Do đó, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống dân tộc nói chung và chuẩn mực về đạo lý làm người nói riêng là một trong những nhi
Trang 1*************
NGUYỄN THANH THUỲ TRANG
QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60220301
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trịnh Doãn Chính Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Ngày… tháng… năm 2016
Tác giả
NGUYỄN THANH THUỲ TRANG
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Trang 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 12
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 12
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 12
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 12
7 Kết cấu của luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 14
1.1 Những nhân tố tác động đến sự hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 14
1.1.1 Điều kiện của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX với sự hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 14
1.1.2 Tiền đề lý luận hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 33
1.2 Quá trình hình thành và phát triển quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 59
1.2.1 Nguyễn Đình Chiểu - thân thế và sự nghiệp 59
1.2.2 Các giai đoạn phát triển chủ yếu trong quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 66
Trang 42.1 Khái niệm đạo làm người và nội dung trong quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 81 2.1.1 Khái niệm “đạo làm người” 81 2.1.2 Nội dung quan niệm về đạo làm người trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu 89 2.2 Đặc điểm và giá trị lịch sử trong quan niệm về đạo làm người trong tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu 127
2.2.1 Đặc điểm trong quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu 127 2.2.2 Ý nghĩa lịch sử trong quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình
Chiểu 141
PHẦN KẾT LUẬN 158 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn lịch sử của nhân loại và Việt Nam đã khẳng định một chân lý: bất kỳ
xã hội nào muốn tồn tại, phát triển bền vững thì xã hội đó cần phải có sự phát triển, tiến bộ hài hoà cả về kinh tế, chính trị lẫn văn hoá xã hội Do vậy, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội còn cần phải phát triển cả về văn hoá Trong đó có đạo đức, luân lý hay nói khác hơn đó chính là đạo làm người Với tư tưởng đó, ở nước ta, trong quá trình đổi mới để xây dựng Việt Nam trở thành một nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [23; tr 99], Đảng và Nhà nước không những hướng mục tiêu trọng tâm nhằm đạt được sự phát triển về kinh tế, khoa học - công nghệ, xây dựng
và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, củng cố an ninh - quốc phòng, đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế,… mà còn phải giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Bởi lẽ, văn hoá cùng những giá trị tinh thần vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế - xã hội và vừa giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân
cách, đạo đức con người
Nhận thức được điều đó, cũng như mọi dân tộc khác, Việt Nam luôn coi trọng việc gìn giữ, truyền thụ những nét đẹp trong văn hoá truyền thống nói chung và giáo dục đạo đức, đạo làm người nói riêng cho các thế hệ Trong quá trình tồn tại, phát triển của mình, nhân dân ta đã phải chống chọi với những hiểm họa của thiên nhiên và nạn ngoại xâm từ thời hình thành quốc gia, dân tộc Nó đòi hỏi phải huy động cả sức mạnh vật chất lẫn tinh thần Sức mạnh tinh thần ấy cũng hàm chứa cả đạo đức - hiện thân của lòng yêu nước, thương người, thuỷ chung, gắn bó,… mới khiến cho mọi gian khó phải lui bước Chính vì thế, Việt Nam đã hình thành nên một truyền thống đáng tự hào là quý trọng đạo đức và trong đó luôn đề cao đạo lý làm người Và trên hành trình tiếp nối lịch sử của dân tộc, Hồ Chí Minh cũng luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục đạo đức con người Người cho rằng giáo dục đạo đức chính là chuyển văn hoá đạo đức của xã hội thành văn hoá đạo đức cá nhân sao cho có nhu cầu và tình cảm đạo đức, thành ý chí và động cơ cá nhân, thành năng lực sáng tạo và khả năng đánh giá đạo đức của mỗi người Đối với Người, công việc này phải tiến hành thường xuyên, bền bỉ
Trang 6và mọi lúc, mọi nơi; phải coi đó là công việc chung của mọi người Chính vì thế, Người luôn tâm niệm “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà” [72; tr 222] Những công dân tốt, cán bộ tốt đó tất nhiên phải hội đủ cả tài năng
và đạo đức để phục vụ xã hội Trên tinh thần đó, trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đề ra những mục tiêu, phương hướng cho sự nghiệp giáo dục đạo đức con người, đó là: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam [21; tr 106] để mỗi cá nhân đều có tinh thần “giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân
chính [22; tr 76 - 77]
Nhìn lại chặng đường đã qua và hôm nay của đất nước, công cuộc đổi mới, hội nhập đã từng bước đưa Việt Nam vươn lên và đạt được nhiều thành tựu to lớn, đáng tự hào trên các lĩnh vực đời sống xã hội như: nó giúp chúng ta chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu, kế thừa những thành tựu, tri thức khoa học, phương pháp quản lý và tổ chức kinh tế - xã hội; có cơ hội giao thoa với các nền văn hoá phong phú trong thế giới; giúp tôi luyện con người Việt Nam trở nên năng động, sáng tạo, bản lĩnh,… Hơn nữa, “Chỉ số phát triển con người không ngừng tăng lên… Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của nhân dân” [22; tr 154 - 155] Từ đó, nó thúc đẩy
sự phát triển kinh tế, chính trị, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân ta nhưng cũng chính nó đang ngày càng bộc lộ ra nhiều mặt trái gây nên sự phương hại đến các chuẩn mực, bản sắc văn hoá dân tộc làm tác động tiêu cực đến tình cảm, nhận thức con người, sự phai mờ lý tưởng, suy thoái đạo đức và nhất là chưa có quan niệm đúng đắn về vấn đề cốt lõi là giáo dục con người Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta lại gặp phải áp lực từ nhiều mặt trong sự nghiệp giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ như hiện nay Như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nhận định: “Môi trường văn hoá bị
Trang 7xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của những sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại” [22; tr 169] và “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” [22; tr 313] Bên cạnh đó, phải kể đến sự sút kém về vai trò, hiệu quả của giáo dục gia đình đang diễn ra do tác động của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá mà đa số các gia đình Việt Nam chưa thích nghi kịp thời, nhanh chóng làm sụt giảm “sức đề kháng” trước sự “ô nhiễm” từ bên ngoài, khó ngăn chặn mọi tiêu cực từ phía xã hội gây nên sự kiềm hãm khả năng phát triển toàn diện của con người Chính trong gia đình, những mối quan hệ giữa vợ - chồng, cha - con,… ngày càng mất dần sự chặt chẽ, nề nếp; tình cảm chưa được bồi dưỡng sâu sắc; nhất là thiếu niên ngày càng mất đi ý thức tích cực trong việc đòi hỏi quá nhiều quyền lợi, vật chất mà sao lãng trách nhiệm, nghĩa vụ Hơn nữa, song song với nhiệm vụ giáo dục đạo đức của gia đình là giáo dục đạo đức trong nhà trường mang tính hệ thống, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành ý thức và nhân cách con người cũng chưa bắt kịp với xu thế mới Đáng tiếc thay, cả một thời gian dài do nỗi ám ảnh về sự lạc hậu khoa học, kỹ thuật, tri thức nên nhà trường hoặc bỏ quên hoặc quá xem nhẹ môn học đạo đức Các giờ học đạo đức chỉ đơn thuần mang tính hình thức, sơ sài, nặng về lý thuyết dẫn đến thiếu hiệu quả Gần đây, do hồi chuông cảnh báo của toàn xã hội nên tình trạng đó đã được khắc phục đáng kể Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, dư âm cũ đã để lại ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành niềm tin, thái độ sống đúng đắn và thậm chí làm băng
hoại đạo đức, suy thoái đạo làm người trong thanh, thiếu niên hiện nay
Do đó, cùng với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, việc bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống dân tộc nói chung và chuẩn mực về đạo lý làm người nói riêng là một trong những nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách ở giai đoạn hiện nay, vừa
có tính chiến lược lâu dài cho việc phát huy nhân tố con người; như Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Khoá VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo về phương hướng, nhiệm vụ xây dựng văn hoá dân tộc: “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan
Trang 8dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong đời sống” [20; tr 56] Để từ đó, lối sống của người Việt Nam ngày càng hình thành một cách tích cực và bản sắc văn hoá truyền thống của cha
ông truyền lại sẽ được phát huy tốt đẹp
Truyền thống tư tưởng của người Việt vốn đi sâu vào triết lý nhân sinh và trở thành một bộ phận của nền văn hoá Việt Nam Nó phản ánh rõ nét trang sử đau thương nhưng hào hùng của dân tộc Đặc biệt là vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, nhân dân
ta đã chứng kiến sự bất lực, suy tàn và phản động của triều đình nhà Nguyễn cùng với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Trong thời gian này, nhiều nhân vật lịch
sử và đồng thời cũng là nhà tư tưởng đã nêu cao tinh thần yêu nước, thương dân, khí tiết, nhân nghĩa, Trong đó, nổi bật nhất là quan niệm về đạo làm người của Nguyễn
Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu là nhà văn - nhà thơ và cũng chính là lá cờ đầu của nền văn học Việt Nam yêu nước cuối thế kỷ XIX Đồng thời, ông cũng là một nhà tư tưởng, một nhà đạo đức có tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với nhân dân Việt Nam nói chung và đồng bào Nam Bộ nói riêng Sự nghiệp sáng tác của ông không những phản ánh rõ nét tình hình xã hội lúc bấy giờ mà còn ngời sáng cả hai phương diện đạo và đời Ở Nguyễn Đình Chiểu, nét đẹp về tinh thần bất khuất, chống giặc ngoại xâm, lòng yêu nước, thương dân, vằng vặc nhân nghĩa luôn ngời sáng Hoà vào không khí đánh giặc cứu nước của dân tộc, ông đã dùng ngòi bút của mình để nêu cao ý chí đấu tranh, bất hợp tác với kẻ thù và kêu gọi nhân dân kháng chiến chống Pháp Từng áng văn, vần thơ của ông là nỗi đau xót trước cảnh chiến tranh loạn lạc và sự hy sinh oanh liệt của những nghĩa quân, các anh hùng cứu nước; đồng thời, đó cũng là lời ca ngợi những chiến công hiển hách của nhân dân lao động Không những thế, Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành một biểu tượng đẹp của nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc và là hình ảnh đại diện cho người Việt Nam bởi lối sống trọng tình người, trọng đạo lý, yêu ghét phân minh, khẳng khái, không màng lợi danh, bất chấp khó khăn, gian khổ, dũng cảm đối mặt với kẻ thù, sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá nhân để phục vụ cho lợi ích dân tộc Chính vì thế, “Từ cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu toát ra mấy nguyên lý của một đạo làm người vừa có ý nghĩa giai đoạn, vừa mang tính chất truyền thống” [36; tr 6]
Trang 9Nguyễn Đình Chiểu không phải là nhà triết học cũng như không có những học thuyết nghiên cứu về tư tưởng và “không viết một quyển sách nào riêng về đạo đức luân lý, nhưng trước nay chưa có một nhà đạo đức luân lý nào, chưa có một bậc phụ huynh nào phản đối hay ngần ngại việc cho thanh niên, cho con em đọc các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu; trái lại các thế hệ trước đây cũng như các thế hệ cách mạng
và kháng chiến sau này đều nhất trí xem cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu làm tấm gương sáng Nguyễn Đình Chiểu phải là người phát ngôn của một đạo làm người, đạo làm người Việt Nam được đánh giá là mẫu mực” [36; tr 4] Bởi lẽ, Nguyễn Đình Chiểu đã nêu rõ sự sa sút của những giá trị đạo đức, những phong tục tập quán trong buổi chiến tranh, suy tàn và của cả thời giao lưu văn hoá Đông - Tây ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX Bên cạnh đó, ông đã làm nổi bật lên tiêu chuẩn đúng đắn về đạo làm người, về triết lý nhân sinh - vốn là sự tiếp nối, phát triển truyền thống yêu nước của dân tộc Do vậy, nghiên cứu đạo làm người của ông là góp phần tìm hiểu những quan niệm về con người, về đạo làm người tiến bộ của một nhà đạo đức, nhà văn hoá lớn nhằm hướng tới xây dựng bản sắc và con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Với mục đích đó, đề tài “Quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu”
đã được chọn làm thành luận văn thạc sĩ triết học này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Với một tấm lòng nhiệt huyết không ngại khó khăn gian khổ, Nguyễn Đình Chiểu đã dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp văn chương cho nhiệm vụ cao cả: vì dân,
vì nước Tên tuổi của ông luôn là niềm tự hào của văn hoá, văn học dân tộc Ở một vị thế rất đáng trân trọng đó, Nguyễn Đình Chiểu được tập trung tìm hiểu, khảo cứu trên nhiều lĩnh vực, khía cạnh khác nhau Cho đến nay, người ta đã thống kê được hàng trăm công trình, bài viết, hàng chục tập sách nghiên cứu về Nguyễn đình Chiểu nói chung và đạo làm người nói riêng Có thể khái quát tất cả những công trình nghiên cứu của các tác giả về Nguyễn Đình Chiểu theo ba chủ đề chính sau:
Chủ đề thứ nhất, đó là các đề tài nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu Về chủ đề này, ta phải kể đến các tác phẩm như: Tiểu
sử cụ Đồ Chiểu của tác giả Mai Huỳnh Hoa (Báo Tân Văn, Sài Gòn, số 27, ngày 16
tháng 2 năm 1935), Thân thế và sự nghiệp Nguyễn Đình Chiểu được viết bởi Ca Văn
Trang 10Thỉnh (Đại Việt tạp chí, Sài Gòn, số 19, ngày 16 tháng 7 năm 1943) Cả hai bài viết đã trình bày nhiều sự kiện, diễn biến trọng tâm, nổi bật trong thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu một cách hệ thống, rõ ràng Nhưng bài viết chứa nhiều sự kiện
nhất về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu có thể kể đến là phần in trên đầu tập Ngư tiều
vấn đáp y thuật của Phan Văn Hùm (Tân Việt xuất bản, Sài Gòn, 1952)
Tiếp theo, nói về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu còn có Thư
mục và tài liệu về ông in trong tập Mấy vấn đề về cuộc đời thơ văn Nguyễn Đình Chiểu
của Viện văn học (Nxb Khoa học xã hội, in lần thứ 2, năm 1969) thống kê được trước Cách mạng tháng Tám có 24 bài báo và công trình viết về Nguyễn Đình Chiểu Ngoài
ra còn nhiều tiểu luận, bài tựa in trên đầu các tác phẩm của ông Tất nhiên, nhiều bài báo về Nguyễn Đình Chiểu vẫn chưa được ghi vào Thư mục trên Từ sau Cách mạng tháng Tám đến tháng 2 năm 1967, Thư mục được ghi thêm 39 bài báo ở miền Bắc,…
Bên cạnh đó, nghiên cứu về chủ đề này còn có Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu
trong văn học Việt Nam được viết bởi Vũ Khiêu (Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 455, ngày
30 tháng 6 năm 1972) Tác giả đã đưa ra những nhận định xác đáng về vị trí cũng như góp phần làm sáng tỏ sự đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu đối với nền văn học nước
nhà Và đặc biệt là bài viết “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, một trong những bài văn hay
nhất trong văn học Việt Nam của Hoài Thanh (Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 455 ngày 30
tháng 6 năm 1972) đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ về Nguyễn Đình Chiểu khi ông có cách nhìn đầy yêu thương, kính phục đối với người nông dân
Từ sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hàng loạt các công bố mang
tính mới mẻ về tác phẩm của ông, tiêu biểu như: Văn chương của Nguyễn Đình Chiểu được viết bởi Nguyễn Đình Chú (Tuần báo Văn nghệ, Hà Nội, 10 - 1975); Một bản
Nôm “Dương Từ - Hà Mậu” mới tìm thấy là sự phát hiện của Cao Hữu Lạng (Tạp chí
Văn học, Hà Nội, số 6, 1977); Thêm một bản “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” mới sưu
tầm được của Vương Hồng Sến (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 2, năm 1979),…
Nhưng công trình nghiên cứu nổi bật và đồ sộ nhất về thân thế, cuộc đời và tác
phẩm của ông phải kể đến là Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, bao gồm hai tập do Ca Văn
Thỉnh chủ biên (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, tập I: 1980, tập II: 1982) Ngoài lời nói đầu và Phàm lệ, công trình nghiên cứu tập trung thể hiện ba phần
Trang 11chính Trước hết là nêu lên những dữ kiện chính xác về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu Tiếp theo là sưu tầm, chú giải một cách tỉ mỉ nguồn gốc, văn bản của các tác phẩm và cuối cùng là phần phụ lục rõ ràng Các tác giả đã nhận xét và đánh giá rất sâu sắc về giá trị to lớn của người khởi xướng cho dòng văn học yêu nước Nam
Bộ - Nguyễn Đình Chiểu Nhóm nghiên cứu đã làm nổi bật nội dung của từng phần
“theo ý đồ tư tưởng nghệ thuật của tác giả, hiểu được mục đích tính, khuynh hướng tính của tác phẩm để rồi cuối cùng tái hiện lại một cách tổng quát các giai đoạn của quá trình lao động đó dưới hình thức một văn bản minh xác thoả đáng… trình bày văn bản theo những yêu cầu đó của khoa văn bản học, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu hiện nay của các trường đại học và của nhân dân ta hiện nay đối với nhà thơ đã có một lòng tin vĩ đại vào quần chúng nhân dân - ngọn cờ tiên khu của dòng văn học yêu nước trong thời cận đại” [102; tr 7 - 8] Từ đó, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu được toả sáng bởi lòng nồng nàn yêu nước, đạo đức nhân nghĩa kiên trung, kết tinh ý chí, nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
Có thể nói, các công trình trên đều không phải là chuyên đề hoàn chỉnh về Nguyễn Đình Chiểu mà đó chỉ là từng khía cạnh khác nhau và đôi khi có mặt trùng lặp
về các sự kiện lớn trong cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của ông Ngoài ra, riêng về phần nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, nhiều tác giả còn đóng góp rất nhiều bài viết và nghiên cứu khác Nhưng nhìn trên một phương diện tổng thể, các tác phẩm của ông mang đậm chất thơ văn yêu nước tiêu biểu và thể hiện quan điểm, tư tưởng của bậc sĩ phu Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Chủ đề thứ hai, đó là những công trình nghiên cứu về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu Bài viết đáng được quan tâm trước tiên trong chủ đề này là Đức
trung, tiết, nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu của E Hoeffel (Đại Việt tạp chí, Sài Gòn, số
19, ngày 16 - 7 - 1943) Tác giả đã nhận định Nguyễn Đình Chiểu không những là một danh nhân văn hoá tài ba mà thông qua các tác phẩm của mình, ông còn truyền thụ cho các thế hệ sau những lời giáo huấn, những câu chuyện về đạo đức, tấm gương ngời
sáng nhằm giúp ích cho việc vãn hồi luân lý Kế đến là bài viết Theo Vân Tiên tìm Đồ
Chiểu được viết bởi Hải Đường - Chim Hải Yến (Tập kỷ yếu Hội Khuyến học, Sài
Gòn, Janvier 1949) đã phân tích, làm nổi bật rõ nét hình ảnh, quan niệm về đạo làm
Trang 12người của Nguyễn Đình Chiểu thông qua nhân vật chính diện Ông đã phác hoạ nên chân dung Lục Vân Tiên mang đặc điểm nổi bật ở tính cách nghĩa hiệp, lối sống trọn tình vẹn nghĩa, ân oán phân minh,… trong một xã hội đang suy thoái Nghiên cứu về
đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu còn có hàng loạt các bài viết như: Nhà thơ yêu
nước miền Nam, tác giả là Vũ Đình Liên (Nxb Minh Đức - Thời đại, Hà Nội, 1955); Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ yêu nước lớn nửa cuối thế kỷ XIX được viết bởi Nguyễn
Huệ Chi (Báo Tiền phong, Hà Nội, ngày 3 tháng 7 năm 1963),… Các bài viết đều bày
tỏ sự kính trọng và ca ngợi lòng yêu nước, tính dân tộc được thể hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu Qua đó, ta còn nhận thấy tư tưởng yêu nước của ông được biểu hiện qua thái độ, hành động cụ thể như: việc bất hợp tác với Pháp, giương cao ngọn cờ đấu tranh giành độc lập và sát cánh cùng nhân dân trong cuộc kháng chiến của dân tộc
Cũng thuộc chủ đề này, hai bài báo góp phần làm nổi bật quan niệm của ông về
đạo làm người là Nhân nghĩa trong văn chương Nguyễn Đình Chiểu của Trần Văn Giàu (Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 10, ngày 5 tháng 7 năm 1963) và Văn thơ Nguyễn
Đình Chiểu, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam được
viết bởi Hoài Thanh (Nhân dân, Hà Nội, ngày 6 tháng 7 năm 1963) Hai bài viết gắn liền với hai tên tuổi nổi tiếng Thứ nhất là Trần Văn Giàu - nhà nghiên cứu về mặt tư tưởng Thứ hai là Hoài Thanh - nhà phê bình lý luận văn học nổi tiếng Từ đó, các tác giả đã đóng góp rất lớn cho việc nhận định sâu sắc hơn về Nguyễn Đình Chiểu ở một mặt chung là đạo đức làm người
Trong bài viết Thử xác định nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh
hùng của Nguyễn Đình Chiểu, tác giả Nguyễn Đổng Chi (Tạp chí nghiên cứu lịch sử,
Hà Nội, số 145, 1972) không những làm rõ nguồn gốc, quá trình hình thành, đặc điểm chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu mà còn khẳng định chủ nghĩa yêu nước, đạo làm người yêu nước chính là một trong những nhân tố góp phần hình thành nên chủ nghĩa anh hùng đích thực Như tác giả đã từng nhận định “Phò đời giúp nước hay giúp dân chống kẻ áp bức, cứu nước khỏi nạn ngoại xâm luôn là nhiệm vụ của người anh hùng Nhiệm vụ ấy không phải là lý thuyết suông mà phải là hành động thực sự” [100; tr 189]
Trang 13Ngoài ra, còn có các bài viết về khía cạnh nhân sinh, đạo làm người của Nguyễn
Đình Chiểu, đáng chú ý là: trong bộ sưu tầm Nguyễn Đình Chiểu, tấm gương yêu nước
và lao động nghệ thuật của Viện Văn học (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1973) có hai
bài viết Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước - tác giả Nguyễn Đình Chú và
Cái nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu và tấm lòng, ý chí Việt Nam được viết bởi Nguyễn
Trung Hiếu; hai bài báo “Tâm đạo” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu do Mai Huỳnh Hoa viết (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4, 1982) và Tính nhân dân của Nguyễn Đình
Chiểu, tác giả Phan Ngọc (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4, 1982)
Đặc biệt, tiếp theo các công trình trên, không thể không kể đến một tác phẩm
được dày công nghiên cứu vô cùng công phu, tỉ mỉ và xuất sắc là Đạo làm người từ Lý
Thường Kiệt đến Hồ Chí Minh của Trần Văn Giàu (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
2006) đã góp phần to lớn trong việc nghiên cứu về đạo làm người trong truyền thống của dân tộc Việt Nam từ thời dựng nước, giữ nước thông qua tư tưởng chủ yếu của người Việt cổ còn mang nặng màu sắc thần thoại, truyền thuyết đến giai đoạn các triều đại phong kiến và xuyên suốt làm nền tảng vững chắc cho đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện đại Trong đó, tác giả đã có phần kết luận viết riêng về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu rằng: “Cách mạng và kháng chiến đã thực hiện hoài vọng lớn của Nguyễn Đình Chiểu, một phần cũng vì các chiến sĩ yêu nước thời đại đã thực hiện đạo làm người của cụ” [38; tr 337]
Chủ đề thứ ba, đó là những công trình đánh giá về thơ văn, tư tưởng nói chung và quan niệm đạo làm người nói riêng của Nguyễn Đình Chiểu Với chủ đề
này, ta phải kể đến các bài báo có đóng góp nhiều nhận xét sâu sắc như: Nhân dân tính
trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu của Hoàng Tuệ (Tập san Đại học Sư phạm, Hà Nội,
số 2, tháng 7 - 1955); Mấy cảm nghĩ về cụ Đồ Chiểu: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng
tà” - tác giả Xuân Diệu (Báo Thống nhất, Hà Nội, số 314, ngày 28 tháng 6 năm 1963); Nguyễn Đình Chiểu - một tấm lòng yêu nước, một nhà thơ lớn được viết bởi Bảo Định
Giang (Tuần báo Văn nghệ, Hà Nội, số 10, 5 - 7 - 1963); Các tác giả tuy đưa ra những nhận xét, đánh giá về các khía cạnh khác nhau trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu nhưng tựu trung đều khẳng định Nguyễn Đình Chiểu là một nhà nho chứa chan lòng yêu nước, thương dân, sống trong thời kỳ suy tàn, ảm đạm của lịch sử Việt Nam
Trang 14cuối thế kỷ XIX và không thể trực tiếp cầm súng đánh giặc cứu nước nhưng ông đã chọn cách hành đạo để giúp đời thông qua việc dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn, truyền đạt tư tưởng một cách nhiệt tình, sôi nổi, không quản ngại gian lao, khổ cực
Cũng thuộc chủ đề này, trong bài viết Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu
của Trần Văn Giàu (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 1, 1963), Nguyễn Đình Chiểu đã trở thành mẫu người đầu tiên được tác giả chọn để trong tâm trí và hết long kính phục như lời nhận định rằng: “Đáng phục là, đui mù rồi, vẫn không thối chí nản lòng, không phục tùng số mệnh, lại quyết tâm học thuốc, làm thầy thuốc thật giỏi không phải để mình sống mà để giúp đời Đã đui mù rồi vẫn kiên trì viết sách, làm thơ, không phải để lấy tiếng mà để truyền bá nhân nghĩa, về vũ tiết tháo Chí ấy quý lắm, chí làm người có ích cho dân, cho nước” [38; tr 355] Vì thế, nội dung tư tưởng ấy đã trở thành hòn ngọc trong văn chương và cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu Đó cũng chính là điều khiến các cho thế hệ vẫn say mê đọc các tác phẩm mộc mạc, giản dị của ông
Ngoài ra, trong nghiên cứu và đánh giá về ông, còn có bài viết Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc - tác giả là Phạm Văn Đồng (Tạp chí Văn
học, Hà Nội, số 1, 7 - 1963) Cố thủ tướng đã ví Nguyễn Đình Chiểu như một vì sao mang một ánh sáng khác thường trong “khúc ca hoành tráng của phong trào yêu nước chống bọn thực dân xâm lược Pháp lúc chúng đến bờ cõi nước ta cách đây một trăm năm… tác phẩm là những trang bất hủ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân
ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu lúc chúng đặt chân lên đất nước chúng ta” [24; tr 98] “Tóm lại Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng của văn học, nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá, tư tưởng” [24; tr 104]
Đánh giá về tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu còn có nhiều bài viết, nghiên cứu, đánh giá rất cao về thơ văn, tư tưởng nói chung và quan niệm đạo làm người nói riêng
của ông, chẳng hạn như: Con người toàn diện của Nguyễn Đình Chiểu được viết bởi Thu Giang - Nguyễn Duy Cần (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 133, 1971); Nguyễn Đình
Chiểu - một nhà thơ lớn yêu nước chống xâm lăng, một tấm gương kiên trung bất khuất do Hà Huy Giáp viết (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4, tháng 7 và 8 - 1972); Bài
Trang 15học sống, chiến đấu và sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu - tác giả là Hà
Huy Giáp ( Báo Nhân dân, 5 - 7 - 1972); Nguyễn Đình Chiểu và những người cầm bút
thành thị của Thạch Phương (Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 4, tháng 7 và 8 - 1972); hai
bài viết Sự vận dụng Nho giáo trên lập trường nhân dân của Nguyễn Đình Chiểu và
Quan điểm triết học trong y học và chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được
viết bởi Nguyễn Đức Sự (Thông báo Triết học, Hà Nội, số 24, 1972); Nguyễn Đình
Chiểu trong cuộc đời của Thạch Phương (Ty văn hoá và thông tin, Bến Tre, 1982);…
Thông qua các bài viết trên, cả cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu đã được làm nổi bật bởi một phương châm sống, đó là: dù ở hoàn cảnh hay lĩnh vực nào ông cũng dốc lòng tâm nguyện đem chí bình sinh thực thi một đạo lớn - đạo làm người, một nghĩa lớn - phò chính trừ tà Thông qua cuộc đời cũng như tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu, ta nhìn thấy là sự đúc kết, chiêm nghiệm sâu xa về đạo lý, bộc bạch nỗi lòng, khát vọng của con người và nỗi đau mất nước đến tận cùng
Nối tiếp mạch tư tưởng của chủ đề, trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu với văn
hoá Việt Nam - tác giả Cao Tự Thanh và Huỳnh Ngọc Trảng (Sở Văn hoá - Thông tin
Long An, 1983), thông qua Lời giới thiệu, Trần Văn Giàu đã khẳng định “Nguyễn Đình Chiểu sở dĩ trở thành một nhân vật văn hoá lớn của dân tộc chính là vì Cụ hợp nhất mục đích sáng tác với mục đích sống, mục đích ấy là độc lập tự do, danh dự của dân tộc, là làm người có ích cho đời, cho dân” [94; tr 5]
Nhìn trên phương diện tổng thể, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu tuy còn hạn chế về số lượng và thất lạc các thông tin, bài viết về ông Song, chất lượng của những bài viết ấy hoàn toàn đáng cho ta trân trọng và là nền tảng, tiền đề để góp phần làm rõ được thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu Như đã nêu trên, những nghiên cứu về ông chỉ đa số là những bài báo, bài viết nằm rời rạc mà ít tác phẩm tựu trung, in thành sách như Nguyễn Đình Chiểu Toàn tập Vậy, dựa trên các đóng góp của người đi trước, luận văn sẽ nghiên cứu một cách
có hệ thống các vấn đề điều kiện lịch sử, nội dung và đặc điểm của đạo làm người, sự phát triển đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu qua các giai đoạn cụ thể để làm nổi bật lên ý nghĩa lịch sử của nó
Trang 163 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn:
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là từ sự trình bày, phân tích và hệ thống hoá nội dung, các đặc điểm chủ yếu về quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu, luận văn nhằm rút ra giá trị lịch sử trong quan niệm về đạo làm người của ông đối với sự nghiệp đào tạo, giáo dục, rèn luyện đạo đức và phát triển toàn diện con người Việt Nam hiện nay Trong đó, đặc biệt nhất là đạo lý làm người
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn, ba nhiệm vụ cần được hoàn thành là:
Thứ nhất, trình bày và phân tích cơ sở xã hội, tiền đề lý luận, quá trình hình
thành, phát triển quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu
Thứ hai, trình bày, phân tích, hệ thống hoá những nội dung cơ bản trong quan
niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu
Thứ ba, rút ra những đặc điểm và giá trị lịch sử trong quan niệm về đạo làm
người của Nguyễn Đình Chiểu
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề đạo đức làm người
Về phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, đối chiếu và so sánh, logic và lịch sử,…
để nghiên cứu và trình bày luận văn
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn được xác định phạm vi nghiên cứu là tập trung vào quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu trên bình diện triết học về đạo đức làm người
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu trên các phương diện: vai trò, vị trí, bản chất con người
Trang 17Từ đó, luận văn góp phần làm rõ nội dung, đặc điểm, giá trị của đạo đức làm người
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để giáo dục chủ nghĩa yêu nước, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, phát huy văn hoá truyền thống, đoàn kết dân tộc thông qua việc vận dụng những triết lý, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu
Ngoài ra, luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hỗ trợ trong công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu môn lịch sử tư tưởng Việt Nam, lý luận phê bình văn học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết và in trong 148 trang luận văn
Trang 18PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI
CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
1.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
1.1.1 Điều kiện của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX với sự hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu
Với tư cách là một trong những hình thái ý thức xã hội, bất kỳ một tư tưởng chính trị, tôn giáo, đạo đức nào cũng một mặt, phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực khách quan một cách sinh động; và mặt khác, là sự kế thừa những tiền đề tư tưởng trước đó Quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy, nó không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay có tính chất tư biện mà chính là sự phản ánh, kết tinh từ điều kiện lịch sử - xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX Điều đó hoàn toàn đúng với nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, như C Mác từng khẳng định:
“Không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [69; tr 38] và “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [68; tr 156] Do đó, khi nghiên cứu về sự hình thành và phát triển đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu, chúng ta không thể không tìm hiểu điều kiện lịch sử - xã hội của Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là những nhân tố tác động đến sự hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu Có thể nói đặc điểm điều kiện xã hội Việt Nam lúc bấy giờ thể hiện hai yếu tố
nổi bật Một là, đây là thời kỳ nhà Nguyễn bước vào giai đoạn suy thoái, không còn đủ sức đảm đương nổi sứ mệnh lịch sử Hai là, đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đã
diễn ra cuộc tiếp xúc văn hoá Đông - Tây mạnh mẽ ở Nam Bộ
Trước hết, nói đến sự suy thoái của vương triều Nguyễn cùng sự biến đổi của xã
Trang 19hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX Như chúng ta đã biết, sự suy thoái và biến đổi này bắt nguồn bởi sự khởi đầu thiếu nền tảng vững chắc cả về điều kiện vật chất lẫn tinh thần
từ thời Nguyễn Ánh Để hiểu rõ hơn, ta phải kể đến từ cuối thế kỷ XVIII Do sự phát triển của sản xuất, bắt đầu từ cách mạng công nghiệp và kết quả của quá trình xây dựng một nền dân chủ tư sản tiến bộ hơn hẳn chế độ phong kiến chuyên chế, các nước chủ nghĩa tư bản phương Tây đã phát triển mạnh mẽ và đứng đầu là Anh, Pháp, Mỹ Đến nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự
do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền Một lực lượng sản xuất vô cùng to lớn và lượng hàng hoá khổng lồ, phong phú đã được tạo ra kể từ sau cuộc cách mạng công nghiệp vào các thế kỷ XVII, XVIII; như lời nhận định của C Mác và Ph Ăngghen:
“Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [70; tr 603] Do đó, sự phát triển mạnh của nền kinh tế hàng hoá đã đặt ra nhu cầu bức thiết về thị trường nhằm tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm nguồn cung cấp nguyên liệu, khai thác sức lao động của nhân công ở những nơi còn nằm trong chế
độ phong kiến và để xuất khẩu tư bản nên vùng châu Á đầy tiềm năng trở thành mục tiêu của các nước đế quốc Đó chính là nguyên nhân sâu xa để dẫn đến những cuộc chiến tranh xâm lược các quốc gia phương Đông Hàng loạt các cuộc chiến tranh của
đế quốc đã tiến hành nhằm mở rộng thuộc địa và đặt ách thống trị ở hầu hết các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh; đi kèm với nó là những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội ngày càng lan rộng
Chủ nghĩa đế quốc đầu tư khai thác thuộc địa đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chính quốc Đầu tiên là sự lũng đoạn và phát triển không đồng đều làm cho quan
hệ giữa các nước đế quốc có nhiều biến đổi, thậm chí là rơi vào sự tranh chấp Còn các nước thuộc địa lại bị cuốn vào con đường tư bản hoá; cộng với sự áp bức, bóc lột của
đế quốc đã đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa và thực dân lên mức độ ngày càng gay gắt, quyết liệt Hơn nữa, hành động đàn áp của thực dân đã càng làm thức tỉnh tinh thần đấu tranh, ý thức dân tộc ở các nước bị xâm lược trỗi dậy một cách mạnh mẽ Lúc bấy giờ một nhiệm vụ lịch sử đã đặt ra cho các quốc gia thuộc địa là: phải bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và độc lập dân tộc Để chống lại những cuộc xâm lược đó, các quốc gia
Trang 20này phải tiến hành đấu tranh, giải phóng bằng những cách thức riêng của mình
Đến thế kỷ XIX, đối lập với sự phát triển về mọi mặt khoa học - kỹ thuật, văn hoá - xã hội, phương thức sản xuất của các nước tư bản phương Tây, các quốc gia phương Đông như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan,… vẫn còn chìm đắm trong chế
độ phong kiến lạc hậu Biểu hiện rõ nét nhất là ở lực lượng sản xuất lạc hậu, trình độ sản xuất thấp kém, quan hệ sản xuất phong kiến trì trệ, bảo thủ, khoa học - kỹ thuật chậm phát triển Thêm vào đó, xã hội phong kiến đã suy tàn, mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến với nhân dân lao động trở nên gay gắt,… dẫn đến đời sống nhân dân hết sức cơ cực, lầm than và xã hội rơi vào khủng hoảng trầm trọng
Trong thời gian này, tuy Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã chủ trương sử dụng một số kỹ thuật sản xuất phương Tây, thực hiện chính sách mở cửa nhưng các nước đế quốc đã dần biến các dân tộc phương Đông độc lập trở nên bị phụ thuộc bằng sự xâm lược cục bộ Điển hình như: Anh chiếm các nước Ấn Độ, Malaysia, Singapore, Hương Cảng của Trung Quốc,… Pháp đổ quân vào Việt Nam, Lào, Campuchia, Indonesia bị
Hà Lan thống trị, Philippin nằm trong sự kiểm soát của Tây Ban Nha và Mỹ, Xiêm (Thái Lan) bị biến thành khu đệm giữa thực dân Anh và thực dân Pháp Vào nửa cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản và Trung Quốc bắt đầu tiếp thu tư tưởng phương Tây do các nhà trí thức đề xướng với tư tưởng Tân Thư, Tân Văn sôi nổi Điều đó trở thành cơ sở lý luận cho phong trào duy tân ở Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và có ảnh hưởng đến
cả sự thay đổi tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Nhưng trong đó, chỉ riêng Nhật Bản có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội với tư cách là một quốc gia độc lập vào cuối thế kỷ XIX Khởi đầu từ năm 1867, việc Minh Trị lên ngôi đã mở ra một thời kỳ phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội cho xứ sở Phù Tang Hơn nữa, chính sách duy tân của Nhật có thêm điều kiện thuận lợi để đạt nhiều thành tựu đáng kể khi Mỹ rơi vào nội chiến, Nga tập trung đối phó với khởi nghĩa ở Ba Lan, Anh và Pháp bị hút vào cuộc đàn áp Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc, còn Pháp sa lầy vào cuộc chiến tranh Việt Nam Do đó, Nhật dễ dàng thoát khỏi sự cai trị của các nước Châu Âu và Mỹ để tiến theo con đường tư bản chủ nghĩa, sánh vai cùng các nước
đế quốc khác trong xu thế giành giật thuộc địa Điển hình như Nhật đã chiếm Đài Loan (1874), can thiệp vào Triều Tiên (1875), đánh bại Trung Quốc (1894),…
Trang 21Từ những biến đổi sâu sắc, phức tạp trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên thế giới, đặc biệt từ thế kỷ XIX, nó đã tạo nên ảnh hưởng to lớn đến sự chuyển biến của Việt Nam trong mọi lĩnh vực
Việt Nam được biết đến là một đất nước có bề dày lịch sử, đã sớm hình thành quốc gia dân tộc và có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm Tuy nhiên cũng như các nước phương Đông khác, ngay từ thế kỷ XVII, các nước tư bản phương Tây đặc biệt là Pháp đã sớm có sự dòm ngó và mong muốn phát động chiến tranh xâm lược Âm mưu đó được thể hiện rõ nhất và ngày càng xúc tiến mạnh mẽ bằng việc ký hiệp ước Versailles năm 1787 giữa vua Louis XVI và Nguyễn Ánh Họ đã khéo léo kết hợp sử dụng chiêu bài “truyền giáo đi trước, súng đạn theo sau” bằng việc cho các giáo
sĩ Pháp vào truyền đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam Nhưng thực chất là để thăm dò tình hình xã hội, kinh tế, chính trị,… ở Đàng Trong (miền chúa Trịnh) và Đàng Ngoài (miền chúa Nguyễn) Nhờ đó, Pháp luôn nắm tường tận tình hình của cả xứ Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài Cho nên, họ đã sớm có ý đồ, âm mưu sử dụng sức mạnh quân
sự của mình vào đúng thời điểm xã hội phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảng nặng nề từ cuối thế kỷ XVIII Hơn nữa, đến thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam càng biểu hiện rõ sự suy thoái khi rơi vào tình trạng của một xã hội phong kiến đình trệ lâu dài, đã quá lạc hậu; đặc biệt là gặp phải khủng hoảng trầm trọng về tư tưởng Mọi chính sách kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá - giáo dục được ban hành chủ yếu cũng chỉ nhằm bảo vệ đặc quyền cho tập đoàn phong kiến
Và như thế, trước sự biến động lớn lao của lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đất nước bị thực dân Pháp gây chiến, xâm lược và đã diễn ra cuộc tiếp xúc văn hoá Đông - Tây mạnh mẽ ở Nam Bộ là điều tất yếu của lịch sử
Sau một thời gian dài dòm ngó và xảy ra các cuộc đụng độ quân sự, đến chiều ngày 31 - 8 - 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dưới sự chỉ đạo của Trung tướng Rigault de Genouilly (Pháp) đã có mặt tại cửa Hàn (Đà Nẵng) hợp binh với Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) chuẩn bị tấn công Ngày 1 - 9 - 1858, liên quân (chủ yếu là Pháp) nổ phát súng đầu tiên vào Đà Nẵng, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX Hành động đó nhằm thoả mãn mong muốn của chủ nghĩa tư bản là tìm kiếm thị trường và căn cứ ở Viễn Đông Với kế hoạch “đánh nhanh thắng
Trang 22nhanh”, Pháp đã chọn Đà Nẵng làm mục tiêu đầu tiên vì: cửa biển nơi đây sâu rộng sẽ giúp tàu chiến có thể ra vào dễ dàng và làm bàn đạp tiến sâu vào nội địa, đánh vào kinh thành Huế, buộc triều đình phải quy hàng Thế nhưng, sau khi quân đội Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, địch đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân ta ở chiến trường Đà Nẵng nên sau năm tháng tấn công, liên quân hầu như giậm chân tại chỗ, bị thiệt hại nghiêm trọng Thêm vào đó, thực dân liên tiếp gặp nhiều khó khăn chưa lường trước được như không hợp với khí hậu, thuỷ thổ, thuốc men lẫn lương thực đều thiếu thốn,… dẫn đến tổn thất binh lực nặng nề Trước tình hình đó, tướng Genouilly đành quyết định lợi dụng gió bấc nổi lên để xuống tàu vào Nam, chuyển hướng tấn công Gia Định và chỉ để lại một lực lượng nhỏ trấn giữ bán đảo Sơn Trà Như vậy, kế hoạch
“đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp hoàn toàn bị thất bại, buộc lòng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta
Thế nhưng, thay vì tiếp tục phát huy ưu thế, dựa vào sức mạnh toàn dân, chú trọng tập kích và tiêu diệt địch, không cho chúng có điều kiện thuận lợi để thay đổi tình thế, thì ngược lại, nhà Nguyễn đôi lúc đã lựa chọn con đường bắt tay với Pháp để đối phó, đàn áp phong trào nông dân, khởi nghĩa của quần chúng, tạo điều kiện cho Pháp từng bước thôn tính nước ta, gây nên cảnh mất nước một cách nhanh chóng, nhân dân lầm than, cơ khổ Trước thảm cảnh đó, Nguyễn Đình Chiểu đã đau xót, cảm thán rằng:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay!
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy,
Mất ổ bầy chim dáo dác bay.” [104; tr 231]
Nhìn về bề ngoài, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX so với các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm trong lịch sử vẫn tồn tại vấn đề về tương quan lực lượng Tức là địch vừa mạnh, vừa chủ động, ta vừa yếu, vừa bị động Nếu trước đây, cả đối phương và Việt Nam đều có cùng một chế độ kinh tế - xã hội, đó là chế độ phong kiến Đến thế kỷ XIX, Pháp lại có đầy đủ sức mạnh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa với lực lượng vật chất hùng mạnh, còn ta vẫn là nền sản xuất phong kiến kiệt quệ
về vật chất lẫn tinh thần Trong khi giai cấp thống trị đương thời không thể làm tròn
Trang 23nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc thì bằng chủ nghĩa yêu nước, các tầng lớp nhân dân lại giương cao ngọn cờ đánh giặc, cứu nước hết sức oanh liệt Trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu vốn đã gần gũi và thấu hiểu được ý chí, tinh thần của những nghĩa binh anh dũng, ông thay họ tỏ rõ can trường:
“Chẳng cho chủ khác ngồi lưng cổ,
Thà chịu vua ta nắm khớp xương.” [104; tr 232]
25 - 10 - 1860, Pháp rảnh tay ở chiến trường Trung Quốc, dồn lực lượng vào chiến trường Việt Nam Đầu năm 1861, Pháp tấn công Nam Kỳ, mở rộng đánh chiếm Định Tường (12 - 4 - 1861), Biên Hoà (16 - 12 - 1861), Vĩnh Long (23 - 3 - 1862) Giữa lúc phong trào kháng chiến quần chúng ngày một lan rộng, phát triển lên cao, ngày 5 - 6 -
1862, triều đình Huế lại vội vã ký hoà ước Nhâm Tuất trao cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Biên Hoà, Định Tường) với nhiều nhượng bộ đớn hèn Nội
bộ nhà Nguyễn phân hoá thành hai bộ phận: chủ hoà và chủ chiến, nhưng phần đông là chủ hoà Họ bỏ lỡ mất thời cơ để đánh bại âm mưu của kẻ thù ngay từ khi tư bản Pháp còn dòm ngó vào Việt Nam Để đến khi liên tiếp thất thủ, bầy tôi của triều đình nhằm trốn tránh sự trừng phạt, rũ bỏ trách nhiệm hay tỏ rõ sự bất lực đành tìm đến hành động
tự sát Dần dần, Pháp ngày càng thể hiện rõ âm mưu mở rộng xâm lược Việt Nam Sau khi chiếm được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và buộc vua Norodom của Cao Miên thừa nhận quyền bảo hộ của chính quyền thực dân, lần lượt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long (20 - 6 - 1867), An Giang (21 - 6 - 1867), Hà Tiên (24 - 6 - 1867) đều rơi vào tay Pháp
mà không gặp phải bất kỳ sự phản kháng đáng kể nào
Trang 24Như vậy, Nam Kỳ bị thực dân Pháp đánh chiếm trước tiên Vì thế, phong trào đấu tranh, đánh giặc cứu nước của đồng bào miền Nam đã nổ ra liên tục, rộng khắp ngay từ buổi đầu Phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ kéo dài từ năm 1858 về sau đến hơn 20 năm là minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần chiến đấu oanh liệt, kiên cường với lòng căm thù giặc tột cùng của nhân dân Nam Bộ Tuy nhiên, lực lượng chủ yếu lúc bấy giờ chỉ là “dân ấp, dân lân” vốn chỉ biết:
“Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng bộ
Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.” [104; tr 250]
Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, lên tiếng gọi, những người nông dân, lao động bình thường tuy “ngoài cật chỉ có một manh áo vải” vẫn sẵn sàng hy sinh tất cả để chiến đấu giữ làng, giữ nước Cuối cùng, do sự bất hợp tác của triều đình cùng những hành động ngăn chặn, phá hoại, các cuộc khởi nghĩa đều lần lượt thất bại
Sau khi chiếm được các tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy cai trị, biến nơi đây thành bàn đạp mở rộng chiến tranh ra cả nước Lợi dụng việc triều đình Huế nhờ đem tàu ra vùng biển Hạ Long đánh dẹp cướp biển, giải quyết vụ Jean Dupuis, 11 - 10 - 1873, hơn 200 quân giặc dưới sự chỉ huy của Francis Garnier đã tiến từ Sài Gòn ra Bắc Ngày 20 - 11 - 1873, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất
7000 quân triều đình chỉ được trang bị thô sơ dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương
đã cố gắng cản địch nhưng đến trưa thì thành mất Nguyễn Tri Phương bị thương và rơi vào tay giặc Thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm một số tỉnh khác của Bắc kỳ như Hưng Yên (23 - 11 - 1873), Phủ Lý (26 - 11 - 1873), Hải Dương (3 - 12 - 1873), Ninh Bình (5 - 12 - 1873), Nam Định (12 - 12 - 1873) Trước tình hình như thế, quân dân ta
đã chống trả ngoan cường và kết quả là tổ chức phục kích giết được Francis Garnier ở Cầu Giấy làm cho địch không tránh khỏi hoang mang
Năm 1874, Philastre cương quyết hạ lệnh trao trả gấp các thành Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội vì tình hình cho thấy họ không thể làm khác được Nhưng vua quan nhà Nguyễn đã tiếp tục tỏ rõ hành vi đầu hàng qua việc ký với Pháp hoà ước Giáp Tuất (15 - 3 - 1874) với những điều khoản cho thấy sự phụ thuộc vào
Trang 25Pháp của nước ta ngày một chặt chẽ Hoà ước là sự chính thức thừa nhận chủ quyền của Pháp trên toàn bộ Nam Kỳ, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát, điều tra tình hình Việt Nam của Pháp Hành động này đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ của nhân dân cả nước Để hoàn thành cuộc xâm lược toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, năm
1882, bọn thực dân đã viện cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước năm 1874 để tăng viện quân ở Bắc Kỳ Ngày 25 - 4 - 1882, Đại tá hải quân Henri Rivière chỉ huy quân Pháp tấn công Hà Nội Quân đội triều đình kiên cường chiến đấu nhưng thành Hà Nội lại thất thủ Thực dân Pháp tiếp tục mở rộng đánh chiếm các tỉnh khác của Bắc Kỳ nhưng địch cũng gặp phải đòn phản kháng quyết liệt từ phía quân dân ta
Trong tình thế cấp bách đó, vua Tự Đức lại băng hà vào ngày 19 - 7 - 1883 Cả triều đình tập trung vào việc cử hành tang lễ và diễn ra tranh chấp nội bộ trong việc chọn tân vương Pháp chớp lấy cơ hội đã chờ đợi bấy lâu ấy, sáng 18 - 8 - 1883, Đô đốc Courbet đã chỉ huy hạm đội tấn công cửa biển Thuận An (Huế) để khống chế kinh thành Huế Tin thất bại ngày 20 - 8 lại càng khiến cho triều đình thêm hoảng hốt và dấn sâu vào con đường đầu hàng Pháp bằng việc ký hiệp ước Harmand (25 - 8 - 1883) Triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam Các hoạt động từ nội trị đến ngoại giao đều do Pháp quản lý Điều đó cũng đồng thời nói lên sự phản bội của triều Nguyễn đối với nhân dân cả nước
Tiếp đó, ngày 6 - 6 - 1884, chính phủ Pháp cử Patenôtre buộc triều đình Huế ký bản hiệp ước mới dựa trên nền Hiệp ước Harmand Hiệp ước Patenôtre đặt cơ sở lâu dài cho nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam, đất nước ta bị chia làm ba kỳ với ba chính sách cai trị khác nhau Về cơ bản, cuộc xâm lược của Pháp trên toàn lãnh thổ đến đây được coi như hoàn tất Giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn đầu hàng trước chủ nghĩa tư bản Pháp Đời sống nhân dân càng thêm cơ cực và bị tước đi những quyền cơ bản của con người; hoàn toàn mất độc lập, tự do và quyền làm chủ đất nước của mình Trước chủ trương vơ vét, bóc lột thuộc địa để bù lại tổn thất chiến tranh và thu lợi nhuận cho chính quốc, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy cai trị lên những vùng đất giặc chiếm đóng Nhưng sự bùng nổ của phong trào Cần Vương cùng hàng loạt các cuộc khởi nghĩa khác và cuối cùng là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) lãnh đạo đã làm trì hoãn chương trình khai thác thuộc địa của Pháp
Trang 26đến 10 năm Khởi nghĩa Yên Thế bắt đầu từ năm 1884 đến năm 1913 mới bị dập tắt là cao trào của làn sóng yêu nước chống giặc xâm lược Từ đó, công cuộc bình định quân
sự của Pháp ở Việt Nam đã căn bản hoàn thành và thuận lợi hơn trong việc bắt tay vào khai thác thuộc địa ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung trên quy mô rộng lớn từ thời Paul Doumer Ngoài chính sách nham hiểm trên lĩnh vực chính trị,…chính quyền thực dân còn sử dụng thủ đoạn trên cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá - giáo dục,…
Như vậy, Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đã có nhiều biến động to lớn trên mọi lĩnh vực Trong đó, nổi bật nhất là sự chuyển biến trong nền kinh tế, chính trị - xã hội, văn hoá - giáo dục,… ở giai đoạn ấy Để thấy rõ tính chất, đặc điểm của nó, ta cần nhìn nhận, đối chiếu cả hai thời điểm Thứ nhất, chính là trước khi Pháp phát động chiến tranh Và thứ hai là sau khi Pháp nổ súng xâm lược nước ta
Về chính trị - xã hội, trong thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam tồn tại những mâu
thuẫn có đối kháng giữa những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước với quan hệ phong kiến trì trệ, bảo thủ Hay nói cách khác đó cũng là mâu thuẫn của những người mang luồng tư tưởng mới vừa manh nha hình thành còn non yếu đối với
ý thức hệ phong kiến đã già cỗi Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra nhằm chống lại chế độ chiếm hữu, cai trị bảo thủ và sự bóc lột nặng nề của giai cấp phong kiến báo hiệu cho nhu cần phát triển của nền kinh tế tiểu nông Đỉnh cao là sự thắng lợi của cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, mang triển vọng cho sự tiến bộ của lực lượng sản xuất Thế nhưng, tất cả hứa hẹn đó đã bị tan vỡ do hành động “cõng rắn cắn gà nhà” của Nguyễn Ánh - dưới sự tiếp tay của Pháp đã lật đổ triều đại Tây Sơn - vốn đã tiến bộ về nhiều mặt Từ đây, mở đầu cho sự thành lập của một tập đoàn phong kiến phản động, phản cách mạng nhất trong lịch sử Việt Nam vì nó đã được hình thành bằng sự giúp đỡ, can thiệp của một thế lực tư bản nước ngoài Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, lập nên triều Nguyễn sau khi đã đàn áp các cuộc cách mạng của nông dân Các triều đại tiếp theo như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,… cũng đã xây dựng một nền chính trị phong kiến trung ương tập quyền cao độ; thậm chí ngày càng nhấn sâu vào con đường phản động nhằm duy trì sự thống trị lâu dài của vương tộc Bộ máy chính quyền này đã sớm bộc lộ rõ bản chất độc đoán, quan
Trang 27liêu, lạc hậu Nhà vua nắm trong tay mọi quyền hành và tự xưng mình là “thiên tử” nên
có thể “thay trời” trị vì dân chúng; quyền hành của vua được ví như “thần khí” linh thiêng và vô hạn Vua là chủ của tất cả ruộng đất, chủ của trăm họ Nho giáo được tôn lên làm quốc giáo, trở thành giá đỡ cho chế độ quân chủ trung ương tập quyền mang tính chất chuyên chế; tuyên dương nhân trị và chủ trương cầu an trong đường lối chính trị Đồng thời, năm 1815, nhà Nguyễn ban hành bộ luật “Hoàng triều luật lệ” hay còn gọi là “Bộ luật Gia Long”, chủ yếu sao chép bộ luật Mãn Thanh vô cùng phản động, tàn bạo nhằm trấn áp nhân dân, giữ vững trật tự phong kiến Nổi bật là những hình thức trừng phạt tàn nhẫn như: kẻ phản nghịch sẽ bị băm xác, chặt tay chân, cho voi đạp, tru di tam tộc,… Bộ máy quan lại của triều đình tuy lớn về số lượng nhưng phần đông lại hủ bại, khắc nghiệt, không có kiến thức về sản xuất vật chất; đi kèm theo đó là
tư tưởng “trọng quan khinh dân”, tạo thế lực bằng chức tước, làm giàu nhờ hối lộ Trước sự tình ấy, Tự Đức còn phải than rằng “Quan coi dân như kẻ thù, dân sợ quan như sợ cọp” Ngoài ra, việc bắt lính từ các suất đinh đã làm tăng quân số nhanh chóng Nhưng do bị chi phối bởi tư tưởng “trọng văn khinh võ” nên sự trang bị cho quân đội vẫn rất lạc hậu, đời sống của quân nhân lâm vào cảnh cơ cực Nhà Nguyễn cũng không giải quyết được mâu thuẫn giữa triều đình và các thế lực phong kiến địa phương, gây nên sự chống đối ngày càng gia tăng Trong chính sách đối ngoại, nhà nước chủ trương thực hiện đường lối “bế quan, toả cảng” Triều Nguyễn còn thi hành chính sách chống đạo Thiên Chúa một cách cực đoan Với mục đích ngăn chặn âm mưu của các nước phương Tây dùng Thiên Chúa giáo để can thiệp vào nội bộ Việt Nam, đặc biệt là Pháp
Từ thời Gia Long đã ban hành những chỉ dụ cấm đạo Đến thời Minh Mạng đã chủ trương cấm và sát đạo gay gắt nhất Không những ông kiên quyết chống sự truyền bá Thiên Chúa giáo mà còn ra lệnh phá huỷ nhiều nhà thờ, bắt nhiều giáo dân và giáo sĩ
Từ đó, cách thức cai trị của triều đình nhà Nguyễn và hệ tư tưởng bảo thủ đã gây nên nhiều mâu thuẫn gay gắt, không thể dung hoà giữa giai cấp phong kiến Việt Nam với quần chúng nhân dân (do bị bóc lột nặng nề, áp bức về kinh tế lẫn tinh thần), dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy của tầng lớp lao động đã diễn ra trong cả nước Trước khi
tư bản Pháp xâm lược, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn đã bùng lên như vũ bão, đẩy nhanh quá trình suy vong của chế độ phong kiến lúc bấy giờ Điển hình có: Phan Bá
Trang 28Vành ở Nam Định (1821), Lê Duy Lương ở Ninh Bình (1833), Lê Văn Khôi ở Gia Định (1833), Cao Bá Quát ở Hà Nội và Bắc Ninh (1854),… Ngoài ra, nạn thổ phỉ Trung Quốc quấy nhiễu vùng biên cương phía Bắc, người Đá Vách (Thạch Bích) ở Quảng Ngãi nổi dậy liên tiếp trong những năm 1857 - 1858 Chính quyền nhà Nguyễn thẳng tay đàn áp các phong trào quần chúng, dập tắt khởi nghĩa nông dân bằng sức mạnh quân sự và cầu viện triều đình Mãn Thanh
Cho đến khi chính thức bước vào thời kỳ Pháp thuộc, tình hình chính trị - xã hội
Việt Nam ngày càng ảm đạm, tăm tối Thực dân Pháp chủ trương thi hành chính sách
“chia để trị”, “dùng người Việt trị người Việt” và khủng bố nhân dân ta bằng lực lượng quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù,… từng bước thiết lập bộ máy hành chính một cách chặt chẽ Đồng thời, Pháp còn sử dụng cả giai cấp địa chủ phong kiến và tầng lớp tư sản mại bản làm cơ sở vững chắc cho sự cai trị lâu dài của mình Dựa trên sắc lệnh ngày 17 - 10 - 1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm: Việt Nam (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và Campuchia trực thuộc Hải quân, thuộc địa Pháp Ngày 19 - 4 - 1899, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh sát nhập Lào vào Liên bang Đông Dương Bên cạnh đó, Pháp sử dụng ba loại hình, cách thức cai trị đối với các nước
thuộc Liên Bang Đông Dương như sau: bảo hộ áp dụng cho Bắc Kỳ, Campuchia, Lào; Trung Kỳ theo cơ chế nửa thuộc địa với sự tồn của triều đình bù nhìn nhà Nguyễn;
thuộc địa bị áp đặt ở Nam Kỳ Liên bang Đông Dương trở thành bộ máy cai trị của
Pháp trong suốt thời gian xâm lược ở Đông Dương
Nhìn chung, từ những quan điểm sai lầm, bảo thủ trong đường lối chính trị của triều Nguyễn cho thấy Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã suy yếu và trở thành miếng mồi ngon nằm trong tầm tay của thực dân Pháp Mặc dù cả triều đình Nguyễn và Pháp đều ra sức ngăn chặn, đẩy lùi các cuộc tấn công, nổi dậy của nghĩa binh bằng hàng loạt các chính sách chia rẽ, thủ tiêu sức mạnh lực lượng,… nhưng ngọn lửa đấu tranh trong quần chúng nhân dân vẫn không bị dập tắt Trong hoàn cảnh đó, hơn ai hết, Nguyễn Đình Chiểu luôn là người ý thức được tầm quan trọng của sức mạnh đoàn kết dân tộc trước vận mệnh nước nhà Vì thế, ông viết:
“Dâng hộ nước Nam về một mối,
Nghìn năm miếu tặng rạng công tôi.” [104; tr 262]
Trang 29Để mong đến hồi:
“Ngày nào trời đất an ngôi cũ,
Mừng thấy non sông bặt gió tây.” [104; tr 291]
Về kinh tế, trước khi chịu ảnh hưởng dưới sức mạnh quân sự của Pháp, các triều
đại nhà Nguyễn sử dụng chính sách “trọng nông, ức thường”, vừa củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa ra sức thủ tiêu lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển từ thế kỷ XVIII; tri thức về kinh tế, khoa học kỹ thuật chưa phát triển Việt Nam lúc bấy giờ vẫn duy trì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hầu hết nhân dân sống bằng nghề cày cấy Nguồn thu chủ yếu của nhà nước là từ thuế điền, thuế đinh Mặc dù triều đình đã cố gắng áp dụng một vài chính sách nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển như: khẩn hoang, chăm sóc đê điều, lập ấp,… nhưng vẫn không mang lại kết quả như mong đợi Ruộng đất đa số rơi vào tay bọn quan lại, địa chủ Công điền, công thổ màu mỡ đều bị bọn cường hào, ác bá lũng đoạt Chúng cướp ruộng đất, bóc lột nhân công, bức hại vợ con người nông dân Nhà nước chẳng những không giải quyết tệ nạn ấy đang hành hoành mà còn gián tiếp bênh vực cho cường hào, địa chủ như lời Gia Long bảo rằng
“không nên xáo trộn” Người cày không có ruộng, nông dân “không một tấc đất cắm dùi”; tình trạng lụt lội, mất mùa, đói kém khiến cho cuộc sông của họ rơi vào thảm cảnh vô cùng khổ cực Trộm cướp nổi lên, lòng người ly tán Hậu quả là: nông dân ở hàng loạt thôn, xã phải bỏ quê hương đi phiêu bạt; gây nên thảm cảnh xóm làng xác
xơ, tiêu điều Có thể nói, đây chính là biểu hiện tiêu biểu nhất của sự khủng hoảng chế
độ phong kiến nhà Nguyễn 1858, một trận đói khủng khiếp đã xảy ra làm cho hàng chục vạn dân Bắc - Trung kỳ chết đói; cảnh tượng đau thương không kể xiết:
“Bốn phương mọi rợ luông tuồng,
Nay giành ải hổ, mai ruồng ải lang
Nơi nơi trộm cướp dây loàn,
Lê dân hết sức của toan chẳng còn
Cõi trong trời đất thon von,
Khói mây đen nghịt, nước non đeo sầu.” [104; tr 216]
Công nghiệp dưới triều Nguyễn không được chú trọng phát triển Hình thức chủ yếu chỉ là thủ công và tiểu thủ công Công nghiệp gắn với nông nghiệp theo hình thức
Trang 30công nghiệp tại gia cũng góp phần vào sản xuất ra một lượng sản phẩm trong ngành thủ công Tuy nhiên, một số thợ thủ công chuyên môn lành nghề cũng đã hình thành, làm ra các sản phẩm tiêu biểu như tơ lụa, đồ gốm, giấy,… Triều đình khuyến khích công nghiệp, thủ công nhưng “thường bắt thợ giỏi chuyên làm hàng cho nhu cầu tiêu dùng của triều đình” [96; tr 289] phục vụ cho vua, quan nhà Nguyễn, họ bị quản lý trong môi trường nghiêm ngặt, đồng lương cho nhân công rẻ mạt; nhiều chính sách cấm đoán làm thui chột tài năng, sức sáng tạo của người thợ giỏi Các nghề thủ công của nhân dân không có điều kiện phát triển Nhà nước cũng đã đầu tư mở rộng quy mô các công xưởng thủ công ở kinh đô Huế, Hà Nội và các tỉnh lớn nhằm in sách, đóng tàu, đúc tiền, đúc súng,… Triều đình nắm độc quyền trong khai mỏ theo lối thủ công
và đẩy mạnh các công trình xây dựng lăng tẩm, cung điện, thành quách Về thương nghiệp, vua quan nhà Nguyễn không nhận thức được tầm quan trọng của việc giao thương nên thương nghiệp chỉ xếp vào sau các ngành khác Nó không chỉ thể hiện trong quan niệm “tứ dân” thông thường trong xã hội phong kiến mà còn là thái độ của giai cấp thống trị ở một chủ trương nhất quán, cả việc đánh thuế vào lưu thông, buôn bán Ngay cả việc trao đổi gạo trong nước cũng bị hạn chế Triều đình đóng cửa thông thương, giữ độc quyền mua bán với nước ngoài, nhằm chống hiểm hoạ của quân xâm lược nên việc đặt ra nhiều chính sách hạn chế mua bán cả trong và ngoài nước, nhất là phương Tây trở nên ngày càng phổ biến Nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, chỉ có người Hoa nắm phần đáng kể về thương mại Bên cạnh đó, nạn hải phỉ cũng góp phần gây nên sự sút kém trong thương nghiệp lúc bấy giờ Nói tóm lại, nền kinh tế - tài chính của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX đã bộc lộ sự suy đốn ở nền công nghiệp nhỏ
bé, nông nghiệp nghèo nàn, thương mại không có gì đáng kể Sự bảo thủ, lạc hậu, phản động của vương triều nhà Nguyễn đã ngăn sự phát triển tự nhiên của các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế Điều đó đã khiến cho mọi nhu cầu phát triển xã hội đều bị bóp nghẹt
Đến khi Pháp đặt ách đô hộ ở nước ta, kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào thực dân Pháp bởi hàng loạt các chính sách vơ vét tài nguyên phong phú và bóc lột sức lao động, xuất khẩu lúa gạo, tước đoạt ruộng đất,… nhằm thực hiện chiến thuật
“lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” đã làm cho nhân dân Việt Nam lâm vào tình cảnh
Trang 31bần cùng Bộ máy cai trị còn sử dụng cả thủ đoạn độc quyền về kinh tế trong việc khai thác nông nghiệp và ra sức vơ vét tài nguyên, khoáng sản, nắm giữ những ngành công nghiệp nặng chủ chốt, kiểm soát các phương tiện giao thông vận tải, độc quyền xuất nhập khẩu, chiếm đại bộ phận trong các đồn điển kinh doanh như cao su và hồ tiêu,… Pháp còn thiết lập hệ thống Ngân hàng Đông Dương có quyền in giấy bạc, quản lý tiền
tệ, cho vay nặng lãi Ngoài ra, hàng loạt thuế mới được đặt ra một cách phi lý như: thuế thân, thế đinh, thuế lưu trú, thuế đò,… ngay cả người chết cũng không được miễn thuế, người sống phải đóng thay Tất cả những thủ đoạn đó đã đem lại siêu lợi nhuận cho chính quốc bằng việc bóc lột, bám vào các nước thuộc địa
Như vậy, nền kinh tế Việt Nam dưới quyền thống trị của triều đình phong kiến nhà Nguyễn cuối thế kỷ XIX đã suy đốn trầm trọng ở mọi mặt nông - thương - công nghiệp Các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các ngành kinh tế then chốt đang trên đà phát triển, tiến bộ và hứa hẹn mang lại nhiều thành tựu rực rỡ nhưng đã bị bóp nghẹt bởi sự lạc hậu, phản động của giai cấp thống trị lúc bấy giờ Hậu quả là, những chính sách bảo thủ của triều đình Nguyễn đã gây nên kìm hãm sự phát triển của
xã hội Trên cơ sở đó, nó dẫn đến thảm cảnh là đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, điêu đứng Đến khi bước vào giai đoạn thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác, bóc lột kinh
tế tại chỗ hòng kiếm lợi nhuận trong tất cả các ngành mũi nhọn như giao thông vận tải, công - nông - thương nghiệp cùng với những lần khai thác thuộc địa, thực dân Pháp một mặt đã đẩy kinh tế Việt Nam đi theo hướng tư bản chủ nghĩa nhưng mặt khác phương thức bóc lột mới theo lối tư bản chủ nghĩa đã du nhập vào các khu vực kinh tế của Việt Nam Đồng thời, phương thức bóc lột theo kiểu phong kiến cổ truyền vẫn được duy trì Sự kết hợp của hai cách thức bóc lột cũ và mới này đã đẩy nhân dân lao động rơi vào sự bần cùng và túng quẫn Trước hoàn cảnh bi đát đó, nó không những khiến Nguyễn Đình Chiểu đau xót, thương tâm mà còn làm trỗi dậy tình yêu thương nhân dân một cách mạnh mẽ, ông viết:
“Thà cho trước mắt vô nhân,
Chẳng thà ngồi ngó sinh dân nghiêng nghèo.” [104; tr 466]
Về văn hoá - giáo dục, trước khi gặp gỡ văn hoá phương Tây, Việt Nam vào
cuối thế kỷ XIX vẫn tồn tại nền văn hoá nông nghiệp với những nét đặc trưng của văn
Trang 32hoá phương Đông Đó là nền văn hoá lấy gia tộc làm gốc, lấy tình cảm làm trọng, uỷ thác cho con cháu vào việc duy trì nòi giống, nối tiếp sự nghiệp, ca ngợi tính trường tồn và vĩnh cửu, đời trước như thế nào thì đời sau nối gót như thế ấy, ưa chuộng hoà bình và an cư lạc nghiệp Bên cạnh đó, việc Nho giáo vẫn là quốc giáo dưới thời Nguyễn và được dùng nhiều cách khác nhau để triều đình bảo vệ, đưa lên hàng độc tôn
đã chi phối, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng lẫn văn hoá Việt Nam lúc bấy giờ Biểu
hiện rõ nhất của nó là: Mười điều huấn dụ được vua Minh Mạng ban hành hay Thập
điều diễn ca do vua Tự Đức diễn Nôm và phổ biến rộng rãi,… Một mặt, nó được sử
dụng để thiết lập trật tự xã hội theo các cách thức do các vua Nguyễn đặt ra nhằm bảo
vệ thành quả của mình Mặt khác, Nho giáo còn được sử dụng để ngăn chặn sự xâm nhập của Thiên Chúa giáo theo tư duy của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ Dựa trên địa vị thống trị lâu dài của mình, nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các tầng lớp nhân dân và xâm nhập vào mọi lĩnh vực xã hội, hiện hữu trong phong tục tập quán dân tộc
ta Thậm chí, nó dần biểu hiện một số mặt hạn chế, điển hình như Nho giáo lúc bấy giờ trở thành một hệ tư tưởng, văn hoá ngoại lai phương Bắc tiềm ẩn nhiều nguy cơ “Hán hoá”, sùng bái “thiên triều” Trung Hoa, như vua Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) đã cảnh báo từ thế kỷ XVI: “Triều đình dựng nước, có luật pháp, chế độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, là vì Nam Bắc, nước nào làm chủ nước đó, không phải bắt chước nhau Khoảng năm Đại Trị (1358 - 1369: là niên hiệu của Dụ Tông), bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu ý nghĩa sâu xa của việc lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục phương Bắc cả, như về y phục, âm nhạc,… thật không kể xiết” [124; tr 151] Tuy nhiên, Nho giáo dưới triều Nguyễn cũng có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng nền văn hiến Việt Nam nhưng nó chỉ là Nho giáo cuối mùa, bảo thủ, trì trệ Đó là những hình thái của Hán Nho, Tống Nho mang tính chất khắc nghiệt, phản động, duy tâm thần bí Sự bảo thủ ấy đã gây nên những định hướng học thuật, lý luận sai lầm của nhà cầm quyền và đẩy nền Nho học quan phương thành lạc hậu, tối phản động Nó kìm hãm sự phát triển của xã hội thời Nguyễn từ nửa cuối thế
kỷ XIX và định hướng văn hoá, cách thức suy nghĩ, ứng xử, nhất là lối học kinh viện, thuộc lòng lời giáo huấn của các bậc thánh nhân Các sĩ tử chỉ quan niệm rằng học để
đi thi, đỗ đạt ra làm quan chứ tuyệt đối không có kiến thức về chuyên ngành hay tự
Trang 33nhiên cũng như không giải quyết được những vấn đề cấp bách trong thực tiễn Bên cạnh đó, tuy Phật giáo, Đạo giáo không còn vị trí tôn quý như các triều đại trước như Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần nhưng cả hai vẫn giữ vị trí rất đặc biệt trong quần chúng nhân dân Do vậy, trong một thế giới “mở” với cuộc tiếp xúc Đông - Tây đang đến ngày một cấp thiết đã yêu cầu một cuộc giải phóng, đổi mới về tư tưởng, tiếp biến văn hoá Trước hết, đó phải là sự thay thế một luồng tư tưởng, lối sống, tư duy mới thay cho thiết chế, tư tưởng khép kín, độc tôn này
Bước sang thời kỳ Pháp chiếm đóng ở Việt Nam, chính quyền thực dân thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về mặt văn hoá Chế độ giáo dục theo mô hình thực dân phương Tây được áp dụng theo mục đích chính trị của từng giai đoạn một cách triệt để Nền giáo dục Nho học với chế độ thi cử lỗi thời vẫn được duy trì; nhưng bên cạnh đó, nhà tù được xây dựng nhiều hơn trường học, bệnh viện Ở nông thôn, “văn hoá làng xã” vẫn tồn tại song song cùng chính sách “bần cùng hoá”,
“ngu dân hoá” với những hủ tục ma chay, cưới hỏi, nạn bói toán, mê tín dị đoan, phân chia phe đảng, cục bộ địa phương, dân thất học đến 95%, Ngoài ra, báo chí trở thành công cụ đắc lực cho sự cai trị của thực dân nên được Pháp lợi dụng khai thác Mọi ảnh hưởng của nền văn hoá tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam đều bị ngăn chặn và thay vào đó bằng loại văn hoá ngoại lai phản động, trụy lạc, khuyến khích các tệ nạn xã hội, đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện Trước cảnh ấy, Nguyễn Đình Chiểu buồn rầu, than rằng:
“Dân mà mê đạo tây rồi,
Nước người muốn lấy, mấy hồi phòng lo
Dầu ai tránh khỏi mê đồ,
Lại đem nha phiến trao cho hút liền
Tối ngày ôm những ống đèn,
Nào rồi toan việc đánh phiên dẹp loàn.” [104; tr 217]
Và thời gian này cũng chính là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi căn bản của văn hoá, xã hội Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng Đó là mối quan hệ Đông - Tây diễn ra một cách trực tiếp, phức tạp, đặc biệt là ở miền Nam Nhưng quá trình này đã diễn ra nhiều cách khác nhau như: giao lưu một cách cưỡng bức, tiếp nhận
Trang 34một cách tự nguyện, tiếp xúc trong sự đối đầu giữa các giá trị với nhau,… Vì vậy, trong hoàn cảnh bị áp chế dân tộc, Việt Nam còn chịu sự áp chế văn hoá Để tồn tại, nhân dân ta vừa đấu tranh giải phóng dân tộc, vừa tiến hành canh tân đất nước và còn phải tăng cường khả năng đẩy lùi nguy cơ bị xâm lược về văn hoá Như vậy, giải quyết được vấn đề cơ bản này chính là thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng bằng việc tiếp thu có chọn lọc nền văn minh, kỹ thuật từ phương Tây Tuy nhiên, phải trải qua thời kỳ Pháp tiến hành hai lần khai thác thuộc địa ở Việt Nam, nhiều thay đổi trong văn hoá mới hình thành rõ nét Đặc biệt là mầm mống ra đời và chuyển biến của hệ thống thành thị kiểu phương Tây Ngoài ra, song song với việc áp dụng chính sách
“ngu dân” đối với Việt Nam, người Pháp cũng mở trường nhằm đào tạo đội ngũ trí thức Tây học mới làm quan lại Từ đây, một tầng lớp thị dân với lối sống mới đã xuất hiện Họ tự nguyện tìm đến văn hoá, giáo dục phương Tây để thoả mãn nhu cầu và trở thành thế hệ trí thức điển hình ở Nam Bộ tiếp nhận văn hoá Tây phương một cách toàn diện nhất trên mọi lĩnh vực Bên cạnh các loại hình nghệ thuật của dân tộc như tuồng, hát xướng,… hay cải lương của lưu dân Nam Bộ, người Pháp cũng đưa sang loại hình nghệ thuật mới, đó là kịch nói nhằm phục vụ cho tầng lớp sĩ quan, binh lính Về sau, điện ảnh cũng bắt đầu xuất hiện tại Sài Gòn với sự ra đời của rạp chiếu bóng Indochine film thường trình chiếu các bộ phim của Pháp, Mỹ, Trung Quốc,… cho lớp người quý tộc thành thị thưởng thức Trong lĩnh vực trang phục và ẩm thực, bộ áo dài, khăn đóng hay áo bà ba mang dép mộc, cầm đũa ăn cơm, uống chè,… là yếu tố văn hoá truyền thống của dân Nam Bộ nhưng cũng dần thay bằng việc mặc đồ Tây, đội mũ, mang giày hay dép lê, sử dụng dao nĩa, ăn bánh mì, uống cà phê buổi sáng,… ở một số thị dân Như vậy, triều đình nhà Nguyễn vẫn giữ Nho giáo ở vị trí độc tôn và vào hàng quốc giáo Dưới sự bảo thủ, trì trệ của Nho giáo cuối mùa, nó gây ảnh hưởng sâu sắc đến cả văn hoá lẫn giáo dục lúc bây giờ như: phong cách tư duy, lề lối giao tiếp và ứng xử,… Thế nhưng, trên một phương diện nhất định, Nho giáo vẫn còn ở vị trí tôn quý
và được xem là mẫu mực trong tâm thức của các nhà Nho bảo thủ lẫn tiến bộ Trong
đó, điển hình là Nguyễn Đình Chiểu - đại diện cho lớp Nho sĩ tiến bộ đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những tư tưởng Nho giáo trong quan niệm về đạo làm người của mình Hơn nữa, cuộc giao lưu, tiếp xúc văn hoá Đông - Tây ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế
Trang 35kỷ XX này đã dẫn đến sự biến đổi diện mạo văn hoá, ảnh hưởng tới nền giáo dục Việt Nam nói chung và văn hoá Nam Bột nói riêng một cách sâu sắc, rõ nét Nhưng với tình yêu nước thiết tha và tinh thần bất hợp tác với Pháp, Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ trọn tấm lòng, nếp sống theo những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam Điều đó thể hiện qua câu thơ:
“Trời Đông mà gió Tây qua,
Hai hơi ấm, mát chẳng hoà, đau dân.” [104; tr 355]
Đến tháng 6 - 1914, Chiến tranh thứ nhất bùng nổ đã gây ảnh hưởng lớn đến Pháp và chính quyền Đông Dương Thực dân Pháp bị buộc vào thế phải thay đổi chính sách đối với Việt Nam ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,… nhằm huy động tối
đa nguồn nhân lực và vật chất để đáp ứng cho cuộc chiến tranh đế quốc Điều đó đã gây nên sự chuyển biến lớn đến kinh tế, chính trị của Việt Nam Quyền hạn của Chính phủ Nam triều được mở rộng bằng việc Khải Định lên ngôi, việc mở các cơ quan cao cấp cho người Việt và “uy tín” của ông vua bù nhìn này được chính quyền thực dân cố gắng xúc tiến
Cũng trong thời gian này, giai cấp công nhân của Việt Nam có điều kiện phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng Thế nhưng, tình hình thông thương bị giảm sút do tàu phải tập trung vào hải quân, đồng phơrăng bị mất giá; nông nghiệp đã liên tiếp gặp thiên tai, mất mùa mà nông dân Việt Nam còn bị bắt đi lính cho Pháp làm cho lực lượng sản xuất bị giảm sút và phải trồng các loại cây lương thực để bù đắp cho nông nghiệp chính quốc bị bom đạn của Đức tàn phá Nhân dân lao động còn phải nộp nhiều thứ tiền cho chính quyền Đông Dương Dưới tình hình như thế, vì những người cùng khổ lâm vào cảnh bế tắc, khốn cùng nên phong trào đấu tranh của dân tộc ta diễn ra liên tục, rộng khắp Mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt sang hèn, tuổi tác, từ sĩ phu, thương nhân đến người lao động, hễ có lòng yêu nước đều mang một ý chí quyết liệt chung là đánh đuổi thực dân và xoá bỏ ách thống trị của Pháp Hoà vào không khí hăm hở đánh giặc cứu nước, Nguyễn Đình Chiểu đã dùng ngòi bút và ý chí để thể hiện
sự chuyển biến trong quan niệm, tư tưởng của mình trước nhiệm vụ lịch sử lớn lao Thơ văn của ông trở thành vũ khí chiến đấu chống lại kẻ thù xâm lược cùng bọn tay sai
và đồng thời vạch trần, lên án những kẻ sử dụng văn chương làm điều phi nghĩa Điều
Trang 36đó không những hoàn toàn phù hợp với cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng đặt ra trước nhiệm vụ lịch sử lúc bấy giờ mà nó còn được các thế hệ cách mạng nối tiếp và thời hiện đại kế thừa theo đúng tinh thần, ý chí chiến đấu của Nguyễn Đình Chiểu, như Hồ Chí Minh từng viết:
“Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.” [73; tr 580]
Nhìn chung, bức tranh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến khi Pháp xâm lược vẫn chìm đắm trong một gam màu đen tối của sự khủng hoảng và bần cùng; đất nước điêu tàn, giai cấp thống trị với hệ tư tưởng lỗi thời, bạc nhược đã hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ lịch sử Vì vậy, xã hội ấy đã không thể phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước như địa lý, chính trị, con người, sức mạnh toàn dân,… cũng như không thể tạo ra nguồn lực vật chất và tinh thần đủ để bảo vệ Tổ quốc thoát khỏi hiểm hoạ xâm lược của thực dân phương Tây Việc đất nước rơi vào tay ngoại bang như là một điều tất yếu của lịch sử Thế nhưng, cần khẳng định rằng, khi nhìn lại lịch
sử của dân tộc Việt Nam, chúng ta đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù lớn mạnh Phải chăng, khi bước vào giai đoạn này, nếu vua tôi nhà Nguyễn sáng suốt hơn để có tầm nhìn rộng lớn, biết điều hoà lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc và dựa vào sức mạnh toàn dân để chiến thắng mọi âm mưu của kẻ thù thì Pháp đã không có cơ hội phát động chiến tranh ở Việt Nam ngay từ buổi đầu
Đến khi cuộc xâm lược của Pháp cơ bản hoàn thành trên lãnh thổ Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã dần đến nhiều biến động sâu sắc cho xã hội đương thời Khi ấy, nước ta trở thành một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến Xã hội bấy giời tồn tại hai mâu thuẫn chính là: mâu thuẫn giai cấp (giữa nông dân với địa chủ) và mâu thuẫn dân tộc (giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với Pháp) Quá trình chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa thực dân đã tiến hành hàng loạt cuộc bành trướng, mở rộng thuộc địa khắp thế giới và thu về nguồn lợi nhuận khổng lồ cho chính quốc Vì thế, Việt Nam cũng không thoát khỏi chiến lược thôn tính lâu dài của Pháp vào cuối thế kỷ XIX Dưới ách áp bức, bóc lột, khủng bố vô cùng tàn nhẫn của chính
Trang 37quyền thực dân, đời sống nhân dân hết sức cơ khổ, bị tước đoạt hoàn toàn quyền cơ bản của con người và quyền làm chủ đất nước Như Nguyễn Đình Chiểu từng viết:
“Kể mười mấy năm giời khốn khó, bị khảo, bị tù, bị đày, bị giết, trẻ già nghe nào xiết đếm tên; đem ba tấc hơi mỏn bỏ liều, hoặc sông, hoặc biển, hoặc núi, hoặc
rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt.” [104; tr 277]
Do đó, thông qua thái độ, tư tưởng của tất cả tầng lớp nhân dân Việt Nam yêu nước nói chung và của bậc sĩ phu tha thiết vì dân tộc - Nguyễn Đình Chiểu nói riêng, tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã được phản ánh một cách sâu sắc và
đã góp phần làm nên nét đặc sắc, nổi bật trong quan niệm về đạo làm người của ông
Thứ nhất, vai trò của đạo lý làm người trong truyền thống của dân tộc Việt Nam trong quá trình hình thành quan niệm về đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu
Với tư cách là nhà thơ tài ba, nhà văn hoá và nhà đạo đức lớn, cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu nói chung, quan niệm về đạo làm người của ông nói riêng một mặt phản ánh, bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX và thực tiễn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; mặt khác là sự
kế thừa, phát triển những quan niệm về đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam
Trang 38Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam được biết đến như một gia có nền văn hiến lâu đời, tồn tại cùng những bản sắc văn hoá truyền thống và đó “là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” [20; tr 56] Biểu hiện cụ thể của nó là: lòng nồng nàn yêu nước, ý chí tự lực tự cường, tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trọng nghĩa tình,… hay nói khác hơn đó cũng chính là đạo lý, đạo làm người mẫu mực của người Việt Nam
Cái nôi của dân tộc Việt Nam vốn hình thành trên lưu vực sông Hồng cùng với các lưu vực sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam Từ đó, các nhà nước với quốc hiệu, niên đại khác nhau trên một cùng lãnh thổ như Văn Lang, Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Việt lần lượt hình thành Trên một lãnh thổ có núi cao, sông dài, rừng sâu; tuy diện tích đồng ruộng rộng lớn, đất đai màu mỡ thiên nhiên ưu đãi cho nhiều sản vật nhưng xứ sở này thường xuyên phải chịu nhiều thiên tai, bão lụt Hơn thế nữa, sau những trận mưa dầm trên thượng nguồn, nước sông Đà, sông Thao, sông Lô,… đổ xuống miền đồng bằng ầm ầm, cuồn cuộn tựa thác lũ gây nên cảnh lụt lội đồi nương, ruộng vườn; cuốn phăng cả gia súc, tài sản, mùa màng,… đe doạ cả tính mạng con người Giông tố, bão bùng làm nhấn chìm nhà cửa, tàu thuyền, đưa nước mặn vào đồng ruộng, Với hoàn cảnh như vậy, con người buộc phải đoàn kết lại để có sức mạnh chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt Chẳng biết tự bao giờ, các bộ lạc anh em lưu vực sông Hồng hợp thành nhà nước Văn Lang rất sớm và cực kỳ bền vững Có lẽ chính nhờ vào sự trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt trong cuộc sống đã giúp tôi luyện, hun đúc nên một bộ phận cư dân Văn Lang, Đại Việt với sức chịu đựng gian khổ dẻo dai, kiên trì đấu tranh, lạc quan, bền bỉ lao động, sáng tạo, đoàn kết thân ái, tin vào sức mạnh cố kết cộng đồng keo sơn Như vậy, hoàn cảnh địa lý tự nhiên, thiên nhiên đã góp phần làm nên sự hình thành những đức tính tốt đẹp của người Việt Nam ngay từ buổi ban đầu
Trước khi các triều đại phong kiến phương Bắc xâm lược cũng như khi chưa có
sự du nhập của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo vào Việt Nam, dân tộc ta không những
có một lịch sử dựng nước sớm mà còn có một nền văn minh lâu đời Trong quá trình tập hợp các bộ lạc trên một vùng đất, người Việt cổ đã cùng nhau xây dựng nên một quốc gia thống nhất đầu tiên được mở rộng từ lãnh thổ nhà nước Văn Lang (khoảng
Trang 39năm 700 - 258 trước Công nguyên) sang lãnh thổ nhà nước Âu Lạc (khoảng năm 257 -
208 trước Công nguyên) và đã hình thành nên một nền văn minh đầu tiên, đó là nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc (hay còn gọi là văn minh sông Hồng) Nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc mang dấu ấn của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ; đồng thời, nền văn minh này là kết quả của sự kết tinh những giá
trị truyền thống, cốt cách, lối sống, đạo làm người của người Việt cổ thể hiện đậm nét qua tín ngưỡng dân gian, ở tục thờ cúng ông bà, tổ tiên; lòng biết ơn, tôn kính bậc sinh thành và các anh hùng, trung thành với bộ tộc, bộ lạc, tin yêu tù trưởng, thủ lĩnh; tổ chức sống hài hoà với tự nhiên, thích nghi và hội nhập, lối ứng xử mềm mỏng, khoan dung, mọi người sống với nhau trong tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, tình làng nghĩa xóm mặn nồng,… Ngoài ra, cư dân thời Việt cổ còn tin vào tục thờ cúng các vị thần
linh như Thổ Công, Táo Quân, Thần Lúa và các vị thần theo những hiện tượng tự nhiên như: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện,… theo họ, các vị thần này rất linh thiêng, đầy quyền năng và xuất hiện ở mọi nơi để trừng phạt những kẻ gieo cái ác, phò trợ, khen thưởng những người lương thiện, nghèo khó Nhưng để hiểu sâu sắc hơn
về đạo làm người của người Việt thời cổ, không có nguồn tư liệu nào đặc sắc, phong phú hơn là dựa vào thần thoại và truyền thuyết nổi bật như: họ Hồng Bàng, thần Tản Viên, Thánh Gióng, Rùa Vàng, Hai Bà Trưng Bởi lẽ, tuy chúng một phần là sản phẩm của trí tưởng tượng nhưng đều chứa đựng những yếu tố hiện thực về thiên nhiên, xã hội, phong tục tập quán và đặc biệt là trong đó còn có tính lịch sử
Trước hết, nổi bật cho đạo lý làm người thời Việt cổ là nội dung của truyện họ
Hồng Bàng và cốt truyện được phát triển chủ yếu theo các thế hệ nguyên thuỷ Với lối
kể theo cách tự nhiên, đơn giản nhưng lại là di sản ông cha để lại cho con cháu về niềm tin vĩ đại ở sự hình thành dân tộc và nhà nước một cách lâu dài Trong đó, khái niệm
về “đồng bào” Việt Nam đều là con Hồng - cháu Lạc đã được lý giải bằng câu chuyện mang màu sắc thần thoại: Lạc Long Quân - Âu Cơ Qua đó, bài học về tình thương yêu, đoàn kết dân tộc như luôn được khơi gợi qua câu tục ngữ quen thuộc:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước thì thương nhau cùng.”
Cụ thể, cái đức “thương người” lớn lao của nhân dân từ thời cổ đại Văn Lang đã
Trang 40được xây dựng qua hành động anh hùng của Lạc Long Quân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh cứu dân lành Điều đó minh chứng rằng: trong quá trình sống và phát triển của mình, tổ tiên Lạc Việt đã bám trụ trên mảnh đất thân thuộc này bằng những trận đấu và chiến thắng vẻ vang, để lại vô số câu chuyện đầy tình nghĩa với quê hương, với giống nòi Như vậy, tình yêu quê hương, nòi giống và tự hào về nguồn gốc, dân tộc chính là bài học đầu tiên về đạo lý làm người mà ông cha đã gửi gắm qua truyện họ Hồng Bàng này
Thứ hai, trong kho tàng truyện thần thoại Việt Nam, ngôi vị cao hơn hết cả phải
kể đến là Thần Tản Viên Vị phúc thần này là một trong 50 người con của Lạc Long Quân ngự trên đỉnh Ba Vì ngày ngày trông nom cuộc sống của dân lành Nội dung tư tưởng chính của truyện là mạch nối tiếp với truyện Hồng Bàng ở sự nỗ lực trị thuỷ Tuy nó mang tính chất thần thoại nhằm ca ngợi tầm vóc của nhiều thế hệ trên lưu vực sông Hồng hàng năm phải chiến đấu chống chọi với thiên tai, bão lụt nhưng đó cũng chính là sự lao động không ngừng nghỉ, phấn đấu trong tinh thần đoàn kết để xây dựng quê hương, xứ sở, mang lại cuộc sống ấm no, an cư lạc nghiệp cho mọi người
Thứ ba, nội dung đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua
truyện Thánh Gióng chính là tư tưởng yêu nước, thương nòi, đoàn kết chống giặc ngoại xâm đã sớm hình thành và phát triển ngay từ thời nguyên thuỷ Những trận dã chiến quyết liệt thường xuyên xảy ra trên địa bàn cư trú của người Việt cổ vốn dĩ đã quá quen thuộc và làm sản sinh ra các nhân vật anh hùng, kiệt xuất Nhưng nét điển hình trong hình tượng nhân vật thần thoại Việt Nam chính là hình ảnh của con người trí dũng song toàn; đạo đức cũng như hành động vô cùng cao đẹp Câu chuyện đặc biệt
kể về một cậu bé chưa biết nói, biết cười nhưng đến khi nghe sứ giả rao cầu hiền tài dẹp giặc, cứu nước đã cất lên tiếng đầu tiên và cũng chính là tiếng nói của lòng yêu nước, của ý chí quyết thắng; đến khi vươn vai lớn dậy đã dốc sức cứu nước, trừ loạn cho dân Song, khi giành được chiến thắng, vị thần làng Phù Đổng cỡi ngựa bay về trời
mà không về triều nhận ban thưởng bổng lộc hay chức tước Hành động đó đã biểu hiện ý chí phục vụ vô tư, quên mình, chỉ dốc lòng cho việc trung, việc nghĩa xứng đáng trở thành tấm gương mẫu mực của đạo lý làm người Việt Nam
Thứ tư, nội dung tư tưởng của người Việt cổ về việc truyền tụng và giáo dục chủ