu là để đỗ đạt và ra làm quan
- Về đối tượng giáo dục: với tư tưởng “hữu giáo vô loại”, có thể nói, Khổng Tử là người đầu tiên chủ trương “bình đẳng” trong giáo dục Chủ trương
xây dựng một nền giáo dục cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp đẳngcấp, giàu nghèo là một điểm hoàn toàn mới mẻ và tiến bộ Ông đã vượt qua đẳngcấp, danh phận trong xã hội để góp phần đưa sự nghiệp giáo dục con người đếnvới mọi tầng lớp ở mọi phạm vi và trình độ Ông đã phá vỡ đặc quyền của tầnglớp quan lại, quý tộc làm cho giáo dục mang tính phổ cập bình dân Chính vì vậy,
Trang 38tư tưởng “hữu giáo vô loại” của ông “nó cũng có ý nghĩa như cuộc cách mạng của Thích ca để san bằng các tập cấp ở Ấn Độ” [17; 28] Từ sau Khổng Tử trở
đi, các nhà Nho cũng chủ trương mở rộng đối tượng giáo dục xuống tầng lớp thứdân nhằm truyền bá đạo lý làm người theo quan niệm của Nho giáo và nhằm kénchọn nhân tài tham gia vào công việc chính trị
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ thì quan niệm về đối tượng giáodục của Khổng Tử cũng có nhiều điểm mâu thuẫn và hạn chế Đó là, dù coi giáodục là bình đẳng giữa mọi người nhưng trong giáo dục Khổng Tử lại phân biệttừng loại người khác nhau, từng trình độ khác nhau Việc phân biệt từng loạingười với những phẩm chất và năng lực khác nhau cho thấy hạn chế về mặt lịch
sử mà bản thân ông chưa vượt qua được Chính quan niệm có hạng người sinh ra
đã biết trở thành chỗ dựa cho giai cấp thống trị lợi dụng, khai thác buộc dânchúng phải tin rằng: tầng lớp đứng đầu cai trị trong xã hội ngay từ khi được sinh
ra đã hiểu rõ đạo lý nên có thể gánh vác giang sơn, bình định được thiên hạ Bêncạnh đó, ông cũng thể hiện tư tưởng coi thường phụ nữ Trong tư tưởng của ông,
phụ nữ không thuộc đối tượng giáo dục Ông quan niệm: “phụ nữ và tiểu nhân
là hai hạng người khó ở cho vừa lòng nhất Gần họ thì họ khinh nhờn Xa họ thì
họ oán trách” [15; 282-283] Vị trí của người phụ nữ là ở trong nhà và bếp núc,
lo nuôi sống và phục vụ gia đình
Trang 39Tóm lại, với tư tưởng “hữu giáo vô loại”, Khổng Tử đã để lại trong lịch sử
nhân loại một quan niệm to lớn: mọi người đều có quyền được giáo dục và xã hộicần giáo dục cho tất cả mọi người Ông cũng thể hiện là một tấm gương dạy học
vì lòng yêu thương con người chứ không vi tư lợi cá nhân Tiếc rằng tư tưởng
“hữu giáo vô loại” của ông không được thực hiện trọn vẹn nhưng tư tưởng đó sẽ
trở thành phương châm giáo dục tích cực cho sự phát triển của giáo dục sau này
- Về nội dung giáo dục: nội dung chủ yếu mà Khổng Tử muốn truyền dạy cho mọi người là giáo dục “đạo làm người” Trong bối cảnh hỗn loạn của thời
kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc khi trật tự xã hội bị đảo lộn, đạo đức bị suy đồi, nhânluân bị xáo trộn thì việc Khổng Tử đưa ra nội dung giáo dục đạo đức cho conngười là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn nhằm thiết lập lại sự ổn địnhcủa xã hội Khổng Tử coi trọng dạy luân lý, đạo đức con người, giúp con ngườisống mà hòa thuận trong các mối quan hệ xã hội mà mình có Điều này cũng phùhợp với mục đích chủ yếu của Khổng Tử là đào tạo những con người hướngthiện, có lễ nghĩa Ngoài ra, nội dung giáo dục của Khổng Tử còn hướng tới việcdạy “đạo trị nước” cho con người với mục đích quan trọng là đào tạo ra nhữngcon người có đức, có tài để bổ sung vào đội ngũ quan lại
Nội dung cơ bản trong giáo dục Khổng Tử còn chú trọng giáo dục tráchnhiệm, nghĩa vụ của cá nhân đối với gia đình và xã hội, chú trọng đến các giá trịtinh thần, danh dự, đạo đức và khí tiết Điều này có thể nhìn nhận theo hai
Trang 40phương diện: xét đến mặt tích cực, Khổng Tử đã dạy cho con người hệ thốngluân lý, nhân bản, dạy đạo làm người Việc giáo dục con người sống có tráchnhiệm với gia đình, cộng đồng và xã hội đã hạn chế rất nhiều thói hư tật xấu và
sự ích kỷ tiềm ẩn trong con người Phương châm giáo dục của Khổng Tử là coiviệc giáo dục đạo làm người là trước hết rồi mới tiến hành trang bị các tri thứcphục vụ cho công việc chính trị quốc gia Đây cũng là điểm hết sức hợp lý, bởimuốn giải quyết các công việc xã hội thì trước hết con người phải có đạo đức.Nghĩa là, con người trước tiên phải tu thân, tề gia rồi sau đó mới trị quốc, bìnhthiên hạ
Như vậy, Khổng Tử đã thấy được vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
và đòi hỏi cá nhân phải luôn luôn rèn luyện bản thân mình Song ông đã qua đềcao đạo đức con người, coi đó như là tiêu chuẩn hàng đầu của nội dung giáo dục
và đã gạt bỏ những năng lực khác của con người, đặc biệt là tri thức khoa học rangoài nội dung giáo dục của mình Không những thế, mục đích và nội dung giáodục của ông, trước sau đều nhằm đào tạo ra mẫu người lý tưởng, người quân tửtrung thành với chế độ quý tộc phong kiến và nhằm duy trì trật tự đẳng cấp, danhphận của chế độ đó
Mặt khác, tuy thấy được vai trò của giáo dục đối với việc phát triển xã hội,nhưng khi đưa vào thực tiễn Khổng Tử lại tách giáo dục ra khỏi hoạt động chínhyếu của xã hội là hoạt động sản xuất ra của cải vật chất; đánh giá thấp các hoạt