Nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc khắc phục vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thực hiện công trình này để vừa bổ trợ kiến thức về thể loại truyện cười Nga cho các bạn sinh viê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN NGA
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2015
Tên công trình:
NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ĐỌC HIỂU TRUYỆN CƯỜI NGA CỦA SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH NGỮ VĂN NGA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
Sinh viên thực hiện :
Chủ nhiệm: NGUYỄN NGỌC THÙY –Khoa Ngữ văn Nga, Khóa 2010 – 2015 Thành viên : TRẦN THỊ VIỆT NGA – Khoa Ngữ văn Nga, Khóa 2010 – 2015
PHẠM THỊ THƯƠNG – Khoa Ngữ văn Nga, Khóa 2010 – 2015 TRẦN PHƯƠNG THẢO – Khoa Ngữ văn Nga, Khóa 2010 – 2015
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Bùi Thị Thúy Nga,
Giảng viên tiếng Nga, Khoa Ngữ văn Nga, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG TP.HCM
TP.HCM – Tháng 3/2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Trong chương trình học môn Đọc Tiếng Nga của Khoa Ngữ văn Nga, Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn, sinh viên đã được tiếp cận với thể loại truyện cười tiếng Nga Tuy rằng đa số sinh viên cảm thấy hào hứng khi được học, đọc truyện cười nhưng thực tế cho thấy, các bạn lại vấp phải rất nhiều khó khăn trong việc hiểu được chúng Nhằm hỗ trợ sinh viên trong việc khắc phục vấn đề nêu trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi đã thực hiện công trình này để vừa bổ trợ kiến thức về thể loại truyện cười Nga cho các bạn sinh viên, đồng thời tìm ra những nguyên nhân gây nên khó khăn đọc hiểu của các bạn
Đề tài của nhóm chúng tôi được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau
Cụ thể hơn, chúng tôi đã thu thập tài liệu từ những nguồn tài liệu số tiếng Nga, Việt, Anh để đưa ra định nghĩa về thuật ngữ truyện cười (анекдот – шутка); phân tích kỹ càng cái gây cười trong nhiều truyện được in trong bốn quyển giáo trình Đọc Tiếng Nga để làm mẫu; và tiến hành khảo sát tình trạng đọc hiểu của sinh viên các khóa để sinh viên nhìn nhận được những cản trở trong giới hạn nhận thức của chính mình Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đưa ra một vài phương pháp nhằm cải thiện những khó khăn nêu trên cho chương trình học
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Giới hạn của đề tài 2
6 Đóng góp mới của đề tài 2
7 Ý nghĩa thực tiễn 3
8 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: 4
1.1 Khái niệm về Truyện cười trong tiếng Nga, Việt và Anh 4
1.2 Đặc trưng của “ Анекдот - Шутка ” trong văn hóa Nga 7
1.2.1 Thủ pháp nghệ thuật 7
1.2.2 Phân loại truyện cười 9
1.2.3 Tính truyền miệng 12
1.2.4 Hình thức 13
1.3 Phân loại “Анекдот - Шутка” trong văn hóa Nga dựa trên chương trình học của Khoa Ngữ văn Nga 15
1.3.1 Chủ đề “Gia đình” 15
1.3.2 Chủ đề “Phụ nữ” 17
1.3.3 Chủ đề “Đàn ông” 19
1.3.4 Chủ đề “ Trẻ con” 21
1.3.5 Chủ đề “Học sinh – sinh viên” 23
1.3.6 Chủ đề “Nghề nghiệp”: 25
CHƯƠNG 2: 27
2.1 Những khó khăn 27
2.2 Nguyên nhân 28
2.1.1 Nguyên nhân khách quan: 28
2.1.2 Nguyên nhân chủ quan khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc hiểu truyện cười Nga 30
CHƯƠNG 3: 32
3.1 Đối với người dạy 32
3.2 Đối với người học 33
KẾT LUẬN 35
PHỤ LỤC 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dựa trên cơ sở thực tiễn của sinh viên Khoa Ngữ văn Nga Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chúng tôi nhận thấy còn nhiều khó khăn về khả năng đọc hiểu truyện cười tiếng Nga Truyện cười không chỉ là kho tàng văn hóa, mà còn thể hiện bản sắc riêng của đất nước và con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau Những khó khăn trong việc đọc hiểu truyện cười sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp cận nền văn hóa bản ngữ của những sinh viên nghiên cứu ngôn ngữ này Những truyện cười được đưa vào chương trình Đọc tiếng Nga của Khoa Ngữ văn Nga là không nhiều, nhưng nếu như được tìm hiểu cặn kẽ thì các bạn sinh viên sẽ phần nào nắm bắt được những nét văn hóa đặc trưng cơ bản của người Nga Không chỉ vậy, truyện cười còn giúp ích rất nhiều trong việc trau dồi vốn từ và ngữ pháp tiếng Nga cho các bạn sinh viên trên tinh thần học tập thoải mái và dễ tiếp thu Do đó, nhóm chúng tôi nhận thấy việc thực hiện công trình này là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi:
Мягковa E.А (2011), Нaционaльный aнeкдот c точки зрeния мeжкультурной коммуникaции (нa примeрe aнглийcкой, руccкой и итaльянcкой культур),
Московский Государственный Психолого-Педагогический Университет, Моcквa
Trong nghiên cứu này, tác giả Мягковa E.А dưới sự hướng dẫn của TS-PGS Новиковa О.В đã đưa ra những định nghĩa về aнeкдот mà nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tham khảo và sử dụng làm nền tảng nghiên cứu cho mình
Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu còn tham khảo một số bài viết khác như:
А.С Архипова Анекдот в зарубежных исследованиях XX века
В В Химик Анекдот как уникальное явление русской речевой культуры, 2002
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ định nghĩa về thuật ngữ анекдот – шутка được sử dụng trong giáo trình Đọc Tiếng Nga do tác giả Trương Văn Vỹ biên soạn
Phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc đọc hiểu của sinh viên
Đưa ra những hướng giải quyết khả thi cho người dạy và người học
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng theo từng chương như sau: Chương 1 (Cơ sở lý luận): Phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích
Chương 2 (Những khó khăn ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu truyện cười Nga của sinh viên ngành Ngữ văn Nga): Phương pháp khảo sát, phân tích
Chương 3 (Phương pháp khắc phục): Phương pháp so sánh, phân tích
5 Giới hạn của đề tài
Trong giới hạn của đề tài, nhóm nghiên cứu chỉ đưa ra những kiến thức tổng quát chung nhất về truyện cười - anecdote trong tiếng Nga, Việt, Anh và phân loại chúng dựa trên những câu chuyện cười được in trong bốn quyển giáo trình môn Đọc tiếng Nga của tác giả Trương Văn Vỹ Dựa vào những kiến thức này, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp thêm tư liệu để các bạn sinh viên khoa Ngữ văn Nga, Trường ĐH KHXH&NV hiểu hơn về những đặc trưng căn bản và hình thức tổng quát của truyện cười nói chung và cụ thể là những câu chuyện các bạn sẽ được đọc trong giáo trình của mình Truyện cười là một thể loại văn học vô cùng đa dạng, phong phú, nói đến rất nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống Như đã nhấn mạnh, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chú trọng vào phân tích những truyện cười mà sinh viên sẽ gặp trong chương trình học, còn để hiểu sâu hơn về những nét văn hóa Nga được thể hiện qua truyện cười, cần phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn rất nhiều
6 Đóng góp mới của đề tài
Hiện tại, với yêu cầu của môn Đọc Tiếng Nga, sách phân tích truyện cười Nga chưa có đủ để sinh viên có thể tìm hiểu sâu hơn về thể loại văn học này Nhóm nghiên
Trang 6cứu đã cung cấp cho các bạn sinh viên thêm những kiến thức bổ trợ cho chương trình học
7 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài của chúng tôi tuy có phạm vi tương đối nhỏ nhưng là một bước đệm cho sinh viên hiểu hơn về đặc trưng và hình thức của truyện cười Chúng tôi cũng phân tích mẫu những truyện cười tiêu biểu thuộc những đề tài phổ biến nhất trong 4 quyển giáo trình Đọc tiếng Nga, giúp sinh viên dựa theo đó có thể thực hành phân tích các truyện cười khác trong chương trình học
8 Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Những khó khăn ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu truyện cười Nga của sinh viên ngành Ngữ văn Nga
Chương 3: Phương pháp khắc phục
Trang 7CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm về Truyện cười trong tiếng Nga, Việt và Anh
Trước khi đi vào tìm hiểu những khó khăn mà sinh viên khoa Ngữ văn Nga trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM gặp phải trong quá trình học môn Đọc Tiếng Nga, chúng ta cần tìm hiểu và xác định được khái niệm về Truyện cười Trong giới hạn tài liệu này, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ xem xét khái niệm về Truyện cười trong 03 ngôn ngữ, đó là Tiếng Nga, Tiếng Việt và Tiếng Anh
Theo “Từ điển Việt - Nga, Вьетнамско-русский словарь” - Nxb Văn hóa
Thông tin, 2003 của hai tác giả I.I Gơ-le-bô-va và A.A Xô-cô-lốp, Truyện cười là
анекдот, забавная история
Theo “Từ điển Nga - Việt gồm 2 tập” - Nxb “Tiếng Nga”, 1977 của tác giả
Alikanov K M và Ivanov I A., thì анекдот là chuyện tiếu lâm, chuyện khôi hài, chuyện vui, chuyện cười, giai thoại; [việc, chuyện] buồn cười, khôi hài
Theo “Từ điển giải nghĩa tiếng Nga” của các tác giả Ozhegov S.I và Shvedova N Y, xuất bản năm 1999, thì Анекдот có 02 nghĩa
Nghĩa thứ nhất, Анекдот là một câu chuyện rất ngắn có nội dung thú vị, hài hước và một kết thúc bất ngờ (Aнeкдот – «1 очeнь мaлeнький рaccкaз c зaбaвным, cмeшным cодeржaниeм и нeожидaнным концом.)
Nghĩa thứ hai của Aнeкдот đó là việc, chuyện khôi hài, buồn cười (Cмeшноe
проиcшecтвиe (рaзг.).) Nghĩa thứ hai này chỉ dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng
ngày (“Từ điển giải nghĩa tiếng Nga: 80 000 từ và thành ngữ” - Viện hàn lâm khoa
học Nga Viện tiếng Nga mang tên V.V Vinogradova, tái bản lần thứ 4 - Nxb
có thể sử dụng sự chơi chữ, từ nhiều nghĩa, mối liên hệ đến những sự vật hiện tượng
Trang 8đương đại đòi hỏi phải có kiến thức bổ trợ từ các lĩnh vực khác nhau như: xã hội, văn học, lịch sử, địa lý, v.v Truyện cười - Анекдот phản ánh hầu như tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người Có loại truyện cười về cuộc sống gia đình, về chính trị xã hội… Phần lớn các câu chuyện cười đều không xác định được tác giả.
Xem xét các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, nhóm nghiên cứu nhận
thấy, trong các giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, trước kia cũng như hiện nay, truyện cười được coi là một trong những loại truyện dân gian, nhưng dấu hiệu tiêu
biểu để tách nó ra khỏi những loại truyện dân gian khác (như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn ), đó là yếu tố gây cười Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua định nghĩa và
lý giải của GS Đinh Gia Khánh về Truyện cười trong giáo trình Văn học dân gian Việt (Nxb Giáo dục - Đinh Gia Khánh (Chủ biên), in lần thứ 10 - 2006): “Truyện cười,
nói một cách đơn giản, là truyện làm cho người ta cười ( ) Trong truyện cổ tích cũng
đã có nhiều yếu tố gây ra tiếng cười( ) Song tiếng cười ở đây chỉ có vai trò điểm xuyết, làm cho truyện thêm duyên dáng, đậm đà mà thôi chứ không chiếm vị trí trung tâm trong sự phát triển của truyện Giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười thì có sự thâm nhập sâu hơn Một số truyện vừa có thể coi là truyện ngụ ngôn mà lại vừa có thể coi là truyện cười ( ) Tuy nhiên, truyện ngụ ngôn không nhằm mục đích gây ra tiếng cười Truyện cười trái lại bao giờ cũng nhằm mục đích ấy Đằng sau mục đích gây ra tiếng cười có thể còn mục đích khác sâu sắc hơn Nhưng trước hết phải đạt mục đích gây cười đã”
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” (Nxb Giáo dục, 1997, - Trần Đình Sử, Lê
Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi) thì “Truyện cười dân gian là một thể loại truyện dân gian chứa đựng cái hài, dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thực hiện chức năng phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu và mua vui giải trí”.
Nghiên cứu các nguồn tài liệu về Truyện cười - Anecdote trong tiếng Anh, nhóm nghiên cứu tìm được một số khái niệm sau:
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia phiên bản tiếng Anh
(http://en.wikipedia.org/wiki/Anecdote), Truyện cười - Anecdote là một câu chuyện ngắn thú vị hoặc mang yếu tố gây cười, kể về một sự việc có tính chất như một tiểu sử, thường dựa trên một sự việc thực tế, liên quan đến người thật việc thật, nhân vật có thể
là một người có danh tiếng, bối cảnh câu chuyện có thể xác định được Về hình thức, Truyện cười - Anecdote có thể ngắn gọn chỉ như một lời nói mang tính dí dỏm
Trang 9Theo bài viết How to narrate an anecdote trên trang wikiHow (http://www.wikihow.com/Narrate-an-Anecdote), Truyện cười - Anecdote là một câu
chuyện kể về một tình huống thực tế, thường được dùng để giới thiệu thông tin hay dùng để tiêu khiển, giải trí cho người nghe, người đọc
Khi nói đến khái niệm Truyện cười, trong tiếng Nga chúng ta bắt gặp thêm từ
khác ngoài Анекдот, đó là từ Шутка (1.[câu, lời, trò, lối, chuyện] đùa, nói đùa, nói
chơi, nói bỡn, pha trò, bông lơn, bông phèng, bỡn cợt, đùa bỡn - Từ điển Nga- Việt
gồm 2 tập - Nxb “Tiếng Nga”, 1977- Alikanov K M và Ivanov I.A., tập 2, trang 591)
Vậy Анекдот và Шутка trong tiếng Nga khác nhau thế nào?
Theo phiên bản điện tử của “Từ điển giải nghĩa tiếng Nga” của tác giả
Ozhegov S.I thì Шу́тка được hiểu là những điều được phát biểu một cách không nghiêm túc nhằm để giải trí, vui đùa; là những lời nói không đáng tin (“То, что
говорится или делается не всерьёз, ради развлечения, веселья; слова, не заслуживающие доверия.”)
(http://ozhegov-online.ru/slovar-ozhegova/shutka/39333/)
Dựa trên những khái niệm về Truyện cười đã nêu ở trên, nhóm nghiên cứu nhận thấy, khái niệm Truyện cười trong tiếng Việt, tiếng Nga (Анекдот) và tiếng Anh (Anecdote) khá tương đồng với nhau Tuy nhiên, trong tiếng Việt, ngoài yếu tố hài hước, gây cười thì chức năng đả kích, phê phán của Truyện cười được nhấn mạnh ở nhiều quan điểm Trong tiếng Nga, yếu tố hài hước và gây cười là yếu tố chủ chốt trong quan niệm về Truyện cười Còn trong Tiếng Anh Anecdote thường chú trọng nhấn mạnh đến yếu tố gắn liền với các sự việc, nhân vật có thật
Tham khảo những ý kiến trên đây, nhóm nghiên cứu đưa ra định nghĩa của mình về thuật ngữ Анекдот - Шутка được sử dụng trong giáo trình Đọc tiếng Nga
của tác giả Trương Văn Vỹ như sau: Truyện cười (Анекдот - Шутка) là câu chuyện ngắn mang yếu tố gây cười, được kể với mục đích giải trí, tiêu khiển hoặc cũng có thể
có thể có độ dài giới hạn trong một câu văn, một đoạn văn hoặc một đoạn đối thoại ngắn
Trang 101.2 Đặc trưng của “ Анекдот - Шутка ” trong văn hóa Nga
Trong giới hạn tài liệu của nhóm nghiên cứu, bao gồm các truyện cười Анекдот - Шутка trong các giáo trình Đọc Tiếng Nga của tác giả Trương Văn Vỹ, nhóm nghiên cứu nhận thấy, Анекдот - Шутка có những đặc trưng riêng, làm nổi bật lên cái hay của thể loại này và chúng cũng có những đặc điểm riêng về nội dung, hình thức
Xét về khía cạnh nội dung, và để phù hợp với giới hạn của đề tài , nhóm nghiên cứu tập trung vào ba nội dung chính của phần này: các thủ pháp nghệ thuật để tạo ra tiếng cười, phân loại Анекдот - Шутка trong văn hóa Nga, và các mối liên kết ý nghĩa của nó
Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt” (Nxb Khoa học xã hội - Trung tâm từ điển
học, 1994, Hoàng Phê (chủ biên) trang 116), Chơi chữ được hiểu là "lợi dụng các
hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước, ) trong lời nói" ;
Theo “Từ điển văn học tập 1”, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội , 1983, Nhiều tác
giả, trang 404), thì Chơi chữ là : "một biện pháp tu từ, trong đó ngữ âm, ngữ nghĩa,
văn tự, văn cách, được vận dụng một cách đặc biệt, nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ, lí thú"
Trong Анекдот - Шутка, hiện tượng chơi chữ được sử dụng nhiều nhằm mục đích đạt được hiệu quả nhất định Yếu tố bất ngờ, không đoán trước được là nhân tố giúp chơi chữ đạt được hiệu quả như vậy, hay còn gọi đó là hiệu quả của tính bất ngờ, bằng cách sử dụng các từ bên ngoài ngữ cảnh, các dạng so sánh khác nhau, những lời nói bỏng bẩy, ẩn dụ, nhịp điệu, … Kết cấu ngôn ngữ của Анекдот - Шутка được xác định bằng các chức năng của nó như là một phương tiện thông tin về các sự kiện và
Trang 11hoàn cảnh nhất định để tạo ra hiệu ứng gây cười, tác động vào cảm xúc của người đọc Điều này giải thích vì sao tác giả của Анекдот - Шутка sử dụng tích cưc các hiện tượng trùng lặp để tạo ra sự chơi chữ, ví dụ :
Подсудимый : - Правда, правда, правда!
(Trang 213, Đọc Tiếng Nga III)
Trong ví dụ thứ hai này, mặc dù cùng sử dụng từ “правда”, nhưng mỗi người lại có mục đích khác nhau Khi thẩm phán nói với bị cáo rằng anh ta nên nói sự thật, không nên nói gì cả ngoài sự thật (nghĩa của từ “правда”), thì bị cáo cho rằng thẩm phán bảo mình nói từ “правда”, không nói gì cả ngoài từ “правда” Do đó, bị cáo đã lặp đi lặp lại 3 lần từ “правда” với nghĩa như anh ta suy nghĩ, và điều trùng lặp này gây nên tiếng cười cho câu chuyện
Một mặt sự phát âm giống nhau và gần giống nhau (đặc biệt là cách phát âm của từ đa nghĩa trong những nghĩa khác nhau), mặt khác là sự không phù hợp giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa, những thành tố của một đơn vị thành ngữ cũng là những phương cách khác nhau của lối chơi chữ Dựa vào dấu hiệu này mà chia ra thành 3 thuộc tính của chơi chữ: kết cấu chơi chữ, sự tác động của nó đến câu chuyện và nội dung câu chuyện Từ đó, chia ra thành các loại chơi chữ bằng cách sử dụng: từ đa nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa để thực hiện chức năng định ngữ trong câu chuyện Do vậy, với sự trợ giúp của lối chơi chữ mà mối quan hệ nguyên nhân- kết quả được xác định bằng con đường gián tiếp nhằm tiếp nhận ý nghĩa của câu chuyện, ví dụ:
Trang 12(Trang 213, Đọc Tiếng Nga III)
Trong ví dụ này, lối chơi chữ được thể hiện thông qua việc sử dụng từ “дело”
và “раскрыть” Nghĩa của từ “раскрыть” khi đi với từ “дело” (vụ án / hồ sơ vụ án) thì
có nghĩa là khám phá và ở đây “дело ещё не раскрыто” nghĩa là vụ án chưa được phá Tuy nhiên vì trong câu hỏi của cậu bé có từ “булькает” (chảy ọc ọc, chảy róc rách), nên bất cứ ai đọc đến đây cũng hiểu rằng, trong vali của nhân viên hải quan này
có một chai chứa chất lỏng (thường là rượu) Và việc sử dụng các từ “дело”,
“раскрыть” với một trong các lớp nghĩa của chúng (ở đây chúng thuộc về thuật ngữ chuyên ngành pháp luật - hình sự) vào trong một tình huống rất đời thường là điểm nút gây cười của câu chuyện
Do đó, thủ pháp nghệ thuật là yếu tố quan trọng nhằm đạt được hiệu quả trong việc gây tiếng cười
1.2.2 Phân loại truyện cười
Tất cả Анекдот - Шутка có thể được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau Trong văn hóa Nga, chúng ta thường gặp cách phân loại dựa theo thể loại (ví dụ: chính trị, hài hước, chuyện cười ngắn quốc tế, chơi chữ) Vấn đề về phân loại các câu chuyện cười do nhiều yếu tố, vì sự hài hước thấm vào mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong thực tế những câu chuyện cùng thể loại có thể kết hợp các đặc tính khác nhau (ví dụ như, Анекдот - Шутка về chính trị có thể chế nhạo các thanh tra nhà nước, hơn nữa, có thể là một trò đùa dựa trên sự chơi chữ.)
Theo quan điểm về các đối tượng, mục tiêu, Анекдот - Шутка có thể được chia thành các nhóm truyện cười với chủ đề về gia đình, trẻ em, đàn ông, phụ nữ, người lớn, chỉ có người lớn Mặc dù phương pháp tiếp cận để phân loại các Анекдот - Шутка là rất đa dạng, nhưng trong thực tế, đề tài luôn đóng vai trò quan trọng nhằm
Trang 13phù hợp với các dấu hiệu riêng Yếu tố hài hước hướng đến tất cả các lĩnh vực của hoạt động con người, do đó đề tài của Анекдот - Шутка trong văn hóa Nga cũng gần gũi với con người Theo tài liệu thống kê của báo cáo “Национальный анекдот с точки зрения межкультурной коммуникации (на примере анлийской, русской и итальянской культуры)” thì các đề tài chủ yếu của Анекдот - Шутка là gia đình, dân tộc, công việc kinh doanh, nam-nữ Dưới đây là bảng chi tiết về phần trăm tương ứng với từng chủ đề, được nghiên cứu trên 6100 câu chuyện Анекдот - Шутка (6100 truyện tiếng Nga và của Nga) được trích từ báo cáo trên
Trang 15Trên đây là các chủ đề phổ biến theo thứ tự của Анекдот - Шутка trong phạm
vi 6100 ví dụ Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu là chương trình học của sinh viên khoa Nga, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu chúng tôi cũng dựa trên quan điểm phân chia theo chủ đề để phân loại và phân tích Cụ thể hơn về vấn đề này, nhóm nghiên cứu chúng tôi sẽ trình bày rõ ràng tại chương sau của báo cáo
1.2.3 Tính truyền miệng
Giống như tất cả các thể loại dân gian, Анекдот - Шутка liên tục được truyền
từ người này đến người khác Do đó, chúng thường được kể lại với các dị bản (biến thể) Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do trong quá trình truyền miệng, người
kể chuyện không thể đảm bảo chắc chắn sẽ truyền đạt giống như mình được nghe Vì vậy có thể dẫn đến tình trạng dị bản, hay còn gọi là tam sao thất bản Tuy không có sự thay đổi nhiều về nội dung, những Анекдот - Шутка này vẫn có những điểm chung về
ý nghĩa mà người kể muốn hướng đến, hay cùng nội dung châm biếm Một nguyên nhân nữa là do ngẫu hứng có chủ định của người kể chuyện nhằm tăng sự thú vị cho câu chuyện của mình khi đề cập những vấn đề cấp thiết trong xã hội
Trang 16Các mối liên kết ý nghĩa trong Анекдот - Шутка
Những câu chữ trong Анекдот - Шутка được liên kết với nhau theo những quy tắc riêng, nhằm nổi bật lên những lớp ngôn ngữ khác nhau: lớp nghĩa tiên đoán ban đầu, và lớp nghĩa thực của câu chuyện, hay còn gọi là câu chuyện của tác giả và câu chuyện của nhân vật trong truyện
Câu chuyện của tác giả (câu chuyện của người kể chuyện) miêu tả những thứ đang xảy ra Còn câu chuyện của nhân vật trong truyện thì chính là từng câu chuyện
mà người kể chuyện miêu tả từng nhân vật theo trình tự Trong câu chuyện của tác giả, mọi thứ đều phụ thuộc vào sự tạo hình, mà trong đó không có lời mở đầu Khi đó các nhân vật trong Анекдот - Шутка không cần có lời giới thiệu, mà họ được giả định là
đã quen thuộc, đã nổi tiếng với người nghe là người bản ngữ hay người nghe là đại diện của bất cứ nền văn hóa nào Do vậy, câu chuyện của tác giả trong Анекдот - Шутка có một loạt đặc trưng Ví dụ: động từ trong những câu chuyện này hầu hết được dùng ở thời hiện tại, trong một vài trường hợp nhất định sử dụng động từ thời quá khứ nhằm thể hiện giá trị hiệu quả rằng hành động, diễn biến của câu chuyện như đang được phơi bày ra trước mắt khán giả Đặc trưng này có liên quan đến sự tương đồng của Анекдот - Шутка với nghệ thuật dân gian Khi chuyển từ cảnh một đến hai…., người kể chuyện thường giới thiệu hồi tiếp theo trước khán giả như là đang dẫn dắt câu chuyện Liên quan đến các đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong Анекдот - Шутка với "câu chuyện của tác giả", điều quan trọng là họ thấy sự khác biệt cơ bản từ câu chuyện, nó thuộc thể loại tự sự dân gian hay trong đối thoại, kể về sự kiện có thật Nói về “câu chuyện của nhân vật trong truyện”, trái ngược với thực tế biểu diễn trên sân khấu của các loại hình khác, tất cả các "vai " trong Анекдот - Шутка được thực hiện bởi một "diễn viên" duy nhất – đó chính là người kể Không có trang phục, mặt nạ và những con rối…Các nhân vật trong đó thường được nhận diện chỉ bởi giọng nói, do đó giọng nói đóng vai trò vô cùng quan trọng khi kể chuyện cười Một đặc điểm quan trọng của truyện cười là số lượng nhân vật trong Анекдот - Шутка được giới hạn, thường là chỉ hai hoặc 3 nhân vật trong với những câu thoại rất ngắn
1.2.4 Hình thức
Nếu chia theo kết cấu câu chuyện thì Анекдот - Шутка được chia ra thành hai loại, bao gồm độc thoại và đối thoại
Trang 17Hình thức độc thoại dùng để chỉ những câu chuyện tiếu lâm, chuyện cười chỉ
có một lời thoại, nhưng người đọc vẫn hiểu được chiều sâu gây cười của nó Ví dụ trong giáo trình Đọc tiếng Nga II, tác giả có đưa ra một câu chuyện cười chỉ gói gọn trong một câu duy nhất:
“ - Мама, когда я родился, откуда ты узнала, что меня зовут Юра?”
(Trang 206, Đọc Tiếng Nga III)
Hình thức đối thoại chỉ những câu chuyện có những lời thoại của các nhân vật
Và tham gia vào câu chuyện có ít nhất là hai nhân vật Ví dụ:
Муж: «И ты называешь это шляпой? Я никогда не перестану смеяться.» Жена: «Перестанешь, когда узнаешь, сколько она стоит.»
(Trang 232, Đọc Tiếng Nga III)
Ví dụ này đưa ra một lượt thoại của hai nhân vật là người chồng và người vợ Trong khi người chồng cảm thấy tức cười với “thứ” được người vợ coi là mũ, thì người vợ đáp lại lời chồng như một tiền giả định: Nếu người chồng biết giá của nó thì
sẽ không cười được nữa Trong trường hợp này, tình huống vẫn thường gặp trong cuộc sống được sử dụng để làm nền cho câu chuyện là quan niệm khác nhau của đàn ông và phụ nữ về cái đẹp, hoặc thời trang và điểm mấu chốt gây cười ở đây là sự phản ứng nhanh nhẹ của người vợ trước sự giễu cợt của chồng bằng việc sử dụng giá trị tiền bạc của cái mũ để nâng mình lên và hạ chồng xuống Ai cũng hiểu, phụ nữ thường đo giá trị của một sản phẩm làm đẹp hoặc thời trang bằng trị giá tiền bạc của nó, còn đàn ông thì thường luôn “xót xa” trước số tiền phải bỏ ra để mua sản phẩm đó cho phụ nữ Ở đây, tác giả đã sử dụng những quan niệm ngầm và chung trong xã hội về sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà để tạo tiếng cười trong một đoạn hội thoại cực ngắn
Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu như trên đã nêu, chúng tôi xin kết luận như sau: Анекдот – Шутка là những câu chuyện ngắn mang yếu tố gây cười, được kể với mục đích giải trí, tiêu khiển hoặc cũng có thể phê phán những hiện tượng không
thức Trong đó, đặc trưng về nội dung của Анекдот – Шутка gồm: các thủ pháp nghệ thuật gây cười, phân loại theo chủ đề, tính truyền miệng, và các lớp nghĩa của mỗi câu chuyện Bên cạnh đó là các đặc điểm về mặt hình thức, bao gồm: độc thoại và đối thoại Mặc dù được chia ra và phân tích theo hai khía cạnh; nội dung và hình thức,
Trang 18nhưng các đặc điểm này kết hợp và thống nhất tạo nên tổng thể hài hòa của mỗi câu chuyện, tạo ra những tình huống hài hước, gây cười
1.3 Phân loại “Анекдот - Шутка” trong văn hóa Nga dựa trên chương trình học của Khoa Ngữ văn Nga
Tất cả Анекдот - Шутка trong văn hóa Nga có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu các câu chuyện trong Giáo trình “Đọc Tiếng Nga” của tác giả Trương Văn Vỹ, khoa Ngữ Văn Nga, trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, TP Hồ Chí Minh, vì thế chúng tôi chia Анекдот
- Шутка theo các chủ đề phổ biến như sau:
1.3.1 Chủ đề “Gia đình”
Một trong những chủ đề nhỏ thường được khai thác trong Анекдот – Шутка của chủ đề gia đình là mối quan hệ về tài chính giữa chồng và vợ Thông thường trong Анекдот – Шутка của Nga, vợ là người quản lý tài chính trong gia đình, kể cả tiền người vợ đó làm ra và tiền lương của người chồng kiếm được Còn người chồng thì cam chịu với việc này, tuy nhiên người chồng vẫn cố gắng giữ lại cho riêng mình một phần tiền
Chủ đề nhỏ thứ hai là vấn đề: ai là người nắm quyền trong gia đình Nói chung, nếu như chúng ta xem xét vấn đề tổ chức cuộc sống gia đình thông qua lăng kính của Анекдот – Шутка Nga nửa cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, thì thế giới của gia đình chính là thế giới của người phụ nữ Người vợ là người nắm mọi quyền lực và hoàn thành tất cả trách nhiệm trong gia đình như: kiếm tiền, dọn dẹp, bếp núc và nuôi dạy con cái Còn người đàn ông trong Анекдот – Шутка của Nga lại nhàm chán trong thế giới nhỏ bé ngột ngạt của mình, ít khi quyết định các công việc trong gia đình, khao khát tự do và gặp gỡ bạn bè để chè chén và bàn luận “chuyện thế giới”
Ví dụ 1:
Жена говорит мужу:
- Когда я приготовлю ужин, накормлю детей, положу их спать Мы сможем пойти в кино
- Хорошо, но тогда у тебя не будет времени купить билеты! – отвечает муж
(Trang 232, Đọc Tiếng Nga III) (Vợ nói với chồng:
Trang 19- Khi em nấu bữa tối xong, cho con ăn xong, cho con ngủ xong, chúng ta
có thể đi xem phim rồi
- Được thôi, nhưng lúc đó em sẽ không có thời gian để mua vé đâu! – Người chồng trả lời.)
Như đã nói ở trên, người vợ luôn là người quán xuyến tất cả mọi việc trong gia đình và lo cho con cái Chi tiết gây cười ở đây chính là kế hoạch mà người vợ lập ra không khả thi vì quá bận bịu với con cái và công việc nhà
- Tại sao anh lại nghĩ đó là con lấy? Nhỡ em lấy thì sao? – Người vợ trả lời
- Vì trong ví vẫn sót lại một ít tiền.)
Chi tiết gây cười ở đây chính là ẩn ý của người chồng về chuyện người vợ lấy
tiền từ ví chồng Vợ đã không móc ví chồng thì thôi, còn nếu đã móc, thì đến đồng xu
(Trang 209, Đọc Tiếng Nga III) (Một phụ nữ dẫn theo cậu con trai độ năm tuổi tới một cây ATM
Người mẹ nói: - Bây giờ chúng ta sẽ rút tiền và đi cửa hàng
Người phụ nữ nhét thẻ vào máy ATM và nhận tiền Cậu con trai khẽ hỏi: - Ủa, cha đang ngồi trong đó hả mẹ?)
Chi tiết gây cười ở đây chính là sự việc ẩn sau đoạn hội thoại của hai mẹ con:
mỗi khi vợ đi cửa hàng, shopping là chồng luôn phải đưa tiền cho vợ tiêu xài Vì thế
Trang 20cậu con trai mới lầm tưởng rằng, cha mình đang ngồi trong cây ATM và đưa tiền cho
mẹ để mẹ đi shopping
1.3.2 Chủ đề “Phụ nữ”
Trong Анекдот - Шутка hình ảnh người phụ nữ rất đa dạng: khi thì là người nắm quyền hành cao nhất trong gia đình, khi thì là người phải gánh mọi công việc tủn mủn trong nhà, khi thì là người phụ nữ khôn khéo thông minh, lúc lại là người luôn luôn cam chịu, khi thì là người đau khổ vì tình phụ, lúc lại là người trơ tráo phụ tình
Trong vai trò người mẹ, người phụ nữ Nga dành rất nhiều thời gian chăm sóc con cái Họ cũng tự mình dạy con đọc, viết, thường xuyên theo dõi kết quả học tập của con cái Khi thì lại thờ ơ, khi lại quá quan tâm tới con cái, khiến người phụ nữ đôi khi trở nên ngớ ngẩn và khó coi
Một mối quan hệ xã hội mang đậm dấu ấn Nga đó là mối quan hệ Mẹ vợ - Con
rể Tương tự như xã hội Việt Nam, mối quan hệ Mẹ chồng - Con dâu phức tạp thế nào, thì mối quan hệ Mẹ vợ - Con rể trong xã hội Nga cũng phức tạp như thế Trong xã hội Nga, mẹ vợ thường không ưa con rể, tuy nhiên họ cũng cố gắng che giấu điều đó
Trong vai trò là một người con gái trong gia đình, phụ nữ - con gái Nga là trợ thủ đắc lực của người mẹ, luôn thân thiết và có thể chia sẻ tất cả bí mật với mẹ
(Người chồng tóm được bồ của vợ và đánh anh ta
Người vợ nói trong tuyệt vọng:
- Anh đang làm cái quái gì vậy chứ, đấy là cha của các con anh cơ mà.)
Chi tiết gây cười trong câu chuyện này chính là việc người chồng không những
bị vợ cắm sừng, mà còn bị lừa dối về người cha thực sự - cha đẻ - của những đứa con trong một thời gian dài Sự thật là gã người tình của vợ mới là cha đẻ của những đứa con mà anh chồng đang nuôi, đang coi là con ruột của mình
Ví dụ 2:
- Твоя жена весь день на кухне Она любит готовить?
Trang 21- Что ты! Нет, конечно! На кухне телефон
(Trang 113, Đọc Tiếng Nga giai đoạn bắt đầu)
(- Vợ cậu cả ngày ở trong bếp Chắc là cô ấy thích nấu ăn lắm hả?
- Cậu hâm à! Tất nhiên là không rồi Vì nhà tớ để điện thoại ở trong bếp.)
Chi tiết gây cười ở đây chính là việc người phụ nữ có thói nhiều chuyện, suốt ngày buôn chuyện qua điện thoại, mà điện thoại lại đặt ở trong bếp, nên mới dẫn đến chuyện người bạn đến chơi phải tò mò tưởng vợ bạn thích nấu ăn
Ví dụ 3:
- Боюсь, доктор, что у моего мужа серьёзное психическое заболевание Иногда я часами рассказываю ему что-нибудь, а затем обнаруживаю, что он не слышал ни слова
- Это не заболевание, мадам, - ускопоил женщину доктор – это дар божий
(Trang 199, Đọc Tiếng Nga III)
(- Thưa bác sĩ, tôi e là chồng tôi bị bệnh tâm thần nghiêm trọng Thỉnh thoảng tôi kể cho ông ấy nghe điều gì đó cả vài tiếng đồng hồ, vậy mà sau đó tôi phát hiện ra ông ấy không nghe thấy từ nào cả
- Đó không phải bệnh đâu thưa bà, - bác sĩ trấn an bà ta – Đó là món quà của Chúa đó.)
Chi tiết gây cười ở đây chính là việc khắc họa tật nói nhiều của phụ nữ và quan niệm cũng như cách nhìn nhận của đàn ông về đặc điểm tâm lý này của phụ nữ Đàn ông không thích và không chịu đựng được phụ nữ nhiều lời Việc ông chồng của người phụ nữ này có được “khả năng thiên phú” - bỏ ngoài tai mọi lời nói của vợ - là điều ước ao của biết bao nhiêu ông chồng khác
(Trang 226, Đọc Tiếng Nga III)
(Ở trung tâm điện tín, một phụ nữ nộp tờ phiếu điền thông tin với dòng chữ:
- “Chúc mừng con yêu Nina, cháu gái yêu Lyalya và cháu trai yêu Petya!”
Trang 22- Sẽ rẻ hơn nhiều nếu cô chỉ viết: “Chúc mừng tất cả mọi người”
- Còn khuya nhé! Vì ở đó còn có cả thằng con rể nữa!)
Như đã nói ở trên, trong xã hội Nga, mẹ vợ thường không ưa con rể Trong tình huống này người phụ nữ đã thể hiện rõ thái độ không ưa con rể của mình qua việc gửi điện chúc mừng từng thành viên trong gia đình con gái, trừ chàng rể, dù rằng việc làm
đó khiến bà ta bị tốn nhiều tiền hơn rất nhiều so với một bức điện ngắn chúc mừng toàn thể gia đình con gái Chi tiết hài hước của câu chuyện chính là mối quan hệ không mấy tốt đẹp giữa mẹ vợ và con rể
1.3.3 Chủ đề “Đàn ông”
Hình tượng người đàn ông trong Анекдот - Шутка của Nga thường là một người chồng nhu nhược, tầm thường, thô lỗ, hèn nhát, yếu đuối, thích nhậu nhẹt và phụ thuộc vào gia đình
Nếu người vợ phản bội, người đàn ông thường không nhận ra, hoặc là không coi đó là vấn đề nghiêm trọng, hoặc là chịu đựng vợ Trong một số Анекдот - Шутка, người chồng đôi khi trở nên hung hăng, độc đoán trong gia đình, nhưng vẫn trông có
vẻ nhu nhược vì nhậu nhẹt nhiều
Trong vai trò người cha, hình tượng người đàn ông trong Анекдот - Шутка lại
có vẻ thờ ơ và không quan tâm đến việc nuôi dậy con cái
Trong vai trò là người con, người đàn ông lại có một số ưu điểm: tò mò, thông minh, năng động, vui vẻ Tuy nhiên không tránh khỏi việc bắt chước theo những tật xấu của người lớn
Còn trong vai trò người tình, người đàn ông trong Анекдот - Шутка của Nga ngoài việc được miêu tả với bộ dạng ngu ngốc, hèn nhát, còn khoe khoang vũ lực Họ nhận thức được chuẩn mực đạo đức và tội lỗi, nhưng vẫn cố tình phá bỏ và vi phạm những quy tắc đó
Ví dụ 1:
- Я не хочу выходить замуж за такого ужасного скупердя, как ты Возьми обратно своё обручальное кольцо!
- А где же коробочка, в которой оно лежало, когда я его купил?
(Trang 119, sách Đọc Tiếng Nga I)
(- Tôi không muốn lấy một người bủn xỉn như anh làm chồng Hãy lấy lại chiếc nhẫn đính hôn của anh đi!
Trang 23- Vậy còn cái hộp đựng nhẫn đâu rồi?)
Yếu tố gây cười trong truyện này chính là sự keo kiệt quá mức của người đàn ông Khi bị người yêu từ chối kết hôn và trả lại nhẫn đính hôn, thì thay vì cố gắng níu kéo tình cảm, người đàn ông này lại làm ngược lại Anh ta hạ dấu chấm hết thực sự cho mối quan hệ tình cảm này bằng việc đòi lại cả cái hộp đựng nhẫn (một vật không đáng giá là bao)
- Vì vậy nên tớ mới tin.)
Tại sao người vợ lại hoàn toàn tin tưởng người chồng khi biết chồng đi câu cá nhưng lại không câu được con nào cả? Chi tiết gây cười ở đây chính là sự nghịch lý trong tình huống này (nói đi câu, mà không câu được con cá nào thì thường là nói dối, nhưng ở đây nó lại là sự thật) Điều này chứng tỏ người vợ hiểu chồng mình đến từng chân tơ kẽ tóc
Chi tiết gây cười ở đây chính là việc hiểu lầm ý của nhau Khi một người nói:
“Vợ tôi là một thiên thần thực sự”, thì ý của anh ta là một người vợ tốt, hiền lành, thánh thiện Còn người thứ hai lại hiểu lầm rằng vợ của bạn mình đã mất và thấy ghen
tỵ với bạn, vì anh ta đã “thoát” khỏi vợ, còn mình thì không biết khi nào mới được như vậy
Ví dụ 4:
Юноша выбирает поздравительную открытку
Trang 24- Cái này đẹp nè anh, - chị bán hàng tư vấn, - có cả dòng chữ “Lời chúc
từ sâu thẳm trái tim dành cho người con gái duy nhất của anh”
- Được đấy Lấy cho tôi 10 cái.)
Chi tiết gây cười ở đây chính là việc người thanh niên mua thiệp chúc mừng có dòng chữ in trên thiệp với nội dung “dành cho người con gái duy nhất của anh” nhưng lại mua với số lượng 10 cái Không cần nói, chúng ta cũng hiểu là anh chàng này đang
có đến 10 cô gái “duy nhất” của mình
1.3.4 Chủ đề “ Trẻ con”
Анекдот - Шутка đã phá bỏ những khái niệm chuẩn về cuộc sống của những đứa trẻ Thường thì, cha mẹ nào cũng mong muốn con cái mình siêng năng học tập và đạt kết quả cao, thành công trong cuộc sống Tuy nhiên để đạt hiệu ứng gây cười các tình tiết trong Анекдот - Шутка là đã phá vỡ khuôn mẫu chuẩn bằng những tình tiết đi ngược lại hoàn toàn Ví dụ: Một người cha thích xem bóng đá và rất thích thú khi thấy các cầu thủ được trả nhiều tiền Sau đó người cha đã áp đặt mong muốn của mình lên đứa con trai Khi thấy con mình đang siêng năng học bài, thì lại cho là con mình đang làm điều vô nghĩa, bắt con ra sân tập đá bóng
Trong nhiều Анекдот - Шутка, chính sự ngây thơ trong sáng của trẻ con đã làm cho các câu chuyện thêm phần thú vị, gây cười:
Trang 25(Trang 107, Đọc Tiếng Nga I) (Vào một buổi sáng sớm nọ, một cậu bé đánh thức mẹ mình dậy
- Con mơ một giấc mơ rất thú vị, - cậu bé nói
- Kể mẹ nghe, con mơ thấy gì? – Người mẹ hỏi
Cậu bé định kể, nhưng sau đó chợt nghĩ và nói:
- Không, con kể chuyện chẳng hay đâu, tốt hơn là mẹ hãy kể đi
Người mẹ bật cười
- Nhưng là con mơ mà, đâu phải mẹ mơ!
- Nhưng mẹ cũng ở đó mà! – Cậu bé nói.)
Chi tiết gây cười trong câu chuyện này chính là sự ngây thơ, ngộ nghĩnh của trẻ con Cậu bé thấy mẹ trong giấc mơ của mình và nghĩ rằng mẹ cũng có thể kể về giấc mơ đó
Câu chuyện tiếp theo cũng cho ta tiếng cười thích thú trước những ngây ngô của con trẻ với những tình huống rất bình thường trong cuộc sống:
- Sao con lại nghĩ vậy, hả Vova?
- Con vẽ con chó mà cô lại hỏi, cái gì thế này!)
Đôi khi sự thẳng thắn và hóm hỉnh hồn nhiên của đứa trẻ khiến cho chúng ta phải bật cười thú vị, như trong ví dụ sau:
- Если ты не будешь есть суп, я позову милиционера!
- Мама, неужели ты думаешь, что он будет есть этот суп?
(Trang 102, Đọc Tiếng Nga giai đoạn bắt đầu)
- Nếu con không chịu ăn súp, mẹ sẽ gọi chú cảnh sát đó!
- Mẹ ơi, chẳng lẽ mẹ nghĩ là chú ấy sẽ ăn được thứ súp này sao?
Ẩn ý về việc người mẹ nấu súp quá dở trong câu hỏi ngây thơ của đứa trẻ, khiến chúng ta thấy bất ngờ thích thú trước sự đối đáp rất dễ thương mà khôn ngoan của bé
Trang 261.3.5 Chủ đề “Học sinh – sinh viên”
Phông tình huống của chủ đề này thường diễn ra trong môi trường lớp học, trường học, mà ở đó đủ mọi sắc thái của cuộc sống học sinh, sinh viên được thể hiện
rõ ràng và hài hước Khi thì đó là cậu sinh viên đối đáp rất nhanh trí và láu cá trong kỳ thi, để lấp liếm kiến thức hổng lỗ chỗ của mình về môn học nào đó, lúc thì đó là anh chàng chỉ giỏi học vẹt lý thuyết, đến khi phải đưa dẫn chứng cụ thể thì mới lòi cái đuôi học vẹt của mình ra, … Chủ đề “Học sinh - Sinh viên” là một trong những chủ đề rất được các tác giả dân gian yêu thích khi sáng tác truyện cười
Ví dụ 1:
На экзамене профессор сказал студенту:
- Расскажите о влиянии тепла и холода на тела в природе
Студент подумал и ответил: - От тепла все тела расширяются, становятся больше, а от холода все тела сжимаются, становятся меньше
Профессор сказал студенту: - правильно Дайте пример
Ученик долго подумал и потом сказал:
- Вот, например, летом, когда тепло, дни становятся длинее, а зимой, когда холодно, дни становятся короче
(Trang 114, Đọc Tiếng Nga I) (Trong buổi thi, vị giáo sư hỏi một cậu sinh viên:
- Em hãy trình bày về ảnh hưởng của nóng và lạnh lên vật chất trong tự nhiên Cậu sinh viên suy nghĩ một hồi rồi trả lời:
- Tất cả các vật chất sẽ giãn, nở khi bị nóng, còn khi bị lạnh thì sẽ co và nhỏ lại
Vị giáo sư liền nói với cậu sinh viên:
- Đúng rồi Hãy lấy cho tôi ví dụ
Cậu sinh viên suy nghĩ hồi lâu, rồi sau đó trả lời:
- Ví dụ như vào mùa hè, khi thời tiết nóng, ngày thường dài hơn, còn mùa đông khi trời lạnh, thì ngày lại trở nên ngắn hơn.)
Yếu tố gây cười ở đây chính là sự hiểu biết không đúng về khái niệm “vật chất”
và sự khác biệt giữa lý thuyết và thực hành của cậu sinh viên này Khi giáo sư yêu cầu trình bày về một câu hỏi lý thuyết thì chàng sinh viên trả lời hoàn toàn chính xác khái
Trang 27niệm đó, tuy nhiên khi phải đưa ra một ví dụ thì cậu sinh viên lại đưa ra sai “Ngày” không phải là vật chất
Ví dụ 2:
Профессор-историк спросил студента: - Вы сможете рассказать нибудь о великих просветителях 18-го века?
что Да, конечно, что ответил студент – Все они давно умерли
(Trang 114, Đọc Tiếng Nga I)
(Giáo sư môn lịch sử hỏi cậu sinh viên:
- Еm có thể kể cho thầy nghe điều gì đó về các nhà khai sáng vĩ đại của thế kỷ
cá, rằng những người đó đã chết Với câu trả lời này, cậu sinh viên ngầm nói với vị giáo sư, rằng cậu chẳng cần phải để nói thêm gì nữa
Ví dụ 3:
Один человек пришёл к своему другу и попросил у него книгу
- Я сожалею, - сказал друг, - но я не могу дать тебе книгу, потому что я вообще никому не даю свои книги
- Почему?
- Потому что их никогда не возвращают
- Ты в этом уверен?
- Конечно! Я это знаю по опыту: вся моя библиотека составлена таким образом
(Trang 118, Đọc Tiếng Nga I) (Một người đến gặp bạn của mình và hỏi mượn anh ta quyển sách
- Mình rất tiếc, - người bạn nói, - nhưng mình không thể cho bạn mượn cuốn sách này, vì, nói chung là, mình không cho bất kì ai mượn sách của mình cả
- Tại sao vậy?
- Bởi vì họ chẳng bao giờ trả lại sách cho mình cả
Trang 28- Cậu có chắc là vậy không?
- Tất nhiên rồi! Kinh nghiệm đã dạy mình điều đó: cả tủ sách của mình được sưu tầm bằng cách đó mà.)
Yếu tố gây cười ở đây chính là kinh nghiệm bản thân của cậu sinh viên Cậu ta không cho bạn mình mượn sách, vì nghĩ rằng, ai cũng sẽ như cậu ta, mượn rồi sẽ chẳng bao giờ trả lại Chính vì thế mà cậu ta có cả một tủ sách “riêng” được tạo nên từ những cuốn sách đi mượn của người khác
1.3.6 Chủ đề “Nghề nghiệp”:
Mỗi một ngành nghề trong xã hội đều có những đặc điểm riêng và môi trường làm việc đặc thù Chính vì thế đây là mảnh đất màu mỡ để các tác giả dân gian khai thác những điều hài hước, gây cười để mua vui, giải trí cho chính những người trong ngành và cho cả xã hội Thường thì những ngành nghề như bác sĩ, cảnh sát, giáo viên hay được đem ra làm chuyện cười, bởi vì những ngành nghề uy tín và cao quý trong xã hội thường đòi hỏi người trong nghề phải có những phẩm chất phù hợp nhất định Tuy nhiên, không phải ai trong ngành cũng có được những phẩm chất ấy, mà đôi khi họ còn có những tính cách, kỹ năng, suy nghĩ trái ngược hoàn toàn với ngành nghề đang hoạt động Và thường các chi tiết hài hước gây cười được nảy sinh trong các tình huống họ bộc lộ sự ngược đời đó
Ngoài ra, môi trường làm việc của họ cũng rất thú vị để làm nảy sinh những tình huống trớ trêu
- Không, thưa bác sĩ, nhưng tôi thường nói khi người khác ngủ
- Thật như vậy sao?
- Đấy là lúc tôi giảng bài.)
Chi tiết gây cười ở đây chính là khi người bệnh tiết lộ cho bác sĩ ngành nghề của mình
Ẩn ý đằng sau thông tin ngành nghề ấy là chất lượng làm việc cũng như tình trạng khá