HỒ CHÍ MINH NGUYỄN QUANG THUẬN TÌM HIỂU VỀ THIỀN PHÁI LÂM TẾ LIỄU QUÁN TIỂU LUẬN GIỮA HỌC KỲ III – KHÓA VI MÔN HỌC: LỊCH SỬ TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO VIỆT NAM MSSV: TX6430 Giáo Sư Hướng D
Trang 1NGUYỄN QUANG THUẬN
TÌM HIỂU VỀ THIỀN PHÁI LÂM TẾ LIỄU QUÁN
TP Hồ Chí Minh, 28/11/2020
Trang 2GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN QUANG THUẬN
TÌM HIỂU VỀ THIỀN PHÁI LÂM TẾ LIỄU QUÁN
TIỂU LUẬN GIỮA HỌC KỲ III – KHÓA VI MÔN HỌC: LỊCH SỬ TÔNG PHÁI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
MSSV: TX6430
Giáo Sư Hướng Dẫn:
SC TS THÍCH NỮ TUỆ CHÂU
TP Hồ Chí Minh, 28/11/2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Tiểu luận giữa Học kỳ III “Tìm hiểu về thiền phái Lâm Tế Liễu Quán” là kết quả của quá trình nghiên cứu tự thân Các tài liệu được trích dẫn trong tiểu luận có tính kế thừa và phát triển từ các ấn phẩm sách, báo, công trình nghiên cứu, internet… có nguồn trích dẫn rõ ràng theo danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Hồ Chí Minh, 28/11/2020 Nguyễn Quang Thuận
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Phạm vi đề tài 5
3 Cơ sở tài liệu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Nguồn gốc & bối cảnh lịch sử hình thành phái Lâm Tế Liễu Quán 6 1.1 Nguồn gốc dòng thiền Lâm Tế 6
1.2 Bối cảnh lịch sử hình thành thiền phái Lâm Tế Liễu Quán 7
1.2.1 Bối cảnh văn hóa xã hội 7
1.2.2 Bối cảnh lịch sử Phật giáo 8
Chương 2: Sự ra đời và truyền thừa Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán 9
2.1 Thiền sư Liễu Quán và sự ra đời của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán 9
2.2 Sự truyền thừa thiền phái Lâm Tế Liễu Quán 11
2.2.1 Pháp kệ truyền thừa 11
2.2.2 Tóm lược Pháp phái Liễu Quán 12
Chương 3: Các ngôi tổ đình lớn của thiền phái Lâm Tế Liễu Quán 14
3.1 Tổ đình Thiền Tôn 14
3.2 Tổ đình Báo Quốc 15
3.3 Tổ đình Từ Đàm 15
3.4 Tổ đình Tường Vân 16
3.5 Tổ đình Từ Hiếu 17
PHẦN KẾT LUẬN Thay lời kết 18
Trang 6PHẦN DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Thời kỳ “Trịnh – Nguyễn phân tranh” là một giai đoạn đầy bi ai của lịch sử dân tộc Cục diện “tam phân” giữa thế lực của hai nhà Trịnh – Nguyễn và khởi nghĩa Tây Sơn đã khiến Đại Việt chìm trong binh biến tang thương, trăm họ lầm than, sinh linh đồ thán suốt gần hai thế kỷ Tuy vậy, trong suốt thời kỳ ấy, Phật giáo Đại Việt vẫn phát triển hưng thịnh ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Đơn giản, chúng ta có thể dễ dàng nhận biết Phật giáo là đạo của từ bi và trí tuệ; sự phát triển hưng thịnh của Phật giáo đã góp phần xoa dịu những mất mát, tang thương do chinh chiến gây ra Minh chứng cho điều này là hàng chục Tổ đình, chùa chiền liên tục được tạo dựng; và rất nhiều vị danh Tăng góp công rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo đã lần lượt xuất hiện trong giai đoạn này
Bên cạnh Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, sự ra đời của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán là một điểm son rực rỡ của lịch sử Phật giáo Việt Nam vào thời kỳ này Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển cũng như những đóng góp của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán cho Phật giáo Việt Nam là việc mà những người học Phật cần phải tìm hiểu tường tận Đồng thời, quá trình tìm hiểu và nghiên cứu một dòng Thiền lớn cũng tạo nguồn động lực thôi thúc chúng ta dấn thân khai nguồn Thiền học, liễu ngộ chân tâm
2 Phạm vi đề tài
Giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán và các ngôi Tổ đình lớn của dòng Thiền Liễu Quán ở Đàng Trong
3 Cơ sở tài liệu
Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán qua nghiên cứu của các học giả: Đoàn Trung Còn, Nguyễn Lang, Nguyễn Hiền Đức, Hòa thượng Thích Hải Ấn và một số nguồn tư liệu từ internet
4 Phương pháp nghiên cứu
Với tầm hiểu biết nông cạn, trải nghiệm Phật học chưa cao; người viết xin được sử dụng phương pháp tổng hợp các nguồn tư liệu về Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán để hoàn thành tập tiểu luận này
Nam Mô A Di Đà Phật!
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ
HÌNH THÀNH THIỀN PHÁI LÂM TẾ LIỄU QUÁN
1.1 Nguồn gốc dòng thiền Lâm Tế
Giai thoại “Niêm hoa vi tiếu” được xem là khởi nguồn, là hạt giống của Thiền tông,
với Sơ tổ là ngài Ma-ha Ca-diếp
Linh Sơn Pháp hội Phật niêm hoa, Hội chúng vị tri Phật tác ma;
Ca Diếp tức tâm Tâm hoát ngộ, Bản vô biệt sự “tiếu” liên hoa
Niêm hoa, vi tiếu truyền tâm ấn;
Chánh pháp Như Lai hữu nhãn tàng
Bất dụng tư lường “vi tiếu” ý, Phàm tình, Thánh giải lưỡng sai yên
(Tảo Chửu Phàm Phu)
Theo sách Liên Đăng Hội Yếu, khi Đức Phật trên đỉnh Linh Thứu nâng cành hoa lên
(niêm hoa), đại chúng ngơ ngác chẳng hiểu gì, duy chỉ có ngài Ma-ha Ca-diếp mỉm cười
(vi tiếu) Đức Phật nói: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thực tướng vô
tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay trao truyền cho
Ma-ha Ca-diếp.” Ngài Ca-diếp đã tiếp nhận tâm ấn của Đức Phật
Tâm ấn là cái tâm của người này (người nhận) khế hợp với cái tâm của người kia (người trao truyền) Do đó, pháp môn này còn được gọi là “tâm truyền tâm” vì không thể trình bày qua ngôn ngữ hạn hẹp của thế gian; mà chỉ người có căn cơ khế hợp mới có khả năng lĩnh hội
Chư tổ Thiên Trúc (Ấn Độ) nối tiếp nhau “truyền đăng tục diệm” Đến đời thứ 28, tổ Bồ-đề Đạt-ma đã đưa pháp môn này sang Trung Hoa và trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa Ngài Bồ-đề Đạt-ma để lại bốn câu thơ được xem là yếu chỉ, là tinh hoa của Thiền tông:
Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền;
Trực chỉ chân tâm, Kiến tánh thành Phật
Trải qua 05 đời truyền thừa, y bát được trao truyền đến ngài Lục Tổ Huệ Năng Đệ tử của ngài Lục Tổ đắc pháp rất nhiều; nổi bật nhất là Nam Nhạc Hoài Nhượng, Thanh Nguyên Hành Tư và Hà Trạch Thần Hội
Trang 8Phái Hà Trạch truyền đến đời Khuê Phong Tông Mật thì tuyệt truyền Phái Thanh Nguyên sanh ra ba dòng thiền: Vân Môn, Pháp Nhãn, Tào Động Phái Nam Nhạc sanh ra hai dòng thiền: Qui Ngưỡng và Lâm Tế Năm dòng thiền Trung Hoa được gọi là “Ngũ gia gia phong”
Sự truyền thừa của dòng Lâm Tế tuần tự như sau:
Hoài Nhượng Thiền sư
Ðạo Nhất Thiền sư (Mã Tổ)
Bách Trượng Thiền sư (Hoài Hải)
Hy Vận Thiền sư (Hoàng Bá)
Lâm Tế Nghĩa Huyền
Ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (810-867) họ Hình, quê ở Nam Hoa, Tào Châu Ngài am tường giới luật, tinh thông kinh luận sau khi thọ cụ túc giới Thời trai trẻ, ngài Lâm Tế thường đi tham vấn các thiền sư và đã được tổ Hoàng Bá Hy Vận ấn chứng Ngài là Viện chủ thiền viện Lâm Tế tại Trấn Châu (Trung Quốc) Khi giảng pháp, ngài Lâm Tế chỉ hét lớn chứ không nói gì khác; nhiều người không hiểu gì, nhưng cũng nhiều người nhờ tiếng hét đó mà đại ngộ Sau khi viên tịch, nhà vua ban hiệu cho ngài là Huệ Chiếu Thiền sư
1.2 Bối cảnh lịch sử hình thành thiền phái Lâm Tế Liễu Quán
1.2.1 Bối cảnh văn hóa xã hội
Năm 1545, Nguyễn Kim là một công thần của nhà Hậu Lê bị đầu độc chết Con rể ông là Trịnh Kiểm được phong làm Lượng quốc công và thay ông nắm giữ binh quyền Với mưu đồ tập trung quyền lực vào tay họ Trịnh, Trịnh Kiểm đã giết con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông để làm suy yếu thế lực của họ Nguyễn
Năm 1558, con trai thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa nhằm tránh sự ám hại của Trịnh Kiểm, bảo toàn mạng sống và tính kế phát triển sự nghiệp lâu dài Ông ra sức chiêu hiền đãi sĩ, mộ phu khai hoang vùng đất mới này Với những chính sách khôn khéo, Nguyễn Hoàng đã dần dần biến hai xứ Thuận – Quảng thành một vùng đất trù phú Bên cạnh tài năng lãnh đạo, Nguyễn Hoàng còn có lòng nhân đức nên người dân cảm mến gọi là chúa Tiên
Kế tục sự nghiệp của chúa Tiên – Nguyễn Hoàng (1558-1613) là: chúa Sãi –Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), chúa Thượng – Nguyễn Phúc Lan (1635-1648), chúa Hiền – Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)… Nhà Nguyễn đã dần dần củng cố thế lực, tạo cục diện đối lập với họ Trịnh ở phía Bắc Đây là giai đoạn được sử sách ghi nhận là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh hay chiến tranh Đàng Trong – Đàng Ngoài
Với chính sách khoan dung khôn khéo của nhà Nguyễn, tình hình chính trị xã hội ở Đàng Trong tương đối ổn định, không có sự phân tầng xã hội rõ rệt như ở Đàng Ngoài Lãnh thổ Đàng Trong dần dần mở rộng về phía Nam mà không xảy ra bất kỳ cuộc xung đột nào đáng kể
Trang 9Về nông nghiệp, nhà Nguyễn cắt cử quan lại chiêu mộ dân cư đi khai khẩn và sử quân đội đồn trú để khai hoang Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều vùng đất hoang ở Đàng Trong
đã biến thành ruộng đồng tươi tốt, thành xóm làng trù mật và đời sống người dân ngày một được nâng cao
Lúc bấy giờ tại Trung Quốc, vương triều Mãn Thanh lật đổ nhà Minh Nhiều cựu thần nhà Minh không thuần phục nhà Thanh đã bỏ nước trốn sang Đại Việt Trái ngược với thái độ dè dặt của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nhà Nguyễn tạo điều kiện để người Hoa định cư và lập làng ở Đàng Trong Và các Hoa kiều viễn xứ này đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế và mở mang bờ cõi đàng trong Điển hình là các cựu tướng nhà Minh như: Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình lập ra Cù Lao Phố; Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến lập ra Mỹ Tho Đại Phố; Mạc Cửu cũng đã đem đất Hà Tiên sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt
Sự ổn định của kinh tế – xã hội Đàng Trong đã tạo tiền đề thuận lợi cho Phật giáo phát triển và giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tư tưởng của người dân Đàng Trong
1.2.2 Bối cảnh lịch sử Phật giáo
Kể từ khi vào đất Thuận – Quảng, chúa Tiên – Nguyễn Hoàng nhận thấy Phật giáo là một giáo thuyết thích hợp làm chỗ dựa tinh thần cho người dân Đàng Trong ổn định cuộc sống Cùng với tâm đạo của mình, ông đã hết lòng hỗ trợ và xiển dương Phật giáo Ông cho xây dựng và tu sửa nhiều ngôi chùa ở xứ Thuận – Quảng: trùng tu chùa Thiên Mụ ở Huế (1601), dựng lại chùa Sùng Hóa ở Huế (1602), lập chùa Bảo Châu ở Quảng Nam (1607), lập chùa Kính Thiên ở Quảng Bình (1609), xây chùa Long Hưng ở Quảng Nam…
Chúa Hiền – Nguyễn Phúc Tần trùng tu chùa Thiên Mụ (1665), dựng chùa Vĩnh Hòa (1667) và mở hội Du-già bảy ngày bảy đêm để tạ ơn Tam Bảo và xá tội vong linh
Thiền sư Nguyên Thiều lập chùa Thập Tháp Di Đà (1678), xây chùa Kim Cang (1695), dựng chùa Quốc Ân và độ hóa cho rất nhiều đệ tử
Chúa Nghĩa – Nguyễn Phúc Trăn trùng tu chùa Vĩnh Hòa (1688) và nhờ Thiền sư Nguyên Thiều về Trung Hoa thỉnh các cao Tăng sang hoằng hóa ở xứ Đàng Trong Đây
là sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng đối với Phật giáo Việt Nam nói chung và Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán nói riêng Theo sách “Việt Nam Phật Giáo Sử Lược”, có rất nhiều danh Tăng Trung Hoa nhận lời mời sang Đại Việt hoằng giáo; một trong số đó là
Tổ Minh Hoằng – Tử Dung thuộc dòng Lâm Tế Trung Hoa, đời pháp thứ 35 Ngài là người đã trao truyền tâm ấn cho Thiền sư Liễu Quán, Sơ tổ Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán
Như vậy, bên cạnh chủ trương vận dụng tư tưởng Phật giáo để trị quốc; nhà Nguyễn thực sự là vương triều mến mộ đạo Phật, tôn trọng chư Tăng Chính vì lẽ đó mà Phật giáo Đàng Trong đã phát triển rực rỡ, là nền tảng vững chắc cho sự ra đời của Thiền phái Lâm
Tế Liễu Quán
Trang 10CHƯƠNG 2: SỰ RA ĐỜI VÀ TRUYỀN THỪA
THIỀN PHÁI LÂM TẾ LIỄU QUÁN
2.1 Thiền sư Liễu Quán và sự ra đời của Thiền phái Lâm Tế Liễu Quán
Thiền sư Liễu Quán (1670-1742) là một cao tăng Việt Nam, pháp danh Thiệt Diệu, thuộc đời pháp thứ 35 của dòng Lâm Tế truyền từ Trung Quốc Ngài là người khai sáng Thiền phái Liễu Quán, một Thiền phái mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo Việt Nam còn truyền lại đến ngày nay
Ngài họ Lê, sinh năm 1670 trong một gia đình nghèo ở làng Bạch Mã, huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên Ngài đã mồ côi mẹ khi vừa lên sáu tuổi Thuở nhỏ, Ngài tỏ ra thông minh và khí tiết hơn các bạn đồng học
Năm 1682, khi theo cha đi chùa Hội Tôn lễ Phật và gặp Thiền sư Tế Viên, Ngài cảm mến và xin xuất gia tại đây Ngài rất được Thiền sư Tế Viên thương mến và hết lòng dạy
dỗ Những năm hành điệu tại chùa Hội Viên, Ngài chỉ làm những công việc nhỏ nhặt như gánh nước cũng như hai thời khóa công phu và luật tiểu Sa Di Ngài tu tập ở đây được bảy năm thì Thiền sư Tế Viên viên tịch Sau khi chu tất tang lễ của Thầy, Ngài từ giã huynh đệ đồng tu để tiếp tục lên đường tìm thầy học đạo
Năm 1690, Ngài ra đất Thuận Hóa, đầu sư với Thiền sư Giác Phong ở chùa Thiên Thọ, núi Hàm Long (nay là Phật Học Đường Báo Quốc) Được một năm thì phụ thân lâm bệnh, Ngài xin phép thầy trở về nhà để săn sóc cha già Hằng ngày, Ngài vào rừng đốn củi đổi gạo và thuốc men để chăm sóc cho phụ thân Bốn năm sau khi phụ thân mãn phần, Ngài lo tang chay và giao hết nhà cửa hương hỏa cho bà con quyến thuộc xong xuôi thì lại tiếp tục lên đường học đạo
Năm 1695, khi biết Thiền sư Thạch Liêm tổ chức giới đàn ở chùa Thiền Lâm, cố đô Huế; Ngài xin cầu thọ Sa Di thập giới với đạo hiệu thượng Liễu hạ Quán húy Thiệt Diệu, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 35
Năm 1697, Ngài lại thọ giới cụ túc với Hòa thượng Từ Lâm (người Trung Hoa) tại chùa Từ Lâm khi vừa tròn 27 tuổi Đắc giới xong, Ngài ở lại đây hai năm để cầu học những giới pháp đã thọ cho được thông suốt, rồi lại tiếp tục tham cầu Phật Pháp với các bậc tôn sư khắp nơi
Năm 1699, Ngài chẳng quản gian lao đi khắp tòng lâm tham học với các bậc thạc đức cao tăng, thăm viếng nhiều chùa học hỏi đạo lý, quyết chí hiến thân cho đời sống Phật đạo Ngài thường tự nghĩ: “Pháp nào là vi diệu tối thượng bậc nhất, ta nguyện quyết xả thân mạng, y vào pháp đó tu hành” và tinh chuyên tu tập
Năm 1702, Ngài bái yết Hòa thượng Tử Dung cầu dạy pháp tham thiền tại chùa Ấn Tôn (nay là tổ đình Từ Đàm), ở núi Long Sơn, cố đô Huế Bấy giờ, Tổ Tử Dung dạy cho