Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là một tư tưởng đúng đắn, quyết định đến sự thành công của dân tộc ta và cần được phát huy, vận dụng triệt để ở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1954
Sinh viên thực hiện:
Trang 2MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 7
1.1 Về truyền thống dân tộc Việt Nam 7
1.2 Tình hình kinh tế Việt Nam từ năm 1858 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 9 1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin 15
CHƯƠNG 2 19
2.1 Những thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 19
2.2 Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh (1945 – 1954) 21
2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất 21
2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm 43
2.2.3 Mối quan hệ giữa tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm 51
CHƯƠNG 3 61
3.1 Thành tựu 61
3.2 Hạn chế 65
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 3DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là vấn đề cốt lõi đảm bảo cho sự phát triển của con người Nhờ có lao động sản xuất không ngừng và tiết kiệm, dự trữ của cải vật chất đã góp phần đưa xã hội loài người ngày càng tiến đến văn minh Trong quy luật chung đó, mỗi quốc gia dân tộc tùy vào điều kiện riêng mà có những cách thức sản xuất và tiết kiệm khác nhau nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mình Liên
Xô dưới thời đại Lênin, vấn đề này đã được ông khẳng định như một chiến lược trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Theo Lênin: “Muốn kháng chiến thắng lợi,
kiến quốc thành công thì quyết phải tăng gia sản xuất và tiết kiệm”1
Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1954 là một điển hình minh chứng cho khẳng định trên là đúng Nhờ có sự chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân tộc Việt Nam đã thực hiện phong trào tăng gia sản xuất và tiết kiệm, đã tiêu diệt được cả giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm trong chính hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, tạo tiền đề dẫn đến thắng lợi của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là một tư tưởng đúng đắn, quyết định đến sự thành công của dân tộc ta và cần được phát huy, vận dụng triệt để ở hôm nay
Tuy nhiên, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu rộng, chưa được đánhh giá một cách cụ thể và chưa nêu bậc được tầm quan trọng của sự kết hợp giữa tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, tính thiết thực cần vận dụng tư tưởng của Người ở Việt Nam hiện nay…
Vì những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia
sản xuất và thực hành tiết kiệm trong giai đoạn 1945 – 1954 để thực hiện bài nghiên
cứu khoa học cấp trường năm 2013 – 2014
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài là đi sâu vào tìm hiểu một cách cụ thể cả về lí luận,
về thực tiễn trong Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc tăng gia sản xuất và thực hành
tiết kiệm ở giai đoạn 1945 – 1954, phân tích sâu rộng hơn về tầm quan trọng của việc
1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, t 7, tr 288
Trang 4tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, mối quan hệ giữa tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Bên cạnh đó, đề tài còn làm sáng tỏ sự đúng đắn, sáng tạo của Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế trong bối cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” của đất nước nhằm nêu bật những ý nghĩa sâu sắc của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, đề tài còn đề xuất các giải pháp để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên nền tảng phương pháp luận của sử học Mácxít để nghiên cứu và tiếp cận vấn đề, đảm bảo tính khách quan và khoa học của vấn đề được nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, sự vận dụng tư tưởng đó của Hồ Chí Minh vào thực tiễn
Phương pháp logic được sử dụng để đi sâu vào phân tích những yếu tố, những điều kiện tác động đến tư tưởng của Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, mối quan hệ giữa tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, tầm quan trọng của việc tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hoạt động của Hồ Chí Minh, vai trò của
Hồ Chí Minh đối với đời sống kinh tế – xã hội Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1954 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp trọng tâm luôn được
sử dụng song hành và gắn kết với nhau trong quá trình nghiên cứu đề tài
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các thao tác như: Phân tích, so sánh, đối chiếu… để góp phần hỗ trợ cho việc nghiên cứu
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là một quan điểm không thể bác bỏ, là một quan điểm vô cùng chặt chẽ, xác thực và có giá trị thực tiễn cao đối với quá trình vận động, phát triển của nước ta trong mọi thời đại Thế nhưng, thông qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về đề tài này một cách chuyên sâu, có chăng chỉ là sự đề cập sơ lược, lồng ghép trong nhiều vấn đề khác một cách rời rạc Tuy nhiên, đề tài Tư tưởng Hồ
Trang 5Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm có thể sử dụng được rất nhiều nguồn tài liệu có liên quan để tiến hành nghiên cứu, có thể kể đến một số giáo trình, chuyên khảo như sau:
Lê Quốc Sử với “Một số vấn đề lịch sử kinh tế Việt Nam” (1998) đã khái quát được
toàn bộ lịch sử kinh tế Việt Nam trên nhiều phương diện từ thời nguyên thủy cho đến năm 1995 Qua đó, cuốn sách này đã phát họa được tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam cả về nông nghiệp, thủ công nghiệp, công nghiệp và cũng có đề cập đến vấn đề tăng gia sản xuất, đặc biệt là ở giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 Dù không bàn về
Tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng với phương pháp lịch sử khá cụ thể đã đem lại nền tảng,
cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài
Năm 2002, Đặng Phong đã công bố một công trình khá đồ sộ về “Lịch sử kinh tế
Việt Nam” (1945 – 2000), tập 1 nói về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 đã
khắc họa được bức tranh toàn cảnh của nền kinh tế Việt Nam.Thông qua đó, tác giả đã nêu lên vai trò rất lớn của Hồ Chí Minh đối với việc khôi phục và phát triển nền kinh
tế đất nước trong giai đoạn này.Đồng thời, công trình này cũng đã đem đến những số liệu, những sự kiện, những minh chứng lịch sử khá cụ thể và có giá trị phục vụ cho quá trình nghiên cứu của đề tài
Năm 2003, PGS,TS Phạm Ngọc Anh đã cho ra đời chuyên khảo “Bước đầu tìm
hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” Tác phẩm đã đề cập nhiều vấn đề có giá trị
trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, sự quán triệt, vận dụng những nguyên tắc, những phương pháp trong Tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng, phát triển nền kinh tế – xã hội hiện nay của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên, dù tác giả đã khái quát được những tư tưởng, những quan điểm rất nổi bật trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm nhưng điểm hạn chế của chuyên khảo này là chưa chứng minh rõ bằng thực tiễn sinh động của nước ta, vẫn chưa rút ra được những ý nghĩa sâu sắc
Năm 2004, chuyên đề “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, TS Nguyễn Huy Oánh đã cung cấp
những hiểu biết cơ bản về phương pháp tiếp cận và nghiên cứu kinh tế của Hồ Chí Minh, xây dựng và phát triển kinh tế trong mục tiêu vận động của chế độ xã hội chủ
nghĩa mang sắc thái Việt Nam và khẳng định tầm quan trọng của chữ “cần”, chữ
Trang 6“kiệm” đối với việc phát triển kinh tế Chuyên đề này đã tạo một cái nhìn mới, gợi mở,
hướng dẫn cho đề tài nghiên cứu được sâu rộng và cụ thể hơn
“Tư duy kinh tế Hồ Chí Minh” (2007) là công trình nghiên cứu của Cao Ngọc
Thắng, thể hiện những luận điểm cơ bản trong tư duy xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ và phát triển, có đề cập đến việc tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm nhưng chỉ mang tính khái quát trên phương diện lý thuyết
“Giáo trình lịch sử kinh tế quốc dân” (2007) do PGS, TS Vũ Văn Phúc (chủ biên)
đã phản ánh như một hệ thống về kinh tế của nhiều nước trên thế giới và tư tưởng kinh
tế Việt Nam từ thế kỉ X đến năm 1995 Giáo trình này tuy không đề cập đến Tư tưởng
Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm nhưng đã phát họa được những nét mới về tình hình Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám và giới thiệu được những vấn đề cơ bản về nền kinh tế Việt Nam ở những giai đoạn sau, góp phần định hướng vận dụng cho việc nghiên cứu đề tài
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” (2010) của TS Ngô Văn Lương cũng đã tổng
hợp được rất nhiều những vấn đề trong hệ thống tư tưởng, kinh tế của Hồ Chí Minh,
có liên quan rất lớn đến đề tài, hướng dẫn cho việc nghiên cứu đề tài trở nên xác thực hơn
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã tổng hợp 73 bài nói, bài viết, những bức thư của Hồ Chí Minh gửi đến đồng bào, công nhân, cán bộ, các đoàn thể,
cá nhân làm kinh tế với rất nhiều nội dung khác nhau dành cho những đối tượng khác nhau nhưng điểm cốt lõi ở đây là sự động viên, hướng dẫn và cổ vũ tinh thần xây
dựng, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho nhân dân thông qua nhan đề “Bác Hồ
với doanh nghiệp và doanh nhân Việt Nam” (2008) Từ cơ sở này giúp cho đề tài có
thêm dẫn chứng để minh họa, đánh giá xác đáng hơn trong quá trình nghiên cứu Liên quan đến đề tài còn có các công trình như :
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước” (2008) của Lê Quang
Thiệu là sự tổng hợp một số tư tưởng thi đua, trong đó có thi đua sản xuất và thực hành tiết kiệm nhằm góp phần củng cố, xây dựng đất nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 7“Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm chống tham ô lãng phí chống bệnh quan liêu”
(2008) do Ngọc Quỳnh – Hồng Lam biên soạn đã tổng hợp nhiều bài nói, bài viết của
Hồ Chí Minh có liên quan đến tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
PGS, TS Thành Duy – PGS TS Lê Qúy Đức với nhan đề “Học tập tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh xây dựng nền văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay” (2007) đã trình
bày nhiều về phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh dưới góc độ lý luận và sơ lược thực trạng suy thoái đạo đức – nguyên nhân kìm hãm sức sản xuất trong kinh tế của nước ta hiện nay
Lê Hữu Yên với “Hồ Chí Minh mẫu mực về đời tư trong sáng – cuộc sống riêng
giản dị” (2012), có đề cập đến vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
Năm 2011, Bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập) được công bố là nguồn tư liệu gốc, nguồn tư liệu có tính xác thực, đầy đủ, đáng tin cậy và khách quan giúp cho việc nghiên cứu đề tài trở nên khoa học hơn, hiện thực hơn
Thông qua quá trình sơ lược tình hình nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu riêng và đầy đủ về vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng cũng đã có một số tài liệu trình bày sơ lược trong nhiều sự kiện, nhiều công trình lớn Đồng thời, những nguồn tài liệu có liên quan là rất phong phú và đa dạng.Tất cả những điều kiện đó đã tạo sự thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần dẫn luận, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được chia thành 3 chương, 8 tiết
6 Kết quả cần phải đạt
Hệ thống hóa những tư liệu của Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm trong Hồ Chí Minh Toàn tập (15 tập) Đồng thời, khắc họa được bức tranh sinh động của nền kinh tế Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ kết thúc
Trang 87 Hướng ứng dụng và địa chỉ áp dụng
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, góp phần nâng cao trình độ nhận thức về Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế nói chung, Tư tưởng
Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm nói riêng
Về giáo dục – đào tạo: đề tài được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
và giảng dạy ở Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, bộ môn lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Khoa Lịch sử
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TĂNG GIA SẢN
XUẤT VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM 1.1 Về truyền thống dân tộc Việt Nam
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên với những thuận lợi và khó khăn nhất định, dân tộc Việt Nam đã phải liên tục chống chọi với vô vàn thử thách khắc nghiệt bởi thiên tai như: hạn hán, bão lụt… Bên cạnh đó, dân tộc Việt Nam còn phải đấu tranh chống lại không biết bao cuộc xâm lược bởi các thế lực từ bên ngoài Chính quá trình đó đã hình thành nên những giá trị đặc sắc ở con người Việt Nam truyền thống và được lưu giữ, truyền thụ không ngừng qua từng thế hệ Trong vô vàn truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam như: lòng yêu nước, tinh thần tương thân, tương ái, khiêm tốn, bình dị, năng động, sáng tạo… nổi bậc lên ở Người Việt Nam là tính cần cù và tiết kiệm
Nước ta vốn là một quốc gia thuần nông với nghề trồng lúa nước lâu đời Nông nghiệp đã trở thành cái gốc của nền kinh tế nên từ bao đời, ông cha ta luôn xem phát triển nông nghiệp là lẽ sống Vì vậy, việc khai hoang, mở rộng diện tích đất đai, cải tạo
đê điều, chống lũ lụt, hạn hán là một vấn đề rất được coi trọng
Từ trên những cánh đồng, những thửa ruộng, những mảnh vườn… đâu đâu người
dân Việt Nam cũng cần cù, lam lũ, “một nắng hai sương”, “bán mặt cho đất, bán lưng
cho trời” để làm nên từng hạt gạo, từng củ khoai nhằm đáp ứng cho nhu cầu của sự
sống.Khi có giặc đến thì cánh đồng, thửa ruộng, mảnh vườn, cũng trở thành chiến trường ác liệt Người dân Việt Nam lại tất bật ra đồng, lam lũ lao động, lam lũ đánh giặc và góp sức mình vào sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Phần do chiến tranh, phần do thiên tai nên đời sống của nhân dân ta gặp không ít khó khăn Để có thể tồn tại trong hoàn cảnh đó, bên cạnh sự cần cù, chăm chỉ, nhân dân ta đã tự hình thành nên tính cách tiết kiệm rất đáng quý Nhận thức được sự cực nhọc trong cảnh nhà nông
và không thể lường hết được sự bấp bênh của thiên nhiên khi thiên tai, dịch bệnh thường xuyên xảy ra, để làm ra của cải vật chất là điều không dễ nên nhân dân ta luôn rất quý trọng công sức, mồ hôi mà mình bỏ ra Những câu ca dao, tục ngữ dã trở thành những bài học quý giá cho đến tận hôm nay cũng được hình thành từ thực tế đó Một
số ví dụ điển hình như:
Trang 10“Kiến tha lâu đầy tổ”
“Có công mài sắt có ngày nên kim”
“Nước chảy đá mòn”…
Sự cần cù cù, chịu thương, chịu khó trong lao động sản xuất và chắt chiu, dè sẻn, tiết kiệm từng đồng xu, hạt thóc của ông cha ta không chỉ dừng lại ở đời sống kinh tế như một hình ảnh đẹp mà đó còn là những hành động cao cả, là đức hy sinh lớn lao đối với đồng bào ruột thịt của mình Cũng từ điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên và chống ngoại xâm mà nhân dân ta từ ngàn xưa đã luôn gắn chặt với nhau, đoàn kết, yêu
thương, chia sẻ cho nhau từng miếng cơm, manh áo, “tối lửa tắt đèn có nhau” Vì thế,
đức tính cần cù, tiết kiệm của nhân dân ta còn có ý nghĩa đạo đức rất lớn lao Họ cần
cù, tiết kiệm không chỉ để dành dùm lại cho riêng mình mà còn để tương trợ, giúp đỡ cho đồng bào mỗi khi gặp hoạn nạn và ủng hộ cho cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Nhờ đó, toàn thể dân tộc ta đã đồng cam cộng khổ, đoàn kết lại thành một lực lượng hùng mạnh để đánh bại mọi kẻ thù Chính sự gắn bó, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, hy sinh cho nhau của nhân dân ta đã nâng hành động cần cù, tiết kiệm lên một nấc thang cao hơn về đạo làm người, về lòng yêu nước và khẳng định rõ nét nguồn nội
lực bất diệt của đất nước Việt Nam Thế nên, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có
một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”2
Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước đã ngập bóng quân thù, Hồ Chí Minh chứng kiến và thấu hiểu được dù phải gánh chịu đau thương, mất mát nhưng người dân vẫn uốn mình để tồn tại trong mọi hoàn cảnh Sự lam lũ, nhọc nhằn, chịu thương, chịu khó của nhân dâncùng những nỗi đau khổ, căm hờn đối với kẻ thù đã đi vào lòng Người, thôi thúc Người phải ra đi tìm đường cứu nước
Sau khi giành được chính quyền, ngày 3 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh khẳng định rằng:
“Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rượu và thuốc phiện Nó đã dùng mọi thủ
đoạn hòng hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu, lười biếng, gian giảo, tham
2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t 6, tr 171
Trang 11ô và những thói xấu khác Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập Tôi đề nghị mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH”3.Với Người, chữ Cần, chữ Kiệm là truyền thống quý báu
của dân tộc, là nền tảng của đời sống mới mà cả nước ta cần phải phát huy, phải vận dụng triệt để Do đó, Người đã luôn nêu gương thực hiện và suốt đời dẫn dắt dân tộc Việt Nam từng bước đi lên
Như vậy, truyền thống dân tộc Việt Nam đã thật sự trở thành một cơ sở, một nền tảng vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
1.2 Tình hình kinh tế Việt Nam từ năm 1858 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Kinh tế Việt Nam đã được hình thành và phát triển cùng với sự chuyển mình của dân tộc qua mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Chính những bước chuyển đó
đã đặt ra nhiều vấn đề và tác động không nhỏ đến nhận thức của con người Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, đặc biệt là về vấn đề tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm cũng đã được hình thành, được phát triển trong bối cảnh đặc biệt của đất nước, bối cảnh mà toàn dân tộc Việt Nam đang chìm ngập dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Ngày 31 – 8 – 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Ngày 6 – 6 – 1884, với Hiệp ước Patơnốt, Nhà nước phong kiến Việt Nam – một Nhà nước độc lập, có chủ quyền đã thật sự trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Từ thời điểm đó, lịch sử Việt Nam đã bước sang một trang mới, nhưng đó là trang sử phản ánh rõ nét một xã hội đang khốn cùng bởi các tầng áp bức, dù có nhiều cuộc đấu tranh, nhiều phong trào yêu nước nổi lên nhưng cho đến những năm đầu của thế kỷ XX thì tất cả vẫn chỉ là khát vọng Song hành với sự thất bại của các phong trào yêu nước, đời sống của người dân Việt Nam cũng đi từ nỗi khổ nhục này đến nỗi khổ nhục khác mà nguyên nhân dẫn đến tính tất yếu đó chính là sự luận bại về kinh tế
Xét một cách cụ thể thì mục đích cốt lõi của thực dân Pháp khi xâm lược Việt Nam
là nhằm đem lại những lợi ích cao nhất về kinh tế Thế nên, sau khi xác lập được ách
3Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t 4, tr.7
Trang 12thống trị ở Việt Nam, Pháp đã bắt tay vào việc thi hành mọi chính sách để khai thác,
vơ vét tối đa nguồn nhân lực, vật lực mà Việt Nam đang có Vì vậy, sự bảo thủ, tàn bạo… là điều không tránh khỏi trong mọi hoạt động của chính quyền Pháp và tay sai
Thứ nhất, về nông nghiệp
Đây là nền kinh tế chủ yếu trong truyền thống của dân tộc Việt Nam và được khẳng
định qua chính sách “dĩ nông vi thực” (tức là lấy nông nghiệp làm ngành sản xuất cơ
bản) Tuy nhiên, với chủ trương bóc lột không ngừng, thực dân Pháp đã tăng cường cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền trồng lúa, cao su, chè,…Đồng thời, thực dân Pháp đã tạo điều kiện để địa chủ chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và tạo ra những biến đổi rất lớn; người Pháp ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1% dân số nhưng có đến 20% tổng số ruộng đất, địa chủ với 5% dân số chiếm hơn 50% diện tích, số ruộng làng xã chiếm khoảng 10%, còn lại nông dân chiếm hơn 90% dân số nhưng chỉ có khoảng 20% số ruộng đất canh tác4 Chính sự khập khiễng về các tỉ lệ như trên đã làm ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất, đến đời sống của nông dân
Để dễ bề thống trị, dễ bề bóc lột mà không cần phải đầu tư vào thuộc địa, thực dân Pháp đã không hề chú ý đến việc dùng trang thiết bị, máy móc, kỹ thuật và những cơ
sở để đáp ứng, để phát triển sản xuất Chúng tiếp tục duy trì phương thức sản xuất phong kiến và nền nông nghiệp lạc hậu sẵn có, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế thuộc địa, bảo vệ, nâng đỡ giai cấp địa chủ tay sai để làm công cụ cho quá trình thống trị Hơn nữa, điều đáng nói ở đây là hàng năm, Việt Nam đã xuất khẩu trên một triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân – những người trực tiếp sản xuất ra lúa gạo lại phải sống trong cảnh đói nghèo Bên cạnh đó, nhằm phục vụ cho cuộc khai thác triệt để, thực dân Pháp đã tăng cường mở các đồn điền trồng cây công nghiệp như: chè, cà phê,
hồ tiêu, cao su và đẩy mạnh xuất khẩu
Thứ hai, về công nghiệp
Khai thác tài nguyên khoáng sản, tận dụng nguyên liệu, nhân công rẻ mạc để phục
vụ cho việc phát triển công nghiệp, xuất khẩu hàng hóa là chủ trương của thực dân Pháp trong công nghiệp lúc bấy giờ Từ chủ trương này đã dẫn đến việc hình thành một số ngành công nghiệp ở Việt Nam như: Công nghiệp luyện kim, công nghiệp cơ
4 Nhiều tác giả (2006), Lịch sử kinh tế Việt Nam và các nước, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
tr 279
Trang 13khí, công nghiệp hóa chất, công nghiệp điện… Thực dân Pháp đã xây dựng các nhà máy xay, nhà máy rượu, nhà máy sợi, các công ty khai thác mỏ… nhằm bảo đảm công cuộc khai thác và sự độc quyền, bành trướng thế lực của Pháp.Các ngành thủ công nghiệp như dệt vải, lụa… đều bị chèn ép và không có cơ hội để phát triển dù nhu cầu của nhân dân là rất cao
Thứ ba, về thương nghiệp
Thực dân Pháp đã thực hiện chính sách “liên hiệp thuế quan” để độc chiếm việc
buôn bán, trao đổi có lợi cho Pháp Hàng hóa của Pháp vào Việt Nam thì được miễn thuế, được tự do nhập khẩu kể cả những hàng ế thừa, tồn kho, kém chất lượng Trong khi đó, hàng hóa của các nước khác vào Việt Nam hay hàng hóa của Việt Nam xuất sang Pháp vẫn phải đóng thuế đầy đủ Hằng năm, Việt Nam phải xuất sang Pháp những mặt hàng quý giá như: than đá, các loại khoáng sản, cao su… nhưng phải nhập những mặt hàng nhỏ, lẻ như: cái kim, chiếc đinh, đầu máy, toa xe… mặc dù sản lượng cao su xuất sang Pháp là rất lớn nhưng Việt Nam lại nhập các chế phẩm cao su từ Pháp sang Những mặt hàng Pháp cần phải dành cho Pháp và Việt Nam không được xuất khẩu sang nước khác
Cùng với việc phát triển công nghiệp bông vải, sợi của Pháp ở Đông Dương, thực dân Pháp đã kìm hãm các ngành dệt thủ công cổ truyền của Việt Nam Các mặt hàng
mĩ nghệ xuất khẩu có giá trị như: sơn mài, thêu, ren, khảm chạm, đan lát… cũng bị thực dân Pháp và Hoa kiều giữ độc quyền, thu mua với giá rẻ mạt để xuất khẩu kiếm lợi nhuận cao
Thứ tư, về ngân sách tài chính
Để tăng thêm nguồn thu, thực dân Pháp tiếp tục duy trì các thuế cũ có từ thời phong kiến trước khi Pháp đến, đồng thời đặt thêm những thứ thuế mới Thuế thời kỳ này chủ yếu được chia làm hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu bao gồm thuế thân và thuế điền (thuế ruộng)
Thuế thân, thuế đinh đánh vào người dân từ 18 tuổi đến 60 tuổi theo Nghị định ngày
2 – 6 – 1897 ở Bắc kỳ và đạo dụ ngày 14 – 8 – 1898 ở Trung kỳ,tăng vọt từ 50 xu lên 2,50 đồng ở Bắc kỳ, từ 30 xu lên 2,30 đồng ở Trung kỳ Người chết cũng phải đóng thuế do người sống đóng thay
Trang 14Thuế điền (thuế ruộng) trước kia mỗi mẫu phải đóng 1 đồng thì từ năm 1897 hạng nhất là 1,50 đồng, hạng nhì 1,10 đồng, hạng ba là 0,8 đồng, không kể các khoảng phụ thu mỗi ngày một tăng Việc phân loại các hạng ruộng lại theo hướng có lợi cho bọn thực dân và cường hào ở địa phương Mức thuế tăng nhưng diện tích định cho đơn vị mẫu để thu thuế lại giảm; một mẫu Việt Nam theo quy định thời Tự Đức là 4970 mét vuông, đến năm 1897 ở Bắc Kì chính quyền thực dân quy định mỗi mẫu chỉ là 3600 mét vuông, thuế ruộng vì vậy đột nhiên tăng lên có nơi gấp 2,5 lần
Thuế gián thu có rất nhiều loại do thực dân Pháp tùy tiện đặt ra, đặc biệt là ba loại thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện Năm 1990 tổng số thuế gián thu của ngân sách Đông Dương là 13.500.000 đồng thì riêng thuế muối, thuế thuốc phiện đã chiếm 11.050.000 đồng5
Năm 1875, Pháp thành lập Ngân hàng Đông Dương Ngân hàng này ngoài chức năng phát hành tiền tệ, còn tiến hành cho vay lấy lãi Ngân hàng Đông Dương đã kết hợp với các hệ thống ngân hàng chuyên ngành như Ngân hàng Nông Phố, Ngân hàng Pháp – Hoa, Ngân hàng Kỹ nghệ thương mại… để cho vay lấy lãi với lãi suất cao (60% – 120%, thậm chí tới 200% một năm), từ đó nhiều nông dân và người sản xuất bị phá sản Hệ thống ngân hàng của Pháp thực chất là công cụ bóc lột nặng nề nhân dân Việt Nam6
Thứ năm, về giao thông vận tải
Đường bộ được mở rộng đến những khu vực hầm mỏ, đồn điền, bến cảng và các vùng biên giới quan trọng Ngoài trục đường xuyên Đông Dương được mở rộng, có nhiều đoạn rộng tới 6m, chúng đã xây dựng những đường hàng tỉnh dẫn tới những vùng biên giới xa xôi và cao nguyên hoang vắng, như đường Sài Gòn – Tây Ninh tới biên giới Campuchia, Vinh – Sầm Nứa, Hà Nội – Cao Bằng… Tổng số đường hàng tỉnh xây dựng thời kỳ này lên tới 20.000 km và kèm theo có 14.000 km đường dây điện thoại Ô tô cũng được nhập vào Năm 1913, toàn Đông Dương có 350 xe, chủ yếu
Trang 15Hệ thống đường sắt được Pháp xây dựng chủ yếu vào những năm 1898 – 1913, sau
đó phát triển thêm với tổng chiều dài 2.509 km
Đường thủy do ít phải đầu tư nên phát triển sớm nhất Hệ thống sông ngòi, kênh rạch của Việt Nam khá thuận lợi cho giao thông đường thủy.Các hải cảng lớn của Việt Nam là Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế Đến năm 1938 có hệ thống đường hàng không trong phạm vi Đông Dương với các tuyến Hà Nội – Pháp, Hà Nội – Hồng Kông
Nhìn chung, giao thông vận tải phát triển chậm, phân bổ không đều, phần lớn chỉ tập trung ở đồng bằng và ven biển Mật độ đường sắt thời kỳ 1930 – 1945 trên 1 km2của Việt Nam chỉ bằng: 1/18 của Pháp, 1/16 của Nhật Phương tiện giao thông vừa ít lại vừa lạc hậu Tính đến năm 1944, ở Việt Nam có khoảng 235 đầu máy xe lửa, 3418 toa xe; 1580 ô tô vận tải Trong khi đó, số xe ô tô du lịch lên đến 13.850 chiếc, gần gấp năm lần các loại xe vận tải8
Từ bức tranh toàn cảnh mang tính khái quát trên cho thấy, thời kỳ 1858 – 1945, nền kinh tế Việt Nam đã có những biến chuyển lớn Tuy nhiên, sự biến chuyển đó không đem lại cho Việt Nam một sự phát triển nào bởi thực tế nền kinh tế Việt Nam lúc này
đã mang bản chất của một nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến, một nền kinh tế mà ở
đó tất cả mọi hoạt động chỉ nhằm đem đến quyền lợi cho thực dân Pháp Còn dân tộc Việt Nam với hơn 90% là nông dân vẫn phải tiếp tục sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu với những nỗi căm phẫn tột cùng đối với kẻ cường quyền và cũng từ thực tiễn đó
đã làm nên những người anh hùng bất tử của thời đại mà đỉnh cao là Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh
Mặc dù đến 32 năm sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Hồ Chí Minh mới
ra đời Mặc dù cho đến khi Người nhận thức được nỗi đắng cay tột cùng mà dân tộc phải gánh chịu thì thực dân Pháp đã bình định xong Việt Nam, nhưng đó cũng là thời khắc mà Tổ quốc Việt Nam đã bắt đầu manh nha tiến trình giải phóng
Năm 1908, Người tham gia vào phong trào đấu tranh chống thuế ở Trung kỳ, đây là một hành động thể hiện rõ sự trưởng thành trong nhận thức của Người.Hơn nữa, sự trưởng thành ấy được bắt đầu, được hun đúc từ thực tiễn đất nước đã trở thành động
8Nhiều tác giả (2006), Lịch sử kinh tế Việt Nam và các nước, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr
285 – 286
Trang 16lực lớn mạnh để Người định hướng đúng đắn trong suốt chặng đường giành độc lập cho dân tộc
Năm 1911, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu cho những cuộc đấu tranh không khoang nhượng là việc không ngừng tìm và vạch trần chính sách kinh tế hết sức dã man của thực dân Pháp ở Việt Nam
Ngày 2 – 8 – 1919, thông qua tác phẩm Vấn đề dân bản xứ đăng trên Báo
L’Humanité, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Từ khi bị Pháp chiếm, đất nước chúng tôi hầu như luôn luôn sống lay lắt ngày này qua ngày khác, không hề biết chính quyền muốn dẫn mình đi đến đâu… Bức tranh ảm đạm này đáng được quan tâm, được xét về một số mặc khác nhau… trong lĩnh vực kinh tế Một bên là người bản xứ bị dìm trong cảnh dốt nát và suy yếu bởi một hệ thống tinh khôn nhằm nhồi sọ, đần độn hóa… họ không lấp liếm hết được dưới một dạng giáo dục bịp bợm: họ phải đổ mồ hôi sôi nước mắt trong những lao tác nặng nhọc nhất và bạc bẽo nhất để kiếm sống một cách chật vật, và hầu như chỉ bằng sức của họ thôi, để nuôi mọi ngân quỹ của chính quyền Một bên là những người Pháp và người nước ngoài: họ đều đi lại tự do, tự dành cho mình tất cả các tài nguyên của đất nước, chiếm đoạt toàn bộ xuất nhập khẩu và tất cả các ngành nghề béo bở nhất, bóc lột trâng tráo trong cảnh dốt nát và nghèo khốn của nhân dân”9
Ở góc độ cao hơn, ở tầm nhìn hết sức sâu rộng, Người đã đem đến một sự so sánh
khá đặc sắc, phác họa rõ nét chân dung của người dân Việt Nam: “Nông dân Nga
giống như một người ngồi chễm chệ trong chiếc ghế bành, còn nông dân An Nam lại giống như một người bị trói vào một chiếc cột, đầu ngược xuống đất”10 Đồng thời, qua hàng loạt các bài nói, bài viết của Người trong những năm bôn ba ở nước ngoài đã phản ánh một cách rất rõ nét và cụ thể tình cảnh của người dân Việt Nam Có lẽ, ở bất
kỳ quốc gia, dân tộc nào khi mà nền kinh tế bị phụ thuộc, bị bóc lột cạn kiệt, thì ở đó đời sống của người dân chắc chắn sẽ bị tướt đoạt mọi quyền lợi và nhanh chóng dẫn đến sự bần cùng, bế tắt… Tình cảnh của người Việt Nam dưới ách thống trị của thực
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.1, tr.12
10 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.1, tr.229
11Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.2, tr.244
Trang 17lạ trên chính mảnh đất của mình Điểm mấu chốt ở đây là chúng đã dùng chính sách ngu dân, đã dùng rượu, thuốc phiện… để đẩy dân ta vào cảnh tăm tối, để chúng dễ bề cai trị Hồ Chí Minh đã nhận thức một cách rất đầy đủ những vấn đề trên và liên tục tố cáo những thủ đoạn mà thực dân Pháp đã thi hành ở các thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam
Như vậy, từ những vấn đề, những sự kiện được đề cập, được phân tích trên cho ta một khẳng định rằng, thực tiễn tình hình kinh tế Việt Nam từ năm 1858 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã có tác động vô cùng to lớn đến việc hình thành
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
1.3 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Tình yêu nước, thương dân sâu sắc là động lực lớn mạnh nhất thôi thúc Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.Trong chặng đường ấy, từ khát vọng giải phóng
cho dân tộc, Người đã đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin Người cho rằng: “Bây giờ học
thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”12 Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của Lênin đã đem đến cho Hồ Chí Minh một luồng ánh sáng mới
và dẫn dắt Người đến những nhận thức cao hơn về con đường cứu nước, cứu dân Cũng từ thời điểm đó, Hồ Chí Minh đã không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu, học tập và vận dụng những quan điểm đúng đắn của Chủ nghĩa Mác - Lênin một cách phù hợp vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam Vì thế, một trong những cơ sở hình thành nên Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin Trong hệ thống ấy, kinh tế nông nghiệp, đặc biệt là về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
là nội dung cốt lõi mà đề tài đang cần nghiên cứu nhằm đánh giá sâu sắc hơn về tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh đối với vấn đề này
Thực tế đã chứng minh rằng, con người có thể tồn tại và phát triển được là nhờ có quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất Quá trình đó không ngừng được nâng lên, mở ra bởi chính nhận thức của con người Những nhu cầu về ăn, mặc, ở… cũng đã ngày càng được con người cải tiến theo yêu cầu ngày càng cao hơn Tất cả những điều
đó hiện hữu như một tất yếu trong thế giới loài người Vì vậy, lao động có nhận thức,
có ý thức, có chủ trương… đã trở thành điều kiện không thể thiếu để con người tự
12Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.289
Trang 18khẳng định mình trong thế giới tự nhiên Con người muốn sống, muốn tồn tại, muốn phát triển thì con người phải lao động, phải cải tạo tự nhiên, cải tạo chính mình và làm
ra những sản phẩm cụ thể cho bản thân, cho cả xã hội Nói đến vấn đề này, C Mác và
Ph, Ăngghen cho rằng: “Đứa trẻ nào cũng biết rằng bất kể dân tộc nào cũng sẽ diệt
vong, nếu như nó ngừng lao động, không phải một năm, mà chỉ mấy tuần thôi”13 Quan điểm này của các bậc vĩ nhân còn nói lên rằng, con người trong quá trình tồn tại không chỉ có lao động mà phải là lao động thường xuyên Việc tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều dẫn đến sự cạnh tranh về lợi ích, chiếm hữu về tư liệu sản xuất, sinh
ra quan hệ người bóc lột người.Xét đến cùng thì từ lợi ích mà sinh ra bóc lột và cũng
từ sự bóc lột mà đã sinh ra những cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ qua mỗi hình thái
kinh tế - xã hội mà Mác - Lênin đã vạch ra Ph.Ăngghen khẳng định rằng: “Ở đâu
không có sự nhất trí về lợi ích thì ở đó sẽ không có sự nhất trí về mục đích lý tưởng, chứ đừng mong có sự nhất trí trong hành động”14.Do vậy, lợi ích của con người mà trọng tâm là lợi ích về kinh tế cần phải được giải quyết một cách hài hòa Tuy nhiên,
sự công bằng và sẵn sàng giải quyết một cách hài hòa về lợi ích kinh tế vẫn còn là ước
mơ, là khát vọng của con người trong một xã hội vẫn còn có giai cấp, còn có áp bức bất công… Vì thế, con đường cách mạng vô sản của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành điểm đến của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam và vô số những quốc gia dân tộc bị áp bức trên thế giới
Xét về mặt kinh tế, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã để lại cho nhân loại một kho tàng tri thức đồ sộ, trong đó có tác động rất lớn đến tư tưởng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm ở Hồ Chí Minh
Theo C Mác, trong quá trình sản xuất cần phải có sự tính toán, phải hạn chế tiêu hao sức lao động, nguyên liệu và vốn để tạo ra lượng sản phẩm thấp nhất Đồng thời,
thời gian cũng cần phải tiết kiệm, “…việc tiết kiệm thời gian cũng như việc phân phối
một cách có kế hoạch thời gian lao động trong các ngành sản xuất khác nhau, vẫn là quy luật kinh tế số một trên cơ sở sản xuất tập thể.Điều đó thậm chí còn là một quy luật với mức độ rất cao”15
13
Kinh tế chính trị Mác – Lênin (1978), Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, tr 126
14Kinh tế chính trị Mác – Lênin (1978), Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, tr 181
15Kinh tế chính trị Mác – Lênin (1978), Nxb Sách giáo khoa Mác – Lênin, Hà Nội, tr 195
Trang 19Ngày 24 - 1 - 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đăng bài Sự nghiệp vĩ đại của Lênin trên Báo Nhân dân Qua đó, Người khẳng định rằng nhân dân lao động thế giới và các
dân tộc đang đấu tranh cho tự do đều sẽ thành kính và tưởng nhở Lênin Lênin đã không những lãnh đạo giai cấp vô sản đưa nước Nga từ phong kiến, lạc hậu thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, mà còn đưa loài người lao động tiến đến hạnh phúc
vẻ vang Lênin là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc, là người thầy đã đào tạo ra những người chiến sĩ cách mạng bằng tất cả lý luận và đạo đức cao đẹp của mình.Hồ Chí Minh đã nêu lên hàng loạt những vấn đề mà Người học được ở Lênin như: tinh thần đoàn kết (đoàn kết toàn dân, toàn giai cấp), phải xem xét
kỹ lưỡng mọi vấn đề, không nóng nảy, hấp tấp nhưng phải quả quyết thực hiện khi đã xác định được vấn đề và có kế hoạch, phải giản đơn, khiêm tốn, trong sạch, chính trực, phải không sợ gian nan, tin tưởng vào cách mạng…
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lênin dạy chúng ta muốn kháng chiến
thắng lợi, kiến quốc thành công thì quyết phải tăng gia sản xuất và tiết kiệm Kinh tế
và tài chính phải do nhà nước thiết thực quản lý, giám đốc, thống kế và điều chỉnh; cần quy định cách phân phối sức lao động cho đúng đắn, quý trọng sức dân, tuyệt đối không được lãng phí sức dân, cái gì cũng phải tiết kiệm”16
Theo Lênin: “Tiền bạc phải tính toán một cách rành mạch, thật thà, phải tiết kiệm,
chớ lười biếng, chớ ăn cắp của công làm của tư Phải giữ gìn kỷ luật lao động rất nghiêm ngặt Đó là những khẩu hiệu chính và rất cần thiết
Một mặt, quần chúng lao động thiết thực làm đúng những khẩu hiệu ấy Đó là phương pháp duy nhất để cứu vãn một nước đã bị lũ kẻ cướp đế quốc và lũ bù nhìn làm cho chết dở sống dở như nước Nga
Một mặt khác, chính quyền Xôviết do phương pháp của mình, căn cứ vào pháp luật của mình, mà thiết thực thi hành khẩu hiệu ấy Đó lại là điều kiện chủ chốt và đầy đủ
để đưa chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi hoàn toàn” 17
Lênin nêu cao tinh thần tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm bao nhiêu thì cũng
kiên quyết chống tham ô, lãng phí bấy nhiêu Vì Lênin cho rằng: “Phải cực kỳ tiết
16Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.7, tr.288
17Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.7, tr.363
Trang 20kiệm để tẩy sạch những vết tích lãng phí”18 Do đó, Lênin đã nghiêm khắc nhấn mạnh:
“Không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà xử một cách pha trò, mềm mỏng nhẹ nhàng như
vậy,đó là một điều xấu hổ cho những đảng viên cộng sản, cho những người cách mạng Cần phải nêu những đồng chí đã ăn hối lộ ra để cho dư luận quở trách và cần phải đuổi họ ra khỏi Đảng”19 Đồng thời: “Cần phải dùng nhiều hình thức và phương
pháp kiểm tra từ dưới lên trên… để nhổ đi nhổ lại cho sạch hết những cỏ rác bệnh quan liêu”20
Như vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm đã thật
sự được hình thành và phát triển có sự ảnh hưởng, tác động một phần không nhỏ từ Chủ nghĩa Mác - Lênin.Mặc dù, những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn
đề này được nêu ở trên là chưa đầy đủ và còn hạn chế về mặt nghiên cứu Tuy nhiên,
với sự khẳng định của Hồ Chí Minh: “Lênin dạy chúng ta rằng muốn kháng chiến
thắng lợi, kiến quốc thành công thì quyết phải tăng gia sản xuất và tiết kiệm”21, đồng thời, những quan điểm về chống tham ô, lãng phí, quan liêu…mà Hồ Chí Minh nhắc đến như đã nêu trên cũng đủ để khẳng định rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm đã thực sự có ảnh hưởng từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin
18Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.7, tr.365
19
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.7, tr.364
20Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.7, tr.365
21Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà nội, t.7, tr.288
Trang 21CHƯƠNG 2 TĂNG GIA SẢN XUẤT VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM THEO TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN 1945 – 1954
2.1 Những thách thức lớn của nền kinh tế Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trải qua hơn 80 năm kể từ khi thực dân Pháp xâm lược, Cách mạng Tháng Tám đã làm nên đỉnh cao và khẳng định rõ nét thực lực của cách mạng Việt Nam Mặc dù trong suốt chặng đường ấy, những cam go, thử thách cùng bao sự thất bại của các phong trào yêu nước đã đưa Việt Nam tồn tại trong một môi trường đầy khắc nghiệt, nhưng cũng chính trong môi trường đó, hình ảnh của con người Việt Nam quật cường
và đầy trí tuệ mới được biểu hiện cụ thể nhất
Ngày 2 – 9 – 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã mở ra một bước ngoặt to lớn trong lịch sử dân tộc, khẳng định sự tồn tại của một nền độc lập, sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng đã làm nên một quốc gia thật sự có chủ quyền, đem lại niềm tin cho nhân dân đối với Đảng và Nhà nước…
Tuy nhiên, trong quá trình đấu tranh lâu dài chống kẻ thù lớn mạnh hơn ta về nhiều mặt đã để lại cho đất nước ta những tổn thất không nhỏ, đặt dân tộc ta vào tình thế như
ngàn cân treo sợi tóc
Thứ nhất, về nạn đói
Nạn đói là một vấn đề đáng lo ngại nhất ở Việt Nam lúc bấy giờ Như trên đã nói,
từ khi vào xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã không ngừng vơ vét, bóc lột một cách
dã man cả sức người, sức của của nhân dân ta, biến nhân dân ta trở thành những người
nô lệ để phục vụ cho mọi lợi ích của chúng Đến lúc Nhật vào Việt Nam, Pháp – Nhật
đã bắt tay nhau để bòn rút tối đa những quyền lợi mà vốn dĩ dân ta phải được hưởng Tất cả những điều đó đã trở thành lý do cốt lõi hàng đầu dẫn đến nạn đói năm 1945 ở Việt Nam Gần hai triệu đồng bào ta bị chết đói là một con số đáng suy ngẫm Bên cạnh sự cướp bóc của Pháp – Nhật thì việc chúng không quan tâm, chăm sóc, xây dựng hệ thống đê điều trong nhiều năm trước đó đã góp phần làm cho nạn lũ lụt, hạn hán đẩy nhanh hơn quá trình nghèo đói của nhân dân ta Tháng 8 – 1945, trong lúc cuộc Cách mạng Tháng Tám đang diễn ra thì nạn lụt được coi là lớn nhất trong thế kỷ
XX đã diễn ra, lan tràn từ Bắc bộ đến Trung bộ, làm cho hàng loạt đê điều bị vỡ Nước
Trang 22lũ đã làm ngập đến 350.000 ha trong tổng số 830.000 ha, tức khoảng 40% diện tích lúa
đã cấy xong ở Bắc bộ22 Tiếp đến là nạn hạn hán, từ tháng 9 đến tháng 11 – 1945, gần như không có một trận mưa nào Đồng ruộng từ chỗ ngập nước sang khô cằn, nứt nẻ
Số lúa được gieo trồng đã mất gần hết do lúc thì chết vì ngập úng, lúc thì chết vì khô hạn Chính sự khắc nghiệt này đã làm cho sản lượng lúa mùa ở Bắc bộ khoảng từ 1.088.000 tấn năm 1945 (giảm hơn 50%) Ở Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thu hoạch mùa cũng giảm gần 50% so với trước23 Từ đó cho thấy, nạn đói sẽ dễ dàng tiếp diễn đến năm 1946 nếu Chính phủ Việt Nam không có những biện pháp đúng đắn
Thứ hai, về ngân sách Nhà nước
Sau khi giành chính quyền, trong kho bạc Trung ương của Pháp chỉ còn có 1.230.720 đồng bạc Đông Dương, trong số đó có tới 586.000 đồng là tiền hào rách Trụ sở Ngân hàng Đông Dương cả ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn còn do quân Nhật võ trang canh gác, nên quân khởi nghĩa không chiếm được Tiền Việt Nam thì chưa có, trong khi chính quyền mới có rất nhiều khoản cần phải chi tiêu
Thứ ba, về thù trong giặc ngoài
Với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật, quân đồng minh đã dồn dập kéo vào Việt Nam nhưng mục tiêu chính của chúng là bao vây, chống phá quyết liệt mầm sống của dân tộc ta
Ở miền Bắc, khoảng 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch, gồm 4 quân đoàn do Lư Hán làm Tổng chỉ huy kéo vào nước ta và chiếm đóng đến vĩ tuyến 16 Đồng thời, Tưởng Giới Thạch đã tạo điều kiện để lực lượng Việt Quốc do Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam đứng đầu và Việt Cách do Nguyễn Hải Thần nắm giữ về nước để chống phá chính quyền cách mạng Thực tế, đây là đội quân ô hợp, cướp bóc, nhũng nhiễu và đe dọa nghiêm trọng đến đời sống kinh tế và chính trị của nhân dân Việt Nam Vì thế, chúng đã áp đặt cho Việt Nam chế độ trưng thu lương thực để phục vụ cho quân đội của chúng Theo yêu cầu của Lư Hán, mỗi tháng Chính phủ Việt Nam phải cung cấp cho quân đội Tưởng 1 vạn tấn gạo, trong khi đó, người dân Việt Nam
Trang 23đang đứng trước nguy cơ chết dần chết mòn vì đói Đồng thời, Lư Hán còn yêu cầu Việt Nam phải chấp nhận cho quân đội Trung Hoa được sử dụng những đồng tiền đã hoàn toàn mất giá trị của họ mang vào để mua hàng Việt Nam
Ở miền Nam, tình hình còn nghiêm trọng hơn Ngoài việc lấy danh nghĩa là quân đồng minh vào giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân Anh đã âm mưu giúp thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam Ngày 23 – 9 – 1945, quân đội Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai Ngoài Tưởng, Anh, Pháp trên đất nước ta có 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp.Trong đó, một bộ phận quân Nhật được quân Anh giúp đỡ và sử dụng để đánh chiếm Sài Gòn cùng nhiều vùng ở miền Nam.Trong tình thế đó, các lực lượng phản động trong nước thừa
cơ hội ngóc đầu dậy chống phá chính quyền cách mạng
Sự non trẻ của một chính phủ mới được thành lập, chưa kịp củng cố và phát triển, chưa được một nước nào công nhận đã phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc.Nền kinh tế của đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu lại ngày càng kiệt quệ, lại bị xâu xé bởi các thế lực trên
Nhân dân đói khổ, chết chóc hoặc phải sống lay lắt, mù chữ (90%), nghiện hút, mê tín dị đoan… Tất cả những điều đó đã đem lại cho Việt Nam những khó khăn chồng chất khó khăn Trong thời thế đó, vấn đề quan trọng nhất ở đây cần được ưu tiên hàng đầu là phải tìm cách để gỡ rối cho nền kinh tế Việt Nam – huyết mạch của sự sống còn
mà đúng hơn là làm sao để người dân có ăn, để người dân sống là trước hết, là cấp bách nhất
2.2 Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh (1945 – 1954)
2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tăng gia sản xuất
Phải khẳng định rằng, dù nhìn ở góc độ nào thì lợi ích của dân tộc Việt Nam với hơn 90% dân số là nông dân vẫn luôn trở thành điểm đến trong mọi hoạt động của Hồ Chí Minh Nhân dân lao động đã đi vào nhận thức của Người từ thuở thiếu thời, cho Người thấu hiểu nỗi đắng cay, nhọc nhằn, nỗi oan ức, căm phẫn của thân phận mất
nước Vì thế, chữ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã dẫn dắt Người đi tìm những giá trị
thực cho dân tộc
Trang 24Ngày 21 – 1 – 1946, trên Báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Tôi chỉ có
một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…”24 Không phải ngẫu nhiên mà cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận định:
Hồ Chí Minh đã “nói lên được điều lớn bằng những dòng chữ nhỏ”25 Thật vậy, từ những dòng chữ nhỏ tưởng chừng như rất đỗi đời thường nhưng ở đó đã chứa đựng những tình cảm, những khát vọng vô bờ của Người dành cho dân tộc Đồng thời, dòng chữ nhỏ ấy đã không hề bó hẹp ở một phạm vi nào mà nó luôn mang tính mở, tính linh hoạt tùy vào bối cảnh lịch sử nhất định Vì thế mà ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi thời điểm, Hồ Chí Minh lại thực hiện những phương pháp, những chủ trương khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm đem lại cho người dân có cuộc sống tự do, có cơm ăn, áo mặc và được học hành để tạo tiền đề cho sự phát triển
Từ năm 1945 đến năm 1954 là một thời kỳ mà Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, việc đánh đuổi giặc ngoại xâm đối với Việt Nam lúc bấy giờ là điều tất yếu, nhưng vấn đề nan giải được đặt lên hàng đầu là phải diệt một thứ giặc đặc biệt hơn, đó là giặc đói
Từ tình hình cụ thể của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám như đã nêu trên, chỉ một ngày sau khi tuyên bố độc lập, ngày 3 – 9 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cấp bách mà Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần phải giải quyết Qua đó, nhiệm vụ được Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu là giải quyết nạn đói
đang hoành hành trong nhân dân Người khẳng định: “Một là, nhân dân ta đang đói –
Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng Hơn nữa, chúng ta còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói để ngăn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô lệ
Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này.Vừa rồi nạn lụt đã phá hoại 8 tỉnh sản xuất lúa gạo.Điều đó, càng làm cho tình hình trầm trọng
Trang 25hơn.Những người thoát chết đói nay cũng bị đói.Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống
Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất”26 Cũng
từ thời điểm này, cụm từ tăng gia sản xuất đã được Hồ Chí Minh bắt đầu đề cập đến Vậy thế nào là tăng gia sản xuất? Tại sao phải tăng gia sản xuất…?
Trước hết, tăng gia “hiểu theo chữ Hán thì có nghĩa là tăng thêm lên Trong kháng
chiến, chữ “tăng gia” thường dùng để chỉ sản xuất nông nghiệp Đi tăng gia tức là đi trồng lúa, trồng ngô, trồng rau…”27
Như vậy, tăng gia sản xuất tức là quá trình đẩy mạnh tiến độ, tập trung cao sức lao động để tạo ra của cải vật chất Trong giai đoạn 1945 – 1954, tăng gia sản xuất được
đề cập một cách rõ nét trong lĩnh vực nông nghiệp và nêu bật tầm quan trọng của việc làm ra lương thực thực phẩm
Thiếu nguồn lương thực thực phẩm dẫn đến đói nghèo, chết chóc đã thật sự là một quốc nạn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi vừa mới ra đời.Ngày 28 – 9 –
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “sẻ cơm nhường áo”; “lúc chúng ta
nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi chạnh lòng Vậy tôi xin
đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói.Tôi chắc rằng, đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng hái hưởng ứng lời đề nghị trên.Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các đồng bào”28.Tư tưởng và hành động trên Hồ Chí Minh đã thể hiện một cách rất cụ thể truyền thống ưu việt về đạo đức lớn lao, về tình người cao đẹp và hết sức thiêng liêng của dân tộc ta đã tồn tại từ ngàn đời Trong hoàn cảnh đất nước vừa mới giành được độc lập, khó khăn thiếu thốn trăm bề, sự sống và cái chết luôn ở một ranh giới khá mong manh mà ngoài nguồn nội lực còn đang manh mún thì Việt Nam lúc bấy giờ không thể dựa vào ai Thế
nhưng, với truyền thống đoàn kết một lòng, lá lành đùm lá rách, tối lửa tắt đèn có
nhau, dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh lạo và làm gương của Hồ Chí Minh đã từng bước
26Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr 6 – 7
27Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, t 1: 1945 – 1954,
tr.407
28Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, t.4, tr.33
Trang 26được vực dậy Ngày 30 – 11 – 1945, Hồ Chí Minh khẳng định hai nhiệm vụ quan
trọng nhất lúc bấy giờ là: “Kháng chiến và cứu đói, mà phải cứu đói mới kháng chiến
được”29 Như vậy, đã ba tháng sau khi giành độc lập, nạn đói vẫn là một vấn nạn được đặt lên hàng đầu và cần phải giải quyết trước Để nhanh chóng đẩy lùi nạn đói, Hồ Chí Minh đã chủ trương lập các quỹ cứu tế, lập hũ gạo cứu tế, tổ chức việc mua thóc của nhà giàu để bán lại cho dân nghèo, di dân ở những vùng lũ mất mùa sang những chỗ được mùa… Tất cả những điều đó đều cần thiết, đều mang tính cấp bách và không thể thiếu đối với Việt Nam trong thời khắc lịch sử vô cùng quan trọng Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã xác định những việc làm đó, những chủ trương đó chỉ mang tính chất tạm thời, cái cốt lõi, cái nền tảng để cho dân không đói, để cho dân no đủ mà trước hết là
để sống, để phục vụ kháng chiến thì phải tăng gia sản xuất Bởi vì, tăng gia sản xuất
là giải quyết vấn đề từ gốc.Tăng gia sản xuất không chỉ là cơ sở để giải quyết triệt để
nạn đói, mà còn là cơ sở cho toàn bộ chính sách kinh tế của Chính phủ, của cách mạng
Việt Nam Do đó, trong bài Gửi nông gia Việt Nam vào ngày 7 – 12 – 1945, Hồ Chí Minh đã viết: “Loài người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn); nước
ta thì “dĩ nông vi bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc) Dân muốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều Vậy chúng ta không nên bỏ hoang một tấc đất nào hết.Chúng ta phải quý mỗi tấc đất như một tấc vàng Hiện nay, chúng ta có hai việc quan trọng nhất: Cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam “Thực túc” thì “binh cường”, cấy nhiều thì khỏi đói.Chúng ta thực hiện “tấc đất, tấc vàng” thì chúng ta quyết thắng lợi trong hai việc đó Tăng gia sản xuất! tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập Hỡi anh em nhà nông, tiến lên! Tiến lên!”30.Báo Tấc đất cũng ra đời từ đó nhằm hướng dẫn và cổ vũ nông dân tăng gia sản xuất
Có thể nói, tất cả mọi cuộc xâm lược đều nhằm mục đích làm chủ được chính trị để bành trướng về kinh tế.Thế nên, khi mất độc lập, mọi dân tộc, mọi quốc gia đều sẽ mất quyền lợi về kinh tế.Vì vậy, đời sống kinh tế luôn giữ một vai trò vô cùng quan trọng,
nó đánh dấu sự sống còn, thịnh vượng hay suy vong của một đất nước Khi nói một quốc gia, một dân tộc có phát triển hay không thì điều đầu tiên người ta sẽ nghĩ đến tiềm lực kinh tế, sức mạnh kinh tế của quốc gia, dân tộc đó đang ở nước nào Một dân
29Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.127
30Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.134 – 135
Trang 27tộc sẽ không thể đứng vững, không thể tồn tại, không thể phát triển nếu đời sống kinh
tế không có được những bước tiến tự do Đồng thời, con người cũng sẽ không thể phát triển, không thể hạnh phúc nếu họ không được hưởng các quyền về kinh tế, không được tự do phát triển kinh tế và tự do đón nhận những thành quả kinh tế do mình làm nên Tất cả những điều đó đã thật sự trở thành quy luật của cuộc sống và tồn tại như một chân lý, góp phần thôi thúc nhân loại không ngừng đấu tranh để vươn lên, đưa xã hội loài người ngày càng phát triển về mọi mặt Đó cũng chính là lý do vì sao mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ra đi tìm đường cứu nước và cũng là lý do để Người nói lên
những điều còn trăn trở: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói,
chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” “Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân được học hành
Cái mục đích chúng ta đi đến là bốn điều đó Đi đến để dân nước ta xứng đáng với
tự do độc lập và giúp sức được cho tự do, độc lập”31
Như vậy, xét đến cùng thì mục đích giải phóng đất nước ở Hồ Chí Minh là nhằm đem lại cho dân tộc có cuộc sống no ấm, đầy đủ và có điều kiện để phát triển Nếu đất nước được giải phóng mà người dân vẫn phải nhịn đói, nhịn khát, vẫn phải sống trong cảnh bần cùng, đau đớn, thèm khát một bữa no, một manh áo, một mái nhà che thân, một vài cái chữ để biết với đời… thì người dân lúc bấy giờ cũng có khác gì nô lệ, thì độc lập, tự do để làm gì? Đồng thời, Hồ Chí Minh cho rằng, khi dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và được học hành thì đó sẽ là cơ sở để giúp sức, để bảo vệ nền độc lập, tự do của toàn dân tộc Tất cả những điều đó nói lên rằng, trong Tư tưởng Hồ Chí Minh thì kinh
tế đã giữ vai trò quyết định và có tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội
Do đó, để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho nhân dân, để nhân dân có cái ăn, cái mặc… để nhân dân tin tưởng vào Đảng và Nhà nước thì việc tập trung giải quyết vấn
đề kinh tế là cần kíp nhất
31Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.175
Trang 28Chính vì lẽ đó mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng đề cập và kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện chủ trương tăng gia sản xuất
Trên thực tế, nói đến tăng gia sản xuất là nói đến nông nghiệp, là nói đến trồng trọt
và chăn nuôi, trong đó, trồng trọt lúc này giữ vai trò chính và mang tính quyết định
Mà nói đến trồng trọt thì hai yếu tố quan trọng nhất cần phải được quan tâm để đảm bảo cho quá trình tăng gia sản xuất đạt kết quả cao đó là đất và nước
Thứ nhất, nói về đất
Nhận thức được sự khốc liệt, sự nghiệt ngã của đời sống nhân dân lao động khi bị địa chủ phong kiến tay sai và thực dân xâm lược cướp đoạt ruộng đất, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ chủ trương đem lại ruộng đất cho nhân dân ngay sau khi Đảng Cộng sản
Việt Nam ra đời Thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ điạ cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản…Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công cho dân cày nghèo Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo…”32.Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc
ta, cách mạng ruộng đất mà quyền lợi thuộc về nông dân đã được đưa lên thành một nhiệm vụ, một chủ trương, gắn liền với chủ trương giải phóng dân tộc Từ đó, vấn đề ruộng đất cho nông dân luôn được đề cập trong các chủ trương, chính sách của Đảng Mặc dù có sự thay đổi về khẩu hiệu do ở mỗi thời điểm thì vị trí của từng nhiệm vụ có
sự thay đổi, nhưng về bản chất trong mọi đường lối của Đảng thì quyền lợi vẫn luôn thuộc về nhân dân Cách mang Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đã bắt đầu một quá trình minh chứng cho điều đó bằng những đường lối, sách lược cụ thể
Ngày 26 – 10 – 1945, Chính phủ ra Nghị định giảm thuế ruộng đất 20% và miễn thuế hoàn toàn cho những vùng bị lụt
Ngày 20 – 11 – 1945, Chính phủ ra thông cáo cho các điền chủ phải có nhiệm vụ:
“Giảm một phần tư (25%) địa tô cho tá điền trong vụ này Cho các tá điền hoãn
nợ…”33
Những quy định, những chủ trương này có thể xem là bước khởi động, đặt nền móng cho một tiến trình dài của công cuộc cải cách, chỉnh đốn và phát triển những
32Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.3, tr.1– 2
33 Lâm Quang Huyên (2002), Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, tr 327
Trang 29đường lối, chính sách ruộng đất sau đó nhằm góp phần xây dựng một đất nước Việt Nam hoàn toàn mới Vấn đề về ruộng đất có liên quan đến đề tài trong giai đoạn 1945 – 1954 sẽ tiếp tục được đề cập song song với quá trình tăng gia sản xuất
Thứ hai, nói về nước
Để phục vụ có hiệu quả hoạt động tăng gia sản xuất, bên cạnh giải quyết vấn đề ruộng đất, điều quan trọng không thể thiếu và mang tính cấp bách là làm sao để cung ứng đầy đủ nguồn nước Vì vậy, việc củng cố hệ thống đê điều đã bị vỡ, đắp thêm đê mới, tạo nguồn nước xuyên suốt, giúp lưu thông dòng nước mỗi khi lũ lụt, là nhu cầu khẩn thiết nhất
Sau cách mạng, đất nước ta lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu thốn trăm bề, mọi điều kiện về cơ sở vật chất, về tiền của đều không có Tuy nhiên, nhận thức được tầm quan trọng lâu dài đối với vận mệnh của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn Đảng, toàn dân ta thực hiện những biện pháp khẩn cấp trong lĩnh vực này Ngày
26 – 12 – 1945, Thông tư số 105/TY của Ủy ban Hành Chính Bắc Bộ về công tác đê điều, đã đưa ra phương án tích cực và thực tế nhất lúc đó để giải quyết kinh phí Trung ương giúp một phần, tỉnh lo một phần, còn lại là phần đóng góp của những người có
ruộng và huy động toàn dân tham gia.Từ đó, ngoài kinh phí của Chính phủ, Quỹ thóc
chữa đêcũng được những người sở hữu ruộng đất lập ra.Công tác đê điều đã được xúc
tiến và ngày càng được đẩy mạnh trên tinh thầncao và đã tương đối hoàn thành vào khoảng đầu năm 1946 Tất cả các quãng đê vỡ (gần 150 chỗ) đã được sửa chữa xong, với khối lượng đất được đào đắp khoảng 1,9 triệu m3 Hơn 10 đoạn đê mới đã được xây dựng với khoảng 1,5 triệu m3 Đó là một thành quả rất quan trọng đối với việc tăng gia sản xuất và cứu đói Ngoài ra, đó còn là một bằng chứng về trách nhiệm, năng lực và sức sống của chính quyền mới34 Nhằm góp phần ngăn chặn lũ lụt, tránh hạn hán, Chính phủ cũng đã ban hành Thông tư số 1303 BCN/VP vào ngày 28 – 6 – 1946
về việc bảo vệ rừng
Song hành với quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất và đê điều, hoạt động trồng trọt
đã được gấp rút tiến hành Những chủ trương khẩn cấp nhất lúc bấy giờ là;
34Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, t 1: 1945 – 1954,
tr.131
Trang 30Tận dụng mọi khu vực đất đai còn trống để trồng trọt, thực hiện khẩu hiệu “tấc đất
Để thực hiện tốt khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế
Nguyễn Mạnh Hà đã ký Nghị định số 41 BKT ngày 15 – 11 – 1945, quy định hàng loạt các biện pháp cấp bách để khuyến khích tận dụng diện tích đất đai canh tác
“1.Tất cả những người có ruộng phải khai báo với chính quyền địa phương về diện
tích canh tác thực tế.Ngoài số diện tích đó, phần nào chưa canh tác thì buộc phải cho người thiếu ruộng mượn tạm trong một vụ để trồng màu
2 Người mượn ruộng phải đảm bảo canh tác số diện tích đó trước Tết âm lịch, tức tháng 2 năm1946 và đến tháng 4 năm 1946 thu hoạch xong thì phải trả ngay ruộng cho chủ cũ”35
Các địa phương còn tăng cường tổ chức thêm những cơ sở tăng gia sản xuất tập thể, dùng những đất công còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê, vận động cả tư nhân cho sử dụng tạm các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất Trên những mảnh đất này, tất cả mọi thành phần trong xã hội đều tham gia trồng trọt như thanh niên, học sinh, sinh viên, phụ lão, viên chức… Mỗi địa phương đều lập ra một tiểu ban để huy động nguồn nhân lực và tổ chức sản xuất
Để phổ biến những Chỉ thị của Chính phủ và động viên, hướng dẫn nhân dân tăng gia sản xuất, ở từng cơ sở địa phương đã lập ra các tiểu ban công nông.Tính đến tháng
4 –1946, Báo Tấc đất đã phát hành 50000 bản và đã phát miễn phí cho các tiểu ban
canh nông Bộ canh nông cũng đặt ra một cơ quan đặc biệt để nghiên cứu và hướng dẫn nông dân sản xuất, gọi là Sổ khuyến nông, do kỹ sư Bùi Huy Đáp làm giám đốc Cuối năm 1945 đầu năm 1946 hoạt động tăng gia sản xuất được thực hiện bằng cách trồng các loại thực phẩm như: ngô, khoai, đậu để bù cho phần thiếu hụt về lúa do tình trạng ngập úng và hạn hán vừa qua đã làm cho mùa lúa không kịp thời vụ Đây là một
35Đặng Phong (2002), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 1: 1945 –
1954, tr.132
Trang 31giải pháp vừa đúng đắn, vừa kịp thời mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta, dân
ta thực hiện một cách rất khoa học Bởi vì, đứng trước nạn đói sẽ đến vào tháng Giêng
1946, phải trồng màu ngay từ tháng 11 năm 1945 thì tháng Giêng đã có thu hoạch khoai lang, tháng 2 đã có thu hoạch ngô, đậu Ngay sau đó, trồng tiếp một vụ nữa có thể cho thu hoạch bổ sung vào tháng 3 và tháng 4 để chịu đựng suốt thời kỳ giáp hạt cho đến vụ thu hoạch lúa chiêm vào tháng 5
Để thực hiện sáng kiến trên đã xuất hiện một vấn đề nan giải: Lấy đâu ra cho đủ giống hoa màu trên diện tích lớn như vậy? Các kỹ sư canh nông đã có một sáng kiến nữa: Với số khoai lang ít ỏi, nếu đem trồng lấy củ thì chỉ đủ cho một diện tích bằng 1/5
số diện tích cần trồng Giải pháp là: trước khi trồng lấy củ, cho trồng tạm trên đất phẳng, không đánh thành luống Sau 20 ngày, dây khoai mọc thêm nhiều nhánh, nhổ lên làm giống Cứ 1 ha trồng dây giống theo cách đó có thể đủ cho 10 ha trồng khoai lấy củ Ở những nơi không có nhiều diện tích, ta áp dụng một phương pháp khác: Vẫn trồng khoai lấy củ, nhưng khi cây ra ngọn thì hái bớt làm giống Thời gian thu hoạch
vì thế chậm hơn 1 tháng, nhưng lại có thể cung cấp thêm giống cho một diện tích gấp
5 lần diện tích ban đầu Bằng những phương pháp đó, đã giải quyết được vấn đề giống cho một diện tích khoai lang gấp 3 lần và cho sản lượng gấp 5 lần trước đây.Còn với ngô, vấn đề không dễ nhân nhanh như vậy, người ta giải quyết bằng cách trồng xen giữa các luống khoai và đậu.Ngô trồng thưa thường cho năng suất rất cao Kết quả là diện tích ngô (trồng xen) tăng gấp 3 và sản lượng tăng gấp 4 lần36…
Những đường lối, những chủ trương, những hoạt động trên đã thể hiện rất rõ tư
tưởng: “Tất cả những việc Đảng và Chính phủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống cho
nhân dân, làm gì mà không nhằm mục đích ấy là không đúng”37 Chính vì vậy mà trong giai đoạn 1945 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn thực hiện chủ trương đàm phán để kéo dài thời gian hòa bình cho đất nước, để tập trung sản xuất đem lại nguồn sống cho nhân dân và để chuẩn bị cho một cuộc chiến ác liệt không thể nào tránh khỏi
đang ở phía trước Ngày 13 – 12 – 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài: Động viên
kinh tế Qua đó, người khẳng định:“Chúng ta phải đương đầu với bọn thực dân phản động Pháp trong một cuộc kháng chiến lâu dài để giữ vững chủ quyền của đất nước
Trang 32Vì thế, chúng ta không thể không chú ý đến vấn đề động viên kinh tế… Chúng ta phải hết sức tăng gia sản xuất”38
Hiệp định Sơ bộ ngày 6 – 3 – 1946 và Tạm ước 14 – 9 – 1946 là một chiến lược đã được Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện để Việt Nam có thời gian chuẩn bị những điều kiện căn bản Nếu nhìn một cách đơn giản thì đó là hành động nhân nhượng, nhưng ở góc độ sâu sắc hơn thì đó là hành động đầy nghệ thuật và hết sức đúng đắn, cho thấy sự khéo léo, linh hoạt ở Hồ Chí Minh Nhờ đó, trong một thời gian khá ngắn ngủi, Người đã đưa dân tộc Việt Nam vượt qua được rất nhiều thử thách Niềm tin của nhân dân đối với Người, với Đảng đã ngày càng cao Tinh thần hăng hái trong đời sống, trong sản xuất của người dân cũng tăng lên đáng kể thông qua các phong trào Khi xác định tình thế không thể kéo dài được nữa, ngày 19 – 12 – 1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Với một tinh thần quyết chiến, quyết thắng, với sự sẵn sàng hy sinh và niềm tin tất thắng, Hồ Chí Minh nêu rõ “Giờ
cứu nước đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết, hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta…”39.Từ thời khắc đó, tăng gia sản xuất đã không chỉ là công việc cứu đói, khắc phục kinh tế mà tăng gia sản xuất còn là một phong trào không thể thiếu trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm Tăng gia sản xuất lúc này cần được đẩy mạnh hơn nữa để vừa cung cấp lương thực cho địa phương, vừa cung cấp lương thực cho chiến trường Xác định cuộc đấu tranh gữa ta và thực dân Pháp lúc bấy giờ là cuộc chiến lâu dài, là phải trường kỳ kháng chiến Vì thế, toàn dân ta phải ra sức ủng hộ kháng chiến, mỗi người tùy vào năng lực của mình đều có thể góp một phần to lớn
vào sự nghiệp nước nhà Người khẳng định: “Chiến sĩ hy sinh xương máu để giữ đất
nước Bụng có no, thân có ấm mới đánh được giặc
Làm ra gạo thóc cho chiến sĩ ăn, làm ra vải vóc cho chiến sĩ mặc.Đều nhờ nơi đồng bào của hậu phương
Muốn giúp cho chiến sĩ ăn mặc đầy đủ, thì phải ra sức tăng gia sản xuất, nuôi nhiều
gà, vịt, lợn, bò, giồng nhiều lúa, khoai, ngô, đậu Hậu phương thắng lợi, thì chắc tiền phương thắng lợi
38Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.530
39Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.534
Trang 33Thế là đồng bào hậu phương cũng ra sức kháng chiến
Tiền phương chiến sĩ hy sinh
Đem xương máu mình giữ nước non ta
Hậu phương sản xuất tăng gia,
Cũng là kháng chiến, cũng là vẻ vang” 40
Như vậy, để công cuộc kháng chiến ở tiền phương đạt đến thắng lợi hoàn toàn thì nơi hậu phương cũng phải vững chắc, phải đảm nhận những trọng trách to lớn Đồng
bào tản cư cũng phải tăng gia sản xuất: “Nay dời vào hậu phương, các đồng bào mỗi
người phải làm một việc, không nên một ai ăn rỗi ngồi không
Các anh em trí thức thì đem học vấn của mình giúp vào việc văn hóa ở thôn quê, hoặc ra sức tuyên truyền việc kháng chiến.Hoặc giúp sức vào bình dân học vụ.Chớ bỏ tài học của mình
Các đồng bào có vốn thì nên cùng nhau tổ chức những công nghệ nhỏ Như thế thì
đã khỏi ngồi ăn cụt vốn mà lại giúp được một số đồng bào lao động tản cư Chính phủ
sẽ tận tâm giúp đỡ
Các anh em công nhân thì Liên đoàn lao động và Chính phủ đã có kế hoạch sắp xếp công ăn việc làm cho cả mọi người Anh em phải lập tức đăng ký tại Liện đoàn lao động để nhận công việc
Anh em nông dân và các lớp đồng bào khác thì Chính phủ và đồng bào hậu phương
đã có cách giúp đỡ Xin mọi người theo lời của các Uỷ ban tản cư, đi đến nơi đã chuẩn bị sẵn sàng để mà làm ăn
Như thế là các đồng bào ai làm nghề gì, trong lúc tản cư cứ làm nghề ấy Ai cũng
ra sức tăng gia sản xuất”41
Hồ Chí Minh kêu gọi các ủy ban, các cơ quan, đoàn thể phải động viên dân chúng, phải giải thích cho dân hiểu rõ tình hình và nhiệm vụ của người dân về lĩnh vực kinh
tế Người nhắc nhở những ai có trọng trách thì cần làm thế nào cho dân hiểu vì sao
40Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.540
41Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.63, 64
Trang 34phải tăng gia sản xuất, tăng gia bằng cách nào và nên có một đội tuyên truyền trực tiếp
dưới sự chỉ huy của Ban, của Tổ Đồng thời, Người chỉ rõ:
“Tăng gia sản xuất
Ngày 20 – 2 – 1947, qua Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú, hào
tỉnh Thanh Hóa, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề tăng gia sản xuất như một điểm trọng tâm
trong lĩnh vực kinh tế Kinh tế Việt Nam lúc này đang bị thực dân Pháp phong tỏa nên phải tự cấp tự túc.Trong bối cảnh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Hồ Chí Minh cho rằng, phải đem hết tài, lực của dân để làm lợi cho dân Trước kia, công sức của nhân dân bỏ ra, làm lụng như trâu, ngựa là để phục vụ cho đế quốc, cho bọn tay sai, còn bây giờ công sức nhân dân bỏ ra sẽ đem về cho dân những quyền lợi xứng đáng và kiên quyết đưa dân thoát khỏi kiếp đời nô lệ Đồng bào sẽ được Ban Tăng gia sản xuất giúp
đỡ, bày kế hoạch để nhân dân đạt kết quả cao trong lao động
Ngày 20 – 3– 1947, với bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh đã cho ra đời tác phẩm
Đời sống mới Đời sống mới theo Hồ Chí Minh là bỏ đi những cái cũ lạc hậu, bỏ đi
những cái xấu như lười biếng, tham lam, sửa đổi những gì còn phiền phức, rối rắm cho phù hợp hơn và lưu giữ, học tập những cái tốt, phát triển những cái hay ở truyền thống, tìm những cái mới, cái phù hợp với thực tiễn đất nước để phát huy Mục đích của đời
sống mới là “làm thế nào cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần
được vui mạnh hơn”43
.Hồ Chí Minh cho rằng công việc đầu tiên của đời sống mới là phải đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu, trong đời sống của con người Người
42Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.549
43Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.113
Trang 35khẳng định: “Bất kỳ ai muốn sống thì phải có bốn điều ăn, mặc, ở, đi lại Muốn có cơm
ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi, thì phải làm.Từ trước đến giờ, ta vẫn có làm, vẫn có cơm, áo, nhà cửa, đường sá Nhưng vì làm chưa hợp lý cho nên số đông dân ta ăn đói, mặc rách, nhà cửa chật hẹp, đường sá gập ghềnh”44 Thế nên, đời sống mới là phải sửa đổi, cải thiện cách làm, cách sống cho phù hợp Tăng gia sản xuất là một hoạt động rất quan trọng, góp phần đẩy mạnh quá trình thực hiện đời sống mới, vì có tăng gia sản xuất mới làm ra một lượng hàng hóa lớn để đáp ứng cho bốn nhu cầu trên của
con người (ăn, mặc, ở, đi lại) Qua tác phẩm, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Tăng
gia sản xuất tức là một bộ phận trong đời sống mới Có tinh thần đời sống mới thì tăng gia sản xuất mới chóng thành công Mà tăng gai sản xuất có thành công, thì đời sống mới dễ thực hiện”45
Tăng gia sản xuất lúc này gắn chặt với nhiệm vụ thực hiện đời sống mới Vì vậy, tăng gia sản xuất không có giới hạn đối tượng hay lĩnh vực nhất định nào.Người người, nhà nhà, ngành ngành… không phân biệt địa vị, tuổi tác, giàu nghèo, hễ là người Việt Nam yêu nước thì phải thực hiện đời sống mới, phải tăng gia sản xuất.Để giữ vững và bảo đảm tính lâu dài, tính bền vững của việc tăng gia sản xuất, thực hiện đời sống mới có hiệu quả, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác giáo dục ở trường học
Người căn dặn: “Phải khuyên học trò tham gia việc tăng gia sản xuất Điều này cũng
quan trọng lắm Một là làm cho họ biết kính trong sự cần lao Hai là học tập cho quen khổ Ba là cho họ cái chí khí tự thực kỷ lực (làm lấy mà ăn), không ăn bám xã hội Bốn
là có ích cho sức khỏe của họ…”46.Đây là một quan điểm rất sâu sắc và có tính giáo dục cao, nhằm vực dậy toàn bộ sức dân thực hiện công cuộc kháng chiến kiến quốc của Hồ Chí Minh
Ngày 15 – 1 – 1948, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ 2 lần đầu tiên đã
đề ra một cách có hệ thống chính sách ruộng đất của Đảng trong kháng chiến, gồm những điểm sau đây:
1 Triệt để việc giảm 25% địa tô (nhiều nơi chưa làm)
2 Bài trừ những thứ địa tô phụ như tiền trình gặt, tiền đầu trâu, lễ lạt quá nặng
3 Bỏ chế độquá điền
44
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.113
45Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.16
46Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.121
Trang 364 Đem ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc tạm cấp cho dân cày nghèo, hoặc giao cho bộ đội cày cấy để tự cấp phần nào (sẽ có chỉ thị riêng)
5 Chia lại công điền cho hợp lý và công bằng hơn
6 Đem ruộng đất, đồn điền của địch cấp cho dân cày nghèo, chấn chỉnh các đồn điền do Chính phủ quản lý
7 Chấn chỉnh các hợp tác xã của dân cày và khuyến khích việc làm giúp nhau, đổi công
8 Cấp trâu bò, hạt giống cho nông dân ở các vùng bị địch tàn phá
9 Mở mang việc vận tải và chỉ huy nông nghiệp để giữ giá nông sản
10 Tiếp tế, vận tải hàng hóa cần thiết cho nông dân
11 Ấn định giá nhân công (công nhật, công mùa) cho chủ ruộng đở thiệt
12 Địa tô của các đồn điền mà chủ điền đã đi vắng lâu ngày hay ở trong vùng địch kiểm soát tạm giao cho Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh để dùng vào việc tiếp tế nạn nhân, tổ chức làng chiến đấu, võ trang toàn dân… (Chính phủ bảo đảm việc hoàn lại địa tô ấy cho chủ ruông khi nào chủ ruộng trở về và xét ra được hưởng địa tô ấy)
13 Củng cố đê điều, ấn định mọi phương pháp phòng lụt, sửa sang việc dẫn thủy nhập điền
14 Tùy từng địa phương mà đặt lệ thu thuế bằng nông sản để cho dân quê dễ nộp Giảm thuế hoặc giữ nguyên thuế ở các vùng vì chiến sự mà không cày cấy được
15 Điều tra ruộng đất để bỏ thuế “khống thu” và thủ tiêu chế độ “điền bất cấpbạ”
16 Chấn chỉnh tín dụng sản xuất
17 Điều tra về nợ để quy định tiền nợ lãi của dân quê (nhất là lệ vay thóc thùng) Sau đó ít lâu, cũng vào năm 1948, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 4, trong khi
bàn về vấn đề cải thiện dân sinh, đã đề ra những chủ trương cụ thể hơn trong việc xử lý
ruộng đất và tài sản của bọn Việt gian và của thực dân Pháp
Hội nghị quyết định:
1 Tịch thu ruộng đất và tài sản của Việt gian (đưa ra tòa án tuyên án rõ ràng) Ruộng đất thì UBKCHC thu cho dân cày cấy, còn tài sản thì tùy trường hợp cấp cho dân cày hoặc UBKCHC thu sử dụng (việc chia ruộng đất cho dân cày cần phải có kế hoạch đầy đủ)
Trang 372 Những ruộng đất của Việt gian bị giết hồi khởi nghĩa mà hiện các đoàn thể sử dụng thì phải giai lại cho bên chính quyền (những ruộng đất này phải hợp pháp hóa) Chú ý: Khi tịch thu thì chỉ tịch thu của những người có tội
3 Chính phủ tạm thời quản lý các đồn điền của Pháp
4 Những ruộng đất mà trước đây các điền chủ Pháp cướp của dân có bằng cớ rõ ràng thì trả lại cho dân
5 Thành lập ở mỗi đồn điền một ban quản trị gồm một đại biểu hành chính (huyện hoặc tỉnh), 1 địa biểu Bộ Canh nông, 3 đại biểu tá điền Kế hoạch của Ban quản trị phải được UBKCHC khu chuẩn y Nhiều vụ Ban quản trị là phân phối ruộng cho dân, giúp đỡ kế hoạch cho dân cày cấy, làm thế nào khỏi bỏ đất hoang, thu được hoa lợi
Ngày 1 – 5 – 1948, Người ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước và coi việc ra sức tham gia phong trào “Thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất”47.Kinh tế nước ta dù còn nghèo nàn, lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và ý chí quật cường của nhân dân ta thì vô cùng vô tận Thế nên, toàn thể dân tộc ta phải dốc hết sức mình tăng gia sản xuất với một cường độ cao để đáp ứng tình thế phải tự cấp, tự túc Sĩ, công, nông, thương, binh, trai, gái, già, trẻ… đều phải thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất để kháng chiến mau đến thắng lợi, kiến quốc mau đến thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ lãnh tụ
mà lòng tin đối với nhân dân luôn ngự trị trong Người Với Người:
“Gốc có vững, cây mới bền
Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”48 Hay
“Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong”49 Nhận thức được điều đó, Người đã luôn dựa vào dân, yêu kính dân, tin tưởng dân, kêu gọi, vận động và giúp đỡ, hướng dẫn nhân dân tự lực cánh sinh, phấn đấu trong mọi hoàn cảnh để tự giải phóng mình, phát triển mình để đem lại nguồn lợi cho chính mình Khi người dân thấy rõ quyền lợi của mình phải gắn chặt với quyền lợi chung của
47
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.513
48 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.501, 502
49 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.15, tr.280
Trang 38đất nước, thì chính họ sẽ vùng lên để cứu nước, cứu mình Tăng gia sản xuất sau Cách mạng Tháng Tám là để thực hiện mục tiêu cứu đói cho dân, nhưng để dân không lặp lại nạn đói nữa thì phải liên tục tăng gia sản xuất để làm cho dân no đủ và có của để của dư Muốn làm để có được những điều đó trong khi đất nước còn đang chiến đấu thì toàn dân phải tham gia tăng gia sản xuất để phục vụ kháng chiến Theo Hồ Chí
Minh thì “từ cuộc vận động tăng gia sản xuất và luyện quân lập công, chúng ta đã tiến
đến phong trào thi đua ái quốc khắp mọi mặt, khắp mọi nơi Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to Vì vậy, mà thắng lợi càng nhất định về tay ta”50 Trên tinh thần đó,
ngày 11 – 6 – 1948, Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Người cũng đã được ra đời và đăng trên Báo Cứu quốc ngày 24 – 2 – 1948 nhằm tiếp tục kêu gọi, vận động toàn dân
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Từ nhân dân đến cán bộ, từ trẻ em đến người già, từ nông nghiệp đến mọi ngành, mọi cơ quan, doanh nghiệp đều hăng hái lao động, hăng hái thi đua cống hiến cho nước nhà Dù đi đâu, ở đâu, mọi người đều tận dụng đất đai để sản xuất, để tự túc Các cơ quan Chính phủ ở Trung ương, tỉnh, huyện xuống từng cấp cơ sở đều phải khai phá thêm đất đai để trồng thêm ngô, khoai, sắn, đặc biệt
là trồng rau góp phần gia tăng sản lượng lương thực Từ Chủ tịch Hồ Chí Minh đến các Bộ trưởng, Thủ trưởng, các nhân viên chính phủ đều phải cuốc đất, trồng rau, tăng gia sản xuất.Dần dần, việc tăng gia sản xuất đã trở thành một thói quen, một nếp sống
và nhiều khi đó lại là niềm vui, là nhu cầu rèn luyện của tất cả mọi người Những người dân thành thị tản cư về nông thôn cũng tìm mọi cách khai phá thêm đất đai, để trồng trọt, chăn nuôi Học sinh ở nhiều nơi thực hiện tăng gia sản xuất và phải báo cáo thành tích về trường để chấm điểm Tăng gia sản xuất đã thật sự đi vào từng ngõ ngách của cuộc sống, của kháng chiến, của kiến quốc, ở đâu có người thì ở đó có tăng gia sản xuất Toàn dân quyết tâm thực hiện chữ Cần theo lời dạy của Bác:
“Người siêng năng thì mau tiến bộ
Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no
Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh
Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu”51
50 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.5, tr.553
51Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, t.6, tr.118
Trang 39Dù trong thời chiến, thực dân Pháp đã chiếm đóng, đã tàn phá nhiều vùng sản xuất của ta, điều kiện canh tác rất khó khăn, nhưng nhờ sự khuyến khích của Chính phủ, nhờ các phong trào vận động của đoàn thể quần chúng mà việc trồng trọt, chăn nuôi đã trở thành nếp sống thường nhật của cả nước Để sản xuất nông nghiệp được tăng gia đúng kế hoạch và đáp ứng được những nhu cầu đặt ra, tín dụng cho sản xuất nông nghiệp đã được Chính phủ lưu ý từ năm 1947 Những vùng kinh tế khó khăn, những vùng bị đói, bị địch phá hoại đều được giúp đỡ mua nông cụ, phân bón, giống… Công tác cải thiện thủy lợi, khai hoang, trồng rừng, mở rộng chăn nuôi…cũng được quan
tâm.Sở tín dụng sản xuất được thành lập năm 1947 và hoạt động đến năm 1952, trong
thời gian đó, Sở đã cho vay trong khu vực nông nghiệp là 181 triệu đồng52
Bên cạnh đó, Bộ canh nông cùng các Phòng, Ban Canh nông từ Trung ương đến địa phương đều có những chuyên gia nông nghiệp thường xuyên đi tìm hiểu tình hình thực
tế ở nông thôn, đưa ra những sáng kiến đổi mới kỹ thuật phù hợp với điều kiện của nhân dân ở từng khu vực Ví dụ như: Một số cùng ở miền núi Bắc Bộ từ lâu không có tập quán dùng phân bắc, nhưng trong thời kỳ này, các cơ quan, bộ đội, các đoàn vận động đời sống mới…đã giúp nhân dân làm nhà vệ sinh, tại các gia đình để ủ phân bón ruộng Nhiều giống rau mới như xà lách,càchùa… được cán bộ, chiến sĩ đưa lên trồng
bộ tối đa là 0,5 ha/người, ở Nam bộ là 1ha/người, nhằm chấm dứt tình trạng một số
đồn điền lâu ngày không được canh tác Ngày 19 – 7 – 1949, trong bài Trả lời phỏng
vấn của Hãng Thông tấn Ăngtara (Inđônêxia) về chính sách của Chủ tịch Hồ Chí
Minh đối với quyền tư hữu về ruộng đất và các vấn đề nông nghiệp, Người nói: “Địa
chủ ở Việt Nam đều giảm tô 25 phần trăm Một số địa chủ đã tự ý hiến ruộng cho quân đội quốc gia, có người đến 2000 mẫu”53
.TừLời kêu gọi thi đua ái quốc và khi phong
trào đấu tranh ngày càng dâng cao, Người đã kêu gọi nhân dân thi đua chuẩn bị tổng