1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích những ảnh hưởng tích cực và hạn chế về xu hướng biến đổi mức sinh ở Việt Nam

25 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 485,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Mức sinh thay thế: là mức sinh mà trung bình một người phụ nữ cần sinh đủ đểthay thế mình để tiếp tục thực hiện chức năng tái sinh sản và duy trì nòi giống.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mứ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ



Đề Tài: Phân tích những ảnh hưởng tích cực và hạn chế về

xu hướng biến đổi mức sinh ở Việt Nam

GVHD: Huỳnh Viết Thiên Ân

Nhóm 5: Trần Công Tuấn

Nguyễn Thị Trang Nguyễn Thị Hà Giang Nguyễn THị Thu Quyên

Võ Thị Xuân Quỳnh

Trang 2

M c L c ục Lục ục Lục

I Cơ sở lý thuyết 3

1.1 Các khái niệm về mức sinh 3

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức sinh 3

1.2.1 Tỷ suất sinh thô (CBR) 3

1.2.2 Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) 4

1.2.3 Tổng tỷ suất sinh (TFR) 4

1.2.4 Tỷ suất tái sinh sản nguyên (GRR) và tỷ suất tái sinh sản thần (NRR) 5

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh: 5

II Thực trạng và xu hướng biến đổi mức sinh ở Việt Nam 7

1 Thực trạng 7

2 Quy mô và tốc độ tăng dân số qua các năm: 11

2.1 Phân bố dân cư 11

2.2 Xu hướng biến đổi mức sinh 12

2.2.1 Mức sinh giảm và đang được duy trì ổn định gần ở mức sinh thay thế 12

2.2.2 Sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng miền và dân tộc 13

2.2.3 Mức sinh của nhóm phụ nữ thiểu số ở tuổi vị thành niên vẫn còn cao 15

3 Kết quả thu được và hạn chế còn tồn tại: 16

3.1 Kết quả: 16

Mật độ dân cư 20

Đa dạng dân tộc tại Việt Nam 21

3.2 Hạn Chế 21

III Đề xuất biện pháp 23

Trang 3

 Mức sinh:

Mức sinh phản ánh khả năng sinh đẻ của người phụ nữ hoặc cặp vợ chồng mứcsinh đề cập đến số trẻ em sinh ra còn sống và thường được tính theo số phụ nữ vìphụ nữ là người trực tiếp sinh con

 Khả năng sinh đẻ:

Đề cập đến khả năng sinh lý của người phụ nữ, nam giới hay cặp vợ chồng có thểsinh ra ít nhất một con Phụ nữ có khả năng có con từ khi họ bước vào tuổi dậy thìcho đến khi mãn kinh

 Có 2 loại mức sinh là mức sinh đẻ tự nhiên, sinh học và mức sinh thay thế

 Mức sinh đẻ tự nhiên: số con có thể sinh được tối đa theo khả năng của ngườiphụ nữ, nam giới hay cặp vợ chồng trong thời kì sinh sản mà không có bất kì

sự can thiệp nào cả

 Mức sinh thay thế: là mức sinh mà trung bình một người phụ nữ cần sinh đủ đểthay thế mình để tiếp tục thực hiện chức năng tái sinh sản và duy trì nòi giống.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức sinh

Mức sinh có thể được đánh giá qua các chỉ tiêu:

 Tỷ suất sinh thô (CBR)

 Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR)

 Tổng tỷ suất sinh (TFR)

 Tỷ suất tái sinh sản nguyên (GRR) và tỷ suất tái sinh sản thần (NRR)

1.2.1 Tỷ suất sinh thô (CBR)

Tỷ suất sinh thô biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong 1 năm trước thời điểm điều tra, tính bình quân tên 1000 người dân

CBR = B P x 1000

Công thức tính:

CBR: Tỷ suất sinh thôB: Tổng số sinh trong nămP: Dân số trung bình hoặc dân số giữa năm

Trang 4

Khó có thể sử dụng CRB để so sánh và đánh giá sự khác biệt về sinh của dân sốqua các thời kỳ hoặc giữa các dân số khác nhau trong cùng một thời kỳ mà không sửdụng các kỹ thuật chuẩn hóa theo cơ cấu tuổi của dân số Mặc dù vậy, CBR vẫn được sửdụng vì đây là chỉ tiêu hữu hiệu phản ánh mức tăng hoặc giảm dân số trong một thời kỳnhất định.

1.2.2 Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR)

Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (ASFR) cho biết bình quân cứ 1000 phụ nữ trong một độ tuổi (hoặc một nhóm tuổi) nhất định có bao nhiêu trẻ em sinh sống trong năm ASFR là công cụ thích hợp để nghiên cứu mô hình sinh của dân số và so sánh xu hướng sinh của dân số ở các độ tuổi và nhóm tuổi khác nhau

ASFRX = B FX

W X x 1000Trong đó:

ASFRX: Tỷ suất sinh đặc trưng của phụ nữ ở độ tuổi X

BFX: Số trẻ em sinh ra trong một năm của những phụ nữ ở độ tuổi X

WX: Số phụ nữ ở độ tuổi X trong năm

1.2.3 Tổng tỷ suất sinh (TFR)

Tổng tỷ suất sinh là số con sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong cả cuộc đời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra của những phụ nữ 15-49 tuổi

BX: Tổng số trẻ sinh ra sống đã đăng ký trongkỳcủa những bà mẹ (x) tuổi;X: Là khoảng tuổi 1 năm

WX: Là số phụ nữ (x) tuổi có đến giữa năm tính toán

Các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi được cộng dồn từ x=15 tời 49

TFR là thước đo mức sinh được các nhà dân số học sử dụng rộng rãi nhất Khi đãbiết được ASFR của từng nhóm tuổi thì việc xác định tổng tỷ suất sinh khá đươn giảnnhưng chưa đủ để xác định dược khả năng tái sinh sản của dân số

1.2.4 Tỷ suất tái sinh sản nguyên (GRR) và tỷ suất tái sinh sản thần (NRR)

 GRR là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộcđời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặctrưng theo tuổi như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra

Trang 5

GRR = Tổng số con đã sinh Số con gái đã sinh x TFR

 NRR là số con gái sinh sống bình quân của một người phụ nữ trong suốt cả cuộcđời, nếu người phụ nữ đó trong suốt thời kỳ sinh đẻ tuân theo tỷ suất sinh đặctrưng theo tuổi và trật tự chết như quan sát được trong 12 tháng trước điều tra.NRR giống như GRR, nhưng luôn thấp hơn GRR, vì có một số phụ nữ không sốngđược đến hết tuổi có khả năng sinh đẻ

NRR = Tổng số con đã sinh Số con gái đã sinh x ∑ASFRx *5 Lx /100000

thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân số trong tương lai

 Nếu NRR > 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữsinh ra sẽ vượt quá số cần thiết để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ táisinh sản dân số trong tương lai

 Nếu NRR < 1 nghĩa là với mức sinh này, số con gái do những người phụ nữsinh ra sẽ không đủ để thay thế chính họ thực hiện nhiệm vụ tái sinh sản dân sốtrong tương lai

Nếu giả thiết rằng tất cả số trẻ em gái sinh ra đều có thể sống được qua thời kỳ cókhả năng sinh sản thì có thể sử dụng GRR để đánh giá mức sinh thay thế của mộttập hợp dân số

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh:

a) Các yếu tố thuộc về tự nhiên –sinh học,môi trường ,nòi giống,

 Ảnh hưởng của tự nhiên -sinh học

+ Sinh đẻ là hiện tượng mang tính chất sinh học tự nhiên Nếu xã hội không ai chấp nhận KHHGĐ và soát mức sinh thì sự sinh đẻ tự nhiên là yếu tố duy nhất tácđộng trực tiếp đến mức sinh

+ Khả năng sinh lý-sinh học của con người quyết định sinh đẻ được hay

không ,sinh nhiều hay ít ,mức sinh cao hay thấp ,

+ Nhóm tuổi 20-35 là nhóm tuổi sức sinh đẻ rất lớn

 Ảnh hưởng của môi trường

+Môi trường sống của con người cũng ảnh hưởng rất nhiều đến mức sinh Ở đâu

có điều kiện tự nhiên thuận lợi ,thời tiết,khí hậu ấm áp ,,mát mẻ ,môi trường trong lành , thì nơi đó có khả năng thụ thai lớn và mức sinh thường rất cao

Trang 6

 Ảnh hưởng của nòi giống

+Mỗi dân tộc là một nòi giống khác nhau.Mỗi giống nòi đều có khả năng sinh lý,sinh sản,mức độ vô sinh ,mức độ mắn đẻ theo các độ tuổi không giống nhau.Do vậy ,trong cùng điều kiện tương đương ,kết quả sinh đẻ đạt được không giống nhau giữa các dân tộc ,giống nòi

b) Các yếu tố thuộc về kinh tế -xã hội

 Tác động ngược chiều với mức sinh:Mức sống tăng lên ,mức sinh thực tế thường giảm xuống và ngược lại

 Tác động cùng chiều với mức sinh

 Khi mức sống tăng lên ,điều kiện dinh dưỡng cải thiện ,thể lực và trí lực của con người nâng cao hơn,sức khỏe dồi dào ,khả năng sinh đẻ tự nhiên của cá nhân ,lẫn cộng đồng tăng

 Thu nhập tăng lên sẽ đảm bảo điều kiện vật chất giúp người dân có thể nuôithêm nhiều con hơn ,kích thích sự gia tăng mức sinh

 Tăng trưởng kinh tế

+ Tăng trưởng kinh tế ,nâng cao thu nhập ,tạo tiền đề vật chất cho việc giảm sinh một cách bền vững Do mỗi gia đình,mỗi cặp vợ chồng đều mong ước có một số lượng con nhất định Tăng trưởng kinh tế ,nâng cao thu nhập có điều kiện vật chất

để khống chế mức chết,tiền đề cho việc giảm mức sinh một cách vững chắc + Tăng trưởng kinh tế dẫn đến quá trình đô thị hóa dẫn đến dân cư nông thôn giảm,dân cư thành thị đông làm cuộc sống đô thị gặp nhiều khó khăn như:nhà ở ,,giá cảđắt đỏ,chi phí học tập,y tế ,

+ Tăng trưởng kinh tế cùng với kế hoạch hóa gia đình ,kinh tế phát triển tạo điều kiện cho nhà nước ,địa phương đầu tư nhiều hơn về nhân ,tài ,vật lực cho chính sách dân số và kế hoạch hóa triển khai sâu rộng ,cung ứng dịch vụ đầy đủ ,kịp thời tạo điều kiện cho người dân đặc biệt là phụ nữ chủ động sinh đẻ

 Về vấn đề việc làm

+ Kinh tế phát triển,quy mô mở rộng ,chỗ làm việc được tạo ra nhiều việc làm cầu tăng ,tìm kiếm việc làm thuận lợi ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người dân,mức sinh có xu hướng tăng và ngược lại

+ Tạo nhiều việc làm thủ công,đơn giản yêu cầu kĩ thuật thấp ,có khả năng và dễ dàng thu hút lao động trẻ em sẽ tạo động lực sinh nhiều con khuyến khích việc gia tăng mức sinh

+ Phụ nữ khi được làm ngoài xã hội sẽ có điều kiện giao tiếp ,mở rộng quan hệ xã hội ,giao lưu,học hỏi ,trao đổi kinh tế trong đó có kiến thức về dân số kế hoạch hóagia đình ,từ đó kiểm soát được mức sinh con của mình ,điều chỉnh hành vi sinh đẻ theo chuẩn mực chung

 Ảnh hưởng của xã hội đến mức sinh

Trang 7

- Giao dục:

+ Sự phát triển nói chung và giáo dục nói riêng của mỗi nước ảnh hưởng đến trình

độ học vấn của người dân đặc biệt là số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ

+ Số con trung bình của phụ nữ tỉ lệ nghịch với trình độ học vấn của họ vì họ kiểmsoát được các yếu tố :Thu nhập gia đình,tiếp cận được các dịch vụ về sức khỏe ,kế hoạch hóa gia đình

+Đối với nam giới ,việc có trình độ giáo dục ,học vấn cao giúp họ chấp nhận chia

sẻ công việc gia đình với vợ con ,thực hiện biện pháp tránh thai ,chấp nhận quy

mô dân số ít

- Y tế:

+ Y tế đóng ai trò quan trọng và trực tiếp cuối cùng trong việc hạn chế mức sinh + Nghành dân số có nhiệm vụ tuyên truyền vận động các đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ ,còn ngành y tế có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ tránh thai an toàn ,hiệu quả,

+ Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em được tăng cường làm giảm mức chết

ở trẻ sơ sinh cũng gián tiếp làm giảm mức sinh

- Bình đẳng giới:

+ Sự bất bình đẳng thể hiện phụ nữ có ít cơ hội học tập ,nâng cao trình độ dẫn đến chỉ làm những công việc phổ thông ,ảnh hưởng đến hành vi sinh đẻ

c) Các yếu tố thuộc về nhân khẩu

- Tử vong ảnh hưởng tới mức sinh :Sinh đẻ và tử vong có mối quan hệ khăng khít

và gắn bó mật thiết với nhau Mức độ tử vong ảnh hưởng đến mức sinh qua một số

cơ thể

- Di dân và phân bố :Di dân và phân bố dân số ,mật độ dân số đông hay thưa đều ảnh hưởng đến mức sinh.Những người di chuyển đều là trẻ khỏe ,đang trong độ tuổi sinh đẻ Do vậy vùng nhập cư ,vùng dân cư đông đúc thường có mức sinh tăng cao hơn.,trong khi vùng xuất cư thưa thớt mức sinh tăng chậm và có khi còn giảm sút

II Thực trạng và xu hướng biến đổi mức sinh ở Việt Nam

1 Thực trạng

Về chỉ số Tổng tỷ suất sinh - TFR (TFR là số con đã sinh ra sống bình quân của một

người phụ nữ trong suốt thời kỳ sinh đẻ từ 15-49 tuổi), kết quả số liệu về TFR giai đoạn

2001 - 2019 của Việt Nam có xu hướng giảm đều qua các năm, từ 2,25 con/phụ nữ năm

2001 xuống 1,99 con/phụ nữ năm 2011; giai đoạn 2012 - 2019, đạt bằng hoặc dưới mứcsinh thay thế (dao động từ 2,04 đến 2,10 con/phụ nữ)

Theo kết quả TĐT năm 2019, TFR của khu vực thành thị là 1,83 con/phụ nữ, thấp hơn sovới khu vực nông thôn (2,26 con/phụ nữ) TFR của khu vực thành thị luôn thấp hơn mức

Trang 8

sinh thay thế trong khi TFR của khu vực nông thôn luôn cao hơn mức sinh thay thế tronggần hai thập kỷ qua.

Sự khác biệt về TFR giữa khu vực thành thị và nông thôn có thể là do các cặp vợ chồng ởthành thị được tiếp cận với các nguồn thông tin dễ dàng hơn, nhận thức tốt hơn về lợi íchcủa gia đình ít con mang lại so với các cặp vợ chồng ở nông thôn và việc dễ dàng tiếp cậncác cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cũng giúp họ tránh mang thai

và sinh con ngoài ý muốn

Theo Tổng cục Thống kê, mức sinh ổn định ở dưới mức sinh thay thế trong hơn một thập

kỷ qua (trừ năm 2013 và năm 2015 có TFR = 2,10 con/phụ nữ) một lần nữa khẳng định

sự thành công của Chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, Chương trình dân số vàphát triển và nhiều chương trình, chiến dịch chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là sứckhỏe sinh sản ở khu vực nông thôn

Trung du và miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miềnTrung và Tây Nguyên là các vùng có mức sinh cao; cao hơn mức sinh thay thế Hai vùng

có mức sinh thấp và thấp hơn mức sinh thay thế là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sôngCửu Long

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có TFR thấp nhất cả nước (1,39 con/phụ nữ), HàTĩnh có TFR cao nhất cả nước (2,83 con/phụ nữ)

Tổng số có 22 địa phương thuộc nhóm có TFR dưới 2,1 con/phụ nữ (dưới mức sinh thaythế), trong đó có Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ; có 29 địa phương thuộcnhóm có TFR bằng 2,1 con/phụ nữ đến dưới 2,5 con/phụ nữ (bằng mức sinh thay thế),trong đó có Hà Nội, Hải Phòng; có 12 tỉnh thuộc nhóm có TFR từ 2,5 con/phụ nữ trở lên(mức sinh cao)

Số địa phương có TFR cao hơn mức sinh thay thế đang có xu hướng tăng (năm 2009: 29tỉnh, năm 2019: 41 tỉnh) Thành phố Hồ Chí Minh và đa số các tỉnh thuộc Đông Nam Bộ

và Đồng bằng sông Cửu Long có TFR thấp hơn mức sinh thay thế (trừ tỉnh Bình Phước:2,27 con/phụ nữ)

Dân tộc Hoa có mức sinh thấp nhất (1,53 con/phụ nữ), 21 dân tộc có mức sinh cao (TFR

từ 2,5 con/phụ nữ trở lên) Đặc biệt có 3 dân tộc có mức sinh rất cao (TFR trên 3,5con/phụ nữ): Xơ Đăng, Bru Vân Kiều và Mông với giá trị TFR tương ứng là: 3,57; 3,64

và 3,68 con/phụ nữ

Trang 9

Phụ nữ có trình độ đại học có TFR thấp nhất (1,85 con/phụ nữ), tiếp đến là phụ nữ cótrình độ cao đẳng (1,91 con/phụ nữ) Phụ nữ chưa bao giờ đi học có TFR khá cao (2,59con/phụ nữ) và phụ nữ có trình độ sơ cấp có TFR cao nhất (3,71 con/phụ nữ).

Phụ nữ thuộc nhóm “Giàu nhất” có mức sinh thấp nhất (2,00 con/phụ nữ) Phụ nữ thuộc 3nhóm (“Giàu”, “Trung bình” và “Nghèo”) có số con trung bình là 2 con Phụ nữ thuộcnhóm “Nghèo nhất” có mức sinh cao nhất, với TFR là 2,40 con/phụ nữ, cao hơn nhiềumức sinh thay thế Điều này cho thấy cần đầu tư hơn nữa để nâng cao chất lượng dịch vụchăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình cho phụ nữ thuộc nhóm “Nghèonhất”

Có thể thấy, định hướng “chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đìnhsang dân số và phát triển” như đã được nêu trong Nghị quyết số 21-NQ/TWngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu, Khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng

về công tác dân số trong tình hình mới đang dần được thực hiện có hiệu quả, đảm bảo đạtđược các mục tiêu đề ra

Việt Nam đã đạt dưới mức sinh thay thế, tuy nhiên vẫn còn có sự khác biệt đáng kể giữacác địa phương và các vùng; các nhóm dân tộc; trình độ giáo dục, đào tạo và các nhómmức sống ngũ phân vị của phụ nữ Điều này cho thấy Việt Nam cần nỗ lực nhiều hơn nữatrong công tác truyền thông nhằm giảm bớt khoảng cách về mức sinh thay thế giữa khuvực thành thị và nông thôn, giữa các vùng và các nhóm dân cư khác nhau

Về Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi - ASF (Chỉ số ASF cho biết bình quân cứ 1000 phụ

nữ trong một độ tuổi hoặc một nhóm tuổi nhất định có bao nhiêu trẻ sinh sống trong thời

kỳ nghiên cứu, thường là 12 tháng trước thời điểm điều tra

Theo kết quả từ cuộc TĐT, ASFR của phụ nữ nhóm 25-29 tuổi có mức sinh cao nhất,bình quân cứ 1000 phụ nữ trong nhóm tuổi này thì có 130 trẻ sinh sống; tiếp đến là nhómphụ nữ từ 20-24 tuổi với ASFR là 120 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ; và nhóm phụ nữ từ 30-

34 tuổi có ASFR là 84 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ Như vậy, phần lớn phụ nữ Việt Namsinh con ở độ tuổi từ 20 đến 29

Kết quả điều tra cũng cho thấy, ASFR của khu vực thành thị không những thấp hơn màcòn có độ “trễ” so với khu vực nông thôn, nghĩa là phụ nữ thành thị sinh muộn và sinh ítcon hơn phụ nữ nông thôn Ở khu vực thành thị, mức sinh cao nhất thuộc về phụ nữ 25-

29 tuổi với 127 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ; trong khi ở khu vực nông thôn, mức sinh caonhất thuộc về nhóm tuổi 20-24 với 147 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ Nếu so với mức sinhcủa phụ nữ cùng nhóm tuổi 20-24 ở khu vực thành thị thì con số được sinh ra của những

Trang 10

phụ nữ sống ở khu vực nông thôn cao gần gấp đôi (147 trẻ em sinh sống/1000 phụ nữ sovới 78 trẻ em sinh sống/1000 phụ nữ).

Một điểm khác biệt nữa là nhóm tuổi vị thành niên (15-19 tuổi) ở khu vực nông thôn cóASFR cao gần gấp ba lần so với ASFR ở nhóm tuổi này ở khu vực thành thị (tương ứng

là 45 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ và 16 trẻ sinh sống/1000 phụ nữ) Điều này có thể là dophụ nữ ở khu vực nông thôn không có nhiều cơ hội để theo học trình độ cao hơn như phụ

nữ ở khu vực thành thị nên họ thường kết hôn và sinh con sớm hơn phụ nữ ở khu vựcthành thị; hoặc có thể do phong tục, tập quán tại các vùng nông thôn vẫn còn hiện tượngtảo hôn nên dẫn đến phụ nữ ở khu vực nông thôn sinh con sớm, nhất là miền núi, vùngsâu, vùng xa

Về chỉ số sinh con ở tuổi chưa thành niên, TĐT năm 2019 thu thập thông tin về tình hình

sinh con của trẻ em nữ chưa thành niên (từ 10 đến 17 tuổi), nhóm tuổi đang trong quátrình phát triển về thể chất lẫn tinh thần và chưa phù hợp để làm mẹ, nhằm cung cấp căn

cứ chính xác đánh giá thực trạng trẻ em gái sinh con ở độ tuổi này, từ đó có cơ sở để cóthể hoạch định các chính sách bảo vệ cần thiết Theo kết quả TĐT năm 2019, ở Việt Namvẫn còn tồn tại nhiều trường hợp trẻ em nữ chưa thành niên sinh con trong 12 tháng trướcthời điểm điều tra

Trên phạm vi toàn quốc, phụ nữ chưa thành niên sinh con chiếm tỷ trọng 3,3‰, trong đócao nhất ở Trung du và miền núi phía Bắc (9,7‰), cao hơn 8,5 lần so với vùng Đồngbằng sông Hồng (1,1‰) Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ phụ nữ từ 10-17 tuổi sinh con caothứ hai (6,8‰)

Về Tỷ suất sinh thô - CBR (chỉ số CBR biểu thị số trẻ em sinh ra sống trong thời kỳ

nghiên cứu, thường là 12 tháng trước thời điểm điều tra, tính bình quân trên 1.000 ngườidân có đến thời điểm điều tra Tỷ suất này tính trên toàn bộ dân số, tức là bao gồm cảnhững người có khả năng và không có khả năng sinh con)

Kết quả TĐT năm 2019 cũng cho thấy, CBR của Việt Nam năm 2019 là 16,3 trẻ sinh

sống/1000 dân CBR của khu vực nông thôn là 16,3 trẻ sinh sống/1000 dân, cao hơn 0,1điểm phần nghìn so với CBR của khu vực thành thị (16,2 trẻ sinh sống/1000 dân) CBRcủa toàn quốc cũng như khu vực thành thị và nông thôn có xu hướng giảm dần từ năm

2009 đến năm 2018 và tăng nhẹ năm 2019 ở cả khu vực thành thị và nông thôn

Về Tỷ số giới tính khi sinh - SRB (Chỉ số SRB phản ánh cân bằng giới tính của số bé trai

và bé gái khi được sinh ra Tỷ số này thông thường là 104-106 bé trai/100 bé gái sinh rasống) Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của SRB chệch khỏi mức sinh học bình thường đều

Trang 11

phản ánh những can thiệp có chủ ý và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đedọa sự ổn định dân số của quốc gia và toàn cầu.

Kết quả điều tra cho thấy, SRB của Việt Nam có xu hướng tăng hơn so với mức sinh học

tự nhiên từ năm 2006 đến nay, đưa ra bằng chứng về mất cân bằng giới tính khi sinh tạiViệt Nam Trong đó, SRB năm 2019 giảm so với năm 2018 nhưng vẫn ở mức cao (năm2018: 114,8 bé trai/100 bé gái; năm 2019: 111,5 bé trai/100 bé gái)

Sự gia tăng bất thường về SRB của Việt Nam trong những năm gần đây đang là mối quantâm hàng đầu của các nhà lập chính sách Theo đó, những cảnh báo về hệ lụy của sự mấtcân bằng giới tính khi sinh và sự quyết liệt thực hiện các chính sách nhằm xóa bỏ sự canthiệp có chủ đích trong lựa chọn giới tính khi mang thai ở Việt Nam trong thời gian quachưa đem lại hiệu quả; tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh chưa được khắc phục

2 Quy mô và tốc độ tăng dân số qua các năm:

Theo kết quả TĐT năm 2019, tổng số dân của Việt Nam là 96.208.984 người.Trong đó, dân số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8%; dân số nữ là 48.327.923 người,chiếm 50,2% Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và thứ 15 trên thế giới Như vậy sau 10 năm, quy mô dân số Việt Nam đã tăng thêm 10,4 triệu người Tỷ lệ tăngdân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn1999-2009 (1,18%/năm)

Trong tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm đa số (85,3%) với quy

mô 82,1 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của dân tộc Kinh giai đoạn

2009-2019 là 1,09%/năm thấp hơn mức bình quân chung của cả nước (1,14%/năm) và thấp hơn

tỷ lệ tăng dân số bình quân năm của nhóm dân tộc khác (1,42%)

Trong 53 dân tộc thiểu số, 6 dân tộc có dân số trên 1 triệu người là: Tày, Thái,Mường, Mông, Khmer, Nùng (trong đó dân tộc Tày là dân tộc đông dân nhất với 1,85triệu người); 11 dân tộc có dân số dưới 5000 người, trong đó Ơ Đu là dân tộc có dân sốthấp nhất (428 người)

2.1 Phân bố dân cư

Phân bố dân cư không đồng đều giữa các vùng

Theo kết quả TĐT năm 2019, dân số thành thị là 33.122.548 người, chiếm 34,4%tổng dân số cả nước; dân số nông thôn là 63.086.436 người, chiếm 65,6% Tỷ lệ tăng dân

số bình quân năm khu vực thành thị giai đoạn 2009-2019 là 2,64%/năm, tăng gấp sáu lần

so với tỷ lệ tăng dân số bình quân năm khu vực nông thôn song vẫn thấp hơn mức tăng3,4%/năm của giai đoạn 1999-2009 Tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của Việt Nam

Trang 12

đã tăng lên những vẫn đang ở mức thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, chỉcao hơn Ti-mo Lét-xtê (31%), Mi-an-ma (29%) và Cam-pu-chia (23%).

Dân số Việt Nam phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế - xã hội, trong

đó, Đồng bằng sông Hồng là nơi tập trung dân cư lớn nhất của cả nước với 22,5 triệungười, chiếm 23,4% tổng dân số cả nước; tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hảimiền Trung với 20,2 triệu người đang sinh sống, chiếm 21,0% Tây Nguyên là nơi có ítdân cư sinh sống nhất với 5,8 triệu người, chiếm 6,1% dân số cả nước

Giai đoạn 2009-2019, Đông Nam Bộ có tỷ lệ tăng dân số bình quân cao nhất cảnước (2,37%/năm), đây là trung tâm kinh tế năng động, thu hút rất nhiều người di cư đếnlàm ăn, sinh sống và học tập; Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ tăng dân số bình quânthấp nhất (0,05%/năm)

Kết quả TĐT năm 2019 cho thấy, quy mô dân số chủ yếu của các tỉnh trên cả nước

là từ 1 đến 2 triệu người (35 tỉnh), tiếp đến là nhóm các tỉnh có quy mô dân số nhỏ, dưới

1 triệu người (21 tỉnh), 7 tỉnh có quy mô dân số trên 2 triệu người Hai thành phố là HàNội và thành phố Hồ Chí Minh có quy mô dân số lớn nhất cả nước (tương ứng là8.053.663 người và 8.993.082 người), trong đó chênh lệch về dân số giữa địa phươngđông dân nhất cả nước (thành phố Hồ Chí Minh) và địa phương ít dân số nhất cả nước(tỉnh Bắc Kạn) là trên 28 lần

Việc phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương chủ yếu là do điều kiệnkinh tế, văn hóa, xã hội, tiếp cận việc làm, giáo dục và dịch vụ y tế của một số địaphương có lợi thế hơn hẳn các địa phương khác nên di cư để lựa chọn nơi sinh sống phùhợp hơn là một trong những lý do làm gia tăng chênh lệch về tăng dân số ở một số địaphương Tình hình này xảy ra ngay cả trong điều kiện những tỉnh có đông dân nhưng tỷ

lệ sinh luôn thấp hơn mức sinh thay thế trong nhiều thập kỷ qua

II.2 Xu hướng biến đổi mức sinh

2.2.1 Mức sinh giảm và đang được duy trì ổn định gần ở mức sinh thay thế

Tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam giảm mạnh từ những năm 1990 cho đến đầu những năm 2000 và sau đó duy trì ổn định ở gần mức sinh thay thế trong hơn 10 năm qua Kết quả này phản ánh sự thành công của các chương trình kế hoạch hóa gia đình

Mô hình gia đình 2 con đã trở nên phổ biến, trừ ở một số vùng các dân tộc thiểu số và cáctỉnh kém phát triển hơn như Điện Biên, Lai Châu, Hà Tĩnh và Kon Tum, nơi TFR vẫn cao hơn 3,0 vào năm 2014 Xu hướng giảm này cho thấy Việt Nam đã trải qua thời kỳ quá độ dân số từ mức sinh tự nhiên cao xuống mức sinh thấp nhờ việc áp dụng rộng rãi

và hiệu quả hơn các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình

Ngày đăng: 25/04/2021, 14:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w