Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ VĂN GÀU
TP HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, trung thực của bản thân, chưa được công bố ở bất kỳ một công trình nào khác Nếu có gì không đúng, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hiền
Trang 4
PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 12
N ỘI DUNG 13
Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG H Ồ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC 13
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc 13
1.1.1 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc 15
1.1.2 Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc 23
1.2 N ội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc 33
1.2.1.Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả dân tộc 34
1.2.2 Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế 40
1.2.3 Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh giành độc lập 49
1.2.4 Đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh với quá trình giải phóng dân tộc Việt Nam 58
1.3.Ý nghĩa và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc hiện nay 66
Trang 5đổi mới hiện nay 70
Kết luận chương 1 75 Chương 2: THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở HUYỆN
ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 77 2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội và đặc điểm dân tộc của huyện
Đồng Phú, tỉnh Bình Phước 77
2.1.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội của huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước 77 2.1.2.Đặc điểm tình hình dân tộc trên địa bàn huyện Đồng Phú
tỉnh Bình Phước 85 2.1.3.Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện
chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước 88
2.2 Th ực trạng và nguyên nhân của việc thực hiện chính sách
dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước hiện nay 93
2.2.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ở
huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay 94
2.2.1 1.Định hướng chính sách sân tộc của tỉnh Bình Phước 94
2.2.1.2.Công tác l ãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ở
huy ện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay 95
2.2.2 Thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện
Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay 98
2.2.3 Những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong việc thực
hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn
hiện nay 105
2.3 M ột số phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện chính sách dân t ộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay 108
Trang 62.3.2 Giải pháp và kiến nghị thực hiện chính sách dân tộc ở huyện
Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay 112
K ết luận chương 2 118
KẾT LUẬN 121
PH Ụ LỤC 125
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 7PH ẦN MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong tất cả các quan hệ xã hội phong phú và phức tạp giữa người với người, quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự định hướng
cuộc sống của mỗi con người Ở mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới, nhất là
những dân tộc, quốc gia đã từng bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân xâm lược, họ luôn ý thức giải phóng dân tộc là động lực to lớn và khi kết hợp với ý thức
giải phóng dân tộc của những người lao động nó trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển và tiến bộ của đất nước
Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực những năm gần đây vẫn tiềm ẩn và
nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia, dân tộc Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu
thế lớn của thời đại, nhưng ở một số nơi, xung đột cục bộ, tranh chấp lãnh
thổ, tài nguyên vẫn xảy ra; một số khu vực trên thế giới, khủng bố, ly khai có chiều hướng gia tăng…Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây
đã đẩy nền kinh tế thế giới vào thời kỳ khó khăn nhất kể từ đại suy thoái năm
1929 – 1933, làm cho các nước đều phải hợp tác để đối phó Cục diện thế giới
tiếp tục có những chuyển biến quan trọng với xu thế “đa cực” ngày càng rõ nét hơn Sự tập hợp lực lượng quốc tế diễn ra phức tạp trong khuôn khổ “vừa
hợp tác vừa đấu tranh”; các nước đang phát triển có vai trò ngày càng tăng trong xử lý những mối quan hệ quốc tế Xu thế tự lực, tự cường, chống áp đặt cường quyền được thúc đẩy ở nhiều quốc gia, dân tộc Vị thế của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trên “bàn cờ” chiến lược quốc tế ngày càng được coi trọng…
Khi những điều kiện quốc tế có sự thay đổi khá nhiều so với những năm trước, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ mở ra khả năng rộng lớn để vận
dụng, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đối ngoại mà đại hội XI của Đảng
Trang 8đề ra Trong thời kỳ mới, Đảng và Nhà nước ta cần tiếp tục đẩy mạnh việc mở
rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam với các nước, các dân tộc, các tổ chức quốc tế, trên tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ, bình đẳng, kết
hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế, cùng nhau thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là hòa bình, ổn định trên thế giới tạo sự phát triển bền
vững
Bên cạnh đó, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, vậy nên trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, thực hiện nhất quán đường lối chiến lược, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đó chính là điều kiện tiên quyết đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập
và xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thắng lợi to lớn
Hiện nay, nước ta đang tiếp tục công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế,
hội nhập với khu vực và thế giới Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải huy động
sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc Đối với chúng ta, hai nhiệm vụ chiến lược hiện nay phải được giải quyết đầy
đủ và đúng đắn đó là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc gắn liền với việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Đó cũng chính là giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam, giữa dân tộc Việt Nam với cộng đồng thế giới đang đặt ra hiện nay Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và vận dụng tư
Trang 9tưởng này vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi địa phương có ý nghĩa hết
sức to lớn cả về lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, thực hiện nhất quán đường lối chiến lược, giương cao ngọn cờ độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Văn kiện Đại hội Trung ương VII, khóa IX của Đảng khẳng định “Vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hôm nay của cách mạng Việt Nam” [36;34]
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng (2006) tiếp tục khẳng định: “Vấn
đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…”[37;121] Đó chính là điều kiện tiên quyết đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thắng lợi to lớn
Nhận thức đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc, Đảng và Nhà nước ta, đã giải quyết phù hợp, sáng tạo vấn đề dân tộc trên cả nước nói chung và có những chính sách phù hợp đến từng địa phương nói riêng Trong
những năm qua chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán, mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của
Trang 10Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước
Đối với huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước là huyện nằm trong vùng kinh
tế trọng điểm phía Nam, có thế mạnh về đất đai, tài nguyên, nguồn nhân lực,
tiềm năng kinh tế đã và đang được khơi dậy, tương lai sẽ có những thành tựu đáng kể trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên
cạnh đó, Đồng Phú là một huyện có nhiều dân tộc cùng sinh sống (bao gồm
17 dân tộc anh em) như: Stiêng, Chăm, Tày, Nùng, Khơ me… tập trung từ
mọi miền đất nước nên bản sắc văn hóa, chính trị, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ… rất đa dạng và phong phú Do đó, vấn đề đoàn kết, thống
nhất, tương trợ giữa các dân tộc trong toàn huyện cũng gặp nhiều khó khăn
nếu như công tác dân tộc không được chú trọng làm tốt sẽ dễ gây cản lực lớn cho sự phát triển của toàn huyện nói riêng và ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Vậy nên việc thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề tất yếu và cần thiết để thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc góp phần vào định hướng chung của đất nước Muốn vậy, cần phải nắm vững những quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin, đặc biệt là những quan điểm về dân tộc và thực
hiện chính sách dân tộc của Hồ Chí Minh cũng như sự vận dụng của Đảng trong giai đoạn hiện nay sẽ giúp chúng ta có cơ sở khoa học để đánh giá đúng
việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, từ đó đưa ra những giải pháp, định hướng tốt hơn để thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện nhằm ổn định tình hình chính trị, phát triển kinh tế xã hội Đặc biệt, huyện Đồng Phú nói riêng và cả nước nói chung đang bước vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì việc nhận thức và xây dựng chính sách dân tộc đúng đắn là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm đảm bảo khối đại đoàn kết toàn dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững cộng đồng Tuy
Trang 11nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể về việc thực
hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Vậy nên việc nghiên cứu: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và việc thực hiện chính
thiết và có ý nghĩa nhất định
2 Tình hình nghiên c ứu đề tài
Trong nhiều năm qua có rất nhiều công trình nghiên trực tiếp và gián tiếp
phản ánh những mức độ và khía cạnh khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh
về dân tộc và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Tùy từng góc độ khác nhau có thể chia thành các hướng nghiên cứu như sau:
- Hướng nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Có thể kể đến tác phẩm: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách
trị Quốc gia, xuất bản năm 1998, đã tái bản lần thứ 3 năm 2003 Đây là tác
phẩm lớn đã khẳng định những điểm mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong
đó đề cập sâu sắc những vấn đề về dân tộc với những nội dung cơ bản như: Cách mạng giải phóng dân tộc phải bằng con đường cách mạng vô sản; độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…Tác phẩm thực sự là những định hướng cơ bản cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Tác phẩm: Sự hình thành về cơ bản tư
tưởng Hồ Chí Minh của G.S Trần Văn Giàu, Nxb Chính trị Quốc gia, H,
1997, đã phân tích một cách sâu sắc về nguồn gốc cũng như quá trình hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh…
- Hướng nghiên cứu về chính sách dân tộc và việc thực hiện chính sách dân t ộc ở Việt Nam
Trang 12Điển hình như tác phẩm: Một số suy nghĩ trong việc vận dụng chủ nghĩa
lên công tác dân tộc, tầm chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa, để có
những quyết sách chiến lược nhằm đẩy mạnh việc phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở vững chắc cho việc cố kết các tộc người để củng cố tính thống nhất, hòa hợp giữa các dân tộc Việt Nam, phải điều tra một cách cơ bản và hệ thống
từng dân tộc, từng vùng, phải hiểu biết con người, lịch sử, văn hóa, truyền
thống, những điều kiện tự nhiên và các quan hệ của con người để làm cơ sở cho việc định ra nội dung, chính sách, hình thức, bước đi và cách thức tổ chức
thực hiện phù hợp, trên cơ sở đó, tác giả đã kế thừa những quan điểm, chiến lược và phải biết phong tục tập quán của từng dân tộc để có những chính sách phù hợp nhằm phát triển vấn đề dân tộc
Tác giả Phan Hữu Dật với: Về việc xác định các dân tộc, các nguyên tắc
cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng, bài viết đã đề cập đến các nguyên
tắc cơ bản, chính sách dân tộc của V.I.Lênin và các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng ta Những biện pháp thích hợp với từng dân tộc
giả chỉ ra những khiếm khuyết trong việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc như: Chính sách chủ trương chung chung chỉ thích hợp với những dân
tộc lớn, những vùng thuận lợi cho sự phát triển giảm nghèo; cán bộ làm công tác dân tộc không đi sâu, đi sát địa bàn mình phụ trách, thiếu tri thức về đời
sống các dân tộc, tức là những tri thức về dân tộc học…Tác giả đã đưa ra
những biện pháp trong việc định hướng chính sách dân tộc Đó là phối hợp
giữa cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý cũng như với các dân tộc địa phương; cần phải có những nghị quyết riêng cho từng dân tộc, từng vùng dân
tộc, cho mỗi nhóm dân tộc và nhóm địa phương cá biệt; các ngành, các cấp
Trang 13cần có sự hiểu biết đầy đủ vào việc quy hoạch chương trình công tác của ngành mình
PGS.TS Hoàng Nam với chương trình nghiên cứu: Về chính sách phát
triển các dân tộc vùng Đông Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa –
nhìn khác nhau về vấn đề dân tộc Nội dung tác giả đề cập trong bài viêc chủ
yếu là phương pháp xây dựng chính sách phát triển các dân tộc vùng Đông
Bắc như: phải xác định mục tiêu, định hướng phát triển, xác định thế mạnh
của vùng…trên cơ sở đó, tác giải đưa ra một số chính sách mà tác giả cho là
sự phù hợp nhất dựa trên cách tiếp cận tổng thể để phát triển các dân tộc ở vùng Đông Bắc nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Xuân Sơn và Th.S Lưu Văn Quảng chủ biên Cuốn sách đã trình bày những
vấn đề cơ bản về dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng qua các giai đoạn cách mạng; phân tích làm rõ những vấn đề đang đặt ra trong việc thực hiện chính sách dân tộc và đề xuất những biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt chính sách dân tộc hiện nay
Lê Hải Đường với bài viết: Một số chính sách phát triển kinh tế nông
hóa đất nước Tác giả dựa trên tình hình chung của các tỉnh miền núi phía
Bắc để nêu lên những lợi thế và hạn chế trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp Khái quát những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía
Bắc Tác giả cho rằng nhìn chung các chính sách dân tộc được thực hiện khá
tốt và đã thu được những kết quả đáng khích lệ, cải thiện được đáng kể đời
sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, góp phần gìn giữ trật tự
an toàn xã hội và an ninh quốc phòng, tạo cơ sở cho kinh tế phát triển Trên
Trang 14cơ sở đó, tác giả đưa ra một số phương hướng và giải pháp để phát triển kinh
tế nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc
Trong nghiên cứu Chương trình 135 – kết quả, bài học của giai đoạn
Tiêm, tác giả chủ yếu dựa trên phương pháp tổng kết thực tiễn của chương trình 135, giai đoạn một (1999 - 2000) để khái quát lên mục tiêu, kết quả và ý nghĩa của việc thực hiện chương trình 135 đối với đời sống vật chất và tinh
thần của đồng bào các dân tộc, các xã đặc biệt khó khăn trong cả nước Qua
đó tác giả đã chỉ ra một số bài học mà chúng ta cần phải rút kinh nghiệm để chuẩn bị cho những giai đoạn tiếp theo như tầm vóc của chương trình vượt quá khả năng của cán bộ địa phương, chương trình được triển khai trên một
diện rộng nên chưa lấp hết được khoảng trống lớn về thiếu hụt cơ sở hạ
tầng…
- Hướng nghiên cứu về chính sách dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở Bình Phước
Vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Bình Phước đang còn là
một vấn đề ít được nghiên cứu Luận án tiến sĩ triết học Đổi mới việc thực
giả Phạm Minh Tâm Dưới góc độ chính trị - xã hội, luận án phân tích những
vấn đề về chính sách dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, rút ra những bài học kinh nghiệm về vấn đề này Trên cơ sở đó làm rõ
cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới thực hiện chính sách dân tộc nói chung, ở tỉnh
Bình Dương, Bình Phước nói riêng; Luận văn thạc sĩ Đảng bộ tỉnh Bình
Phước lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong cộng đồng dân tộc thiểu số
của tác giả Nguyễn Thị Bích Chi; Luận văn thạc sĩ Giảm nghèo trong đồng
bào các dân t ộc thiểu số ở Bình Phước hiện nay của tác giả Trần Ngọc Thành;
Luận văn thạc sĩ Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế xã hội đối với
Trang 15đồng bào S’Tiêng xã Minh Lập, huyện Chơn Thành – tỉnh Bình Phước của tác
giả Hoàng Mạnh Tưởng…
Ngoài ra, còn phải kể đến các bài viết trên báo và các tạp chí liên quan đến nội dung vấn đề dân tộc trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh như: Lênin và vấn đề dân tộc và giai cấp; Sự thống nhất
giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc trong sự nghiệp đổi mới của Trần
Hữu Tiến; Quan hệ giai cấp – dân tộc – nhân loại trong thời đại ngày nay
của Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Triết học số 4 - 1994); Chủ tịch Hồ Chí
Bình; Ti ếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc của Phạm Hồng Chương đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng tr
25 – 27; Đổi mới tư duy trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn vấn đề dân tộc nước ta để thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn
tiễn cách mạng của Đỗ Tư Tư tưởng của V.I.Lênin về quyền con người và
Nhìn chung các bài viết trên đã đề cập đến một số vấn đề như: khái niệm dân tộc, sự hình thành dân tộc; quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân
tộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giai cấp; một số chính sách dân tộc
của Đảng và Nhà nước ta…Tuy nhiên, các tác phẩm vẫn chưa khái quát một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc (cơ sở hình thành, nội dung,
ý nghĩa), đặc biệt là chưa có tác phẩm nào nghiên cứu sâu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Với tinh thần đó, trong luận văn này tác giả muốn đề cập đến “Tư tưởng
H ồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và việc thực hiện chính sách dân tộc ở
Trang 16huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước hiện nay” và chọn đề tài này làm luận
văn của mình
Những kết quả nghiên cứu trên đây là những tài liệu quan trọng, là cơ sở
để tìm tòi, tiếp thu, kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình nghiên cứu làm đề tài luận văn Bên cạnh đó, tôi còn tiến hành thu thập, sử dụng nguồn tài liệu từ các nghị quyết, các chỉ thị của Đảng, Nhà nước và của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Phước, huyện Đồng Phú có liên quan đến đề tài luận văn Trên cơ sở những công trình trên, thấy rõ được giá trị và ý nghĩa của tư tưởng, tác giả đã kế thừa và tìm hiểu rõ hơn nữa về tư tưởng này, để từ đó
thấy được sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện chính sách dân tộc
của huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn hiện nay
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vận dụng tư tưởng
của Người vào việc phân tích, đánh giá tình hình, thực trạng thực hiện chính sách dân tộc từ đó đưa ra những giải pháp, định hướng cho việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giai đoạn hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
Th ứ ba, đề xuất một số phương hướng, kiến nghị, giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc: Cơ sở hình thành, nội dung, ý nghĩa của; Việc thực hiện chính sách dân tộc ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước với những vấn đề liên quan từ quan điểm, phương pháp, nội dung, kết
quả và vấn đề đặt ra của chính sách…
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân tộc và tập trung trong phạm vi hệ
thống chính sách dân tộc của huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện chủ yếu dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa, tổng hợp, khái quát các công trình nghiên cứu khoa học về dân tộc và chính sách dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã được công bố
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp thu thập thông tin, kế thừa, Các phương pháp phân tích, đánh giá: phân tích
thống kê, đánh giá hệ thống chính sách, phân tích tình huống và các phương pháp khác…
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
về vai trò và ý nghĩa của vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh và việc
thực hiện chính sách dân tộc ở từng vùng, từng địa phương trong giai đoạn
hiện nay
và thực tiễn góp phần thực hiện tốt công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Trang 18trong cả nước nói chung cũng như ở huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước nói riêng
7 K ết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 02 chương, 07 tiết
Trang 19N ỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Khái ni ệm về dân tộc
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng: dân tộc là sản
phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Tuy nhiên, ở mỗi
quốc gia, khu vực sự hình thành dân tộc có những đặc thù khác nhau, do đó,
có rất nhiều khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Dân tộc thông thường được dùng để chỉ hầu như tất cả các hình thức cộng đồng người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:
Một là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc
là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó- Quốc gia dân tộc
Hai là: dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia- Quốc gia có nhiều dân tộc
Trang 20Đối với Việt Nam, dân tộc được dùng để chỉ Dân tộc Việt Nam (tất cả những
người là công dân Việt Nam, sinh sống trên đất Việt Nam và Việt kiều ở nước ngoài) Và dân tộc cũng được dùng để chỉ các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Chăm, dân tộc Tày, dân tộc Việt (Kinh), dân tộc Mảng, dân tộc
Sán Dìu,… Như vậy trong thực tiễn Việt Nam, dân tộc cũng bao gồm hai nội hàm: chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia - (Dân tộc Việt Nam); chỉ cộng đồng tộc người cụ thể - (Dân tộc Chăm,…)
Trong giới khoa học, đã từng tồn tại nhiều ý kiến cho rằng, dân tộc
hình thành từ thời Chiếm nô hoặc Phong kiến (các xã hội có giai cấp Tiền Tư
bản) Ở Việt Nam, sau năm 1954, dựa theo định nghĩa Dân tộc của J.V Stalin, thảo luận về sự hình thành Dân tộc Việt Nam được khởi đầu từ 1955 và kéo dài suốt hàng chục năm (đến 1965) Các quan điểm đều xoay quanh vấn đề: ở Việt Nam, khi nào cộng đồng dân tộc hình thành; dân tộc Việt Nam có
phải là một cộng đồng tộc người thuộc loại hình dân tộc hay không? Nhiều
nhà nghiên cứu cho rằng: dân tộc ở Việt Nam hình thành từ thời kỳ Hùng Vương, tức là nó hình thành ngay từ trong xã hội Chiếm nô (trước xã hội Phong kiến) Năm 1966, đồng chí Lê Duẩn đã nêu lên quan điểm rằng: “Ở Việt Nam dân tộc hình thành từ khi lập nước, chứ không phải khi chủ nghĩa
tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam” [29;167]
Như vậy, Dân tộc Việt Nam bao gồm nhiều tộc người khác nhau liên kết lại, hay nói cho đúng hơn, Dân tộc Việt Nam là khối cộng đồng quốc gia bao gồm nhiều dân tộc/tộc người hợp lại và được hình thành từ rất sớm
Cần chú ý thêm, vào những năm trước 1975 ở miền Nam Việt Nam đã từng
tồn tại khái niệm Sắc tộc Vậy sắc tộc là gì Trước tiên phải khẳng định thuật
ngữ này chỉ tồn tại dười thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam Việt Nam Khi đó nó được dùng để chỉ các dân tộc thiểu số ở khu vực Trường Sơn -Tây Nguyên là chính [27; 32-33]
Trang 211.1.1 Cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Ăngghen về dân tộc
Dân tộc là một vấn đề rộng lớn bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân
tộc và bộ tộc C.Mác và Ph.Ăngghen quan tâm đặc biệt đến vấn đề dân tộc trong quá trình xây dựng học thuyết của mình Hai ông đã nêu ra các quan điểm cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết những
vấn đề về nguồn gốc, bản chất của vấn đề dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc Một trong những mục đích nghiên cứu vấn đề dân tộc của các ông là
trả lời câu hỏi: Giai cấp công nhân có thái độ như thế nào đối với dân tộc? Xử
lý như thế nào trong mối quan hệ với giai cấp? Từ đó có thể thấy C.Mác và
Ph Ăngghen đã xem xét vấn đề dân tộc trong mối liên hệ chặt chẽ với triển
vọng của cách mạng vô sản ở châu Âu nói riêng và toàn thế giới
Bên cạnh đó, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò độc lập dân tộc trong cuộc đấu tranh giai cấp Hai ông đã chứng minh
rằng, quá trình ra đời và thay đổi các hình thức cộng đồng người trong lịch sử, xét cho đến cùng đều có nhân tố kinh tế Mỗi hình thức cộng đồng người nói chung đều tương ứng với một phương thức sản xuất nhất định Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Không phải chỉ riêng những quan hệ dân tộc này với dân tộc khác mà toàn bộ kết cấu bên trong của bản thân dân tộc đó đều phụ thuộc vào trình độ phát triển của sản xuất và sự giao
tiếp bên trong và bên ngoài dân tộc ấy” Và khi nghiên cứu về sự hình thành dân tộc tư sản, các ông đã đi đến kết luận: “Dân tộc là một sản vật và hình
thức tất nhiên của thời đại tư sản trong quá trình phát triển xã hội” [21;88]
Dù rằng C.Mác và Ph.Ăngghen không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc
và chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về vấn đề dân tộc thuộc địa, nhưng trong
một số tác phẩm của mình C.Mác và Ph.Ăngghen đã tỏ rõ sự cương quyết
Trang 22chống lại ách áp bức và bóc lột các dân tộc khác của giai cấp tư sản: “Hãy xóa
bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng bị xóa bỏ” Và: “Một dân tộc này mà đi bóc lột dân tộc khác thì dân
tộc đó cũng không thể tự do”[20;624] “Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết
phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”[21;623-624]
Khi đề cập đến phong trào giải phóng dân tộc ở Ba Lan, Ai – xơ – len, vùng Băng can…C.Mác và Ph.Ăngghen trước sau như một ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, để thành lập chế độ tự trị, thậm chí tách ra thành một nước độc lập riêng biệt
Trong thư đề ngày 2.11.1867 C.Mác viết cho Ph.Ăngghen như sau:
“Trước kia tôi cho rằng Ai – xơ – len không thể tách khỏi mặc dù sau khi tách
ra thì tình hình sẽ đi đến thành lập liên bang”
Để giải quyết vấn đề dân tộc một cách triệt để trên lập trường giai cấp
vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương tiến hành thủ tiêu nhà nước tư sản xây dựng một nhà nước kiểu mới, không còn đối kháng giai cấp nữa “Khi sự đối kháng giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc đồng thời cũng mất theo”[20;624]
Trong điều kiện lúc đó hai ông nhận thức rằng cách mạng xã hội không
thể giành thắng lợi trong một nước riêng lẻ mà chỉ có thể thắng lợi trong một
loạt nước, vì vậy để đạt được mục đích lật đổ giai cấp tư sản, giai cấp vô sản
tất cả các nước hãy liên hiệp lại Nhu cầu tất yếu là phải thiết lập sự đoàn kết
quốc tế, chủ nghĩa vô sản là nét rất quan trọng trong thế giới cộng sản chủ nghĩa Chính vì vậy, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” nổi tiếng kết thúc bằng
khẩu hiệu có sức mạnh động viên và cổ vũ lớn lao mang tính thời đại “Vô sản
tất cả các nước đoàn kết lại”
Trang 23V.I.Lênin k ế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm của C.Mác –
Ph Ăngghen về vấn đề dân tộc
Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ăngghen, dựa vào sự tổng
kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào thế giới và cách mạng Nga, V.I Lênin làm rõ nội dung khái niệm dân tộc và sự hình thành dân tộc, biến nó trở thành một hệ thống lý luận toàn diện, sâu sắc về vấn đề dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của các Đảng cộng sản kiểu mới về vấn
đề dân tộc
V.I Lênin cho rằng, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài
của lịch sử loài người Trước dân tộc là những hình thức cộng đồng tiền dân
tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc V.I Lênin đấu tranh kiên quyết chống lại các
biến tướng của chủ nghĩa duy tâm Đối với chủ nghĩa duy tâm, dân tộc dường như phát sinh từ mảnh đất trống rỗng chứ không phải là kết quả của quá trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất, của sự phát triển các hình thức tộc người V.I Lênin cũng đã nêu lên cương lĩnh về quyền bình đẳng, quyền tự quyết dân tộc và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền bình đẳng và quyền tự quyết đó trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn
Chủ nghĩa tư bản ra đời và phát triển dẫn đến sự ra đời của các nhà nước dân tộc tư bản chủ nghĩa Và khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhược tiểu, thì
vấn đề dân tộc trở nên gay gắt, từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc và thuộc địa Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới
dần được hình thành, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh, dẫn đến
sự tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, nhiều nước thuộc địa cũ
trở thành các quốc gia dân tộc độc lập
Trang 24Bàn về sự phát triển của vấn đề dân tộc V.I Lênin đã đề cập hai hướng phát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản
Xu hướng thứ nhất, ở những quốc gia khu vực tư bản chủ nghĩa gồm
nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người làm ăn, sinh sống Đến một
thời kỳ nào đó, sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về quyền sống của mình mà các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân tộc độc lập Bởi vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng dân
tộc độc lập họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân
tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau
Thực tiễn cho thấy, xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới phát triển, còn xu hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa
tư bản già cỗi sắp chuyển sang xã hội xã hội chủ nghĩa Cả hai xu hướng đều phát triển trong điều kiện đối kháng giai cấp gay gắt Tuy nhiên, chủ nghĩa tư
bản và chủ nghĩa dân tộc tư sản không những không giải quyết được vấn đề dân tộc mà còn làm cho mối xung đột dân tộc ngày càng tăng lên Từ đó có
thể nói rằng chỉ có cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở thủ tiêu ách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, mới tạo điều kiện để thực hiện sự bình đẳng dân tộc và xây dựng tình hữu nghị giữa các dân tộc, làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau Nhận thức được điều đó V.I Lênin yêu cầu các Đảng cộng sản phải đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc
tư sản và chủ nghĩa sôvanh, giành thắng lợi cho chủ nghĩa quốc tế vô sản
Trang 25Trong vấn đề dân tộc, chủ nghĩa Mác – Lê nin đã nêu ra “Cương lĩnh dân tộc” gồm 3 nội dung chủ yếu sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”
Thứ nhất: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: Các dân tộc lớn hay
nhỏ (kể cả bộ tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ cao thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau, không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và đi áp bức bóc lột dân tộc khác
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc đầu tiên trong cương lĩnh mác xít về vấn đề dân tộc Đây là phạm trù rất rộng, nó không chỉ là sự bình đẳng giữa dân tộc này với dân tộc khác trong nội bộ của một quốc gia
mà còn là sự bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc khác trong quan hệ quốc tế Theo V.I.Lênin nội hàm của quyền bình đẳng dân tộc bao gồm bình đẳng trong việc thành lập quốc gia dân tộc riêng của họ
Ý nghĩa sâu sắc về quyền bình đẳng dân tộc, V.I.Lênin chỉ rõ như sau:
ý nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai
cấp Bình đẳng văn hóa có nghĩa là các dân tộc có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ trong trường học, văn hóa, nhà hát…Mặt khác, V.I.Lênin cho rằng còn là nhu
cầu phát triển kinh tế, văn hóa sẽ đòi hỏi các dân tộc sống trong một quốc gia
phải học tiếng của dân tộc đa số
Trên phạm vi giữa các quốc gia dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng
giữa các dân tộc gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc, gắn với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới, chống
sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực
Trang 26hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc
Trong các quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc
phải được pháp luật bảo vệ như nhau, khắc phục chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá giữa các dân tộc do lịch sử để lại Bình đẳng giữa các
quốc gia dân tộc hay giữa các dân tộc trong một quốc gia phải trên cơ sở đoàn
kết, vì theo V.I.Lênin “Chỉ có sự đoàn kết mới có khả năng bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc, quyền tự do của nhân dân và lợi ích của chủ nghĩa
xã hội”[108;85]
Th ứ hai: các dân tộc được quyền tự quyết định
Là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong Cương lĩnh của V.I.Lênin về
vấn đề dân tộc “Mỗi dân tộc được quyền quyết định vận mệnh chính trị của mình, nghĩa là quyền phân lập” [108;84] Chúng ta đều biết, đế quốc Nga Sa hoàng là một nhà tù lớn của nhiều dân tộc Các dân tộc bị trị, bị áp bức và bị bóc lột nặng nề, không được quyền quyết định vận mệnh của mình Và có thể nói rằng: Các dân tộc có quyền tự quyết không phải là để các dân tộc tách ra,
mà chính là để các dân tộc xích lại gần nhau, sức mạnh của khẩu hiệu đó là ở
chỗ, nó gạt bỏ tất cả mọi cơ sở về mưu đồ xâm lăng của dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm cho sự chuẩn bị cho các dân tộc tiến tới sự liên minh tự nguyện vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều dân tộc
V.I.Lênin còn nói “Chủ nghĩa xã hội có mục đích không những xóa bỏ tình trạng nhân loại bị phân chia thành những quốc gia nhỏ…dân tộc được tự
do phân lập thì mới có thể đạt được sự hợp nhất tất nhiên của các dân tộc”
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận
mệnh của dân tộc mình: quyền tự quyết định chế độ chính trị xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình, quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành mỗi quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc, quyền tự
Trang 27nguyện liên hiệp lại các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có
sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền
và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc Dân tộc tự quyết “không thể có nghĩa nào khác hơn là quyền tự quyết về chính trị, là quyền độc lập quốc gia, là sự thành lập quốc gia dân tộc” [108;308]
Khi giải quyết quyền tự quyết của mỗi dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân ủng hộ phong trào đấu tranh tiến bộ phù hợp
với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Và “giai
cấp công nhân phải hết sức kiên quyết phản đối mọi sự áp bức dân
tộc”[108;100] Kiên quyết đấu tranh chống những âm mưu thủ đoạn của các
thế lực đế quốc, lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công
việc nội bộ của các nước “Chủ nghĩa xã hội thắng lợi nhất thiết phải thực
hiện chế độ dân chủ hoàn toàn và, do đó, không những làm cho các dân tộc hoàn toàn bình đẳng với nhau, mà còn thực hành quyền tự quyết của dân tộc
bị áp bức”[109;323]
Th ứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc đoàn kết lại
Là nguyên tắc thứ ba trong Cương lĩnh, nó quy định mục tiêu hướng
tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc
tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc, đồng thời nó là yếu tố sức mạnh bảo đảm cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của ḿnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” [59;314]
Trên thực tế, luận điểm này lần đầu tiên được phát triển bởi C.Mác và Ph.Ăngghen, được V.I.Lênin kế thừa và phát triển Trong thời kỳ chủ nghĩa tư
bản đang phát triển mạnh mẽ, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy rằng cách
mạng xã hội chủ nghĩa không thể thắng lợi được trong một nước riêng lẻ, mà
Trang 28chỉ có thể lật đổ giai cấp tư sản khi giai cấp vô sản ở tất cả các nước liên hiệp
lại
“Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại” là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin: nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với
giải phóng giai cấp Nó đảm bảo cho dân tộc có đủ sực mạnh để giành thắng
lợi
Đây là cơ sở vững chắc để đoàn kết nhân dân lao động trong các dân
tộc để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba
nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể
Tóm lại: “Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác - Lênin (của Đảng
cộng sản) là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động trong đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Stalin trong đấu tranh chống “chủ nghĩa duy tâm” đã có một định nghĩa
khẳng định tính ổn định, tính lịch sử của cộng đồng dân tộc, nêu bật các đặc trưng cơ bản của dân tộc trong sự thống nhất biện chứng của nó Ông viết
“Dân tộc là một khối cộng đồng ổn định, thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ
sở cộng đồng và tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và hình thức tâm
lý, biểu hiện trong cộng đồng văn hóa” [87;43]
Như vậy, dân tộc và sự phát triển của dân tộc không chỉ chịu sự chi
phối của quy luật kinh tế - xã hội mà còn chịu sự chi phối của quy luật phát triển tộc người Bởi vì, quy luật kinh tế - xã hội giữ vai trò quyết định nhất, song nếu chưa có sự chín muồi của nhân tố tộc người thì dân tộc cũng chưa
Trang 29thể xuất hiện Có thể nói dân tộc là sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tộc người
Đối với dân tộc Việt Nam, được hình thành sớm và phát triển bền vững
là do truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, một đất nước phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh, đòi hỏi các tộc người trong cả nước phải đoàn kết lại, mọi sự chia rẽ đều trái với lợi ích và truyền
thống dân tộc Vì vậy, ngoài ý thức là thành viên của một tộc người, tất cả
mọi người sống trên lãnh thổ Việt Nam đều thấy trong mình dòng máu chung, dòng máu dân tộc Việt Nam Tinh thần đoàn kết đã trở thành sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách để giành thắng lợi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Đó là một truyền thống tốt đẹp, là
niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam, một nhân tố tạo nên tính bền vững của
cộng đồng người Việt Nam
Có thể nói, nguồn gốc lý luận quyết định bước phát triển mới về chất
của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin Dựa trên cơ sở truyền
thống văn hóa Việt Nam, mà nổi bật là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân ái,
cố kết dân tộc, Người tiếp thu văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đến với chủ nghĩa Mác – Lênin Đây là bước ngoặt cơ bản trong quá trình tìm đường cứu nước và quá trình phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ nghĩa yêu nước
đã gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giác ngộ dân tộc đã phát triển và kết hợp với giác ngộ giai cấp; cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng vô
sản Bước ngoặt đó đánh dấu sự định hình và khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng giai cấp vô sản – chủ nghĩa Mác – Lênin, mang bản
chất cách mạng và khoa học triệt để
1.1.2 Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Th ực tiễn thế giới
Trang 30Nguyễn Ái Quốc bước lên vũ đài chính trị vào lúc mà chủ nghĩa tư bản
đã giã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn tư bản độc quyền,
tức chủ nghĩa đế quốc, đã xác lập được sự thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa đế quốc là một hiện tượng quốc tế, một hệ thống thế
giới, chúng vừa tranh giành, xâu xé thuộc địa, vừa vào hùa với nhau để nô
dịch các dân tộc nhỏ, yếu trong vòng kìm kẹp của chúng
Vì vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sang thế kỷ XX không còn là hành động riêng rẽ của nước này chống lại sự xâm lược và thống trị của nước khác như trước kia, mà đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế
Trong điều kiện lịch sử mới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ
thống đế quốc, do đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước nếu chỉ
tiến hành riêng rẽ thì không thể nào giành được thắng lợi Sự thất bại của các phong trào cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không phải là do nhân dân ta thiếu anh hùng, thiếu các lãnh tụ phong trào kém nhiệt huyết mà vì họ chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại nên vẫn tiến hành đấu tranh theo đường lối và phương pháp cũ: tự mình nổi dậy đấu tranh như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám; đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện, như trường hợp của Phan Bội Châu và nhiều người khác
Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử, Người đã thấy rõ con đường của các bậc cha chú là cũ kỹ, không đem lại kết quả
“Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương (…),
chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thương”
“Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đánh đuổi Pháp Điều đó
rất nguy hiểm, chẳng khác nào đuổi hổ cửa trước rước báo cửa sau”
Trang 31“Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn…Nhưng…cụ còn nặng cốt cách phong kiến”[50;17]
Người phải đi tìm một con đường mới
Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua năm châu bốn bể, đặt chân lên nhiều
quốc gia, là một trong những nhà hoạt động chính trị đi nhiều nhất, có vốn
hiểu biết phong phú nhất về thực tế các thuộc địa cũng như các nước tư bản
đế quốc chủ nghĩa yếu nhất trong những thập niên đầu của thế kỷ XX…Nhờ
đó, Người hiểu được bản chất chung của chủ nghĩa đế quốc và màu sắc riêng
của từng nước đế quốc khác nhau; hiểu được trình độ phát triển cụ thể về kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội,…của nhiều nước thuộc địa cùng cảnh ngộ
Gia nhập đội ngũ những người lao động Pháp và nhiều nước khác, gần mười năm lao động chân tay, vừa đi làm, vừa đi học, nhận thức của Hồ Chí Minh về những người lao động – đặc biệt là nhân dân lao động các nước thuộc địa càng thêm phong phú Từ lòng yêu nước, ý chí độc lập cho dân tộc
Việt Nam, Hồ Chí Minh đã nhận ra rằng, những người lao động bị áp bức ở các nước thuộc địa đều có nguyện vọng chung là độc lập cho dân tộc mình, tự
do cho nhân dân, họ đều rất căm thù chủ nghĩa thực dân và coi chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa
Hòa nhập với cuộc sống của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh có điều
kiện giao tiếp với nhiều trí thức tiến bộ Pháp và một số nước khác Điều kiện
đó đã giúp Người nâng cao nhận thức của mình Nếu như trước đó ở Người
mới chỉ là ý thức dân tộc, yêu nước thì nhờ những điều kiện đó mà nhận thức
của Người về vấn đề dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế đã nảy sinh và dần dần phát triển
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh về Pháp, đến sống và hoạt động tại Pari Đây là một sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời hoạt động của
Trang 32Người Nhờ lăn lộn trong phong trào lao động Pháp, sát cánh với những người yêu nước Việt Nam và những người cách mạng từ các nước thuộc địa
của Pháp, Người đã nhanh chóng đến được với phái tả của cách mạng Pháp
và không lâu sau đó, gia nhập Đảng xã hội Pháp, một chính đảng duy nhất
của nước Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa Người trở thành một chiến sĩ
xã hội chủ nghĩa
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận họp nhau để phân chia lại thị trường thế giới Họ hứa hẹn trao trả độc lập chủ quyền cho các dân tộc thuộc địa Hồ Chí Minh đã gửi “Yêu sách của người dân An Nam” đến hội nghị Véc – xay đòi quyền dân tộc tự quyết nhưng không được đáp ứng Hồ Chí Minh hiểu ra rằng, những lời hứa hẹn về quyền
tự quyết chỉ là một trò bịp bợm và Người khẳng định : Các dân tộc phải tự mình tiến hành giải phóng, không thể chờ vào việc rủ lòng thương của chủ nghĩa đế quốc, “Công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng
sự nỗ lực của bản thân anh em” [52;128]
Tuy nhiên, đến lúc đó Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa ý thức được đầy đủ
và rõ ràng về con đường giải phóng dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa nếu không có tác động quyết định của hai sự kiện vĩ đại là Cách mạng Tháng Mười và việc thành lập Quốc tế III
Cuộc cách mạng Nga bùng nổ tháng 10 – 1917, nhưng tác động của nó chưa đến được ngay với thủ đô Pari Tháng 3 – 1919, V.I.Lênin thành lập
Quốc tế III Tiếp theo là nhà nước Xô viết đánh bại cuộc chiến tranh can thiệp
của 14 nước đế quốc và bọn bạch vệ Từ năm 1920, tiếng vang và ảnh hưởng
của Cách mạng Tháng Mười lan rộng ra Châu Âu và toàn thế giới Cuộc
khủng hoảng trong phong trào công nhân Châu Âu diễn ra từ mấy năm trước, đến thời điểm này càng thêm sâu sắc dẫn đến sự phân liệt không tránh khỏi trong nội bộ các Đảng dân chủ xã hội – Quốc tế II Sự phân hóa về đường lối
Trang 33diễn ra trên hầu khắp các vấn đề cơ bản: đấu tranh giải phóng dân tộc, cách
mạng xã hội, chuyên chính vô sản, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế, trong đó có vấn đề dân tộc – thuộc địa
Hồ Chí Minh đã tham gia Đảng xã hội Pháp và hoạt động rất hăng hái trong tổ chức này Người đã viết báo đăng lên các tờ báo Pháp, viết cuốn sách
Những người bị áp bức tố cáo những tội ác và sự thối nát của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa Người tham gia tích cực vào các hoạt động của ủy ban vận động Đảng xã hội Pháp gia nhập quốc tế III; Người hoan nghênh cách mạng tháng Mười và tham gia quyên góp ủng hộ công nhân Nga chống
nạn đói và sự can thiệp các nước đồng minh đế quốc Trong những hoạt động
ấy Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý việc tìm hiểu về những người Bônsêvich, về cách mạng tháng Mười Nga và đã trình bày về đề tài nghiên cứu của chủ nghĩa Bônsêvich ở Châu Á, diễn thuyết trước thanh niên quận 13 Pari về chủ nghĩa xã hội
Tháng 7 – 1920 báo L’Humannite đăng “Sơ thảo lần thứ nhất những
luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin và các văn kiện khác chuẩn bị đưa ra đại hội lần thứ II Quốc tế cộng sản
Hồ Chí Minh đã từng vui mừng phấn khởi đến phát khóc khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin Ngồi một mình trong phòng, Người nói to lên như nói trước đông đảo quần chúng bị áp bức: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”[114;91] Ngay sau đó, từ Pari Người viết gửi
Quốc tế cộng sản và nói rõ Luận cương của V.I.Lênin đã ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan của mình Người khẳng định dứt khoát tin theo V.I.Lênin và
quốc tế cộng sản
Trang 34Điều gì khiến Hồ Chí Minh khi nghiên cứu Luận cương của V.I.Lênin
đã đi đến khẳng định rõ ràng và chính xác thế giới quan và lập trường của mình? Đặc biệt về vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc
Trước hết, phải khẳng định là do nội dung tư tưởng chiến lược về vấn
đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mà V.I.Lênin đã nêu ra Đó là quyền được độc
lập của các dân tộc thuộc địa; là quyền tự quyết dân tộc nói chung bao gồm cả quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa
Luận cương của V.I.Lênin đã chỉ rõ, những người cách mạng ở các nước thuộc địa phải đoàn kết chặt chẽ với nhân dân ở các nước chính quốc, không để những tư tưởng quốc gia dân tộc hẹp hòi mê hoặc; còn những người cách mạng ở chính quốc phải tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân ở các nước thuộc địa; những nước cách mạng vô sản thành công phải giúp đỡ nhân dân các nước thuộc địa làm cách mạng và coi đây là nhiệm vụ chung của cách mạng vô sản quốc tế
Với những nội dung cơ bản từ luận cương của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh
đã tìm được lời giải đáp ngắn gọn, sáng tỏ những nội dung chính yếu về vấn
đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc và những biện pháp cơ bản nhằm đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi
Thông thường, từ sự giác ngộ ý thức giai cấp công nhân mới đi tới giác
ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng ở Hồ Chí Minh thì điểm xuất phát lại từ ý
thức về việc giải phóng dân tộc mình Ngay cả khi đã đi đến chủ nghĩa Mác – Lênin, Người vẫn coi vấn đề giải phóng dân tộc là vấn đề cấp bách nhất Ngay sau lúc bỏ phiếu tán thành gia nhập quốc tế cộng sản, được nữ đồng chí Rôdo, người ghi biên bản Đại hội 18 Đảng xã hội Pháp hỏi: “Tại sao đồng chí
lại bỏ phiếu cho Quốc tế III ?” Người trả lời: “Rất đơn giản Tôi không hiểu
chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác! Nhưng tôi hiểu rõ một điều, Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng dân tộc thuộc
Trang 35địa…tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”[114;105] Như vậy, Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin qua cửa ngõ của chủ nghĩa yêu nước chân chính, cửa ngõ đấu tranh giai cấp Ở Người, chủ nghĩa yêu nước chân chính
đã hòa quyện cả tinh thần dân tộc với tinh thần giai cấp; cả tinh thần đoàn kết giai cấp vô sản quốc tế với các dân tộc bị áp bức Khẩu hiệu của V.I.Lênin:
“Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” đã thể hiện một cách nhuần nhuyễn ở Người
Quá trình nhận thức về dân tộc, mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp,
về con đường giải phóng dân tộc trên lập trường vô sản đã được từng bước
thể hiện và ngày càng hoàn thiện, từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh đến Chính cương văn tắt, Điều lệ văn tắt… thể hiện đầy đủ điều
đó Người xác định, cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng phải theo con đường cách mạng vô sản, cách mạng tháng Mười Nga
Th ực tiễn Việt Nam
Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX cho đến khi Pháp xâm lược vẫn là một xã
hội phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, trì trệ Sau khi lật đổ được triều đại Tây Sơn, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành một chính sách đối nội, đối ngoại
bảo thủ, phản động: tăng cường đàn áp, bóc lột ở bên trong và thực hiện bế quan tỏa cảng đối với bên ngoài; cự tuyệt mọi đề án cải cách dù là nhỏ bé và
đã quá muộn mằn nên đã không mở được khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới, đặc biệt là với thị trường tư bản Tây Âu Vì vậy, đã không phát huy được thế mạnh của dân tộc và đất nước; không tạo ra được tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc,
chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây Để rơi vào
cảnh mất nước, trách nhiệm trước hết thuộc về bọn vua chúa nhà Nguyễn
Trang 36Từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang kháng chiến
chống Pháp rầm rộ bùng lên, dâng cao và lan rộng trong cả nước: từ Trương Định, Nguyễn Trung Trực,…ở Nam Bộ; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng,…ở miền Trung đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích,…ở miền Bắc Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sục sôi, song trước sau đều
lần lượt thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến rõ ràng Lãnh đạo họ là các sĩ phu, văn thân mang ý thức hệ phong kiến, còn nặng tư tưởng tôn quân, chưa thật sự tin vào lực lượng của nhân dân nên cũng chưa thật sự tin vào
thắng lợi cuối cùng Điều đó cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước nhiệm vụ lịch sử
Bước sang đầu thế kỷ XX, sau khi tạm thời dập tắt được các cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác lần
thứ nhất Xã hội Việt Nam bắt đầu có sự biến chuyển và phân hóa, các tầng
lớp tiểu tư sản và mầm mống của giai cấp tư bản bắt đầu xuất hiện Cùng lúc
đó, các “tân thư” và ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách của Khang
Hữu Vi, Lương Khải Siêu tràn vào Việt Nam Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản với sự xuất
hiện của các phong trào như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân,
Việt Nam Quang phục hội,…Nhưng các phong trào ấy cũng chỉ rộ lên được
một thời gian ngắn rồi lần lượt bị dập tắt, một phần vì chưa lôi cuốn được các
tầng lớp nhân dân, phần khác vì các phong trào đó chủ yếu vẫn do các sĩ phu phong kiến truyền bá và dẫn dắt nên không tránh khỏi hạn chế và thất bại
Khi Nguyễn Tất Thành lớn lên, phong trào cứu nước đầu thế kỷ đang ở vào thời kỳ khó khăn nhất : Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa,
Cuộc biểu tình chống thuế ở Huế và các tỉnh miền trung bị đàn áp, vụ đầu độc
ở Hà Thành bị thất bại và tàn sát, căn cứ nghĩa quân Yên Thế bị bao vây và
Trang 37đánh phá, phong trào Đông Du bị tan rã, …Phong trào cứu nước của nhân dân
ta muốn giành thắng lợi phải đi theo một con đường mới
Trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, việc sáng
lập Đảng cộng sản Việt Nam, xác lập đường lối, mục tiêu, chiến lược, sách lược cho cách mạng Việt Nam là một dấu mốc trong quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Đó là quá trình nhận thức của Người từ thấp đến cao, từ hành trang tư tưởng trước khi ra đi tìm đường cứu nước đến nhận thức lý luận
để vận dụng vào cách mạng Việt Nam Trong hệ thống tư tưởng đó có quá trình hình thành quan điểm về dân tộc, mối quan hệ dân tộc với giai cấp và con đường giải phóng dân tộc
Ở Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân văn, nhân ái là sự
thấm nhuần truyền thống lịch sử dân tộc, nhưng trước hết được bắt nguồn từ
tấm gương gia đình và truyền thống quê hương Những bài học Hồ Chí Minh
từng học thời trai trẻ đã vun đắp cho lòng người yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc “Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch” – mỗi bữa không quên ghi sử sách – lời của người xưa được cụ Phan Bội Châu ngâm nga cũng là điều lúc
trẻ Hồ Chí Minh thường tâm niệm Nếu không có điều này thì làm sao có được sự kiện sau hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, khi trở về tổ
quốc, Hồ Chí Minh đã biên soạn cuốn Lịch sử nước ta bằng thơ lục bát nhằm giáo dục truyền thống lịch sử, yêu nước cho cán bộ và nhân dân với lời mở đầu tha thiết:
“Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” [114 ;47-48]
Ở tuổi hai mươi, người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường
cứu nước Động lực khiến Người ra đi – như Người đã nói với nhà văn Mỹ Anna Louis Strong: « Nhân dân Việt Nam trong đó có cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi sự thống trị của
Trang 38Pháp Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là
Mỹ Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi » Vào thời điểm này Hồ Chí Minh biết rất
rõ có ba con đường và giải pháp của các nhà yêu nước để giành độc lập cho toàn dân tộc Đó là các nhà yêu nước: Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Mặc dù rất kính trọng tinh thần nhiệt huyết của các cụ nhưng
Hồ Chí Minh đã không đi theo con đường của các cụ đã đi, câu hỏi mà Hồ Chí Minh đặt ra là: Tại sao các cụ thất bại? Tại sao các nước phương Tây giàu
mạnh? Cái gì ẩn chứa đằng sau câu châm ngôn: Tự do – Bình đẳng – Bác ái?
Đó chính là lý do khiến Người ra đi tìm con đường khác, Người chọn hướng sang Pháp và các nước phương Tây Đi để tìm con đường cứu nước Đi để tìm
giải pháp giải phóng cho quê hương, giành độc lập dân tộc « Đấy là sự khước
từ cái sai để đi tìm cái đúng Đấy là sự từ bỏ cái lỗi thời để đi tìm cái tiên tiến phù hợp với thời đại mới Đấy chính là sự khẳng định một bản lĩnh, một khả năng suy nghĩ độc lập và sáng tạo mà lịch sử đang đòi hỏi » [71;11]
Như vậy, từ tinh thần yêu nước đã hình thành ở Hồ Chí Minh ý thức giai cấp của giai cấp vô sản Từ sự đồng cảm của người dân nô lệ bị chủ nghĩa
thực dân áp bức bóc lột, ở Hồ Chí Minh đã hình thành tình cảm và ý thức của
Hồ Chí Minh Đó cũng là nền tảng cực kỳ quan trọng để người thanh niên
Việt Nam yêu nước Nguyễn Tất Thành tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của thời đại
Có thể nói: « Sự phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra cũng giống như sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam trong sự tác động, thúc đẩy lẫn nhau giữa cái dân tộc và cái giai cấp »[76 ;41] Ý thức giác ngộ về
giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động lực chủ yếu để Hồ Chí Minh đến với hệ tư tưởng của giai cấp vô sản là chủ nghĩa Mác – Lênin Đến lượt mình, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản trở thành kim chỉ nam, thành
Trang 39nền tảng tinh thần cho công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam, là cơ sở khoa
học cho sự phát triển chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh
với trí tuệ của dân tộc và trí tuệ của thời đại Chính sự vận động, phát triển
của tư tưởng yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế
kỷ XX khi bắt gặp chủ nghĩa Mác – Lênin, đã hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh Từ tiếp thu, vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh từng bước góp phần
bổ sung, phát triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin bằng những luận điểm mới, được rút ra từ thực tiễn của đất nước và dân tộc mình
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc vừa là sự kết hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Người trong việc vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam và các nước phương Đông
1.2 N ội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc
Trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác – Lênin và qua thực tiễn hoạt động cách mạng, quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc được hình thành Nhưng không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà là vấn đề dân tộc thuộc địa Bởi vì xuất phát từ thực tiễn khi chủ nghĩa đế quốc đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường, thực hiện sự áp bức về chính trị, bóc lột về kinh
tế, nô dịch về văn hóa đối với các nước bị xâm chiếm thì vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa
Vấn đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nước dân tộc độc lập
Ở thời đại mà chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cách mạng
giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, việc nhận
Trang 40thức và giải quyết vấn đề dân tộc như thế nào có quan hệ đến toàn bộ đường
lối, chiến lược, sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc
Trước khi chủ nghĩa tư bản phương Tây đưa đại bác đến gõ cửa các
quốc gia phương Đông, thì những quốc gia này vẫn còn đang chìm nặng trong bóng tối của chế độ phong kiến ở giai đoạn suy vong, với cấu trúc xã hội gồm hai giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân Dưới tác động của những chương trình khai thác thuộc địa, các giai cấp này ở Việt Nam ít nhiều có sự
biến đổi, những giai tầng mới lần lượt ra đời: công nhân, tư sản, tiểu tư sản
Tất cả các giai tầng đó đều nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa tư bản thực dân Vì vậy, vấn đề dân tộc mà Hồ Chí Minh đề cập trong tư tưởng của mình được thể hiện tập trung chủ yếu ở các nội dung về quyền dân tộc, quan hệ
giữa dân tộc và giai cấp và quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản được thể hiện trong các nội dung cơ bản sau:
1.2.1.Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất
cả dân tộc
Lịch sử Việt Nam là lịch sử không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ nước Tinh thần yêu nước luôn luôn đứng hàng đầu của bảng giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam Hồ Chí Minh đã từng viết:
“Trên đời nghìn vạn điều cay đắng
Cay đắng chi bằng mất tự do” [53;332]
Đối với một người dân mất nước, cái quý nhất trên đời là độc lập của
Tổ quốc, tự do của nhân dân Hồ Chí Minh cho rằng tất cả các dân tộc trên thế
giới đều bình đẳng; tức là độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm
phạm của tất cả các dân tộc Sinh ra trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, tận
mắt chứng kiến sự chà đạp của ngoại bang lên tự do độc lập của đất nước,