Trong đó, việc kí kết và thành lập một khu vực mậu dịch tự do với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là ASEAN, luôn là mục tiêu được chú trọng trong chính sách phát triển kinh tế của q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Sinh viên thực hiện:
Lại Phương Thanh, QHQT 911, 2011-2015.
Cao Thị Thúy Tiên, QHQT 911, 2011-2015.
Kinh tế Quốc tế, Khoa Quan hệ Quốc tế.
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài: 2
2 Tình hình nghiên cứu đề tài: 2
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài: 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài: 9
6 Đóng góp mới của đề tài: 9
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn: 10
8 Kết cấu đề tài: 10
CHƯƠNG I 12
1.1 Bối cảnh và lịch sử hình thành: 12
1.2 Hiệu lực và thành tựu đã đạt được: 16
CHƯƠNG II 19
2.1 Xem xét ACFTA dưới góc nhìn các lý thuyết: 19
2.2 Kênh quyền lực của Trung Quốc thông qua việc hình thành ACFTA: 25
2.2.1 Kênh quyền lực của Trung Quốc: 25
2.2.2 ACFTA – Kênh quyền lực kinh tế của Trung Quốc: 28
2.2.3 ACFTA – Kênh quyền lực chính trị của Trung Quốc: 51
2.2.4 Khả năng sử dụng hiệu quả kênh quyền lực ACFTA của Trung Quốc: 82
CHƯƠNG III 84
1 Tăng cường quản lý nhà nước 88
2 Xây dựng chiến lược phát triển quan hệ thương mại Việt –Trung: 88
3 Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật thương mại: 89
4 Thúc đẩy hoạt động thương mại khu vực biên giới Việt- Trung: 89
5 Tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, chống gian lận thương mại: 89
6 Giải pháp về chính sách thuế, tài chính, tín dụng: 90
7 Thúc đẩy phát triển “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” 90
8 Tăng cường xuất khẩu sang Trung Quốc để giảm nhập siêu: 90
Trang 3KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC 100
Trang 4TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Sau chiến tranh lạnh, xu thế hợp tác cùng phát triển ngày càng tăng với sự
ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực Cùng trong bối cảnh đó, với
sự phát triển kinh tế ngày càng cao của mình, Trung Quốc đã kí kết nhiều Hiệpđịnh mậu dịch tự do với nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, việc kí kết và thành lập một khu vực mậu dịch tự do với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là ASEAN, luôn là mục tiêu được chú trọng trong chính sách phát triển kinh tế của quốc gia này Vì thế việc nghiên cứu về những lợi ích mà Trung Quốc có được trên cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị sẽ là nội dung chính của bài nghiên cứu
Đầu tiên, đề tài sẽ giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và lộ trình của Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc dẫn đến việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) Sau đó, những lợi ich kinh tế mà Trung Quốc sẽ có được thông qua ACFTA sẽ là một phần nội dung nghiên cứu của chương II Đề tài sẽ khái quát và phân tích quan hệ thương mại giữa các quốc gia ASEAN và Trung Quốc Đồng thời, đề tài cũng sẽ đưa ra thực trạng hiện tại của mối quan hệ thương mại này và những lợi ích mà nó đem lại cho Trung Quốc ACFTA không những đem lại nhiều lợi ích kinh tế cho Trung Quốc mà còn là một công cụ chính trị của quốc gia này trong quá trình gây ảnh hưởng và chi phối các quốc gia trong khu vực Đây cũng là một phần quan trọng trong chương II cùng với những lợi ích kinh tế Để kết thúc chương II, đề tài sẽ đưa ra khả năng sử dụng ACFTA của Trung Quốc trong con đường phát triển của quốc gia này Trong chương tiếp theo, đề tài sẽ liên hệ thực trạng ACFTA hiện nay với Việt Nam, cũng như đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam trước những ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc Kết thúc bài nghiên cứu, đề tài sẽ tổng quá những ý chính và rút
ra kết luận chung
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Tác động của quá trình toàn cầu hóa đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn,
vì thế, một trong những đặc điểm nổi bật hiện nay của kinh tế thế giới là sự ra đời của nhiều khu vực mậu dịch tự do (FTA) trong hai thập kỉ vừa qua Trong những năm gần đây, tình hình thế giới đặc biệt là tình hình của khu vực Châu Á mà cụ thể là Đông Nam Á có nhiều biến đổi đáng kể với sự trỗi dậy của Trung Quốc Trung Quốc đang dần trở thành tâm điểm của quốc tế và đồng thời là tác nhân chi phối đại đa số các hoạt động kinh tế - chính trị diễn ra trong khu vực Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) được hình thành với mục tiêu thúc đẩy hợp tác phát triển giao lưu kinh tế và tiến tới hình thành một thị trường chung thống nhất về hàng hóa và dịch
vụ Bên cạnh đó, ACFTA đã đem lại nhiều lợi ích về kinh tế cũng như về chính trị cho Trung Quốc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Các liên minh kinh tế và khu vực hợp tác kinh tế đã được hình thành từ lâu ở Châu Âu và Bắc Mỹ Mãi đến những năm gần đây, các nước Đông Á nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng mới bắt đầu ký kết và tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) Trên cơ sở những bài nghiên cứu phân tích từ các hoạtđộng hợp tác kinh tế từ trước và thực trạng hiện nay, Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) được phân tích rõ ràng và cụ thể trên nhiều cấp
độ nhằm đánh giá hiệu quả và tiềm năng của khu vực này Nhìn chung, các tài liệu chủ yếu tập trung về các chủ đề chính: cơ sở và mục tiêu hình thành ACFTA, chính sách FTA của từng quốc gia riêng lẻ và triển vọng FTA cho khu vực
ASEAN trên cơ sở thực tiễn
Trang 6Có rất nhiều nguồn tài liệu cung cấp kiến thức về quá trình hình thành
ACFTA, cũng như những lợi ích mà khu vực này mang lại Trong các công trình
nghiên cứu về nội dung này, ấn phẩm tiêu biểu nhất là Khu vực mậu dịch tự do
của nhà xuất bản Lý luận chính trị Trong tác phẩm, tác giả đã giải thích các khái niệm liên quan đến hiệp định thương mại tự do (FTA), quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, các mặt lợi ích mà khu vực này mang lại Qua tác phẩm, người viết đã phân tích cơ sở hình thành ACFTA từ đó đưa ra những mục đích cụ thể hình thành khu vực này Từ những mục đích ban đầu của Hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, nhóm nghiên cứu so sánh với hoạt động và kết quả thực tiễn trong những năm gần đây để tìm ra những điều mà
ACFTA đã và chưa làm được Tuy nhiên, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng được xuất bản vào năm 2006,
trong khi đó khu vực này đi vào thực tiễn từ năm 2010 Vì thế tác phẩm không có nhiều cứ liệu cụ thể để chứng minh lợi ích thực tiễn mà ACFTA mang lại Xét về tổng thể, tác phẩm đã cung cấp cho đề tài nhóm những lý thuyết cơ bản về khu vực ACFTA nhằm tạo nền tảng cho nhóm đi sâu vào nghiên cứu các tác động thực tiễn của khu vực này Trong mảng kiến thức này, có rất nhiều tài liệu bổ trợ khác
như cuốn sách Ngoại giao CHND Trung Hoa – 30 năm cải cách mở cửa (1978 –
2008) của TS Lê Văn Mỹ (chủ biên) Ngoài ra còn có những bài nghiên cứu tạp
chí như: “ASEAN – China: Free Trade Area” của ChiaYue, “Quan hệ Trung Quốc– ASEAN những năm đầu thế kỷ XXI” trên tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á (10/2007) và “Dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong quá trình xây dựng và khu vực mậu dịch tự do ASEAN” của Trương Quang Hoàn
1
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006) “Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng”, Lý luận chính trị, Hà Nội.
Trang 7Để có cái nhìn tổng quát hơn về ACFTA và chiến lược phát triển của Trung Quốc, nhóm nghiên cứu hình thành khung lý thuyết nghiên cứu đề tài dựa trên các góc nhìn của chủ nghĩa Hiện thực, chủ nghĩa Trọng thương và chủ nghĩa Dân tộc kinh tế Các tác phẩm như “Ba tư tưởng về kinh tế chính trị” do Gilpin, Robert nghiên cứu; “Chủ nghĩa Hiện thực tân cổ điển và các lý thuyết về chính sách đối ngoại” của Gideon Rose và bài viết “Của cải và quyền lực: Chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa Dân tộc kinh tế” của David Balaam và Michael Veseth ; đã đưa ra góc nhìn bao quát của từng học thuyết về quan hệ quốc tế cũng như về hợp
tác kinh tế Ngoài ra, nhóm cũng tham khảo thêm các tác phẩm khác như The
landmark Thucydides: A comprehensive Guide to the Peloponnesian War, Warring States: Theoretical Models of Asia Pacific Security hay Studies in Economic Nationalism.
Với nguồn lực và mục tiêu phát triển mới, chính sách đối ngoại và chiến
lược “phát triển hòa bình” cho Trung Quốc đã được các nhà chiến lược đề ra.
Trong đó, ASEAN nói chung và Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc nói riêng là những nhân tố quan trọng Trong tác phẩm của Young Nam Cho vàJong Ho Jeong, “Quyền lực mềm Trung Quốc: Các tranh luận, nguồn lực và triển vọng” (2008), bài nghiên cứu “China’s strategy for Free Trade Agreements:
Political Battle in the Name of Trade” do Henry Gao viết, những lập luận về mụcđích Trung Quốc khi tham gia Hiệp định này được đưa ra Ngoài ra, nhóm cũng nghiên cứu các chính sách, chiến lược và hệ tư tưởng mới của Trung Quốc liên quan đến đường lối đối ngoại trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay Với các đổi mới về đối ngoại được đề cập trong tác phẩm “Chiến lược Hiệp định Thương mại
Tự do của Trung Quốc” (được viết bởi Guoyou Song và Wen Jin Yuan – năm 2012) và “Tư duy mới của Trung Quốc về liên minh” (được viết bởi Feng Zhang – năm 2012), mục đích sâu xa của Trung Quốc đang tìm kiếm ở ACFTA được làm sáng tỏ Với những lập luận trong các bài nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu tìm
Trang 8kiếm các cứ liệu cụ thể để làm rõ những lợi ích và thách thức đối với Trung Quốc khi tham gia Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc.
Với những lập luận trong các bài nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu tìm kiếm các cứ liệu cụ thể để làm rõ những lợi ích và thách thức cho Trung Quốc khi tham gia Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc Trong các công trình
nghiên cứu trước đó, cuốn sách Trung Quốc sau khủng hoảng: Dưới con mắt các
nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế do Nguyễn Văn Nhã chủ biên và công
trình của Evelyn Goh mang tên “Rising Power To Do What? Evaluating
China’s Power in Southeast Asia” (2011), những lập luận về một kênh quyền lực chính trị mới của Trung Quốc – ACFTA được đề ra cùng với các cứ liệu cụ thể và
có tính thuyết phục cao Bên cạnh đó, với tác phẩm “China-ASEAN Free Trade Area: Origins, Development and Strategic Moivation” (2003) của Sheng Lijun, vai trò của ASEAN trong chiến lược khu vực hóa, kiềm chế Mỹ của Trung Quốc cũng được làm nổi bật Với các tác phẩm chính trên, cùng nhiều các tài liệu bổ trợ khác, bức tranh về một kênh quyền lực của Trung Quốc – ACFTA được phác họa chi tiết hơn
Mặt khác, việc nghiên cứu những tác động, ảnh hưởng tích cực và tiêu cựcđến nền kinh tế các quốc gia thành viên, mà đặc biệt là các quốc gia có trình độ phát triển thấp trong khu vực như Việt Nam là điều không thể bỏ qua Trong nước, tồn tại một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của ACFTA, có thể kể đến công trình của nhóm tác giả T.S Hồ Châu, T.S Nguyễn Hoàng Giáp và T.S
Nguyễn Thị Quế đồng chủ biên, có tên Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung
Quốc: Quá trình hình thành và phát triển”do nhà xuất bản Lý luận chính trị
(2006) in ấn Trong tác phẩm này, nhóm tác giả không những chỉ ra quá trình hình thành, đàm phán và lộ trình thực hiện của khu vực mậu dịch tự do ACFTA mà còn thể hiện những quan điểm của tác giả về những tác động về kinh tế mà ACFTA gây ra cho các quốc gia thành viên Ngoài ra, các học giả nước ngoài cũng có
Trang 9nhiều bài nghiên cứu về tình hình kinh tế khu vực ACFTA Điển hình là công trình nghiên cứu của “China-ASEAN FTA Changes ASEAN’s Perspective on China” hai học giả châu Á là Wang Yuzhu - Giáo sư Viện nghiên cứu Châu Á - Thái BìnhDương, Học viện Khoa học xã hội Trung Quốc và Sarah Y Tong - Nghiên cứu sinh tại Học viện Đông Á - Đại học Quốc gia Singapore Công trình nghiên cứu này chỉ ra những thuận lợi và bất lợi khi các quốc gia ASEAN tham gia vào ACFTA thông qua các số liệu kinh tế từ năm 2001 đến năm 2008, hai năm trước khi ACFTA bắt đầu có hiệu lực chính thức đối với các nước ASEAN 6 Ngoài ra còn một số bài viết nghiên cứu của các giáo sư đến từ phương Tây, ví dụ bài viết nghiên cứu “Hiệp định Trung Quốc - ASEAN (CAFTA): Nhiều hơn là cùng
thắng” Tuy từng bài nghiên cứu riêng lẻ này chỉ tập trung phân tích một nhóm đối
tượng nhất định nhưng các tài liệu trên bổ trợ thêm cho nhau, nhằm làm nổi bật tácđộng của ACFTA đến Trung Quốc và toàn bộ ASEAN
Như các quốc gia thành viên khác, Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi cũng như thách thức khi tham gia Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, đặc biệt là với những ảnh hưởng của Trung Quốc vào khu vực Hiện tại, vấn đề Việt Nam và các nước khác cần giải quyết “không phải là hủy bỏ hiệp định mà là vận động để quản lý tốt hơn và hưởng lợi từ nó”2 Trong tác phẩm Hướng tới chiến
lược FTA của Việt Nam cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á do TS Bùi Trường
Giang thực hiện năm 2010 có đề cập đến xu hướng chiến lược FTA của các quốc gia Đông Á, đánh giá triển vọng xu hướng FTA tại khu vực Đông Á và những hàm ý cho một chiến lược FTA của Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020 Bên cạnh đó, tác phẩm “Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm của Trung Quốc và những vấn
đề đặt ra cho Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Thu Phương đã đưa ra thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, thông qua đó phản ánh được
2
Hank Lim và Simom Tay, (12/5/2011), “Free trade: No pain, no gain”, Sigapore Institute of Internatioal Affairs, http://www.siiaonline.org/page/commentariesDetails/id/41/ArticleCategoryId/4#.Ux8eMD-SyM4
Trang 10những ảnh hưởng mà Trung Quốc có thể tác động đến Việt Nam thông qua ACFTA Đồng thời, bài viết của tác giả Trần Văn Thọ “Kinh tế Việt Nam trước sự trỗi dậy của Trung Quốc” cũng đưa ra những vấn đề khó khăn hiện nay và đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam trên con đường ACFTA nhiều thử thách và trongđối sách kinh tế với Trung Quốc Ngoài ra, còn có những bài nghiên cứu bổ sung như “FTA giữa Trung Quốc và ASEAN: Đặc biệt phân tích từ vị trí của Việt Nam” của Trần Văn Thọ và “Xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do song phương Đông Á và quan điểm tiếp cận của Việt Nam” do Vụ hợp tác kinh tế
đa phương thuộc Bộ Ngoại giao thực hiện Những tài liệu này hỗ trợ nhóm nghiên cứu trong việc phân tích thực trạng của Việt Nam trước những ảnh hưởng từ Trung Quốc khi tham gia ACFTA, đề xuất hướng đi cho Việt Nam nhằm tận dụng
cơ hội, tìm kiếm thêm nhiều lợi ích từ ACFTA và đồng thời có những động thái phù hợp trước những ảnh hưởng từ Trung Quốc
Nhìn chung, có rất nhiều tài liệu đề cập Hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, đặc biệt là khi Hiệp định này đang được tiến hành ký kết (2006) Tuy nhiên, những tài liệu đề cập đến thực trạng của ACFTA đa số là những bài nghiên cứu tạp chí Các bài nghiên cứu trong những năm gần đây về khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc mang tính riêng lẻ chỉ tập trung vào một vài đối tượng nhất định, chưa bao quát hết được toàn bộ vấn đề Vì vậy, tuy nhóm nghiên cứu có lợi thế về sự phong phú tài liệu cho đề tài ACFTA, nhóm cần biết chọn lọc tài liệu, tiếp thu và sắp xếp tài liệu hợp lý cũng như phân tích những số liệu kinh tế nhằm hệ thống nội dung đề tài và làm rõ những câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu
3 Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
Nhận thấy đề tài Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc có tính liên hệ trực tiếp đến Việt Nam, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài này nhằm
Trang 11tìm hiểu, phân tích và đưa ra cái nhìn toàn diện hơn về ACFTA, cũng như kênh quyền lực mà Trung Quốc đang sử dụng.
Để tìm hiểu sâu hơn về những lợi ích mà quốc gia này đạt được đồng thời xem xét tính chiến lược của ACFTA đối với Trung Quốc trong con đường trở thành cường quốc toàn cầu, đề tài sẽ tập trung giải quyết vấn đề trọng tâm:
“ACFTA đã đem lại những lợi ích gì về mặt kinh tế cũng như chính trị cho Trung Quốc? Đồng thời, cách Trung Quốc sử dụng ACFTA như kênh quyền lực trên con
đường phát triển của mình như thế nào?” Cụ thể hơn, để có thể giải quyết vấn đề
này một cách rõ ràng và thấu đáo, đề tài sẽ dựa trên những vấn đề sau:
- ACFTA đã đem lại lợi ích gì cho Trung Quốc, trên cả hai phương diện kinh
tế và chính trị?
- Vai trò của ASEAN trong chiến lược trở thành cường quốc thống trị khu
vực và có sức ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu?
- Thực trạng và kiến nghị cho Việt Nam trước chiến lược ACFTA của Trung
Quốc?
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Để có cái nhìn khách quan và đa chiều về đề tài nghiên cứu, nhiều phương pháp sẽ được áp dụng linh hoạt, hợp lý với từng nội dung phân tích đánh giá mà chủ yếu là các phương pháp sau:
đề thông qua dữ liệu, ngôn ngữ, văn bản
sánh vấn đề một cách rõ ràng, hệ thống để thấy được điểm khác biệt
Trang 12về tính chất, phương thức và chỉ ra những đặc điểm riêng biệt của vấnđề.
tính liên kết và chứng cứ khoa học cho vấn đề nghiên cứu
nhiều ngành khoa học như kinh tế, chính trị, xã hội, lý thuyết quan hệ quốc tế, để có lăng kính đa chiều, sáng tỏ về vấn đề nghiên cứu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách đối ngoại, nhất là trong lĩnh
vực kinh tế, những chiến lược chủ đạo của Trung Quốc Bên cạnh đó, đề tài còn nghiên cứu và phân tích tình hình quan hệ thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, thực trạng nền kinh tế của các nước này cũng như các hoạt động kinh tế - chính trị diễn ra trong khu vực Đông Á, cụ thể là Đông Nam Á
6 Đóng góp mới của đề tài:
Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu được đề ra Thông qua đó, đề tài sẽ cho ngừoi đọc cái nhìn cụ thể và toàn diện hơn về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc cũng như cách thức Trung Quốc sử dụng ACFTA như một kênh quyền lực Đề tài cũng mong muốn làm rõ vai trò của ASEAN trong chiến lược “phát triển hòa bình” của Trung Quốc Cuối cùng, dựa trên các kết quả nghiên cứu đã đạt được, nhóm nghiên cứu mong muốn đưa ra những kiến nghị cho Việt Nam trước chiến lược gây ảnh hưởng của Trung Quốc
Trang 137 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Bài nghiên cứu nhằm bước đầu nâng cao nhận thức của sinh viên về vấn đề kinh tế - chính trị quốc tế giữa các nước ASEAN và Trung Quốc nói chung và việc Trung Quốc sử dụng ACFTA như một công cụ chính trị nói riêng Bên cạnh đó, nhóm mong muốn thông qua đề tài này tạo nên nền tảng, tư liệu cho các bài viết tham khảo đăng trên các tạp chí, hay những công trình nghiên cứu về kinh tế - chính trị quốc tế, nghiên cứu về khu vực ASEAN và Trung Quốc, tiềm năng và những hướng phát triển tương lai mà Hiệp định ACFTA mang lại Đồng thời, đây còn có thể là nguồn tài liệu tham khảo, phục vụ cho các cá nhân tham gia quá trình học tập và giảng dạy các môn học thuộc chuyên ngành kinh tế - chính trị quốc tế của khoa Quan
hệ Quốc tế trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng và giới nghiên cứu quan hệ quốc tế tại Việt Nam nói chung
Chương II: ACFTA – Kênh quyền lực của Trung Quốc.
Những lợi ích trên các mặt kinh tế và chính trị mà Trung Quốc
có được khi tham gia vào ACFTA sẽ là nội dung chính trong chương này Đầu tiên,
Trang 14đề tài sẽ xem xét Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc dưới góc nhìn của các chủ nghĩa khác nhau như: chủ nghĩa Hiện thực, chủ nghĩa Hiện thực Tân cổ điển, chủ nghĩ Trọng thương, chủ nghĩa Dân tộc kinh tế Từ đó, người đọc sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về ACFTA Đồng thời, đề tài cũng sẽ phân tích những lợi ích về kinh tế và đặc biệt là về chính trị mà Trung Quốc
đạt được thông qua ACFTA nhằm hiểu rõ hơn những chiến lược mà Trung Quốc đã và đang đề ra
Kết thúc chương II, đề tài sẽ giải quyết được câu hỏi trọng tâm:
- ACFTA đã đem lại những lợi ích gì về mặt kinh tế cũng như chính trị
cho Trung Quốc?
khu vực và có sức ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu?
Chương III: Việt Nam và kênh quyền lực ACFTA của Trung Quốc:
Sự hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc đã gây ra nhiều thay đổi trong tình hình kinh tế khu vực Với sự phân bố lợi ích chưa đồng đều trong khu vực mậu dịch tự do này, một số nước đã có những phản ứng nhất định nhằm có được những lợi ích ngang bằng với các nước khác Từ đó, đề tài sẽ liên hệ với tình hình của Việt Nam và những khó khăn, thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt với vai trò là một thành viên của ACFTA, đặc biệt với sự lan rộng ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua
Hiệp định này Câu hỏi được đặt ra cho chương III: Thực trạng và kiến nghị
cho Việt Nam trước chiến lược ACFTA của Trung Quốc?
Chương IV: Kết luận.
Trang 15CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN – TRUNG
QUỐC (ACFTA) 1.1 Bối cảnh và lịch sử hình thành:
Với làn sóng toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ từ sau Chiến tranh Lạnh, các hiệp định tự do thương mại, tổ chức quốc tế - tài chính đa quốc gia cùng các khu vực mậu dịch tự do được xúc tiến theo nhiều cấp độ và quy mô khác nhau.Điển hình của các khu vực tự do mậu dịch lớn là Diễn đàn hợp tác Châu Á- TháiBình Dương (APEC), Khu vực tự do mậu dịch Bắc Mỹ (NAFTA)3 Bên cạnh đó, nhiều hiệp định tự do hóa thương mại song phương, đa phương khác cũng được kí kết trên toàn thế giới Vì vậy việc hình thành một khu vực mậu dịch tự do tại khu vực Đông Á cũng không là ngoại lệ
Việc hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc cũng là một trong những bước tiến mới trong việc hình thành một thể thống nhất Đông Á.Nhất thể hóa Đông Á đã là một mục tiêu của tổ chức khu vực ASEAN từ những ngày thành lập Sau nhiều nỗ lực, ASEAN đã từng bước đi đến mục tiêu này qua
sự thành lập AFTA (Khu vực mậu dịch tự do ASEAN), Khu vực đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA), ASEAN +1, ASEAN +3 tuy nhiên những bước đi của ASEAN vẫn có tiến độ khá chậm Chính vì thế là cả ASEAN và Trung Quốc đến với ACFTA với hy vọng sẽ thúc đẩy thêm tiến trình hình thành nhất thể Đông Á qua con đường mở rộng thương mại
ACFTA còn là yếu tố mới góp phần giữ gìn sự bình ổn của khu vực Châu Á– Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng Sau Chiến tranh Lạnh kết thúc, hòa bình được lập lại toàn Thế giới, nhưng điều này không đồng nghĩa các
Trang 16có những thành tựu đáng kể về mặt chính trị - ngoại giao nhưng các quốc gia vẫn muốn tăng cường mối sự liên kết, mối quan hệ qua các hoạt động kinh tế Tình hình kinh tế chính trị của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và ĐôngNam Á nói riêng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến các nước trong khu vực mà còn tác động các khu vực khác vì khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là nơi có hoạt động thương mại sôi động, có dòng chảy tư bản đổ về mạnh mẽ.
Quá trình hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là một quá trình dài Từ thập niên 1990, mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc bắt đầu phát triển mạnh mẽ Thương mại hai chiều ASEAN - Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng chứng tỏ tiềm năng hợp tác kinh tế khu vực Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 15% kể từ năm 1995 Đến năm 2002 đã nhảy vọt đến 31,7%,đạt 54,77 tỉ USD ASEAN trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của Trung Quốc.4 Đứng trước dòng chảy hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, Trung Quốc và các quốc giaĐông Nam Á nhận thấy tiềm năng và lợi ích của việc thành lập một sân chơi phi
thuế quan thương mại Tháng 09/2000 tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN và
Trung Quốc lần 4 tại Singapore đề xuất xây dựng ACFTA của Thủ tướng Trung
Quốc Chu Dung Cơ được lãnh đạo các nước ASEAN tán thành5 Đến tháng
11/2001, đề xuất về “Khuôn khổ hợp tác kinh tế”, thành lập ACFTA trong vòng
10 năm được thông qua và các bên tham gia tiến hành đàm phán tại Hội nghị các
Trang 17Sheng Lijun (2003), “China-ASEAN Free Trade Area: Origins, Developments and Strategic Motivation”,
International Politics & Security Issues, Series No.1, Institue of Southeast Asian Studies, tr.5
5
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, NXB Lý luận chính trị, tr.81
nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc lần thứ 5 ở Brunei Đến tháng 11/2002,
“Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện” giữa ASEAN và Trung Quốc được
kí kết và có hiệu lực chính thức từ ngày 1/7/2003, đánh dấu bước phát triển mới trong mối quan hệ hợp tác của hai bên Hai bên cam kết tăng cường và phát triển mối quan hệ kinh tế, thương mại, thực hiện tự do hóa thương mại và dịch vụ theo
lộ trình 10 năm Đến tháng 11/2004, Hiệp định thực hiện lộ trình thành lập
ACFTA được kí kết Theo đó, thuế hàng hóa giữa ASEAN và Trung Quốc bắt đầuđược cắt giảm từ năm 2005 và xóa bỏ hoàn toàn vào năm 2010 với các nước ASEAN 6 bao gồm Singapore, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippines, Thái Lan Đối với các nước mới gia nhập ASEAN là Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, lộ trình được kéo dài tới năm 2015.6
Trung Quốc nhìn nhận việc thành lập ACFTA là trong những bước quan trọng để phát triển kinh tế trong nước ASEAN sở hữu những tài nguyên, vật liệu
mà nền kinh tế Trung Quốc đang cần Không chỉ vậy, khu vực Đông Nam Á còn
là thị trường tiềm năng cho các nhà tư bản Trung Quốc vì nơi đây có dân số đông, khoảng cách địa lý không đáng ngại, có nhiều nét tương đồng về văn hóa và có lịch sử giao thương từ lâu đời Ngoài ra, Trung Quốc còn tìm đến Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc những mục đích chính trị khác Trung Quốc mong muốn thông qua ACFTA sự liên kết giữa các quốc thành viên thêm chặt chẽ, xóa bỏ dần hình ảnh một Trung Quốc tham vọng, bá quyền trong mắt bạn bè quốc tế và thay bằng hình ảnh của một quốc gia thân thiện, phát triển vì mục đích hòa bình Trung Quốc cũng mong chờ sự giao thương mạnh mẽ giữa mình và ASEAN sẽ là tiền đề để giải quyết các vấn đề về chính trị, ngoại giao Những nỗ lực thúc đẩy thành lập ACFTA của Trung Quốc cũng cho thấy mong muốn khẳngđịnh vị thế của mình trong công cuộc hình thành khối nhất thể Đông Á Một lý
Trang 18TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, NXB Lý luận chính trị, tr 83, 84, 85.
sâu xa khác là Trung Quốc lo ngại sức ảnh hưởng của Mỹ đến khu vực Châu Á –Thái Bình Dương sẽ ngày càng gia tăng, chính vì thế Trung Quốc muốn từng bước tăng sức ảnh hưởng của mình trong khu vực này thông qua các hoạt động hợp tác trên nhiều mặt, trong đó có ACFTA
Trong khi đó, mục đích chính yếu nhất của Tổ chức ASEAN trong việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc là phát triển kinh tế.ASEAN cũng nhận thấy Trung Quốc – quốc gia đông dân nhất thế giới, là một thị trường lớn và tiềm năng Sự giao thương thuận lợi giữa ASEAN và Trung Quốc sẽ tạo thêm nhiều cơ hội cho các nước thành viên của ASEAN phát triển kinh tế trong nước Tuy nhiên sự thành lập ACFTA của mang nhiều thách thức cho các nước thành viên ASEAN khi sự phát triển giữa các nước thành viên trong Tổ chức chưa thật sự đồng đều và sức cạnh tranh chưa đủ mạnh mẽ Ngoài mục đích về kinh tế, các nước thành viên ASEAN thành lập ACFTA vì những khác về mục tiêu chính trị Thứ nhất, ASEAN mong muốn tăng thêm tính liên kết giữa các nước tham gia Tổ chức ASEAN tuy có những thành tựu ngoại giao nhất định nhưng Tổ chức vẫn chưa được đánh giá cao về tính đoàn kết như các tổ chức khác trên Thế giới Thứ hai, thông qua những thành tựu mà Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc đạt được các nước tham gia có thể tìm ra giải pháp tốt nhất cho vấn
đề Biển Đông Theo tình trạng hiện tại, vấn đề Biển Đông vẫn chưa được giải quyết dù đã tồn tại từ rất lâu Mặc dù các nước liên quan đã thỏa thuận giữ nguyên trạng Biển Đông nhưng vẫn cần một hướng giải quyết triệt để hơn Thứ ba, ASEAN coi thành lập ACFTA như là một bước tiến mới trong nỗ lực khẳng định
vị thế của khu vực trong trường quốc
Tất cả các nước tham gia đều đến với Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc với những mục đích nhất định Chính những mục đích cụ thể của từng nước sẽ là động lực thúc đẩy hình thành ACFTA Tuy nhiên để thỏa mãn và dung
Trang 19hòa các mục tiêu trên mà không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia liên quan
là một thách thức đối với ACFTA
1.2 Hiệu lực và thành tựu đã đạt được:
Lộ trình thực hiện ACFTA cho thấy những nỗ lực tích cực từ cả hai phía ASEAN và Trung Quốc, hướng tới các mục tiêu được xác định
Về thương mại hàng hóa, cơ sở để tiến tới thiết lập ACFTA vào năm 2010
với ASEAN 6 và Trung Quốc; và vào năm 2015 đối với 4 nước thành viên ASEAN mới7 là các cuộc đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về hiệp định cắt giảm và loại bỏ thuế quan cũng như về các vấn đề khác như quy tắc xuất xứ, các biện pháp phi thuế quan, các biện pháp tự vệ trên cơ sở các nguyên tắc của GATT, vấn đề trợ cấp, chống bán phá giá và sở hữu trí tuệ… đã bắt đầu vào đầu năm 2003
và kết thúc vào cuối năm 2004 Đối với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, thờiđiểm cắt giảm bắt đầu từ năm 2005 và kết thúc vào năm 2010 với mức thuế suấtđối với phần lớn các mặt hàng là 0% Một số mặt hàng thuộc danh mục cắt giảm thông thường có thể duy trì mức thuế suất 5% vào năm 2010 và tiếp tục giảm xuống 0% vào năm 2012.8 Với 4 nước thành viên ASEAN mới, khoảng thời gian này là từ 01/01/2005 đến năm 2015 với mức thuế suất khởi điểm cao hơn và lịch trình cắt giảm khác biệt.9
Các mặt hàng nằm trong danh mục hàng nhạy cảm của mỗi bên do bên đó liệt kê và sẽ được khống chế mức trần về số lượng Với các nước ASEAN 6 và Trung Quốc, mức thuế suất ưu đãi tối huệ quốc (MFN) đối với các mặt hàng thuộc
7
Li Hong , Kang Peng (2002), “Zhongguo yu Dongmeng Xietong Fazhan de Lilun, Xianshi yu zhanwang”,
Theory, Reality and Outlook of the Coordinated Development of China and ASEAN, Dongnanya Zongheng
(Around Southeast Asia), no 7, 9-11
8
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006), Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.82-85
Trang 20danh mục hàng nhạy cảm có thể được duy trì đến năm 2010 và sẽ giảm xuống một mức nhất định trong khoảng từ 10-20%.
Về thương mại dịch vụ và đầu tư, các cuộc đàm phán nhằm từng bước tự do
hóa thương mại dịch vụ với phần lớn các lĩnh vực đang được tiến hành nhằm đi đến sự nhất trí trong các vấn đề: Thứ nhất là xóa bỏ từng bước về cơ bản toàn bộ các phân biệt đối xử giữa các bên, ngăn cấm đưa ra thêm các biện pháp phân biệtđối xử mới liên quan đến thương mại dịch vụ giữa các bên Thứ hai là việc mở rộng hơn mức độ và phạm vi tự do hóa thương mại dịch vụ so với những cam kết của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc theo Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ của WTO Đồng thời, các cuộc đàm phán còn hướng tới tăng cường hợp tác dịch vụ giữa các bên nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, cũng như nhằm đa dạng hóa việc cung cấp và phân phối dịch vụ của các nhà cung cấp dịch vụ tương ứng của các bên
Nhằm thúc đẩy việc thi hành Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện, ASEAN
và Trung Quốc đã nhất trí thực hiện Chương trình thu hoạch sớm (EHP) bắt đầu từ ngày 01/01/2004 đối với một số mặt hàng, mà trước hết là tập trung vào một số mặt hàng nông sản và công nghiệp Đối với các nước thành viên ASEAN đã gia nhập WTO và Trung Quốc kể từ ngày “Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện” có hiệu lực (01/07/2003), thì mức thuế suất MFN áp dụng sẽ là mức thuế suất MFN tương ứng áp dụng từ ngày 1-7-2003 Đối với các nước thành viên
ASEAN đến ngày 01/07/2003 chưa là thành viên WTO, thì mức thuế suất MFN áp dụng sẽ là mức thuế suất mà các nước này áp dụng cho Trung Quốc từ ngày 01/07/2003.10
Nhằm đẩy mạnh hơn nữa quan hệ song phương trong, ngoài lộ trình trên thì ASEAN và Trung Quốc còn cam kết nhanh chóng thực hiện một số hoạt động hợp
Trang 21TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006), Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.82-85
tác kinh tế khác.Việc triển khai các dự án về xây dựng đường sắt Singapore - Côn Minh và dự án đường cao tốc Bangkok - Côn Minh trong khuôn khổ hợp tác ASEAN về phát triển lưu vực sông Mê Kông (AMBDC) và Chương trình Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) nhanh chóng được đẩy mạnh.11 Tiếp theo là việc triển khai các kế hoạch trung và dài hạn đối với việc phát triển toàn diện GMS, triển khai Biên bản ghi nhớ về Hợp tác nông nghiệp đã được các bên kí kết vào cuối năm 2002, hoàn thành Biên bản Hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông Đồng thời, ASEAN và Trung Quốc còn triển khai các chương trình cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa hợp tác về phát triển nguồn nhân lực, sử dụng Quỹ hợp tác ASEAN - Trung Quốc và những nguồn khác…
Với một lộ trình khá rõ ràng và hàng loạt những thỏa thuận đạt được nhằm thực hiện tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, đặc biệt việc các bên thực hiện EHP đã bước đầu tạo ra môi trường thuận lợi thúc đẩy sự hợp tác, liên kết một cách năng động giữa ASEAN và Trung Quốc hiện nay cũng như trong tương lai Việc dỡ bỏ các rào cản thương mại theo thỏa thuận đạt được giữa hai bên chắc chắn sẽ góp phần quan trọng làm giảm chi phí và làm tăng hiệu quả kinh
tế, đồng thời tạo ra một cơ chế hỗ trợ sự ổn định kinh tế trong nội bộ vùng Điều
đó không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi bên mà còn tăng cường trọng lượng tiếng nói của ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề thương mại quốc tế, cũng như các vấn đề cùng chung mối quan tâm của cả hai bên trong cục diện quốc tế
11
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006), Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.94
Trang 22CHƯƠNG II ACFTA – KÊNH QUYỀN LỰC CỦA TRUNG QUỐC
2.1 Xem xét ACFTA dưới góc nhìn các lý thuyết:
Trong nghiên cứu, tồn tại nhiều tư tưởng và quan điểm khác nhau về hợp tác kinh tế Trong khi chủ nghĩa Tự do, trong nền kinh tế chính trị quốc tế, khuyến khích hợp tác kinh tế giữa các quốc gia, các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa Hiện thực, chủ nghĩa Trọng thương và chủ nghĩa Dân tộc kinh tế lại có các góc nhìn khác
Trong chủ nghĩa Hiện thực - “chính trị quyền lực” (power politics) và chủ nghĩa Dân tộc kinh tế, quyền lực được xem là mục tiêu cuối cùng của các chính sách đối ngoại Chính vì thế các mục tiêu kinh tế chỉ là yếu tố phụ nhằm phục vụ cho các mục tiêu chính trị
Với những điểm tương đồng với các giả định chủ nghĩa Trọng thương và chủ nghĩa Dân tộc kinh tế, kinh tế - chính trị quốc tế nhìn dưới góc nhìn của chủ nghĩa Hiện thực được phản ánh rất rõ Thứ nhất, lợi ích quốc gia luôn bao gồm lợi ích chính trị và lợi ích kinh tế Theo chủ nghĩa Dân tộc kinh tế, về lâu dài, các quốc gia sẽ theo
đuổi đồng thời hai mục tiêu là sự giàu có và quyền lực “Của cải và quyền lực đều là
ngắn hạn, dưới tác động của nhiều yếu tố, một quốc gia có thể xem xét tính ưu tiên
cho một trong hai mục tiêu chính trên Có thể nói yếu tố chính trị và yếu tố kinh tế luôn song hành nhau và không thể tách rời Không chỉ thế, những người theo chủ nghĩa Trọng thương hay theo chủ nghĩa Dân tộc kinh tế
12
Jacob Viner, "Power and Plenty as Objectives of Foreign Policy in the Seventheenth and
Eighteenth Centuries", World Politics, Vol 1, No 1 (Oct.), tr.7.
Trang 23luôn đề cao các yếu tố kinh tế trong nỗ lực tự bảo vệ và thiết lập trạng thái an ninh của mỗi quốc gia.
Với lập trường tương tự, chủ nghĩa Hiện thực tân cổ điển cho rằng việc hình thành phạm vi và mục đích của chính sách đối ngoại của một quốc gia là sự kết hợp
chặt chẽ các yếu tố trong và ngoài nước “Các yếu tố trong nước như tư tưởng kinh
tế, chính trị, đặc tính quốc gia, chính trị, đảng phái hay cấu trúc kinh tế - xã hội sẽ
Vì thế, một trong những mục tiêu đó chính là đạt được một vị thế nào đó trong khuôn khổ một mô hình quyền lực mang tính hệ thống bằng mọi cách
Trong trường hợp của Trung Quốc, việc quốc gia này thành lập nhiều Khu vực mậu dịch tự do (FTA) với các nước trong và ngoài khu vực cho thấy chính sách “Ngoại giao thương mại” của Trung Quốc đang dần được triển khai để có thể trở thành một quốc gia thống trị trong khu vực
Thứ hai, theo chủ nghĩa Hiện thực, nền kinh tế thế giới là một môi trường các quốc gia phải cạnh tranh với nhau để tìm cách tối đa hóa sức mạnh (lợi thế cạnh tranh) và quyền lực của mình Quốc gia có lợi thế cạnh tranh cao hơn sẽ đạtđược quyền lực lớn hơn và từ đó sẽ gây được ảnh hưởng và chi phối các quốc gia khác để đạt được mục đích chính trị của mình Như Thucydides đã từng đề cập
“kẻ mạnh làm tất cả những gì mình có thể, kẻ yếu phải chịu đựng tất cả những gì
mà họ phải chịu” 14 Nền tảng cho quan điểm này chính là lập luận môi trường
quốc tế là môi trường vô chính phủ Trong hệ tư tưởng của các nhà Hiện thực tấn công cũng từng nhận định hệ thống quốc tế đang ở trong một tình trạng vô chính phủ hỗn mang, vì thế an ninh là khan hiếm và các quốc gia muốn đạt được an ninh phải cố gắng tối đa hóa những lợi thế của họ Theo nhà Hiện thực tân cổ điển
13
Gideon Rose (1998), “Neoclassical Realism and Theories of Foreign Policy”, World Politics, Vol
51, No 1 (Oct.), tr.149
14
Robert B.Strassler, ed, The landmark Thucydides: A comprehensive Guide to the Peloponnesian War
(New York Free Press, 1996), 5.89
Trang 24Wohlforth, khái niệm “quyền lực” trong hệ thống này nên được dùng để chỉ những khả năng hoặc nguồn lực mà các quốc gia sử dụng để gây ảnh hưởng đối với nhau Tuy nhiên, quy chiếu vào chủ nghĩa Trọng thương, quyền lực của một quốc gia
được nhìn nhận là sự được và mất tuyệt đối Từ đó ta có thể thấy, đấu trường tranh
giành quyền lực giữa các quốc gia luôn có tính cạnh tranh cao
Trong khuôn khổ hợp tác ACFTA, Trung Quốc có một lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn hẳn so với các nước ASEAN với nền kinh tế phát triển ngày càng mạnh và bền vững.Trung Quốc cố gắng tối ưu hóa quyền lực kinh tế có được để đạt các mục đích chính trị của mình như: cùng với các FTA khác trong khu vực góp phần đối trọng với Mỹ và Nhật tại Châu Á – Thái Bình Dương, đạt được những thuận lợi nhất định khi đàm phán với các nước ASEAN về các xung đột và tranh chấp lãnh thổ trong khu vực, có được ảnh hưởng nhất định và là người đưa
ra các qui tắc và các giới hạn đối với các vấn đề diễn ra tại khu vực… Một ví dụđiển hình có thể tham khảo là việc Trung Quốc sử dụng FTA với Đài Loan như một công cụ hiệu quả để tăng cường hình thành bản sắc chính trị “một Trung Quốc”, và để hạn chế các phong trào đòi độc lập
Thứ ba, các nhà Hiện thực, nhà Trọng thương và nhà Dân tộc kinh tế cho rằng lý thuyết tổng bằng không luôn được áp dụng trong cả lĩnh vực kinh tế lẫn chính trị Theo lý thuyết, các quốc gia có thể đạt được quyền lực bằng cách làm suy yếu quyền lực của các quốc gia khác Vì thế, việc đạt được lợi ích thương mại của một quốc gia sẽ đi kèm với sự mất mát của một quốc gia khác Bên cạnh đó, các quốc gia có lí trí muốn theo đuổi an ninh sẽ có xu hướng thực hiện những hànhđộng có thể dẫn đến mâu thuẫn với các quốc gia khác Do đó, với thực trạng hợp tác kinh tế chỉ là trạng thái ngắn hạn, cạnh tranh, xung đột kinh tế là điều không thể tránh khỏi và không thể đạt được trạng thái dung hòa lợi ích giữa các quốc gia.Tương tự với ý tưởng trên, các nhà Dân tộc kinh tế đưa ra một viễn cảnh khi các quốc gia đã đạt được biên giới vỗn dĩ của mình, họ sẽ “đóng” biên giới, tiêu giảm
Trang 25nền kinh tế hướng ngoại, tiến hành chính sách kinh tế tự cung tự cấp Trong quá trình tìm kiếm biên giới vỗn dĩ, một quốc gia vẫn sẽ giao thương sẽ nhưng chỉ trong ngắn hạn.
Không chỉ là cho rằng hợp tác kinh tế chỉ là trạng thái ngắn hạn, nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa Hiện thực hay Trọng Thương còn cho rằng tính phụ thuộc lẫn nhau không phải lúc nào cũng cân xứng Chính vì thế, cần kìm hãm rủi ro do sự phục thuộc lẫn nhau ở mức thấp nhất Vì đối với các nhà nghiên cứu, lệ thuộc vào các đối tác nước ngoài, đặc biệt là trên lĩnh vực tài nguyên chiến lược, luôn mang lại rủi ro an ninh không thể chấp nhận được
Với lý thuyết này, xem xét cụ thể hành động hiện nay của Trung Quốc, ta
có thế thấy Trung Quốc đang nhắm vào mục tiêu giảm thiểu tối đa những rủi ro do
sự phụ thuộc gây ra Bên cạnh những hành động thô bạo như đưa ra “đường lưỡi bò”, Trung Quốc dành mối quan tâm đặc biệt đến các quốc gia xuất khẩu nguyên liệu thô và nhiên liệu cho mình, trong đó có cả những nỗ lực hợp tác và giúp đỡ kinh tế Khó có thể nói những hành động trên chỉ là sự trùng hợp Vậy nên
ACFTA cũng có thể đang là một trong những yếu tố quan trọng trong nỗ lực giảm tối thiểu các rủi ro do sự phụ thuộc
Mặt khác, vì lợi ích quốc gia là mục tiêu hàng đầu và cũng là mục tiêu hướng của chính sách các nước nên việc xảy ra mâu thuẫn về lợi ích là tất yếu Về vấn đề này có thể được nhìn rõ thông qua việc Trung Quốc xuất khẩu các hàng gia dụng và các sản phẩm điện tử ở mức trung bình sang các nước ASEAN mà đặc biệt là các nước thuộc nhóm kém phát triển hơn Trong khi đó, Trung Quốc lại nhập khẩu các hàng cao cấp và các nguyên nhiên liệu thô từ các nước ASEAN với mức thuế quan đã được ưu đãi như qui định Trong khi đó, với lợi thế cạnh tranh vốn có của mình, Trung Quốc có thể làm hạn chế quyền lực các nước ASEAN với khả năng tự cung tự cấp trong những ngành công nghiệp nội địa làm cho các
Trang 26doanh nghiệp nước ngoài có khả năng cạnh tranh kém hơn Điển hình như việc hầu hết các nước ASEAN hiện nay, đặc biệt là Việt Nam, đang ở trong tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc và có thể có những ngành sẽ bị mất thị phần tại thị trường nội địa do hàng hóa từ các nước tham gia hiệp định mà đặc biệt là từ Trung Quốc.
Thứ tư, theo Fareed Zakaria trong tác phẩm From Wealth to Power của
mình, ông cho rằng cách hành xử của một quốc gia xuất phát từ xu hướng các quốc gia này tùy ý sử dụng những công cụ của mình để đạt được khả năng kiểm
soát môi trường bên ngoài Theo đó, các quốc gia “nỗ lực để tăng cường khả năng
kiểm soát đối với môi trường bên ngoài một quốc gia giàu có hơn, quyền lực hơn sẽ lựa chọn những lợi ích và an ninh lớn hơn so với các quốc gia ít giàu có
Models of Asia Pacific Security”, Friedberg cũng đã viết:
“Những cường quốc nổi lên nhanh chóng lúc nào cũng là những kẻ gây chuyện vì họ phải miễn cưỡng chấp nhận các thể chế,
sự phân chia biên giới, và những thứ bậc của uy tín chính trị đã
được đặt ra khi họ còn đang trong giai đoạn yếu kém trước kia
Những cường quốc đang nổi lên tìm cách thay đổi, và trong nhiều
trường hợp để lật đổ nguyên trạng và để thiết lập một sự sắp xếp
mới phản ánh chính xác hơn quan niệm riêng của họ về vị trí của
Trang 27trò then chốt trong chính sách “trỗi dậy hòa bình”17 của Trung Quốc Chính sách này chính là một phần giải pháp cho sự phát triển của Trung Quốc Để thực thiđược chính sách “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc cần có một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định, tránh xung đột với các quốc gia khác Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng việc tham gia vào các FTA sẽ phát huy thương mại, đảm bảo an ninh và góp phần làm giới hạn quyền lực của Mỹ Đây còn là một biện pháp đểTrung Quốc làm giảm sự lo ngại của các nước trong khu vực, đặc biệt là nhóm nước ASEAN, trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế từ thập niên 90, để cho các quốc gia thấy rằng sự phát triển của Trung Quốc cũng là cơ hội phát triển cho các nước ASEAN Từ đó, Trung Quốc càng có thể ngày một tham gia, tìm cách gây ảnh hưởng và chi phối các hoạt động trong khu vực.
Trái ngược hoàn toàn với tư tưởng của chủ nghĩa Tự do kinh tế, các nhà Hiện thực, nhà Trọng thương và nhà Dân tộc kinh tế đưa ra những quan điểm mới
về kinh tế Thứ nhất, kinh tế và chính trị luôn song hành cũng nhau Thứ hai, các quốc gia luôn phải cạnh tranh để tối đa hóa sức mạnh (lợi thế cạnh tranh) và quyền lực của mình Thứ ba, lý thuyết tổng bằng không luôn đúng trên cả lĩnh vực kinh
tế lẫn chính trị Thứ tư, hành xử của một nước là biểu hiện bên ngoài của chiến lược quốc gia với mục tiêu kiểm soát môi trường bên ngoài Dựa trên các lý thuyết trên, có thể thấy mục tiêu hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc không chỉ đơn thuần là mục tiêu phát triển kinh tế
17
Theo các tác giả Hiền Lương – Đỗ Thủy trong bài viết “Những điều chỉnh trong chiến lược an ninh Đông Á của Trung Quốc sau chiến tranh lạnh” được in trong tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 1(64) tháng 03/2006: Khái niệm “trỗi dậy hòa bình” chỉ sự phát triển của bản thân, dựa vào thực lực, sức mạnh của bản thân trên cơ sở lợi dụng thời cơ, bối cảnh quốc tế; là một quá trình phát triển lâu dài, lấy phát triển kinh tế làm cơ bản; là một quá trình phát triển hòa bình, không xảy ra chiến tranh mang tính hệ thống, khác hẳn với sự trỗi dậy của các cường quốc trước kia thường đi liền với sự thách thức và phá vỡ trật tự cục diện hiện thời “Trỗi dậy hòa bình” còn là một chiến lược lâu dài, với chất xúc tác là quá trình toàn cầu hóa, để phát triển kinh tế và nâng cao quyền lực và vị thế của Trung Quốc.
Trang 282.2 Kênh quyền lực của Trung Quốc thông qua việc hình thành ACFTA:
2.2.1 Kênh quyền lực của Trung Quốc:
Kể từ phong trào “cải cách và mở cửa” từ cuối những năm 1970, TrungQuốc vẫn luôn xem Châu Á như khu vực chiến lược trọng tâm để thi hành những
chính sách khu vực “Trung Quốc đã bắt đầu tuyên truyền nhiều sáng kiến ngoại
giao như “cường quốc có trách nhiệm”, “khái niệm an ninh mới”, “sự trỗi dậy và phát triển hòa bình” và “thế giới hòa hợp”, và kèm theo đó là “chính sách láng
giềng tốt” để hỗ trợ các sáng kiến này”18 Với tốc độ phát triển kinh tế nhanh
chóng, Trung Quốc dần được xem là một quyền lực mới nổi trong khu vực và trên thế giới Quyền lực Trung Quốc đang nắm giữ bao gồm những quyền lực gì và cách thức mà Trung Quốc sử dụng những quyền lực đó như thế nào để gây ảnh hưởng lên các nước trong khu vực luôn là trọng tâm nghiên cứu của các học giả Cách thức thực thi quyền lực của các cường quốc trên thế giới thường được tiến hành theo ba phạm trù: thứ nhất là sự cưỡng chế, hoặc những hành động ép buộc các chủ thể khác làm theo ý muốn của họ bằng cách đưa ra những dấu hiệu cho thấy những hậu quả nếu như không tuân theo; thứ hai là sự dẫn dụ, hoặc khiến cho các chủ thể khác hành động theo hướng họ muốn bằng cách đưa ra những phần thưởng; cuối cùng là thuyết phục, trong đó các cường quốc thuyết phục những chủ thể khác là việc làm theo ý muốn của họ cũng chính là một cách đạt lợi ích tốt nhất của chính các chủ thể đó19 Trong trường hợp của Trung Quốc, những trường hợp nghiên cứu cụ thể trong bảng sau thể hiện cách thức mà quốc gia này sử dụng quyền lực của mình
18
Young Nam Cho & Jong Ho Jeong (2008), “China’s Soft Power: Discussions, Resources, and Prospects”,
Asian Survey, Vol 48, No.3 (May/June), tr.456.
19
Roderick Martin (1977), The Sociology of Power, London: Routledge & Kegan Paul.
Trang 29Tiềm Tiềm
năng để năng
quyền đợi
lực
Khai thác vịtrí cấu trúc để
phục
quả tập thể cóchủ đích
Trang 30Bảo đảm lợiích cá nhân và
Tình trạng
ưu tiên được
khác
Sự trỗi dậy của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á có thể dễ dàng nhận biết bởi sự bất cân xứng về quyền lực giữa Trung Quốc và 10 nước láng giềng nhỏ hơn, có tiềm năng quân sự thấp hơn, dân số ít hơn và sự phát triển kinh tế kém hơn Về mặt kinh tế, Trung Quốc đã có sự ảnh hưởng đáng kể lên các quốc gia trong khu vực Sự trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN
ngày càng phát triển mạnh mẽ dù sự trao đổi này là không cân xứng “Sự thâm hụt
thương mại của ASEAN với Trung Quốc tăng 6 lần từ năm 2000 – 2008, trong khi
đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc vượt qua mức đầu tư của Trung Quốc vào
từ cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khu vực Đông Nam Á đã phải đối mặt với sự trỗi dậy của Trung Quốc và các chính sách của quốc gia này cũng như nhiều lần xung đột quân sự, đặc biệt là trên khu vực Biển Đông Sự bất cân xứng về quyền lực có thể dẫn đến việc sử dụng quyền lực cưỡng chế là một lựa chọn có hiệu quả
Trang 31Tuy nhiên, Trung Quốc đã chọn việc dẫn dụ và thuyết phục đối với quá trình gâyảnh hưởng lên khu vực Đông Nam Á thông qua con đường tham gia vào ACFTA.
2.2.2 ACFTA – Kênh quyền lực kinh tế của Trung Quốc:
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc trong thập niên 1990 khiến thế giới lo ngại Kể từ khi tiến hành mở cửa thị trường những năm 1978 - 1979, kinh tế Trung Quốc có những bước phát triển thần kì, vượt bậc Trong thập niên đầu thế kỉ 21, tốc
độ tăng trưởng trung bình của quốc gia này lên đến 10% và trở thành nước có tốc độ tăng trưởng bình quân GDP cao nhất thế giới.22 Đồng thời đến năm
2010, ước tính Trung Quốc đạt 10,4% và đóng góp một phần không nhỏ trong tổng thương mại toàn thế giới.23 Với việc gia nhập WTO, Trung Quốc bước vào sân chơi lớn và đối mặt với các thách thức và vấn đề phát sinh từ lộ trình cắt giảm thuế quan thương mại như sức ép cạnh tranh ở thị trường khác và các vấn đề chính trị - xã hội Các ngành công nghiệp nội địa của quốc gia này gặp khó khăn khi hàng rào thuế quan hạ thấp Điển hình, quy luật “chọn lọc tự nhiên” diễn ra gay gắt với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài
Với tiền đề và tiến trình hợp lý, ACFTA mang lại lợi ích không nhỏ cho các quốc gia thành viên là các ASEAN và Trung Quốc và trở thành một sân chơi thương mại lớn trong khu vực Châu Á Được thành lập từ năm 1967, hiện tại ASEAN đã khẳng định vị thế của mình là một tổ chức lớn mạnh trong khu vựcĐông Nam Á nói riêng và Châu Á - Thái Bình Dương nói chung với vai trò quan trọng trong cục diện đa nguyên hóa trên thế giới Các quốc gia trong Hiệp hội trong tiến trình hội nhập có mối quan hệ mật thiết với nhau trong nhiều lĩnh vực về
an ninh, kinh tế, văn hóa, chính trị Tính đến nay, ASEAN đã có những nỗ lực của mình nhằm tăng cường phát triển kinh tế xã hội khu vực đứng trước xu hướng
Trang 32toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, việc hợp tác với các quốc gia khác hình thành các khu vực mậu dịch tự do là thiết yếu Từ những năm 1990, tốc độ tăng trưởng ngoại thương của cả ASEAN và Trung Quốc đều tăng cao Mối quan hệ thương mại hai chiều của ASEAN - Trung Quốc phát triển nhanh chóng, đạt mức tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm từ 1991- 2009 Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vàoASEAN tăng từ 4,1 tỉ USD năm 1991 lên tới 175 tỉ USD.24 Tuy nhiên, do tính bấtđối xứng về vị thế và trình độ phát triển giữa các quốc gia, các nước ASEAN cần phải xem xét khả năng Trung Quốc sử dụng ACFTA như một kênh quyền lực kinh
tế Trình độ phát triển và cấu trúc nền kinh tế của các quốc gia ASEAN và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Chính vì thế, bên cạnh những thuận lợi nhất định,
sự cạnh tranh là không thể tránh khỏi
Bảng 1: Kim ngạch thương mại ASEAN với các đối tác tính theo phần
Mohamed Aslam, “The impac of ASEAN- China Free Trade Area Agreement on ASEAN’s
Manufacturing Industry”, International Journal of China Studies Vol.3 No 1 April 2012, tr.46
Trang 33Nguồn: ASEAN Statistical YearBook 2012
Đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, tiến trình hội nhập kinh tế khu vực với ASEAN thông qua ACFTA không những là cơ hội làm sâu sắc mối quan hệ kinh tế của cả hai bên mà còn là một kênh quyền lực kinh tế Trung Quốc cần đẩy mạnh phát triển vùng Tây Nam để thu hẹp khoảng cách của vùng duyên hải, việc tiếp cận ASEAN để mở rộng mậu dịch giữa các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây với Thái Lan và các nước ASEAN thông qua việc hợp tác tiểu vùng sông Mekong là thực sự cần thiết Chính vì thế Trung Quốc, bằng việc thúc đẩy tăng trưởng nhập khẩu từ ASEAN dưới sự điều chỉnh của FTA, tin rằng kinh tế ASEAN sẽ phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc từ đó tạo lực đòn bẩy giúp ích nước này trong các mối quan hệ song phương.25 Với lợi thế so sánh của mình, nền kinh tế Trung Quốc khiến các nước thành viên ASEAN đề phòng ASEAN lo sợ hàng hóa trong nước không có khả năng cạnh tranh với hàng hóa Trung Quốc vì
25
Wang Yuzhu, Sarah Y Tong, “China- ASEAN FTA changes ASEAN’s Perspective on China”.
Trang 34chênh lệch về giá cả Các nước ASEAN khó tránh khỏi tình trạng thất nghiệp, các nhà máy đóng cửa và các ngành công nghiệp địa phương bị phá sản dưới sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp Trung Quốc Để có sự chuẩn bị tốt, các quốc gia ASEAN có những bước chuẩn bị thông qua các lộ trình đặc biệt cho các ngành công nghiệp dễ tổn thương của mình Điển hình như Indonesia đã yêu cầu kéo dài hai năm trì hoãn việc giảm thuế 228 mặt hàng, còn với Thái Lan là kéo dài thời gian trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là ngành nấu bia và dệt may.
Không thể phủ nhận rằng, khi tham gia vào ACFTA, lợi ích từ việc cắt giảm thuế là đáng kể Cơ hội này không những thúc đẩy tăng trưởng thương mại nội vùng mà còn thu hút đầu tư vào khu vực Nếu trước đây quan hệ mậu dịch của
cả Trung Quốc và ASEAN phụ thuộc vào các nước phương Tây thì hiện nay, kim ngạch thương mại nội vùng đang dần cải thiện Theo kế hoạch, ACFTA hoàn thành trong vòng 10 năm từ 2001 - 2010 đối với nhóm nước ASEAN phát triển.Các nước cam kết mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư sớm hơn 5 năm, bắt đầu từ ngày 01/01/2005 và hoàn thành vào năm 2010.26 Để khuyến khích các nước
ASEAN thúc đẩy xây dựng FTA với mình, Trung Quốc có đề ra chương trình Thu hoạch sớm (EHP) kéo dài 3 năm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nước ASEAN thông qua việc cắt giảm thuế quan đối với các mặt hàng nông sản và hàng tiêu dùng sản xuất trong khối Đến năm 2004, các nước ASEAN 6 và Trung Quốc giữ mức thuế suất không quá 10% đối với các mặt hàng EHP.27 Tới ngày 01/01/2010, Khu vực Mậu dịch ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) chính thức có hiệu lực đối với nhóm nước ASEAN 6, hình thành khu vực thương mại tự do lớn thứ ba thế giới, sau khi Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do Bắc
Mỹ (NAFTA)
26
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006), Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng ,Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.117-
118
27
TS Hồ Châu, TS Nguyễn Hoàng Giáp, TS Nguyễn Thị Quế (đồng chủ biên) (2006), Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN – Trung Quốc: Quá trình hình thành và triển vọng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, tr.119
Trang 35Với vị thế và tốc độ phát triển của mình, việc Trung Quốc dùng ACFTA để tạo dựng một kênh quyền lực kinh tế hướng các nước ASEAN phụ thuộc vào mình
là điều khó tránh khỏi Câu hỏi về sự đồng đều lợi ích cho các bên tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc cần được nghiên cứu Vì trong các mối quan hệ bất cân xứng về trình độ phát triển, các quốc gia có trình độ phát triển thấp không thể bảo vệ được quyền lợi tuyệt đối của mình Và ASEAN không phải
là ngoại lệ trong mối quan hệ kinh tế - thương mại song phương với Trung Quốc Việc Trung Quốc sử dụng ACFTA như một kênh quyền lực kinh tế nhằm đạt được những lợi ích của mình sẽ được chứng minh thông qua mối quan hệ kinh tế giữa nước này với các nhóm nước ASEAN Do sự chênh lệch trình độ phát triển kinh tế giữa các nước nội khối ASEAN, những ảnh hưởng khi Trung Quốc sử dụng ACFTA như một kênh quyền lực cần được nghiên cứu thông qua ảnh hưởng của Trung Quốc tới hai nhóm nước được chia theo trình độ phát triển là ASEAN 6 (bao gồm Singapore, Malaysia, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Brunei) và ASEAN 4 (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar)
2.2.2.1 Đối với ASEAN 6:
ASEAN 6 với mối lo ngại “sân sau” của Trung Quốc:
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, Trung Quốc phát triển các ngành hàng hóa đòi hỏi kĩ thuật thấp lẫn nền công nghiệp công nghệ cao Đối với các quốc gia ASEAN 6, cấu trúc và trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia này có nhiều nét tương đồng với Trung Quốc Các nước ASEAN 6 không thể phủ nhận tầm quan trọng của mối quan hệ thương mại mà ACFTA mang lại Tuy nhiên khi Trung Quốc sử dụng ACFTA như một kênh quyền lực kinh tế, các quốc gia ASEAN phải đề phòng và có những kế hoạch, dự án cải thiện môi trường kinh
tế nội khối Điều này đã dẫn đến một mối lo ngại về viễn cảnh ASEAN sẽ trở thành “sân sau” của Trung Quốc
Trang 36Mặc dù thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã tăng trung bình mỗi năm khoảng 30% trong giai đoạn 2001 đến 2008, thương mại song phương TrungQuốc - ASEAN chỉ có vai trò là một phần phụ trong thương mại tổng thể của các bên Trong năm 2009, thương mại với ASEAN chiếm ít hơn 10%, trong khi Trung Quốc chỉ góp vào 11% tổng thương mại của ASEAN Điều này một phần là do thị trường tiêu dùng trong khu vực còn kém phát triển trong khi Trung Quốc và nhiều nước thành viên ASEAN tiếp tục cạnh tranh trong cuộc đua xuất khẩu hàng hóa sang các nước tiên tiến như Mỹ và EU.28 Có thể nhận thấy, Trung Quốc lợi dụng nguồn nguyên liệu dồi dào từ các nước ASEAN để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế của mình Các nước Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan là những nước có nguồn tài nguyên dồi dào và đây là sản phẩm xuất khẩu chính của các nước này vào thị trường Trung Quốc giai đoạn đầu những năm 1990 Đến giữa những năm 2000, phần lớn xuất khẩu của các nước này là các sản phẩm công nghệ thông tin (ICT) Sự bổ sung, bù trừ trong mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN 6 cũng đã làm gia tăng thương mại nhanh chóng của máy móc thiết bị Ví dụ như xuất khẩu điện máy và thiết bị chiếm 54% xuất khẩu của
Malaysia đến Trung Quốc trong năm 2008 Tương tự, thiết bị điện tử và các bộ phận máy móc thiết bị cộng chiếm 45% tổng nhập khẩu của Malaysia từ Trung Quốc.29 Tuy nhiên sản phẩm của các nước ASEAN 6 bị hạn chế bởi kích thước của nền kinh tế
Phát triển thương mại và đầu tư trong khu vực thông qua ACFTA là nền tảng cho sự tăng cường mạng lưới sản xuất xuyên biên giới Và Trung Quốc đã vận dụng rất hiệu quả bước đi này để thúc đẩy nền kinh tế của mình Thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các sản phẩm sản xuất Bảng 2 và 3 cho thấy trong 10 nhóm hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu giữa
Trang 37các nước ASEAN 6 và Trung Quốc vào năm 2003, gần một nửa các sản phẩm có cùng loại Trong khi Trung Quốc nhập từ ASEAN hầu hết các mặt hàng bao gồm nguyên liệu thô, nước này xuất sang ASEAN các sản phẩm kĩ thuật cao Nhờ những nguồn nguyên liệu giá rẻ và nguồn nhân công dồi dào từ các nước ASEAN, nền kinh tế Trung Quốc đã vượt qua những quốc gia khác vươn lên vị trí thứ hai Thế giới sau Mỹ với tổng lượng xuất khẩu hơn xấp xỉ 1,2 tỉ USD Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu lớn nhất thế giới năm 2009 và đồng thời trở thành nơi sản xuất ô tô và thép lớn nhất thế giới Thương mại nội ngành chiếm một phần lớn của
tỉ trọng thương mại Trung Quốc – ASEAN mà đặc biệt là ngành buôn bán sản xuất vật liệu, phụ tùng và linh kiện Trên thực tế hơn ½ các nước ASEAN xuất khẩu những sản phẩm máy móc thiết bị cơ khí, thiết bị điện và các phụ kiện cho các sản phẩm (58% trong quý đầu tiên của năm 2009) 10% tỉ trọng nhập khẩu từ ASEAN của Trung Quốc là khoáng sản.30
Có thể nói Trung Quốc đã phát huy tối đa nguồn lợi của mình khi tham gia vào ACFTA, một cuộc chơi mà chính Trung Quốc là phía nắm thế chủ động Các nước ASEAN 6 tuy có trình độ phát triển cao hơn nhóm nước ASEAN còn lại, nhưng không thể so sánh với một Trung Quốc đang lên với tốc độ phát triển kinh
tế mạnh mẽ
Bảng 2: Cấu trúc sản phẩm ASEAN 6 nhập khẩu từ Trung Quốc năm
2003 (tỉ USD) STT Sản phẩm - hàng hóa (theo chuẩn SITC) Giá trị Phần trăm
Trang 382 Thiết bị điện và linh kiện điện tử 3,93 13,28
3 Thiết bị liên lạc và ghi âm, thiết bị tái sản xuất 2,77 9,35
linh kiện
4 Dầu mỏ và các sản phẩm từ dầu mỏ và các 2,41 8,15
nguyên liệu liên quan
7 Máy móc công nghiệp nói chung và bộ phận thiết 1,11 3,75
bị máy móc
Nguồn: China’s General Administration of Customs, 2003
Bảng 3: Cấu trúc sản phẩm Trung Quốc nhập khẩu từ ASEAN 6 năm
2003 (tỉ USD) Xếp Sản phẩm - hàng hóa (theo chuẩn SITC) Giá trị Phần trăm hạng
1 Thiết bị điện và linh kiện điện tử 15,39 32.88
Trang 392 Máy móc văn phòng và các máy móc dữ liệu tự 6,94 14.83
động
3 Dầu mỏ, các sản phẩm từ dầu mỏ và các nguyên 4,81 10.28
liệu liên quan
6 Chất béo thực vật tinh luyện và dầu chưa tinh 1,58 3.38
Nguồn: China’s General Administration of Customs, 2003
Cân bằng mậu dịch có lợi cho Trung Quốc:
Sau hai năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực trong khu vực ASEAN 6 (1/1/2010), nền kinh tế Trung Quốc và các nước ASEAN 6 bị tác động bởi những
yếu tố nhất định Theo Phó Tổng thư ký ASEAN Pushpannathan, “cân bằng mậu
dịch có lợi cho Trung Quốc dựa trên các dữ liệu 3 năm gần đây, nhưng đang giảm
Trang 40xuống Thâm hụt mậu dịch 21,7 tỷ USD trong năm 2008, đã giảm xuống 15 tỷ năm
Nguồn: ASEAN Statistical Yearbook 2012
Trong khi đó, các nước ASEAN 6 đang ở trong tình trạng gia tăng thâm hụt mậu trong quan hệ thương mại với Trung Quốc; đặc biệt, thâm hụt mậu dịch diễn
ra nặng nề nhất với Indonesia Năm 2004, khi các quy định của ACFTA chưa được thực hiện, Indonesia có thặng dư mậu dịch với Trung Quốc là 195 triệu
USD Năm 2005, thặng dư mậu dịch tiếp tục tăng lên 819 triệu USD Tính đến năm 2006, Indonesia được lợi 1,7 tỷ USD từ quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.Năm 2007, sau khi cắt giảm thuế vòng thứ hai, thặng dư mậu dịch của quốc gia
31
PGS TS Nguyễn Thu Mỹ (2012), “Tác động của ACFTA đối với ASEAN 6 sau hai năm thực hiện”,
Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6(130), tr.39.