Chúng tôi nhận thấy rằng, tại thời điểm này vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội mà chỉ tập trun
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2014
Tên công trình:
THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH NAM ĐỐI VỚI VAI TRÒ VÀ VỊ
TRÍ CỦA HỌ TRONG GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI
( Điển cứu tại trung tâm ICS )
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Phạm Thị Tâm
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm : Nguyễn Văn Quý ( Nam, lớp Công tác xã hội k5, năm 3) Thành viên:
1 Trần Thị Thu Thảo ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)
2 Lê Lương Thị Duyên ( Nữ, lớp Công tác xã hội k5, năm 3)
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
2.1 Mục tiêu tổng quát: 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng khách thể, phạm vi nghiên cứu: 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2 Khách thể nghiên cứu: 2
3.3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn 3
4.1 Ý nghĩa lí luận 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
5 Phương pháp và kĩ thuật nghiên cứu: 3
5.1 Phương pháp luận: 3
5.2 Các phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật điều tra: 3
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 3
5.2.2 Phương pháp quan sát 4
5.2.3 Kĩ thuật xử lí thông tin 4
6 Kết cấu của đề tài 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 5
1.1.1 Tài liệu ghi chép từ sách 5
1.1.2 Tài liệu trực tuyến 10
1.2 Các hướng tiếp cận và lí thuyết ứng dụng 15
1.2.1 Hướng tiếp cận xã hội hóa 15
1.2.2 Thuyết tương tác biểu tượng 16
1.2.3 Thuyết nhận thức 17
1.2.4 Thuyết nhu cầu của Abram Maslow 17
1.3 Thao tác hóa khái niệm 18
1.3.1 Một số thuật ngữ 18
Trang 31.5 Khung phân tích 25
CHƯƠNG 2 26
2.1 Vài nét về trung tâm ICS 26
2.1.1 Lịch sử thành lập 26
2.1.2 Sứ mệnh 26
2.1.3 Giá trị 26
2.1.4 Các lĩnh vực hoạt động 26
2.1.5 Các chương trình đang diễn ra 27
2.1.6 Tầm nhìn 27
2.2 Nhận thức của những người đồng tính về vai trò, vị trí của họ trong gia đình và xã hội 29
2.3 Thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia 30
đình và xã hội 30
2.4 Tìm hiểu nguyên nhân hình thành thái độ của người đồng tính nam 32
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35
1 Kết luận 35
2 Kiến nghị 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
PHẦN PHỤ LỤC 38
Trang 4TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài :Thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ
trong gia đình và xã hội
Duyên
3 Lý do chọn đề tài: Hiện nay, chủ đề LGBT hiện đang nhận được sự quan tâm của
xã hội Từ năm 1997 đến nay, Việt Nam có rất nhiều thay đổi về cách nhìn nhận của cộng đồng đối với LGBT Chúng tôi nhận thấy rằng, tại thời điểm này vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội mà chỉ tập trung vào cách nhìn của xã hội đối với LGBT,đặc biệt là người đồng tính nam Trước tình hình như thế, chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài này
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu thái độ của người đồng tính nam đã và đang tham gia
các hoạt động tại trung tâm ICS về vị trí của họ trong gia đình và cộng đồng Từ
đó đề xuất những hỗ trợ của gia đình và xã hội giúp người đồng tính nam hòa nhập với cộng đồng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và
vị trí của họ trong gia đình và xã hội
Đề tài thông tin từ tiến hành thu thập những người đồng tính nam không phân biệt tuổi tác, quê quán, thành phần gia đình,… đã từng tham gia hoạt động của trung tâm ICS
Không gian: Trung tâm ICS
Thời gian: Từ 10/2013 đến tháng 3/năm 2014
tài liệu
6 Kết quả nghiên cứu: Đề tài đã tìm hiểu được một phần thái độ của người đồng
Trang 5và thái độ của họ đều tích cực đối với gia đình và xã hội Đối với người đã công khai giới tính thật, họ cho rằng giới tính của họ không ảnh hưởng đến vai trò và vị trí của
họ trong gia đình và xã hội Còn ngược lại, những người chưa công khai thì đang phảiđối mặt với những áp lực của chính bản thân, kì vọng của gia đình và dư luận xã hội Tuy nhiên, cả hai trường hợp trên đều muốn khẳng định bản thân và xây dựng tương lai, sự nghiệp ổn định Qua quá trình khảo sát, nguyên nhân hình thành thái độ của trên
là do môi trường xung quanh và tâm lí của bản thân người đồng tính
Đối với người đồng tính nam nói riêng và cộng đồng LGBT nói chung, họ cần phải chủ động thể hiện năng lực và con người họ, cần chủ động tìm đến các dịch vụ xã hội khi bản thân có vấn đề
Trang 6từ đó các phong trào của người đồng tính cứ lớn mạnh dần, lan sang các nước châu
Âu, rồi sang châu Á, châu Phi và trở thành một làn sóng mạnh mẽ trên toàn thế giới
Tại Việt Nam, dư luận quan tâm đến chủ đề này là từ đám cưới đồng tính đầu tiên giữa hai chàng trai tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1997, trong đám cưới có 100 khách mời, tuy nhiên đám cưới này đã bị dư luận phản đối và bị bác bỏ giấy phép đăng kí kết hôn Cũng giống như lịch sử ở các nước phương Tây, xã hội Việt Nam rất phản đối đồng tính luyến ái, họ không hề ngại ngần cho thấy cái nhìn kì thị, xa lánh và thiếu thiện cảm đối với người đồng tính Báo chí bắt đầu đề cập đến vấn đề đồng tính, tuy nhiên những bài viết thường hướng đến những vụ án liên quan đến người đồng tính,đối tượng mại dâm nam hoặc những đối tượng chuyển giới Từ đó, đưa ra những cái nhìn kì thị, chê trách, đánh đồng một bộ phận nhỏ đó với toàn bộ cộng đồng đồng tính
và định hướng dư luận về đồng tính là sai trái, lệch lạc, đáng lên án Về sau, cũng có những bài báo, khi viết về đồng tính luyến ái, có trích dẫn ý kiến của những bác sĩ, chuyên gia trong nhiều lĩnh vực về vấn đề này.Tuy nhiên, với một vấn đề còn khá mới như vậy, những người được mời cho ý kiến đã lấp đầy lỗ hỏng trong kiến thức khoa học của mình bằng cái nhìn trên phương diện đạo đức và thuyết phục dư luận bằng uy tín cá nhân, góp phần làm cho cái nhìn về người đồng tính thêm phần sai lệch
Những năm gần đây, trên mạng internet đã hình thành nhiều diễn đàn dành cho người đồng tính, trong đó không ít những diễn đàn khá có uy tín và thường xuyên có các hoạt động nhằm nâng cao hình ảnh của người đồng tính Và với những cố gắng đó, một số bộ phận người trong xã hội bắt đầu nhìn nhận lại về cộng đồng này, tuy nhiên
số lượng người có cái nhìn tương đối công bằng hơn với người đồng tính vẫn chỉ
Trang 7một nghiên cứu nào là chính thức và mang tính phổ quát
Trước thực trạng như thế, chúng tôi mong muốn thực hiện một cuộc nghiên cứu liên quan đến thái độ của người đồng tính đối với vai trò của họ trong gia đình và xã hội, đặc biệt là người đồng tính nam Từ đó, có những đề xuất, giải pháp thích hợp điều chỉnh thái độ đúng đắn cho người đồng tính nam Đồng thời, cung cấp cho xã hội những cái nhìn đúng đắn hơn về người đồng tính
2 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Tìm hiểu thái độ của người đồng tính nam đã và đang tham gia các hoạt động tại trung tâm ICS về vị trí của họ trong gia đình và cộng đồng Từ đó đề xuất những hỗ trợ của gia đình và xã hội giúp người đồng tính nam hòa nhập với cộng đồng
- Tìm hiểu nguyên nhân hình thành thái độ của người đồng tính nam
3 Đối tượng khách thể, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Đề tài tiến hành thu thập thông tin từ những người đồng tính nam không phân biệt tuổi tác, quê quán, thành phần gia đình,… đã từng tham gia hoạt động của trung tâm ICS
Trang 83.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian thực hiện của đề tài được tiến hành từ 10/2013 đến tháng 3/năm 2014
4 Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
Với mục đích tìm hiểu về thái độ của những người đồng tính nam về vai trò và vị trí của họ trong xã hội để họ nhận thấy được vai trò vị trí của mình như thế nào đối với gia đình và xã hội Từ đó giúp họ hiểu rõ hơn và tạo điều kiện để họ hòa nhập với xã hội, làm cho xã hội thừa nhận và chấp nhận họ
5 Phương pháp và kĩ thuật nghiên cứu:
5.1 Phương pháp luận:
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tìm hiểu một cách tổng quát, đầy đủ về vấn đề đồng tính luyến ái
5.2 Các phương pháp nghiên cứu và kĩ thuật điều tra:
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Dựa trên những tài liệu liên quan mà chúng tôi cập nhập được, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo in, báo mạng, các diễn đàn, mạng xã hội,
Trang 9Các tư liệu trên đều đã được phân tích, hệ thống hóa sử dụng trong đề tài và sắp xếp thành thư mục tham khảo.
Phương pháp nghiên cứu định tính:
Với phương pháp chọn mẫu phi xác suất bằng loại mẫu thuận tiện tiến hành chọn 5 mẫu để phỏng vấn sâu về những vấn đề xoay quanh đề tài Họ là những người sẵn lòng trả lời để chúng tôi lấy thông tin Từ đó nhìn nhận được những nhận thức đối với vai trò của người đồng tính nam trong gia đình và xã hội Nội dung phỏng vấn được ghi chép lại để làm sáng tỏ những câu hỏi nghiên cứu được đặt ra trong đề tài
5.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát thực tế thái độ của người đồng tính nam khi được phỏng vấn
5.2.3 Kĩ thuật xử lí thông tin
Các thông tin dữ liệu thu nhập được sẽ được sắp xếp thành các chủ đề xoay quanh đề tài, làm cơ sở lý luận cho đề tài
Các thông tin định tính được lọc ra, sử dụng theo chủ đề dưới dạng các trích dẫn, được phân tích nội dung
6 Kết cấu của đề tài
Bài nghiên cứu gồm những phần sau:
1.3 Thao tác hóa khái niệm
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Chương 2: Thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội
2.1 Vài nét về trung tâm ICS
2.2 Tìm hiểu nhận thức của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội
2.2 Thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÍ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Đồng tính luyến ái đang là một chủ đề nóng không chỉ ở Việt Nam mà còn là ở trên thế giới Tuy nhiên các tài liệu về đồng tính luyến ái lại chưa có nhiều, đặt biệt là Việt Nam, các tài liệu khoa học cũng như những đề sách nghiên cứu về đồng tính có rất ít, hoặc khó tiếp cận Nếu tìm thấy , thì chủ đề đồng tính cũng chỉ là một hoặc hai chương trong cuốn sách, phạm vi nghiên cứu chưa bao quát hết Các tài liệu trên mang thì nhiều hơn, tuy nhiên cũng không thể gọi là phong phú và có độ tinh cậy chưa cao
1.1.1 Tài liệu ghi chép từ sách
Ajahn Chan, Đời sống con người và xã hội ngay nay, 2010,NXB Phương Đông
Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến vấn đề sai lệch về tình dục, bao gồm: Đồng tính luyến ái, song tính luyến ái, ăn mặc như người khác giới Tác giả đã trình bày rất rõ ràng những hiểu biết của mình về những khái niệm trên thông qua việc phân biệt khái niệm đồng tính luyến ái với các khái niệm giả dạng người khác giới và người thay
đổi giới Theo bà:
Đồng tính luyến ái là người cùng giới lôi cuốn nhau cả về tinh thần lẫn xác thịt.Giả dạng người khác giới: Thấy hài lòng trong việc mặc quần áo của người khác giới.Người thay đổi giới: Người có quyết định sống như người khác giới, có thể cương quyết đến mức dùng phẫu thuật để thay đổi hình dạng bên ngoài
Cũng theo tác giả, người đồng tính luyến ái không nhất thiết cũng giả dạng người khác giới hay là người thay đổi giới tính Và ngược lại người giả dạng người khác giới hay chuyển đổi giới cũng chưa chắc là người đồng tính luyến ái
Trong cuốn sách của mình, Ajahn Chan đã phân biệt rất kĩ các khái niệm trên, tuy nhiên đồng tính chỉ được bà miêu tả trong nội dung một chương, vài trang nên không tránh khỏi việc sơ lược, thiếu sót và còn nhiều nghi vấn Bên cạnh đó bà cũng
Trang 11Đàm Đại Chính, Văn Hóa Tình Dục và Pháp Luật 2005,NXB Thế Giới Đầu
tiên, cuốn sách đã trình bày tổng quát về lịch sử đồng tính luyến ái ở phương Tây vàTrung Quốc trong đó có đề cập tới một trong những nơi đầu tiên xảy ra cuộc “cách mạng tình dục”, đó là nước Mỹ những năm 60,70 của thế kỉ 20, trong cuộc cách mạng này, những người đồng tính đã tập hợp lại, tổ chức biểu tình, công khai giới tính, đòi quyền lợi cho mình
Tiếp theo, cuốn sách còn đưa ra các lý thuyết về nguồn gốc Đồng tính Luyến ái, phân tích các ưu khuyết điểm của các thuyết đó:
Thuyết tiết hoocmon không cân bằng: Theo thuyết này, người đồng tính nam có hoocmon nam thấp hơn người bình thường nên dẫn đến đồng tính Tuy nhiên, ngay cả những người có hoocmon nam thấp hơn bình thường cũng không phải đều là ngườiđồng tính, cũng có số đông những người đó là người có thiên hướng tình dục bình thường Như vậy, lý thuyết này là không chính xác
Thuyết nghiên cứu di truyền học: Theo di truyền học, đồng tính không chỉ có ở người mà còn rất phổ biến trong giới động thực vật, đặc biệt là loài linh trưởng, mà nguồn gốc có họ hàng gần với nguồn gốc con người Tác giả còn nêu lên cơ chế giao phối kiểu nhị nguyên, một dạng để củng cố, duy trì thế mạnh trong nội bộ giới Cũng theo thuyết này thì nguồn gốc của đồng tính là do yếu tố gen, cho rằng những ngườiđồng tính có bộ gen đã bị biến đổi một phần nào đó dẫn đến khuynh hướng giới tính thay đổi Giả thuyết này tương đối thuyết phục tuy nhiên, tác giả lại đề cập đến sự di truyền kiểu gen bị biến đổi này, và giải thích rằng, tuy người đồng tính không thể có con, tuy nhiên do kiểu gen của họ khá mạnh nên họ có khuynh hướng gây tác động lên kiểu gen của anh chị em gần gũi với họ, và điều này giúp duy trì kiểu gen đó cho thế
hệ sau Kiểu giải thích này, không được ủng hộ nhiều lắm do sự phi lý của nó
Thuyết lý luận tâm lý học: Tâm lý học lại cho rằng đồng tính luyến ái là hậu quả do nguyên nhân đặt biệt thời kì trẻ thơ gây ra tâm lý không lành mạnh sau này Ngoài ra một phần còn do ảnh hưởng từ sự chăm sóc và nuôi dạy trong gia đình mà ra,
ví dụ: Một đứa bé gái nếu dó người mẹ mong muốn có con trai mà không được nên đã nuôi dạy đứa bé gái như bé trai và cho ăn mặc như bé trai thì sẽ ảnh hưởng đến khuynh hướng biểu hiện giới tính của đứa bé ấy sau này Tuy nhiên, lý thuyết này cũng còn nhiều chỗ không giải thích được nên vẫn còn nhiều tranh cãi
Thuyết ảnh hường từ tập tục xã hội: Xảy ra trong xã hội mà đồng tính luyến áiđược pháp luật thừa nhận, được dư luận xã hội khoan dung, trong bầu không khí “ tự
Trang 12do tình dục”, nhiều người đã muốn thử sống như một người đồng tính dần dần trở nên quen thuộc và không muốn trở lại giới tính của mình nữa Tác giả của cuốn sách có vẻ tán đồng với ý kiến này, tuy nhiên việc giải thích cũng chỉ mới dừng lại ở những giảđịnh, chưa thật sự thuyết phục.
Ngoài ra trong cuốn sách của mình, tác giả còn tìm ra đươc thái độ của pháp luật đối với đồng tính luyến ái:
Từ thời trung cổ đến nay, cả giáo lý Cơ Đốc giáo và pháp luật phương Tây đềuđánh đồng đồng tính luyến ái với những hành vi biến thái (giao cấu với trẻ vị thành niên ) hay tình dục biến dạng ( thích khoe với người khác bộ phận sinh dục ) là một
và có thái độ ghê tởm, xem đồng tính là bệnh hoạn và trừng trị rất dã man ( thiêu sống, chém đầu, ném đá…hay nhẹ nhất là bỏ tù)
Ở Trung Quốc, trước đây, đồng tính luyến ái cũng bị kì thị, cho là sản phẩm
“ngoại lai” từ phương Tây và người đồng tính cũng bị cho là bệnh hoạn, biến thái và cần phải trừng trị thích đáng Từ năm 1991, bắt nguồn từ việc mở cửa và hội nhập thế giới, việc nhìn nhận và thái độ đối với đồng tính luyến ái mới thận trọng và có trách nhiệm hơn
Ở Phương Tây hiện nay, nhiều quan niệm mới về đồng tính luyến ái cũng được hình thành Theo những quan niệm đó: chỉ cần hành vi đồng tính luyến ái của thiểu số người không làm đồi bại phong tục hoặc tổn thương trật tự xã hội thì nên khoan dung
và bảo hộ, không tố tụng và sử dụng hình phạt, dư luận cũng không nên trách mắng, kì thị
Cuốn sách đã đưa ra được nhiều thông tin về quan điểm nhìn nhận của xã hội
về vấn đề đồng tính từ xưa cho đến nay, cũng như thái độ của pháp luật đối với ngườiđồng tính Tuy nhiên các thông tin tác giả đưa ra chỉ là ở phương Tây và Trung Quốc, còn tình hình ở Việt Nam thì vẫn còn bỏ ngỏ
Khuất Thu Hồng- Lê Bạch Dương- Nguyễn Ngọc Hường,Tình dục chuyên
dễ đùa khó nói, 2009, NXB Tri Thức Các thông tin mà tác giả đưa ra trong cuốn sách
đều nhằm trả lời cho các câu hỏi: Tình dục đồng giới được hiểu như thế nào? Người có khuynh hướng tình dục đồng giới được nhìn nhận ra sao? Thái độ của xã hội đối với
họ như thế nào?
Trang 13Trong cuốn sách tác giả đưa ra các khái niệm:
Tình dục đồng giới: Tình dục giữa những người cùng giới tính
Khuynh hướng tình dục: Chỉ việc một người bị hấp dẫn tình dục với người cùng giới (đồng tính luyến ái) hay khác giới ( dị tính luyến ái) hoặc cả hai giới ( song tính luyến ái)
Nhân dạng tình dục: Đồng tính, dị tính hay song tính luyến ái
Nhân dạng giới: Là cảm nhận của cá nhân về các đặc điểm, giá trị và các mối quan hệ của mình như là nam giới, nữ giới hay một giới khác
Hành vi tình dục: Thực hành tình dục, hành vi tình dục không nhất thiết phản ánh nhân dạng tình dục và ngược lại
Ngoài ra tác giả còn phân biệt:
Đồng tính luyến ái: Từ Hán Việt chỉ quan hệ tình yêu tình dục giữa những người cùng giới tính, mang tính “ hàn lâm” cao Một số từ lóng tiếng Việt để chỉ đồng tính luyến ái như: đồng cô, bóng, pê đê, kê gian…
MSM( man have sex with men)/ WSW( women have sex with women): được tác giả cho là những thuật ngữ nghèo nàn không thể mô tả các biến thể của hành vi tình dục, được dùng như một cách phân loại hành vi tình dục nhằm xác định rõ các hành vi chủ yếu hoặc các nhóm có hành vi đặt trưng khiến cho nhóm đó có nguy cơ cao đối với việc lây nhiễm HIV Những MSM / WSW chưa chắc là những người đồng tính mà chỉ là những người có hành vi tình dục với người đồng giới Tuy nhiên do không có sự giải thích và thống nhất mà trên thế giới và cả ở Việt Nam, thuật ngữ này
đã được sử dụng rất tùy tiện và đánh đồng với thuật ngữ đồng tính nam/ nữ
Sau khi đã trình bày các khái niệm, tác giả còn đưa ra được tình hình về quan niệm của xã hội Việt Nam về đồng tính: Mối quan hệ giữa đồng tính luyến ái và nguyên nhân lây truyền HIV, ảnh hưởng của vấn đề đối với truyền thống, cái nhìn của pháp luật đối với vấn đề Và quan trọng nhất là ảnh hưởng và thái độ của báo chí, truyền thông đối với vấn
đề này: Tác giả chỉ ra tầm ảnh hưởng của báo chí đối với nhận thức và thái độ của mọi người đối với đồng tính là rất lớn Tuy nhiên cái nhìn của báo chí lại thường không khách quan, tiêu cực, lên án, phê phán nặng nề Khi viết bài về người đồng tính, các nhà báo thường tập trung nhấn mạnh về sự “ đặc biệt” của các vụ án liên quan đến người đồng tính, một số khác khi viết bài có trích dẫn ý kiến của những chuyên gia về sức khỏe sinh
Trang 14sản, tuy nhiên những người này khi cho ý kiến cũng có “ lẫn lộn giữa khía cạnh đạo đức và y học” Những thiếu hụt về kiến thức khoa học lại được họ bù đắp bằng những luận điểm đạo đức Đáng tiếc là với quyền lực có
được từ chuyên môn của họ các chuyên gia này trở thành những người dẫn dắt các diễn ngôn chủ đạo về tình dục Ý kiến của họ trở thành chân lý Như vậy, thay vì giúpđọc giả hiểu rõ hơn về người đồng tính, các bài báo này lại có khuynh hướng gây nhiều bối rối hơn cho đọc giả, hướng đọc giả đến sự kì thị, xa lánh và nhận thức sai lệch về người đồng tính
Bên cạnh đó, tác giả còn dành hẳn một phần để nêu lên nguồn gốc của sự ámảnh và kì thị đối với người đồng tính Trong đó tác giả đưa ra các lý do: Bắt nguồn từ quan điểm hệ thống giới hai giá trị, cho rằng sự cân bằng tự nhiên là nền tảng cho một xã hội ổn định, quan hệ tình dục giữa đàn ông và đàn bà là để duy trì sự cân bằng tự nhiên và
ổn định của xã hội Từ quan điểm hẹp hòi đó mà quan hệ tình dục giữa hai người đồng giới là sai trái, theo chủ nghĩa cá nhân, ích kỉ và không mang lại các lợi ích cho xã hội, cho nên đáng lên án và kì thị Bên cạnh đó, những chuẩn mực trong quan hệ tình dục cho rằng quan hệ tình dục giữa nam và nữ mới là bình thường, mới có thể
đem lại sự thỏa mãn thì quan hệ đồng giới trở nên trái tự nhiên và kì quặc
Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày rất cụ thể và chi tiết về sự nhận thức
và thái độ của người Việt Nam đối với vấn đề đồng tính, có những dẫn chứng cụ thể, trích dẫn lời những người được phỏng vấn sâu.Tuy nhiên số liệu mà tác giả đưa ra có trước năm 2004, và có ít thông tin trong vòng 5 năm trở lại đây, khách thể nghiên cứu cũng có độ tuổi tương đối lớn, chủ yếu từ 25 đến 40 tuổi, không có độ tuổi thanh thiếu niên Bên cạnh đó, về nội dung nghiên cứu, tác giả thừa nhận chỉ tìm được nhiều dữ liệu về đồng tính nam, ít dữ liệu về đồng tính nữ và những người song tính luyến ái
PGS.TS Nguyễn Như Hiền, Giới tính tình dục tình yêu, 2006, NXB từ điển bách khoa Tác giả đưa ra số liệu thống kê rằng trong cộng đồng, tỉ lệ đồng tính nam
chiếm 2-4% nhiều hơn so với đồng tính nữ Trong cuốn sách tác giả nhấn mạnh đồng tính là hiện tượng tự nhiên, hiện tượng sinh lý bình thường Với nhận định đó, tác giả
đã đưa ra những dẫn chứng từ di truyền học, sinh học, để chứng minh cho nhận định của mình Tác giả viết rằng, cơ sở sinh học của tập tính luyến ái bẩm sinh là do biếnđổi kiểu gen, các nhiễm sắc thể quy định giới tính nữ là XX và giới tính nam là XY đã
Trang 15bị biến đổi ở đâu đó dẫn đến khuynh hướng tình dục bị biến đổi Ngoài ra,những người bị thay đổi tập tính tình dục trong quá trình sống và phát triển là do bộ phận trung khu phân hóa hướng giới của não là phần trước dưới đồi não bị chuyển đổi từ hướng khác giới sang hướng đồng giới nhưng không chỉ ra được cụ thể là như thế nào Tác giả đã vận dụng lý thuyết đó để giải thích cho việc một người đàn ông lúc đầu có vợ có con nhưng sau đó lại muốn quan hệ với một người đàn ông khác Tác giả còn đề cập đến mối quan hệ phức tạp của các tác động đó đến việc thay đổi tập tính tình dục
Tuy có đưa ra những cơ sở về sinh học, di truyền học cho vấn đề, tuy nhiên cách trình bày của tác giả còn chung chung, chưa đưa ra được những nghiên cứu cụ thể, có nhiều giả thuyết chưa có tính thuyết phục cao
Ts Phạm Đình Huỳnh, Ths.Nguyễn Thị Đào, bác sĩ Lê Minh Giang, Việt Nam đưa tin về tình dục và tình dục an toàn, phân tích hai tờ báo Nhân Dân và Thanh Niên, 2005 Bài nghiên cứu đã thống kế được các bài báo trên báo Thanh niên
và báo Nhân Dân trong năm 1997, 2000, 2002 về chủ đề định hướng và đặc tính tình dục, trong chủ đề này gồm có vấn đề đồng tính luyến ái, chuyển giới tính và ái nam ái
nữ Theo thống kê, trên báo Nhân Dân có 54 bài chiếm 2,82% bài đăng, trên bao Thanh Niên có 15 bài đăng, chiếm1.02%
Các bài đăng trên báo thường là những mẫu tin nhỏ, ngắn, ít có nhhững bài phóng sự hay những bài viết dài Tác giả còn đưa ra hai bài đăng dài trên báo Thanh Niên là “ Điệu múa Pê đê” và “ những tiếng kêu báo động về những nguy cơ ở một nhóm những người trẻ” để cho thấy cái nhìn kì thị, chủ quan, thiếu cơ sở khoa học của những nhà viết báo
Bài nghiên cứu đã phần nào chỉ ra mức độ thiếu tin cậy của những bài đăng trên báo và sự chú ý của báo chí về đề tài này Tuy nhiên đồng tính luyến ái chỉ là một khía cạnh nhỏ trong bài nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót cũng như không cho thấy đươc sự quan tâm của tác giả đối với vấn đề
1.1.2 Tài liệu trực tuyến
Có rất nhiều nguồn cung cấp thông tin từ mạng internet, tuy nhiên chúng tôi xin nêu ra những dữ liệu lấy từ hai trang tương đối có uy tín trong cộng đồng mạng để đưa vào phần tổng quan nghiên cứu:
Trang 16Trên trang bách khoa toàn thư mở Wikipedia, chúng tôi tìm hiểu ở hai chủ đề
là Đồng tính luyến ái và Đồng tính, lưỡng giới và chuyển giới ở Việt Nam
Trong chủ đề Đồng tính luyến ái đã nêu lên tình hình chung, bao quát của đồng
tính luyến ái trên thế giới, thái độ kì thị người đồng tính trong quá khứ cũng như nhữngđiều luật khoan dung và cái nhìn thoáng hơn đối với người đồng tính hiện nay ở những quốc gia phương Tây Điều đáng quan tâm nhất đó là, trang này đã đưa ra đươc một số thống kê về số lượng người đồng tính trên thế giới: Tỉ lệ người đồng tính luyến
ái gần như không thay đổi ở mọi xã hội, thời đại Họ chiếm khoảng từ trên 1 đến 10% Đồng tính nam nhiều hơn nữ Rất khó ước lượng đúng tỉ lệ người ĐTLA trong xã hội
vì ít ai dám chịu nhận mình là ĐTLA
Vấn đề làm cha làm mẹ của người đồng tính cũng đươc đề cập tới: Đã có nhiều công trình nghiên cứu so sánh những đứa trẻ do các bậc cha mẹ ĐTLA nuôi dạy với những đứa trẻ do các bậc cha mẹ có xu hướng tính dục khác giới nuôi dạy thì thấy không có sự khác biệt nào giữa 2 nhóm trẻ này về mặt chỉ số thông minh, điều chỉnh tâm lý - xã hội, chan hòa với bạn bè, phát triển giới tính, bản sắc giới và xu hướng tình dục
Còn có một sự ngộ nhận nữa cho rằng người ĐTLA nam có xu hướng quấy rối tình dục trẻ em nhiều hơn những người nam bình thường Thật ra chưa có bằng chứng nào về mặt này
Trong chủ đề đồng tính , lưỡng tính và chuyển giới ở Việt Nam chủ yếu nói
về tình hình đồng tính ở Việt Nam, có nhắc một chút về tình hình trong lịch sử cũng như thái độ của pháp luật Việt Nam đối với đồng tính từ xưa cho đến nay Trong tất cả vấn đề được đề cập đến, chúng tôi quan tâm nhất là :
+ Tình hình nghiên cứu đồng tính ở Việt Nam:
Ở Việt Nam chưa từng có thống kê trên cả nước hoặc một vùng nào đó về số lượng hay tỉ
lệ người đồng tính trong dân chúng cũng như những khía cạnh kinh tế, xã hội, văn hóa, sức khỏe của người đồng tính Một số cuộc thăm dò quy mô nhỏ hoặc chỉ hướng tới một
số đối tượng đã được thực hiện Một cuộc thăm dò của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007 tiến hành trên 300 học sinh của ba trường Trung học Cơ sở
và Trung học Phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 42% học sinh cho rằng 1% học sinh trong trường mình là đồng tính, 2% học sinh cho
Trang 17rằng tỉ lệ này là 5%, 8% học sinh cho rằng 10%, còn 25% học sinh còn lại cho rằng nhiều hơn nữa.
Các tổ chức khác nhau đưa ra dự đoán hoặc ước tính số người đồng tính một cách khác nhau Theo một báo cáo được công bố tại hội nghị khoa học kỹ thuật do Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh tổ chức vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, chưa có những số liệu chắc chắn, đáng tin cậy về số lượng đồng tính nam ở Việt Nam Tuy vậy, theo một nghiên cứu của bác sĩ Trần Bồng Sơn, số đồng tính nam ước tính
là khoảng 70.000 người Nhưng theo một nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện tại Việt Nam, con số này lại vào khoảng 50.000-125.000 người
Nằm trong nổ lực làm cho người dân có cái nhìn đúng đắn về giới đồng tính tại ViệtNam, Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường h?p tác với Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã thực hiện một cuộc thăm dò trực tuyến mang tên “Đặc điểm kinh tế, xã hội của nam giới có quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam” Việc này được thực hiện bằng cách đăng tải bộ câu hỏi trả lời trực tuyến Trên 5 diễn đàn dành cho người đồng tính Việt Nam có đăng liên kết đến bộ câu hỏi này Số người nhấp chuột vào áp phích là 6.859, số người đủ điều kiện tham gia (thỏa mãn các điều kiện là nam giới, sống tại Việt Nam, trên 18 tuổi và có quan hệ tình dục với nam giới trong vòng 12 tháng qua) là 3.231 người Tuy nhiên cuộc thăm dò này chỉ hướng đến một bộ phận trong cộng đồng người đồng tính ở Việt Nam đó là những người dùng internet và
là nam có quan hệ tình dục với nam trong vòng 12 tháng
Việc thống kê một cách đầy đủ và rộng khắp để đưa ra những số liệu đúng đắn
về người đồng tính ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong hoạch định chính sách đối với người đồng tính cũng như tác động đối với xã hội nói chung Tuy nhiên, việc thống
kê này có nhiều khó khăn như sự khác nhau trong định nghĩa đồng tính luyến ái, sự không công khai của người đồng tính và sự không quan tâm đầy đủ của chính quyền
và xã hội
+ Thái độ của người Việt Nam đối với Đồng tính Luyến ái:
Trang web đưa ra một số những cuộc khảo sát về thái độ của người Việt Nam đối với đồng tính luyến ái:
Nghiên cứu của Viện iSEE về sự kỳ thị về người đồng tính nam tại Việt Nam cho thấy 1,5% cho biết đã bị đuổi học khi bị phát hiện là người đồng tính
Trang 18Hiện nay, cái nhìn của xã hội đã bớt gay gắt đối với người đồng tính, một số ít người bắt đầu nhìn nhận đồng tính không phải là bệnh.
Trong cuộc thăm dò năm 2007 của Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, với câu hỏi "Người đồng tính luyến ái có xấu hay không?", hơn 80% học sinh trả lời là
"không" Các học sinh này giải thích rằng vì đó là quyền tự do của mỗi người hoặc việc là người đồng tính không phải lỗi do bản thân người đó Khi phát hiện trong lớp
có bạn đồng tính, 72% học sinh khẳng định vẫn giữ mối quan hệ bình thường với bạn, kèm theo động viên (34%) và giữ kín bí mật cho bạn (35%), 2% học cảm thấy khinh bỉ
500 bài báo này Có người cho rằng các cơ quan truyền thông cần đăng tải những bài viết, hình ảnh "người thực việc thực"
Vấn đề đồng tính là chủ đề chính trong các bài báo chỉ chiếm tỷ lệ 1/3 Tỷ lệ
Trang 19nhìn nhậnvấn đề chưa đúng đắn Điều này khiến xã hội có cái nhìn phiến diện về đồng tính luyến ái.
Trang Táo xanh, , diễn đàn của người đồng tính, đây là một thành viên của nhóm Kết nối và chia sẻ thông tin vì một hình ảnh tích cực của người đồng tính Việt Nam( ICS-information conneting & sharing):
Chúng tôi đã lấy được rất nhiều thông tin hửu ích từ trang web này, hầu hết các khái niệm được đưa ra ở phần sau là có nguồn từ đây
Trang web đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó chúng tôi quan tâm nhất là vấn đề nguyên nhân dẫn đến đồng tính:
Đây là vấn đề gây tranh cãi, nhiều giả thuyết đã được đưa ra như do; hoàn cảnh
xã hội, hoocmon bị rối loạn, do môi trường sống… nhưng tất cả các giả thuyết trên đều không có cơ sở khoa học, và từ lâu y học không xem đồng tính luyến ái (homosexuality) là bệnh
Bên cạnh đó, giả thuyết bẩm sinh có vẻ hợp lý và hiện được hầu hết các tác giả chấp nhận Học Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ(American Academy of Pedeatrics) khẳng định rằng khuynh hướng tình dục (Sexual orientation) chỉ được quyết định bởi sự tác động của kiểu Gen và Hoóc-môn (Hormone) ở giai đoạn còn là bào thai và đang cấu trúc não bộ
Một nhận định khác cũng thuộc về thuyết bẩm sinh đó là: Zwang (1985) cho rằng có“rối loạn trong cấu trúc của bản năng cố định đối tượng” Cấu trúc này được cho là nằm rất sâu trong “hệ não rìa” (limbic system), là một trong những khu vực khó nghiên cứu và ít được hiểu biết nhất của não bộ Nó có nhiệm vụ tạo ra, rồi sau đó cố định “hình ảnh đối tượng” ( hình ảnh đối tượng là hình ảnh được xây dựng trong đầu
ở dạng tiềm thức, có thể là nam hoặc nữ, giúp cá nhân định hướng tình dục của mình, thông thường một người nam sẽ có hình ảnh đối tượng là nữ, và khi lớn lên anh ta sẽ
có khuynh hướng tình dục với nữ và ngược lại)
Những dữ liệu ở trên đã góp phần bổ sung vào cơ sở khoa học cho đề tài, từ những nhận định trên giúp đề tài có được sự định hướng, đưa ra được những giả thuyết
cụ thể Tuy nhiên, những nghiên cứu đã có đều chưa đề cập đến nhận thức và thái độ của giới trẻ về vấn đề này
Trang 20Thông qua đề tài, nhóm nghiên cứu mong muốn khai thác và khái quát được các khía cạnh về thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội Từ đó cung cấp cho cộng đồng những dữ liệu đáng tin cậy và cái nhìn khác hơn đối với người đồng tính nam nói riêng, cộng đồng LGBT nói chung.
1.2 Các hướng tiếp cận và lí thuyết ứng dụng
1.2.1 Hướng tiếp cận xã hội hóa
Xã hội hoá là khái niệm cơ bản trong xã hội học và được khai thác theo các góc
độ khác nhau, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này:
“Xã hội hoá là quá trình thích ứng và cọ xát với các giá trị, chuẩn mực và hình mẫu hành vi xã hội mà trong quá trình đó một thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì khả năng hoạt động xã hội Xã hội hóa nghiên cứu xem với tư cách là điều kiện và các yếu tố cấu thành, cơ cấu và quá trình xã hội, văn hoá, kinh tế và sinh thái có tác dụng bằng cách nào và ở mức độ nào đạt tới sự phát triển nhân cách con người.”1
“Xã hội hoá trước hết là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, qua đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội, tiếp nhận nền văn hoá của xã hội như khuôn mẫu tác phong xã hội, chuẩn mực giá trị văn hoá xã hội”.2 (“Nghiên cứu xã hội học” PTS Chung Á – PTS Nguyễn Đình Tấn)
Xã hội hóa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình Nói một cách khác, đó chính là quá trình con người liên tục tiếp thu văn hóa vào nhân cách của mình để sống trong xã hội như là một thành viên
Xã hội hóa (XHH) gồm nhiều giai đoạn: XHH trong gia đình, XHH trong trường học,XHH trong môi trường xã hội Các giai đoạn này không tách rời mà lòng ghép vào nhau cùng tác động lên việc hình thành nhân cách của cá nhân Ngoài ra còn
có những yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa của cá nhân như nhóm tương đương, hay các phương tiện thông tin đại chúng
Việc tiếp cận theo hướng nghiên cứu xã hội hóa trong việc thái độ của đồng tính nam là hết sức quan trọng Dựa trên lý thuyết Xã hội hóa, chúng tôi hiểu rằng nhận thức và
1
Từ điển xã hội học
2
Trang 21thái độ của đồng tính nam là do nhiều yếu tố tác động và chi phối qua lại, tác động lên
mà thành Như vậy, trong quá trình nghiên cứu , chúng tôi sẽ chú ý nghiên cứu nhiều yếu tố tác động lên nhận thức của họ trong mối quan hệ đan xen qua lại trong cuộc sống thường nhật Đặc biệt, đề tài tập trung nghiên cứu thái độ của người đồng tính nam đối với vai trò và vị trí của họ trong gia đình và xã hội, vì vậy, việc áp dụng thuyết này sẽ bao quát hơn và thể hiện sâu hơn những quan điểm của chính ngườiđồng tính nam
1.2.2 Thuyết tương tác biểu tượng
Weber và Simmel là hai người đầu tiên đóng góp vào thuyết tương tác, về sau
có thêm các nhà xã hội học như: CH.Cooley (1902), G.O.Meal (1939), W.F.Thomes(1931), E.Goffman (1959), H.Garfinkel (1967) và K.Blumer (1969) đã phát triễn chi tiết hơn lý thuyết này
Thuyết Tương tác biểu tượng nhấn mạnh sự tương tác của con người qua biểu tượng Các biểu tượng là một cái gì đó thay thế hoặc đại diện cho một cái gì khác nữa Các biểu tượng có thể mang rất nhiều hình thức ( lời nói, nét mặt, điệu bộ ) Các biểu tượng không được xác định bởi những sự vật mà chúng thể hiện mà được xác định bởi những người tạo ra và sử dụng chúng Vì vậy mà nếu trong một nhóm không có sự thống nhất về ý nghĩa của một biểu tượng sẽ dẫn tới sự lẫn lộn nhận thức
Herbert Blumer (1969), người đặt ra thuật ngữ tương tác biểu tượng đã đưa ra
ba giả thuyết trung tâm về vấn đề này:
+ Thứ nhất, chúng ta thường lý giải theo cách riêng của chúng ta về hiện thực Đó là chúng ta hành động hướng đến những sự vật mà ý nghĩa của nó phù hợp với chúng ta
+ Thứ hai,sự nhận thức chủ quan dựa trên những ý nghĩa mà chúng ta tiếp nhận từ những người khác Chúng ta biết ý nghĩa của một cái gì đó qua việc xem những người khác hành động hướng tới nó
+ Cuối cùng, trong quá trình giao tiếp với mọi người xung quanh, chúng
ta liên tục xử lý ý nghĩa những biểu tượng của họ, đồng thời cũng có thể đối thoạiđược với chính mình Vì vậy, chúng ta có thể hình dung được sự phản ứng của người khác trước khi chúng ta hành động, để từ đó đưa ra những cách ứng xử phù hợp với hành vi mà mình chờ đợi từ phía những người khác Nhờ vậy mà những người trong
Trang 22cùng một bối cảnh văn hóa có thể biết cách ứng xử đúng lúc, đúng chỗ tùy theo từng tình huống.
Theo Erving Goffman, con người trong cuộc sống hằng ngày sẽ luôn phải chú ý đến những ứng xử của mình sao cho phù hợp sự mong đợi của những người xung quanh
Việc áp dụng thuyết Tương tác biểu tượng giúp giải thích cơ chế phản ứng của người đồng tính nam đối với chủ đề đặt ra
1.2.3 Thuyết nhận thức
Thuyết nhận thức chủ trương mỗi cá nhân có một suy nghĩ và hiểu biết riêng về
sự vật, cách thu nhận và diễn giải các thông tin, đánh giá các kinh nghiệm, các phánđoán, và quyết định cách ứng xử Tất cả các khái niệm này đươc Piaget gọi là cấu trúc nhận thức, có ảnh hưởng đến cảm xúc và cách ứng xử của cá nhân
Cấu trúc nhận thức được hình thành và học hỏi qua các kinh nghiệm sống của bản thân và qua sự quan sát và học hỏi từ ngoại cảnh Những kinh nghiệm mới phù hợp với cấu trúc nhận thức đươc sát nhập vào nó, ngược lại , những kinh nghiệm mới trái ngược với cấu trúc nhận thức, người ta sẽ chỉnh sửa lại cấu trúc của nhận thức để chứa đựng kinh nghiệm mới
Trong thuyết nhận thức, Beck đã mô tả mối quan hệ giữa niềm tin, cảm xúc và ứng xử như sau: sự vật diễn ra (A), dẫn đến tư tưởng và niềm tin (B), tư tưởng niềm tin dẫn tới hành động (C)
Việc vận dụng thuyết nhận thức vào việc nghiên cứu giúp chúng tôi có được mô hình nhận thức của người đồng tính nam Những nhận thức của người đồng tính nam
về vai trò và vị trí của họ không thể tự nhiên mà có đươc, phải có một quá trình trải nghiệm mới có thể có được, và thái độ và cách ứng xử của họ cũng từ đó mà ra
1.2.4 Thuyết nhu cầu của Abram Maslow
Trang 23của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu gồm 5 bậc thang.
Theo Maslow thì các nhu cầu của con người phải thỏa mãn các trình tự thang bậc mà ông đưa ra Ông cho rằng mỗi cá nhân sau khi đạt một nhu cầu căn bản nào
đó thì mới tiếp tục hành động để thỏa mãn những nhu cầu tiếp theo3
Áp dụng thuyết này vào đề tài, chúng tôi đặt ra câu hỏi rằng thái độ của người đồng tính nam có bị ảnh hưởng bởi các nhu cầu của họ trong cuộc sống hay không
1.3 Thao tác hóa khái niệm
1.3.1 Một số thuật ngữ
1.3.1.1 Xu hướng tính dục (Sexual orientation):
Là sự hấp dẫn có tính bền vững của một người về phía những đối tượng cụ thể (người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới ) Xu hướng tính dục được xác định bằng câu hỏi “tôi có cảm xúc tình dục với ai” thì câu trả lời (nam, nữ, cả hai, không nào cả hoặc không rõ ràng ) sẽ thể hiện xu hướng tính dục của người đó
1.3.1.2 Đồng tính luyến ái:
Đồng tính luyến ái hay đồng tính (Homosexual) chỉ việc yêu đương hay quan
hệ tình dục (Sexual intercourse) giữa người cùng giới tính với nhau, như giữa nam với nam và giữa nữ với nữ Một số thuật ngữ và tiếng lóng để chỉ về người đồng tính nam
+Butch (B)/Soft-butch (SB): Tiếng lóng chỉ người đồng tính nữ với trang phục, cử
chỉ, dáng vẻ nam tính, trái ngược với Femme (Fem) So với Soft-butch thì Butch có nhiều sự nam tính hơn
Trang 24trích: Ts.Trần Thị Kim Xuyến (chủ biên) Ths Nguyễn Thị Hồng Xoan Nhập môn xã hội học Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
+Tiếng bình dân và tiếng lóng mang tính xúc phạm ở Việt Nam thì có:
Pê đê, xăng pha nhớt, bóng lộ, bóng kín, hai thì, hifi, biến thái, đa hệ, thế giới thứ ba
1.3.1.4 Song tính luyến ái:
Là sự luyến ái hay quan hệ tình dục của một người đối với cả 2 phái, cả nam lẫn nữ Theo nghiên cứu của Alfred Kinsey về tình dục loài người giữa thế kỷ 20 thì, ngoài dị tính và đồng tính, còn có một loại nằm giữa, bao gồm cả hai, đó là Song tính tình dục
1.3.1.5 Vô tính:
Từ cuối thập niên 70, một nhóm người tự nhận là "Vô tính", chiếm 1% Đó là những người không có một chút tình dục nào đối với bất cứ ai, nam hay nữ Không kể diện bị bất lực.Vô tính khác với sự kiêng cữ tình dục của một số người không tham gia sinh hoạt tình dục như tu sĩ của vài tôn giáo
1.3.1.6 Đặc tính giới (gender identity):
Giới là đặc điểm khác biệt đầu tiên ở bản ngã tình dục con người Đây là sự khác biệt về thể chất giữa con trai và con gái, giữa nam giới và phụ nữ
Đặc tính giới là mức độ một người cân nhắc thực hiện hay không thực hiện một hànhđộng vì người đó là nam hay là nữ
Thông thường, một người dựa theo các đặc điểm sinh học của mình để xác định giới của mình là nam hay nữ và sau đó dựa vào các chuẩn mực xã hội, tôn giáo sẽ có các hành vi thích hợp với giới của mình Tuy nhiên, đặc tính giới không chỉ thể hiện ở nam và nữ mà còn có các đa dạng Một số ví dụ của đa dạng đặc tính giới là:
+ Mặc quần áo người khác giới (cross-gender):Một số người ở giới này đôi khi có
thể mặc một số đồ của giới khác để chế giễu hay thách thức các qui định xã hội về cái
Trang 25lại cho họ khoái cảm tình dục Đôi khi những người này mặc quần áo người khác giới ở nơi công cộng, có khi thì ở nơi riêng tư Ví dụ: một người giả trang nam sẽ thích mặc quần lót, bít tất của phụ nữ dưới quần áo công sở của anh ta Nhiều người giả trang vẫn
là người quan hệ tình dục khác giới Họ không có hứng thú tình dục với người cùng giới
+ Đổi giới (transgender): Một số người mặc quần áo của người khác giới vì họ muốn
được đối xử như người khác giới Người đấy làm điều này không phải vì khoái cảm tình dục mà vì họ tự coi mình là những người đổi giới Những người đổi giới điển hình có hai đặc tính giới, và thậm chí họ còn đặt cho họ hai tên - một tên nam, một tên nữ
Đối với họ, mặc quần áo người khác giới giống như là diễn vai, đóng kịch, cố gắng xem việc đi giầy của phụ nữ, hay nam giới là như thế nào Việc đóng vai người khác giới diễn ra có thường xuyên hay không phụ thuộc vào từng cá nhân Nhiều người đổi giới vẫn là người quan hệ tình dục khác giới và không mong muốn chuyển đổi hoàn toàn giải phẫu sinh học của mình để trở thành người của giới kia
+ Đổi giới tính (transsexual): Một người đổi giới tính là người hoàn toàn xác định
giới tính theo giới không phải là đặc điểm giải phẫu mình Hầu hết những người đổi giới tính đều nhớ cái cảm giác họ có từ khi còn rất bé là họ bị sinh nhầm trong cơ thể của một người khác Thông thường, những người đổi giới tính đều không hài lòng với hình thái sinh học của mình Hầu hết đều muốn chuyển đổi 100% thành người khác giới Nhiều người sử dụng nội tiết tố trị liệu và giải phẫu để chuyển đổi giới tính giải phẫu cho khớp với đặc tính giới của mình
1.3.1.7 Lưỡng tính :
Lưỡng tính còn gọi là "ái nam ái nữ", bán nam bán nữ, hay á nam á nữ, là một hiện tượng về giới tính ít gặp trong đời sống Hiện tượng này xuất hiện khi một đứa trẻ ở vào giai đoạn tiền trưởng thành Ở vào giai đoạn này, cơ quan sinh dục chính, phát triển hoàn thiện, thì cơ quan sinh dục phụ cũng bắt đầu hình thành và tồn tại song song nhau.Những người lưỡng tính thực sự, thì trong cơ thể có cả buồng trứng và tinh hoàn, trường hợp này rất hiếm Phần lớn, những ái nam ái nữ thường gặp là lưỡng tính giả
1.3.1.8 MSM:
Từ viết tắt tiếng Anh của Men who have sex with men, có nghĩa là Người nam giới có hành vi quan hệ tình dục với nam giới, bất kể họ là người dị tính, đồng tính hay song tính Thuật ngữ MSM hay được dùng trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS bởi
Trang 26nó tập trung vào hành vi tình dục và đối tượng lây nhiễm, hơn là xu hướng tính dục của người (tương tự với WSW- women have sex with women).
1.3.1.9 Cộng đồng LGBT:
Một từ được dùng rất phổ biến trên các diễn đàn dành cho cộng đồng đồng tính.LGBT là chữ viết tắt của các từ Lesbian/les – gay – bisexual – transgender Trước đây người ta hay dung cụm từ “ giới tính thứ 3” để chỉ cộng đồng những đối tượng này, tuy nhiên, cụm từ này vẫn có những yếu tố kì thị của nó, cho nên những năm gần đây người ta đã dùm cụm từ LGBT để thay thế mổi khi muốn nói đến những người này, mang thái độ tích cự hơn
1.3.1.10 Phân biệt giữa Đồng tính luyến ái thật và đồng tính luyến ái giả:
Thước đo Kinsey gồm 7 nấc:
Mức 0: Hoàn toàn thích quan hệ tình dục, tình cảm với người khác giới (hoàn toàn dị tính luyến ái)
Mức 1: Chủ yếu dị tính luyến ái chỉ đôi khi đồng tính luyến ái
Mức 2: Chủ yếu dị tính luyến ái đôi khi đồng tính luyến ái nhưng nhiều hơn
Mức 3: Đồng đều giữa dị tính luyến ái và đồng tính luyến ái ( song tính luyến
ái) Mức 4: Chủ yếu đồng tính luyến ái đôi khi dị tính luyến ái nhưng nhiều hơn
Mức 5: Chủ yếu đồng tính luyến ái chỉ đôi khi dị tính luyến ái
Mức 6: Hoàn toàn thích quan hệ tình dục, tình cảm với người cùng giới (hoàn toàn đồng tính luyến ái)
Những người ở mức 6 rất vững, vì họ không thắc mắc gì cả, và nếu khéo léo thì cũng khó có thể biết họ đồng tính luyến ái Những người từ mức 3 đến mức 5 hay
Trang 27mang mặc cảm tội lỗi và khó hòa mình vào xã hội, tuy tất cả họ vẫn có đủ khả năng sinh học lấy vợ lấy chồng và có con như thường.
Đồng tính luyến ái giả:
Còn được hiểu là tình dục đồng giới, những người này bị ảnh hưởng bởi môi trường một cách tạm thời, do bắt chước hay muốn tìm khoái cảm tình dục nhưng bị thiếu người khác giới ở trong một số môi trường đặc biệt
Các nhà nghiên cứu tình dục con người tin rằng định hướng tình dục phát triển và thay đổi theo cuộc đời của một người Có cảm giác , hay quan hệ tình dục với người cùng giới không nhất thiết phải là người đồng tính luyến ái hay song tính luyến ái Đó là trường hợp một người sống trong môi trường chỉ toàn người đồng tính , bị lôi kéo,
ảnh hưỡng bỡi những người đồng tính luyến ái thật hay song tính luyến ái , dẫn tới có quan hệ tình cảm, tình dục với người đồng giới, lâu dần sẽ cho rằng mình là ngườiđồng tính luyến ái Nhưng khi rời khỏi môi trường đó, không chịu sự ảnh hưởng đó nữa, thì những người này vẫn trở lại là dị tính luyến ái
1.3.1.11 Phân biệt Nam đồng tính với Nam chuyển giới
Tùy theo cá tính và môi trường mà mỗi người biểu hiện khuynh hướng của mình mỗi cách khác nhau hoặc là không có biểu hiện gì khác lạ trước tầm nhìn của xã hội Tại các nước Á châu nói chung và Việt nam nói riêng thì thành phần không có biểu hiện này chiếm đa số trong cộng đồng LGBT Và vì thông tin khoa học còn hạn chế nên có sự hiểu lầm tai hại giữa người nam đồng tính và người nam chuyển giới tính lúc chưa qua phẩu thuật chuyển giới Xã hội đang đánh đồng hai thành phần này là một, là đồng tính, nhưng lại tặng thêm cho họ một giới tính không rõ ràng: “giới tính thứ 3” Sự việc làm cho các bạn trẻ đã mơ hồ về bản thân vì thiếu thông tin, lại càng mơ hồ thêm Ở các nước, có sự phân biệt rõ ràng, dựa vào hiểu biết từ các nghiên cứu của xã hội học và khoa học, người
ta rất dễ dàng nhận dạng một người nam có khuynh hướng chuyển giới tính, dù họ chưa được phẫu thuật, qua cách biểu hiện của họ ngược lại với phái mà họ đang mang Trong thân thể phái nam của họ là một tâm hồn người nữ, nên họ vui vẽ chấp nhận được gọi là chị, là cô, là cô em, cô nàng hay gái và giữa họ đôi khi thân mật quá còn gọi nhau là bà Trên mạng internet, họ thích mang những nick name biểu hiện nữ tính Về cách ứng xử với xã hội, người nam chuyển giới tính càng thích tỏ ra giống phái nữ càng nhiều chừng