Hơn nữa, các công trình còn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề cụ thể về bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của NNHTN của các cộng đồng dân tộc để tìm ra những nét tri nhận phổ quát cùng với
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN NỮ HẠNH NHÂN
KHẢO SÁT CÁC Ý NIỆM “TIM”, “LÒNG”,
“BỤNG”, “DẠ” TRONG THƠ MỚI
(Thông qua tác phẩm thơ của Nguyễn Bính, Huy Cận,
Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN NỮ HẠNH NHÂN
KHẢO SÁT CÁC Ý NIỆM “TIM”, “LÒNG”,
“BỤNG”, “DẠ” TRONG THƠ MỚI
(Thông qua tác phẩm thơ của Nguyễn Bính, Huy Cận,
Trang 3Xin cảm ơn gia đình và bạn bè cũng đã động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình làm luận văn
Tác giả luận văn
Trần Nữ Hạnh Nhân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Bảng biểu 2.1 : Tần suất sử dụng “tim” của bốn tác giả 61
Bảng biểu 2.2 : Tần suất sử dụng ý niệm “tim” 62
Bảng biểu 2.3 : So sánh chéo tần suất sử dụng ý niệm “tim” của bốn tác giả 63
Bảng biểu 3.1 : Tần suất sử dụng “lòng” của bốn tác giả 92-93
Bảng biểu 3.2 : Tần suất sử dụng ý niệm “lòng” 93-94
Bảng biểu 3.3 : So sánh chéo tần suất sử dụng ý niệm “lòng” của bốn tác giả 94-95
Bảng biểu 3.4 : Bảng kiểm định giả thuyết thống kê Chi-square 96-97
Bảng biểu 4.1 : Nét nghĩa của “bụng”, “ruột”, “gan”, “dạ” trong các từ điển 112-114
Bảng biểu 4.2 : Bảng so sánh tần suất sử dụng ý niệm “bụng”, “ruột”, “gan”, “dạ”
phân loại theo tác giả và phân loại theo ý niệm 124-125
Trang 5MỘT SỐ QUY ƢỚC VIẾT TẮT
ADYN : Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor)
KHTN : Khoa học tri nhận (cognitive science)
KN : Khái niệm (concept)
NNHTN : Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics)
SPSS : Thống kê xã hội học (Statistical Package for the Social
Sciences)
YNH : Ý niệm hóa (conceptualization)
YNHVH : Ý niệm hóa văn hóa (cultural conceptualization)
Trang 6NGUỒN NGỮ LIỆU
1 Vũ Quốc Ái, Quang Huy, Đỗ Đình Thọ, Kim Ngọc Diệu, Tuyển tập Nguyễn
Bính, Nxb Văn học, 1986
2 Hoàng Xuân, Nguyễn Bính, Thơ và Đời, Nxb Văn học, 2008
3 Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Nam, Tuyển tập Huy Cận, Nxb Văn học, Hà Nội
1986
4 Hữu Nhuận, Vũ Quần Phương, Tuyển tập Xuân Diệu, Nxb Văn học, 1986
5 Lữ Huy Nguyên, ệ , Thơ và Đời, Nxb Văn học, 2008
6 Chế Lan Viên, Tuyển tập Hàn Mặc Tử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987
7 Lữ Huy Nguyên, à Tử, Thơ và Đời, Nxb Văn học, 2005
8 Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nxb Trẻ, tái bản 2016
9 Hoàng Phê, Từ đ ển tiếng Việt, Nxb Từ Điển Bách Khoa, 2012
10 Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đ i Nam Quấc Âm Tự Vị, Nxb Sài Gòn, 1896
11 Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt-Nam Tự-Đ ển, Nxb Trung Bắc Tân Văn, 1931
12 Việt Chương, Từ đ ển Thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam, Quyển Thượng và
Quyển Hạ, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2007
13 Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá và cộng sự, Từ đ ể vă học
(Bộ mới), Nxb Thế giới, 2003
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
NGUỒN NGỮ LIỆU
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 8
6 Ý nghĩa khoa học của luận văn 9
7 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1.1 Ngôn ngữ học tri nhận – hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại 12
1.1.1. Tổng quan 12
1.1.2. Ẩn dụ ý niệm - quá trình ý niệm hóa và cơ chế tri nhận 17
1.1.3. Phân biệt “ý niệm” và “khái niệm” 20
1.1.4 Ý niệm hóa và ý niệm hóa văn hóa 25
1.2 Phong trào Thơ mới 28
1.2.1. Tiền đề hình thành và các đặc điểm nổi bật của Phong trào Thơ mới 28
1.2.2. Phong cách thơ của các nhà thơ Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử trên bình diện văn chương 31
1.3 Đặc điểm tri nhận của người Việt qua các từ chỉ bộ phận cơ thể người „tim‟, „lòng‟, „bụng‟, „dạ‟ 36
Trang 81.4 Tiểu kết 39
CHƯƠNG 2: Ý NIỆM “TIM” TRONG THƠ MỚI 42
2.1 Những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của “TIM” trong tiếng Việt 45
2.1.1. Đặc điểm cấu trúc 45
2.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa 47
2.2 Ý niệm “TIM” trong Thơ mới 50
2.2.1. Tim là vật chứa 50
2.2.2. Tim là thực thể 53
2.2.3. Tim biểu trưng cho con người 55
2.3 Phân tích ngữ liệu và đánh giá 57
2.3.1. Phân tích ngữ liệu 57
2.3.2. Cách thức tiến hành 58
2.3.3. Đánh giá kết quả 62
2.4 Tiểu kết 67
CHƯƠNG 3: Ý NIỆM “LÒNG” TRONG THƠ MỚI 70
3.1 Những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của “LÒNG” trong tiếng Việt 71
3.1.1. Đặc điểm cấu trúc 71
3.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa 76
3.2 Ý niệm “LÒNG” trong Thơ mới 79
3.2.1. Lòng là vật chứa cảm xúc 79
3.2.2. Lòng là thực thể 82
3.2.3. Lòng biểu trưng cho con người 85
3.3 Phân tích ngữ liệu và đánh giá 89
3.3.1. Phân tích ngữ liệu 89
3.3.2. Cách thức tiến hành 89
Trang 93.3.3. Đánh giá kết quả 95
3.4 Tiểu kết 101
CHƯƠNG 4: Ý NIỆM “BỤNG”, “DẠ” TRONG THƠ MỚI 104
4.1 Những đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của “BỤNG”, “DẠ” trong tiếng Việt 109
4.1.1. Đặc điểm cấu trúc 109
4.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa 111
4.2 Ý niệm “BỤNG”, “DẠ” trong Thơ Mới 117
4.2.1. Ý niệm “bụng” 117
4.2.2. Ý niệm “ruột” 118
4.2.3. Ý niệm “gan” 120
4.2.4. Ý niệm “dạ” 120
4.3 Phân tích ngữ liệu và đánh giá 123
4.3.1. Phân tích ngữ liệu 123
4.3.2. Cách thức tiến hành 123
4.3.3. Đánh giá kết quả 125
4.4 Tiểu kết 127
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC 140
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lâu nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ từ góc nhìn của ngôn ngữ học truyền thống là mảnh đất màu mỡ được khai phá dẫn đến hàng loạt những công trình nghiên cứu ngôn ngữ nói chung ra đời và đem lại nhiều kết quả trong kho tàng nghiên cứu ngôn ngữ Hơn nữa, phải nhìn nhận rằng ngôn ngữ học tri nhận (NNHTN) ra đời từ những năm 1980 của thế kỷ XX đã đánh dấu bước đột phá đáng kinh ngạc cho ngành ngôn ngữ học trên thế giới nói chung và Việt ngữ học nói
riêng Có thể kể đến các công trình tiêu biểu như Metaphors we live by (Lakoff & Johnson, 1980); The contemporary theory of metaphor: A perspective from Chinese (Ning Yu, 1998); Grammar and Conceptualization (Ronald W Langager, 2000);
Cutural Conceptualisations and Language (Farzad Sharifian, 2011) v.v Hơn nữa,
các công trình còn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề cụ thể về bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của NNHTN của các cộng đồng dân tộc để tìm ra những nét tri nhận phổ quát cùng với những nét tri nhận đặc thù tùy từng nền văn hóa nhất định, như
“Culture, Body, and Language: Conceptualizations of Internal Body Organs across Cultures and Languages” (Farzad Sharifian, René Dirven, Ning Yu, Susanne
Niemeier, 2008); The Chinese HEART in a Cognitive Perspective: Culture, Body,
and Language (Ning Yu, 2009) v.v…
Những nghiên cứu mang tính mới mẻ của NNHTN ứng dụng vào phân tích
tiếng Việt như công trình Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực
tiễn tiếng Việt (Lý Toàn Thắng, 2005); Ngôn ngữ học tri nhận, chép và suy nghĩ
(Trần Văn Cơ, 2007) đã đưa Việt ngữ học tiến được những bước dài Theo đà phát triển đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu NNHTN cũng lần lượt ra đời, đáp ứng
được xu hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại như “Những đơn vị từ vựng
biểu thị tâm lí, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt”
(Vũ Đức Nghiệu, 2007); “Cái bụng chứa tinh thần” (Nguyễn Đức Dân, 2010);
“Một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa thông qua ý niệm lòng, ruột, bụng, dạ trong tiếng Việt” (Trần Thị Hồng Hạnh, 2012) hay một số luận án tiến sĩ thuộc lĩnh vực
NNHTN như Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ
thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (Nguyễn Ngọc Vũ, 2008); “Ẩn
Trang 11dụ dưới góc độ tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)” (Phan Thế Hưng,
2009); “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt thông qua một số từ
khóa (So sánh đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga)” (Lê Thị Kiều Vân,
2011)
Có thể nói rằng, các công trình kể trên đã đạt những thành công đáng kể, chỉ
ra được những hướng nghiên cứu đi từ khung lý thuyết của NNHTN đến phân tích hay so sánh đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng Anh hoặc tiếng Nga Kế thừa những thành công này, việc nghiên cứu hệ thống các ý niệm về bộ phận cơ thể trong giai đoạn Phong trào Thơ Mới (1932 – 1945) là nội dung mang tính khả thi và cần thiết
để tìm ra những vấn đề cốt lõi ngôn ngữ và văn hóa của cộng đồng
Bởi vì NNHTN được xem là một “nét đặc trưng của ngôn ngữ học thế giới ở
giai đoạn hiện nay” [29] với cánh cửa đi vào hoạt động giao tiếp và nhận thức của
con người được định hướng vào đời sống thực tiễn, cho nên NNHTN giúp chúng ta khám phá những đặc thù về văn hóa cùng với những đặc trưng tư duy của người bản ngữ một cách cụ thể Cùng với tư tưởng lấy con người làm trung tâm (dĩ nhân vi trung), NNHTN dần dần khẳng định vị trí quan trọng trong ngành nghiên cứu ngôn ngữ
Nghiên cứu bộ phận cơ thể người trong ngôn ngữ thơ trên nền tảng của NNHTN hiện đại là một hướng nghiên cứu mới, phức tạp và đầy thử thách Quá trình nghiên cứu này không đi vào con đường phân tích văn chương thuần túy, mà phải dựa trên nền tảng văn hóa và ngôn ngữ của người bản ngữ, đồng thời sự trải nghiệm của con người về thế giới khách quan và tư duy của dân tộc cũng sẽ được
đề cập đến Kết quả từ sự nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc nhìn mới sẽ giúp chúng ta tìm ra bản chất mối quan hệ bộ ba: ngôn ngữ – văn hóa – tri nhận, để tìm hiểu tâm
tư, tình cảm cũng như cách thức tri nhận của người Việt gắn với những trải nghiệm qua thời gian Cụ thể, việc khảo sát hệ thống các ý niệm “TIM”, “LÒNG”, “BỤNG”,
“DẠ” được thể hiện qua các tác phẩm thơ sẽ mang lại nhiều khám phá thú vị đồng thời giải quyết nhiều vấn đề mà ngôn ngữ học truyền thống vẫn đang còn bỏ ngỏ
Tất cả những yêu cầu trên chính là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Khảo sát
các ý niệm “TIM”, “LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” trong Thơ mới (Thông qua tác phẩm Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử) để nghiên cứu
Trang 122 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, ngành khoa học tri nhận ra đời vào những năm đầu của thập niên 60, 70 của thế kỉ XX song song với một khuynh hướng mới có tên gọi là ngữ pháp cải biến (muộn hơn là ngữ pháp tạo sinh) do nhà ngôn ngữ học, toán học nổi tiếng – Noam Chomsky khởi xướng cùng với nhà tâm lý học Miler Đến cuối những năm 70, ngôn ngữ học bắt đầu xuất hiện những nghiên cứu mang hơi hướng tri nhận Thời điểm chính thức thừa nhận sự xuất hiện của NNHTN chính là thời điểm diễn
ra cuộc Hội thảo tại Duisburg (Đức) vào năm 1989 thông qua việc công bố Tạp chí
có tên “Cognitive Linguistics” [29] Sự ra đời của tạp chí này đã mở ra một con
đường mới chứa đựng nhiều điều bất ngờ và thú vị cho ngành ngôn ngữ học nói chung trên thế giới
Cho đến nay, NNHTN có hai hướng nghiên cứu nổi trội:
(i) Về ngữ nghĩa học tri nhận: có các học giả vốn từ ngữ pháp học và ngữ nghĩa học tạo sinh nhưng đã ly khai hoặc đối lập như Lakoff, Fillmore… hay các nhà triết học và tâm lý học quan tâm nghiên cứu về tri nhận điển hình: Johnson, Rosch, Fauconier…
(ii) Về ngữ pháp học tri nhận: có các nhà ngôn ngữ học chức năng nghiên cứu về các phổ niệm và loại hình ngôn ngữ như: Talmy, Langacker, Goldberg…
Do ảnh hưởng bởi xu hướng của NNHTN, ngành ngôn ngữ học đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về các bộ phận cơ thể người, điển hình là tác giả Ning
Yu với các công trình nổi tiếng: “What does our face mean to us?”, Pragmatics and Cognition (2001); “Body and emotion: Body parts in Chinese expression of
emotion”, Pragmatics and Cognition (2002); “Heart and cognition in ancient Chinese philosophy”, Journal of Cognition and Culture (2007); “From Body to Meaning in Culture”, Papers on Cognitive Semantic Studies of Chinese (2009)
Cùng hướng nghiên cứu với Ning Yu có tác giả Farzad Sharifian với công trình
“Culture, Body, and Language: Conceptualizations of Internal BodyOrgans across Cultures and Languages” (2008)
Ở Việt Nam, tuy NNHTN là một ngành nghiên cứu khá mới mẻ nhưng từ khi xuất hiện đến nay đã nhận được nhiều sự quan tâm của giới Việt ngữ, có thể kể đến
Trang 13đầu tiên là tác giả Lý Toàn Thắng với công trình: “Ngôn ngữ học tri nhận - từ lí
thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb Phương Đông (2005), tái bản năm
2009 Trong công trình này, tác giả đã miêu tả NNHTN từ lịch sử hình thành cho đến những thành tựu tiêu biểu, các vấn đề điển dạng và các phạm trù tri nhận Phần nổi bật nhất trong nghiên cứu này là kết quả về mô hình tri nhận không gian của người Việt, mở ra một hướng nghiên cứu sâu rộng từ thực tiễn tiếng Việt
Tiếp theo là tác giả Trần Văn Cơ với hai công trình: “Ngôn ngữ học tri nhận
(ghi chép và suy ngẫm)”, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội (2007) và “Khảo luận về
ẩn dụ tri nhận”, Nxb Lao động Xã hội, (2009) Hai công trình này đã nghiên cứu
những lý thuyết cơ bản về NNHTN, đặc biệt là các vấn đề xung quanh Ẩn dụ tri nhận và Hoán dụ tri nhận
Những công trình trên đã mở ra một hướng đi mang tính thời đại trong
nghiên cứu tiếng Việt, có thể kể đến tác giả Nguyễn Đức Tồn với công trình Tìm
hiểu đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt, Nxb
ĐHQGHN (2009) đã đạt nhiều bước tiến trong việc tìm ra mối liên hệ giữa ngôn ngữ và tư duy được phản ánh dựa trên nền văn hóa đậm màu sắc của người Việt; và
các công trình khác: “Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm từ biểu thị cảm giác trong
tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (2008); “Đặc trưng tư duy người Việt qua ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ (2009), cũng góp phần đặt nền móng đầu
tiên trong việc ứng dụng NNHTN vào thực tiễn tiếng Việt; cùng một số học giả khác quan tâm đến xu hướng NNHTN với những công trình nghiên cứu cụ thể liên
quan đến NNHTN như: Bùi Thị Dung với “Ẩn dụ tri nhận trong ca dao” (2008); Nguyễn Ngọc Vũ với đề tài “Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu
tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận” (2008); Phan Thế
Hưng với “Ẩn dụ dưới góc độ tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)” (2009); Nguyễn Thị Thanh Huyền với “Ẩn dụ tri nhận, mô hình cấu trúc trên ngữ
liệu ca từ Trịnh Công Sơn” (2009); Lê Thị Kiều Vân với bài “Về miền ý niệm
“MẶT” trong giao tiếp của người Việt từ góc nhìn của Ngôn Ngữ học tri nhận”, Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học KHXH & NV – ĐHQG TP HCM,
số 47 (6/2009) đã phân tích khá kỹ lưỡng những ý niệm được biểu đạt qua từ “mặt”, làm rõ nét dấu ấn văn hóa và đặc điểm tri nhận của người Việt Ly Lan cũng nghiên
Trang 14cứu về NNHTN qua công trình “Ý niệm biểu đạt trong biểu thức có từ “mặt”, từ
“anger” của tiếng Việt và tiếng Anh: một khảo sát ẩn dụ tri nhận”, Tạp chí Ngôn
ngữ (2009), đã phân tích cách thức tri nhận của người Việt qua từ “mặt” thể hiện
trong tiếng Việt và so sánh với tiếng Anh Lê Thị Kiều Vân với công trình “Tìm
hiểu đặc trưng văn hóa và tri nhận của người Việt thông qua một số từ khóa (So sánh đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh và tiếng Nga)” (2011)
Tiếp theo là các công trình nghiên cứu xoay quanh những từ ngữ chỉ bộ phận
bên trong cơ thể con người Tác giả Vũ Đức Nghiệu (2007) với bài báo “Những
đơn vị từ vựng biểu thị tâm lí, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt” đã đi sâu vào khảo sát 198 đơn vị từ vựng biểu thị các trạng thái
tâm lí, ý chí, tình cảm của con người Tác giả đã đưa ra những kết luận khá sâu sắc
về khả năng biểu nghĩa của các đơn vị từ vựng này và về đặc trưng tri nhận của người Việt dưới góc nhìn của ngữ nghĩa tri nhận, văn hóa và sự nghiệm thân Các tác giả có các công trình nghiên cứu từ chỉ bộ phận cơ thể cụ thể, đặc biệt là từ chỉ
“bụng” đã nhận được nhiều sự quan tâm, có thể kể đến tác giả Nguyễn Đức Dân với
công trình gây tiếng vang mang tựa đề “Cái bụng chứa tinh thần” (2010), lần đầu
tiên tác giả khai thác từ “bụng” và “lục phủ ngũ tạng” trong tri giác của người Việt
trên nền tảng của NNHTN và nhận định rằng: “cái bụng là một vật chứa tiêu biểu,
nó chứa đựng và thể hiện những gì thuộc về phạm trù tinh thần” mang dấu ấn riêng
của người Việt; tác giả Tạ Đức Tú có bài nghiên cứu “bụng” dựa trên ngữ liệu
thành ngữ Việt Nam – “Một số thành ngữ có từ bụng”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (số 3, 2005); tác giả Hoàng Dĩ Đình với “Tản mạn về từ bụng của người Việt”,
LÒNG, HỒN (SOUL) và XÁC (BODY) … dựa trên mối quan hệ bộ ba ngôn ngữ – văn hóa – tri nhận, đã mở ra một lối đi, một hướng tiếp cận mới cho ngôn ngữ học
tri nhận ở Việt Nam; tác giả Trịnh Sâm với công trình “Một vài nhận xét về ý niệm
Trang 15tim” (Tạp chí Tự Điển Học & Bách Khoa Thư số 4, 2014), dựa trên lý thuyết của
NNHTN tác giả đã phân tích khá sâu sắc về “tim” và “tâm” trong suy nghĩ và tư
duy của người Việt; tác giả Phan Thị Hồng Xuân với“Vài nét về hình ảnh trái tim
trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống (số 4, 2000); tác giả Nguyễn Thanh
Thủy có công trình nghiên cứu “ruột” với đề tài “Về thành ngữ có chứa yếu tố ruột
trong tiếng Việt”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Tp.HCM (số 17); tác giả
Nguyễn Thị Thu nghiên cứu từ chỉ bộ phận bên ngoài cơ thể “chân”, “tay” với công
trình “Thành ngữ chỉ tay, chân với đặc trưng văn hóa dân tộc”, Tạp chí Ngôn ngữ
và đời sống (số 3, 2006); tác giả Trần Thị Hồng Hạnh với công trình nghiên cứu
tổng hợp những từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể người: “Một số vấn đề ngôn ngữ và
văn hóa thông qua ý niệm lòng, ruột, bụng, dạ trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ
(số 11, 2012), tác giả đồng thời so sánh các từ chỉ bộ phận này với tiếng Trung, một ngôn ngữ có nhiều điểm tương đồng với tiếng Việt; tác giả Trịnh Đức Hiển – Lâm
Thu Hương với công trình“Cấu trúc hai bậc trong ngữ nghĩa của thành ngữ có từ
chỉ bộ phận cơ thể”, Văn hóa dân gian (số 5, 2003)
Một cách khái quát, chúng tôi nhận thấy những công trình nghiên cứu về từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể người tuy có nhiều thành công nhưng chỉ dừng lại ở phạm vi thuộc về tâm lý tri nhận và mang tính riêng lẻ Kế thừa những thành tựu này, việc nghiên cứu hệ thống ý niệm các từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể người là điều cần thiết, đặc biệt hơn khi khảo sát dựa trên ngữ liệu chúng tôi giới hạn “tim”,
“lòng”, “bụng”, “dạ” tại thời điểm lịch sử là Phong trào Thơ mới, để từ đó tìm ra đặc điểm tri nhận của người Việt qua các tác phẩm thơ của các nhà thơ tiêu biểu Công trình này đã giúp chúng tôi đi đến gần hơn với hướng nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại và làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo
Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên, chúng tôi tiến hành khảo sát
ý niệm “TIM”, “LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” qua các tác phẩm – tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới, với hy vọng góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu tiếng Việt theo xu hướng của NNHTN
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các ý niệm “TIM”, “LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” trong Thơ mới (thông qua tác phẩm của những nhà thơ tiêu biểu: Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân
Trang 16Diệu, Hàn Mặc Tử) xét từ góc nhìn của tri nhận và văn hóa – theo nhìn nhận của chúng tôi, là hướng đi mang tính khả thi và giá trị thực tiễn cao khi nghiên cứu tiếng Việt
Mục đích cơ bản của việc nghiên cứu đề tài này là ứng dụng khung lý thuyết trong phân tích ngôn ngữ vào thực tiễn tiếng Việt Từ đó, rút ra được đặc trưng tri nhận, lối tư duy về “cách nhìn” và “nếp nghĩ” của người Việt sống trong giai đoạn Thơ mới, dưới sự ảnh hưởng của nền văn hóa mang tính đặc thù dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Khảo sát các ý niệm “TIM”, “LÒNG”,
“BỤNG”, “DẠ” trong Thơ mới (thông qua tác phẩm của Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử)” Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi lấy lý thuyết khái quát của NNHTN, ý niệm và ý niệm hóa văn hóa làm cơ sở lý luận để triển khai đề tài
Từ góc độ ngôn ngữ học, các từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể “TIM”,
“LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” được sử dụng nhiều trong văn chương, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, trong các văn cảnh cụ thể, trong giao tiếp tiếng Việt hiện đại Ở mức độ luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ xem xét các yếu tố này được thể hiện trong tác phẩm của bốn nhà thơ tiêu biểu: Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử để giới hạn hướng nghiên cứu và sưu tầm tư liệu của mình Hi vọng trong những nghiên cứu tiếp theo ở mức độ cao hơn, chúng tôi sẽ lần lượt khảo sát những ý niệm của các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong các tác phẩm văn chương khác
4.2 Phạm vi
Phạm vi ngữ liệu của luận văn được chúng tôi chọn từ các tập thơ chính của các tác giả trong giai đoạn Phong trào Thơ mới như sau:
- Nguyễn Bính gồm 7 tập thơ: Lỡ bước sang ngang (1940); Tâm hồn tôi
(1940); Hương, cố nhân (1941); Một nghìn cửa sổ (1941); Người con gái ở lầu hoa (1942); Mười hai bến nước (1942); Mây Tần (1942)
- Huy Cận gồm 2 tập thơ: Lửa thiêng (1940); Vũ trụ ca (1940 – 1942)
Trang 17- Xuân Diệu gồm 2 tập thơ: Thơ thơ (1938); Gửi hương cho gió (1945)
- Hàn Mặc Tử gồm các tập thơ: Gái quê (1936); Thơ điên (tức Đau thương, 1938); Xuân như ý (1939); Thượng thanh khí; Cẩm châu duyên (1939 – 1940)
Ngoài các tập thơ nổi tiếng trong Phong trào Thơ mới, chúng tôi cũng khảo sát thêm những tác phẩm khác của bốn tác giả trước giai đoạn 1945 từ sách, báo, tạp chí, v.v (bản in và bản điện tử) để minh họa cho những vấn đề đặt ra trong luận văn
Để bảo đảm nội dung của luận văn, chúng tôi thống kê những từ chỉ “TIM” (và “TRÁI TIM”), “LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” được thể hiện trong các tác phẩm thơ của Phong trào Thơ mới và phân tích chúng dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ – tri nhận – văn hóa
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên ứu
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài việc phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới một số phương pháp cụ thể như:
(i) Phương pháp phân tích, tổng hợp
Muốn có những nhận xét mang tính tổng hợp, chúng tôi phải đi vào từng yếu
tố của ngôn ngữ để xác minh vấn đề, đó là việc phân tích tất cả đặc điểm cấu trúc cũng như đặc trưng ngữ nghĩa và con đường chuyển hóa nghĩa của các từ chỉ các bộ phận bên trong cơ thể người nhìn từ góc độ của ngôn ngữ học Phương pháp này bước đầu giúp chúng tôi xây dựng rõ hơn bản chất của đối tượng nghiên cứu
(ii) Phương pháp thống kê, phân loại
Muốn đưa ra được những chứng cứ cụ thể, chính xác trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng phương pháp này để liệt kê và phân loại các từ “TIM”,
“LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” được thể hiện trong các tác phẩm thơ của các nhà thơ tiêu biểu: Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính Phương pháp này giúp cho việc trình bày vấn đề của luận văn tăng thêm tính thuyết phục
(iii) Phương pháp so sánh
Trang 18Chúng tôi tiến hành so sánh các ý niệm chứa TIM, LÒNG, BỤNG, DẠ và so sánh tần suất xuất hiện của các yếu tố trong tác phẩm thơ của bốn tác giả tiêu biểu
Từ đó chỉ ra những đặc điểm tri nhận chung và riêng của mỗi tác giả tại thời điểm lịch sử của phong trào Thơ mới
Tất nhiên, các phương pháp trên đây không phải thực hiện riêng lẻ, biệt lập
mà phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết vấn đề luận văn
đưa ra
5.2 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu
Để tiến hành khảo sát ngữ liệu về các tập thơ chính và các tác phẩm riêng lẻ khác nằm trong giai đoạn Thơ mới của các tác giả và nghiên cứu nội dung của đề tài, chúng tôi sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu như đã liệt kê ở mục Nguồn ngữ liệu (trang v)
6 Ý nghĩa khoa học của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Việc khảo sát đề tài luận văn dưới góc nhìn của NNHTN hi vọng sẽ góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu văn hóa và đặc trưng tri nhận của người Việt Đồng thời, nghiên cứu ngôn ngữ trong giai đoạn Phong trào Thơ mới dựa trên mối tương quan giữa tư duy và ngôn ngữ cũng góp phần lý giải nét đặc thù văn hóa, quá trình tư duy và những cảm xúc của cộng đồng người Việt
6.2 Về mặt thực tiễn
Chúng tôi hy vọng kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt trong và ngoài nước Đồng thời, quá trình chọn lọc, thống kê, phân tích những từ chỉ bộ phận bên trong cơ thể người “TIM”,
“LÒNG”, “BỤNG”, “DẠ” qua các tác phẩm thơ vang bóng một thời của nền văn học Việt Nam sẽ mang lại nguồn tài liệu phong phú cho những học giả quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ học
Từ đó giúp người nghiên cứu có thể lý giải đặc điểm tri nhận của những người sống trong giai đoạn biến động của xã hội (1932 – 1945) nói riêng, cũng như cung cấp thêm kiến thức để phân tích, xử lý hiệu quả hơn những vấn đề liên quan
Trang 19đến ngôn ngữ học nói chung của cộng đồng người Việt Mặt khác, kết quả này cũng
có thể giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt có thể cảm thụ và nhận biết được những đặc trưng tri nhận qua cách sử dụng các từ chỉ bộ phận cơ thể người được xét
từ góc độ văn hóa và tư duy của người bản ngữ
Hướng nghiên cứu đi từ khung lý thuyết cơ bản của NNHTN đến việc ứng dụng vào nghiên cứu cụ thể các bộ phận cơ thể người trong giai đoạn Thơ mới là hướng đi mang tính khả thi và có ý nghĩa nhất định đối với thực tiễn tiếng Việt
7 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung được trình bày trong 4 chương cụ thể:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương này chúng tôi đưa ra ba vấn đề lý thuyết chính có liên quan đến đề tài của luận văn Vấn đề thứ nhất là sự khái quát về NNHTN, về khái niệm và cơ sở hình thành “ẩn dụ ý niệm” cũng như cách phân biệt hai thuật ngữ “ý niệm” trong NNHTN và “khái niệm” trong ngôn ngữ học truyền thống Đặc biệt là lý thuyết về
sự “ý niệm hóa” và “ý niệm hóa văn hóa”, cơ sở lý luận chính để chúng tôi có thể
để đưa ra những ý niệm đáng tin cậy được hình thành trong tư duy của những tác giả trong Phong trào Thơ mới Vấn đề thứ hai là những đặc điểm về Phong trào Thơ mới cũng như đặc điểm phong cách thơ nổi bật tạo nên những hình tượng tiêu biểu như Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử trên diễn đàn Thơ mới cũng như trong lịch sử văn học của nước nhà Vấn đề thứ ba là đặc điểm tri nhận chung của người Việt qua các từ chỉ bộ phận cơ thể người “TIM”, “LÒNG”, “BỤNG”,
“DẠ” Từ cái nhìn khái quát đó, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát cụ thể các ý niệm chứa từng bộ phận này trong giai đoạn Thơ mới
Chương 2: Ý NIỆM “TIM” TRONG THƠ MỚI
Ở chương này chúng tôi giải quyết nội dung đầu tiên cần nghiên cứu, đó là khảo sát các ý niệm được thể hiện thông qua bộ phận TIM xuất hiện trong các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử Trước khi đi vào khảo sát trong Thơ mới, chúng tôi cũng đưa ra các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của từ “tim” (và từ “trái tim”) cũng như những quan điểm “tim”/ “trái tim”
Trang 20của các nhà Việt ngữ học để có cái nhìn toàn diện hơn về “tim” của người Việt Từ
đó có thể tiến hành khảo sát các ý niệm được nổi bật trong thơ của các tác giả và đưa ra những nhận định cụ thể trong quá trình nghiên cứu
Chương 3: Ý NIỆM “LÒNG” TRONG THƠ MỚI
Để luận văn mang tính nhất quán, ở chương 3 này chúng tôi tiến hành khảo
sát các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của từ “lòng” cũng như những quan điểm xoay quanh bộ phận “lòng” của các nhà Việt ngữ học Sau đó tiến hành nghiên cứu, phân tích và giải quyết vấn đề đặt ra là, “lòng” được các nhà thơ “ý niệm hóa” thế nào trong Thơ mới, từ đó đưa ra những nhận định về đặc điểm tri nhận dưới sự ảnh hưởng văn hóa của những người sống trong thời kỳ Thơ mới nói riêng cũng như của
cộng đồng người Việt nói chung
Chương 4: Ý NIỆM “BỤNG”, “DẠ” TRONG THƠ MỚI
Ở chương 4 chúng tôi khảo sát ý niệm của các bộ phận còn lại “bụng”, “dạ” Tuy nhiên, ngữ liệu về hai yếu tố này quá ít, hơn nữa những tài liệu nghiên cứu
“bụng” của người Việt cho thấy “ruột”, “gan” cũng là các yếu tố luôn được đề cập đến, chính vì thế chúng tôi tiến hành khảo sát ý niệm của 4 yếu tố “bụng”, “ruột”,
“gan”, “dạ” xuất hiện trong các tác phẩm của các nhà thơ tiêu biểu Dựa trên đặc điểm tổng quát về cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa của “bụng”, “ruột”, “gan”, “dạ”, và những ý niệm nổi bật, chúng tôi đã đưa ra những nhận xét về đặc trưng tri nhận dưới góc nhìn văn hóa của người Việt ở giai đoạn đầy biến cố của xã hội 1932 –
1945, cũng như những trải nghiệm trong tư duy của họ về con người và về thế giới khách quan được thể hiện thông qua bộ phận cơ thể “bụng”, “ruột”, “gan”, “dạ”
Ngoài ra, luận văn còn có thêm Tài liệu tham khảo (tiếng Việt, tiếng Anh),
và 89 trang Phụ lục đính kèm, minh họa cho nội dung của luận văn
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Ngôn ngữ học tri nhận – hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện đại
NNHTN xuất hiện đầu tiên vào những năm 1960, 1970 (Fillmore, 1975; Lakoff & Thompson, 1975; Rosch, 1975) ngay tại thời điểm ngôn ngữ học và triết học đang chiếm ưu thế Lúc này, NNHTN luôn bị ảnh hưởng bởi lý thuyết và những phát minh của các ngành tri nhận khác, đặc biệt là tâm lý học tri nhận Tâm lý học tri nhận đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiên cứu về con người, bao gồm những trạng thái có thể quan sát trực tiếp được như hành vi và các trạng thái bên trong của con
người như những hiện tượng tâm lý, tinh thần Tác giả R.L.Solso viết: “Tâm lý
học tri nhận nghiên cứu xem con người tiếp nhận các thông tin về thế giới như thế nào, những thông tin đó được con người hình dung ra sao, chúng được lưu trữ trong kí ức và được cải biến thành các tri thức như thế nào và các tri thức này ảnh hưởng ra sao đến sự chú ý và hành vi của chúng ta” [61] Quan niệm mới này đã
làm thay đổi không chỉ cách tiếp cận nghiên cứu con người mà cả bản thân quan niệm về con người – con người phải được nghiên cứu như một “hệ thống xử lý các thông tin” mà nó tiếp nhận
Dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của tâm lý học tri nhận, các học giả đã bắt đầu nghiên cứu về NNHTN và số lượng này càng ngày càng tăng lên vào những năm
1980 – 1990, thậm chí xuất hiện nhóm các nhà nghiên cứu tự xác định mình là những nhà “ngôn ngữ học tri nhận” Điều này đã dẫn đến sự ra đời chính thức của NNHTN tại cuộc hội thảo ở Duisburg (Đức) vào năm 1989, cùng với việc hình
Trang 22thành các Hiệp hội ngôn ngữ học tri nhận quốc tế (International Cognitive Linguistics Association) và sự ra đời của tạp chí “Ngôn ngữ học tri nhận” (Cognitive Linguistics)
NNHTN nghiên cứu ngôn ngữ, hệ thống ý niệm, tri nhận con người, và sự giải thích cấu trúc nghĩa khái quát Nói cách khác, NNHTN đề cập đến các phạm trù khái niệm cơ bản trong cấu trúc ngôn ngữ như không gian và thời gian, cảnh vật và
sự kiện, các thực thể và các quá trình, sự chuyển di, vị trí, sự tác động và kết quả; và
đề cập đến sự hình thành phạm trù tư tưởng và tình cảm liên quan đến hoạt động tri nhận chẳng hạn như sự quan tâm, quan điểm, ý chí và dự định (Encyclopedia of Cognitive Science –Cognitive Linguistic, Gills Fauconnier)
Một số học giả như Vyvyan Evans và Melanie Green nhận định: “Ngôn ngữ
mở ra cánh cửa đi vào chức năng tri nhận, cung cấp cái nhìn đi sâu vào bản chất, cấu trúc, và tổ chức tư duy Cách quan trọng nhất làm nên sự khác biệt giữa ngôn ngữ học tri nhận với các ngành khác khi nghiên cứu ngôn ngữ, là ngôn ngữ được thừa nhận để phản ánh những thuộc tính cơ bản và đặc trưng kết cấu của tâm trí con người.” [62] Dirk Geeraerts và Herbert Cuyckens cũng cho rằng: “Ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu ngôn ngữ trong chức năng tri nhận của nó, nơi mà tri nhận đề cập đến vai trò chủ yếu của kết cấu thông tin trung gian trong sự tương tác của chúng ta với thế giới.” [44]
Đón nhận xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới trên thế giới, các nhà Việt ngữ học đã đưa NNHTN ứng dụng vào tiếng Việt Có thể kể đến là tác giả Lý Toàn Thắng (2005, 2009) và Trần Văn Cơ (2007, 2010) Lý Toàn Thắng chỉ ra rằng,
“NNHTN là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hóa các sự vật
và sự tình của thế giới khách quan đó” [29, tr.279] Từ định nghĩa này, tác giả phân
tích NNHTN mang những luận điểm sau:
i) Mục đích của NNHTN là nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện chức
năng tri nhận của ngôn ngữ, vốn trước đây chỉ được xem xét như gắn với việc biểu
hiện thế giới trong ngôn ngữ và với nhiệm vụ của trí não là thực hiện tư duy Do đó, ngôn ngữ vừa là sản phẩm vừa là công cụ của hoạt động tri nhận của con người
Trang 23ii) NNHTN cho rằng ngôn ngữ chính là cánh cửa đi vào thế giới tinh thần của con người thay vì trước kia NNHTN quan niệm ngôn ngữ chính là cánh cửa dẫn vào thế giới khách quan Hướng tiếp cận mới này yêu cầu các nhà nghiên cứu phải chuyển trọng tâm nghiên cứu ngôn ngữ từ tư duy sang ý thức, với cách hiểu ý thức
là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích lũy được trong suốt đời mình và nó phản ánh những ấn tượng, những cảm giác, những biểu tượng và những hình ảnh dưới dạng các ý niệm hay các ý của các ý niệm thống nhất Trong quá trình nghiên cứu ý thức ngôn ngữ, việc cần thiết là phải khảo sát mối liên
hệ của nó với hiện thực được lĩnh hội qua các ý niệm và khảo sát bản chất của các ý niệm đặc trưng cho ý thức này, nói cách khác, NNHTN cần phải quan tâm đến các
quá trình ý niệm hóa và phạm trù hóa thế giới khách quan
Có thể nói một cách khác, NNHTN cho phép chúng ta nói đến “cái cách
thức mà con người tri giác và ý niệm hóa” Bởi vì, các dân tộc nói các thứ tiếng
khác nhau có thể “nhìn” và “nghĩ” về thế giới hiện thực là không giống nhau ở một chừng mực nào đó Thông qua ngôn ngữ, chúng ta có thể tìm hiểu cái cách thức khác nhau trong sự tri giác nói riêng và sự tri nhận thế giới nói chung của người bản ngữ
iii) Ngữ nghĩa mà NNHTN nghiên cứu không hề đối ứng với thế giới khách quan bên ngoài (là thế giới khách quan tồn tại trong sự phụ thuộc vào ý thức của
con người) mà đối ứng với thế giới phi khách quan được phóng chiếu lại trong ý
thức đồng thời ngữ nghĩa cũng có quan hệ trực tiếp với cấu trúc ý niệm được ước
định trong đó
iv) Trong khi nghiên cứu ngữ nghĩa không nên hoàn toàn tách rời tri thức ngữ nghĩa “đời thường” với tri thức bách khoa, bởi vì ý nghĩa của ngôn ngữ không những bao hàm trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó cũng có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình tương tác giữa con người và thế giới,
từ tri thức, hệ thống niềm tin của con người
Luận điểm này được hiểu rằng NNHTN đề cập đến “vốn kinh nghiệm” và
“sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan” Vốn kinh nghiệm cho chúng ta
đầy đủ các thông tin, tri thức, ý niệm để tri nhận về thế giới khách quan Đồng thời,
Trang 24thông qua sự tri nhận đó, cách nhìn, cách nghĩ của người bản ngữ về thế giới khách quan sẽ được nổi bật
v) Trong khi nghiên cứu NNHTN, ngữ pháp nên được coi là không phải là một hệ thống quy tắc mà là một bảng danh mục các biểu hiện (symbol) có cấu trúc nội tại được tạo thành bởi sự kết hợp giữa ý nghĩa và hình thức Có nghĩa là, cú pháp không tự trị và độc lập mà nó phải chịu sự tác động của nhiều nhân tố như ngữ nghĩa, ngữ dụng, tri nhận hoặc cấu trúc cú pháp bề mặt có quan hệ đối ứng trực tiếp với cấu trúc cú pháp chiều sâu v.v…
Tác giả Trần Văn Cơ cho rằng NNHTN là khuynh hướng trong khoa học về ngôn ngữ ra đời vào nửa sau thế kỷ XX có đối tượng nghiên cứu đặc thù là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các quá trình tư duy của con người (bao gồm trí tuệ, sự hiểu biết – kiến thức, sự thông hiểu, trí nhớ, ý niệm hóa thế giới v.v) trên cơ sở kinh nghiệm và suy luận logic Tác giả nhấn mạnh hai nguyên lý cơ bản của NNHTN, đó là:
(i) Nguyên lý 1: NNHTN nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với con người (“dĩ nhân vi trung”), bởi vì đối tượng của NNHTN là ngôn ngữ tự nhiên của con người với tư cách là một bộ phận cấu thành của nhận thức
(ii) Nguyên lý 2: Ngôn ngữ phản ánh mối tương tác giữa những nhân tố tâm
lý, giao tiếp, chức năng và văn hóa Điều này có nghĩa là: cấu trúc của ngôn ngữ phản ánh những tiêu chí chức năng dựa trên sự sử dụng ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp, nó chỉ rõ trí tuệ của con người làm việc như thế nào Hơn nữa, cấu trúc ngôn ngữ cũng được cấu tạo bởi hai nhân tố quan trọng: nhân tố bên trong - trí tuệ của cá thể người nói, nhân tố bên ngoài – nền văn hóa chung cho nhiều người nói cùng một thứ tiếng, do đó, ngôn ngữ phản ánh nhiều bình diện của một nền văn hóa nhất định
Ngoài ra, tác giả Trần Văn Cơ đặc biệt quan tâm đến lý thuyết về ẩn dụ tri nhận, là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận biểu hiện và hình thành những khái niệm mới Ẩn dụ trong NNHTN được xem là một trong những phương thức biểu thị tri thức dưới dạng ngôn ngữ, với đối tượng là những không gian tư duy phức tạp Trong quá trình nhận thức, những không gian tư duy
Trang 25không thể quan sát trực tiếp sẽ được ý niệm hóa thành những không gian tư duy đơn giản hơn hay những không gian tư duy có thể quan sát được Các ý niệm này sẽ nhập vào trong một hệ thống ý niệm chung của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định [9, tr.39, tr.41, tr 53]
Nói chung khi nghiên cứu NNHTN, trước hết, chúng ta phải hiểu một cách sâu sắc về quan điểm “tri nhận” Theo P.Houston, “tri nhận” được định nghĩa: (i) xử
lý thông tin; (ii) tính toán các ký hiệu tâm lý; (iii) giải quyết vấn đề; (iv) tư duy; (v) nhóm hoạt động có liên quan như tri giác, ký ức, phán đoán, suy luận, hình thành ý niệm, sử dụng ngôn ngữ v.v Năm định nghĩa này bao hàm một cách hiểu chung: tư duy là hạt nhân của tri nhận
Như vậy, có thể hiểu “tri nhận” là tất cả các quá trình thu nhận, tàng trữ, xử
lý thông tin, chế biến thành các tri thức bằng sự tri giác và kinh nghiệm, bao gồm
các đặc trưng: (i) Các nhà ngôn ngữ học tri nhận đều bác bỏ tư tưởng cho rằng ngôn ngữ là một cơ chế tự trị (autonomy), và khẳng định rằng không thể miêu tả ngôn ngữ nếu không dựa vào quá trình tri nhận; (ii) Ngữ nghĩa, ngữ pháp là sự ý niệm hóa; (iii) Đối với ngôn ngữ học tri nhận, tri thức ngôn ngữ nảy sinh từ sự sử dụng ngôn ngữ Nguyên lí này cho rằng các phạm trù và các cấu trúc trong ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ pháp và âm vị đều được xây dựng trên cơ sở sự tri nhận của chúng ta
về các phát ngôn riêng biệt trong khi sử dụng chúng
Sau khi nắm vững quan điểm “tri nhận”, người nghiên cứu phải tiếp cận ngôn ngữ thông qua chức năng tri nhận, cơ chế tri nhận hay quá trình tri nhận của
nó – giống như những dạng thức tương tự khác trong hoạt động tri nhận của con người – dựa trên lý thuyết và ứng dụng thực tế của ngôn ngữ
Có ba xu hướng tiếp cận khi nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đó là: (i) sự tiếp cận có tính chất kinh nghiệm (experiential); (ii) sự tiếp cận
có tính chất chọn lựa – tức tính nổi trội (prominence); (iii) sự tiếp cận có tính chất thu hút sự chú ý (attentional) Hơn nữa, nguyên lí “dĩ nhân vi trung” (anthropocentric) là cơ sở phương pháp luận của ngành ngôn ngữ học tri nhận khi nghiên cứu ngôn ngữ loài người nói chung và ngôn ngữ của mỗi dân tộc nói riêng Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức các tài liệu ngữ nghĩa Ngôn ngữ là sự phản ánh hoạt động tri nhận của con người
Trang 26Còn rất nhiều vấn đề khác xoay quanh NNHTN, tuy nhiên chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề lý thuyết cơ bản làm tiền đề cho các phân tích trong luận văn
1.1.2 Ẩn dụ ý niệm – q á tr nh niệm h ơ h tri nhận
Lý thuyết ẩn dụ ý niệm là một trong những lý thuyết sớm nhất và quan trọng nhất khi tiếp cận với ngữ nghĩa học tri nhận, một hướng nghiên cứu cơ bản của NNHTN Lý thuyết này thống trị một thời gian dài trong các nghiên cứu của NNHTN, bất chấp những hạn chế của nó Ẩn dụ ý niệm được khám phá và được biết đến rộng rãi bởi nhà nghiên cứu Lakoff và Johnson thông qua ấn phẩm nổi
tiếng Ẩn dụ trong đời sống của chúng ta (Metaphors we live by) vào năm 1980
Công trình nhấn mạnh vai trò của ẩn dụ, rằng ẩn dụ không chỉ tỏa khắp trong ngôn ngữ hằng ngày mà trong cả cách mà chúng ta suy nghĩ và hành động Ẩn dụ là một công cụ thông qua đó, những trải nghiệm mơ hồ của con người được ý niệm hóa dựa trên những trải nghiệm cụ thể hơn Nó cho phép con người thể hiện suy
nghĩ về bản thân và thế giới, hay nói cách khác, “hệ thống ý niệm của con người
được cấu trúc và xác định theo ẩn dụ” [49] Ẩn dụ không xuất hiện một cách ngẫu
nhiên, rời rạc mà theo những nhóm lớn hơn, gọi là Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor)
Cũng theo lý thuyết này, ẩn dụ ý niệm (ADYN) được định nghĩa:“ADYN là
một sự “chuyển di” (transfer) hay một sự “ánh xạ” (mapping) cấu trúc và các quan
hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay một
mô hình tri nhận đích” [29, tr.25] Về việc phân loại, ADYN được phân làm bốn
loại theo chức năng tri nhận như sau:
(i) Ẩn dụ cấu trúc: Là những ẩn dụ ý niệm khi mà một ý niệm này được cấu
trúc hóa về mặt ẩn dụ trong thuật ngữ của một ý niệm khác
(ii) Ẩn dụ định hướng: Có một dạng khác của ẩn dụ ý niệm không cấu trúc
hóa một ý niệm này trong thuật ngữ của một ý niệm khác, mà tổ chức cả một hệ thống ý niệm đối với một hệ thống khác Chúng ta gọi ẩn dụ này là ẩn dụ định hướng, bởi vì trong số đó có nhiều ẩn dụ liên quan đến việc định hướng trong không gian: trên – dưới, trong – ngoài, trước – sau, trung tâm – ngoại vi…
Trang 27(iii) Ẩn dụ bản thể: Ẩn dụ bản thể thực chất là quá trình “vật thể hóa” những
bản thể trừu tượng và vạch ranh giới của chúng trong không gian
(iv) Ẩn dụ vật chứa: Vật chứa thông thường được hiểu là những thực thể vật
lý bị hạn chế trong một không gian nhất định và tách biệt khỏi thế giới còn lại bởi
bề mặt của nó Mỗi con người là vật chứa bị hạn chế bởi bề mặt của thân thể; cái vật chứa này có khả năng định hướng kiểu “trong – ngoài”
Hiểu một cách đơn giản, ADYN được xem như việc hiểu một đối tượng mang tính trừu tượng thông qua một đối tượng khác ít trừu tượng hơn Cơ chế này
được thực hiện bởi sơ đồ ánh xạ (mapping), là một hệ thống cố định của các tương
ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) Khi các tương ứng được kích hoạt trong ý thức của con người, sơ đồ ánh
xạ phóng chiếu từ miền nguồn sang miền đích dựa trên những điểm tương ứng Nguyên tắc ánh xạ chỉ theo một hướng nhất định, nghĩa là hướng từ cấu trúc nguồn đến cấu trúc đích, chứ không có chiều ngược lại và có thể khái quát bằng công thức
“ĐÍCH LÀ NGUỒN” Miền NGUỒN là sự khái quát hóa kinh nghiệm của đời sống thực tiễn của con người trong thế giới Các ý niệm ở đây được hình thành chủ yếu
do sự tác động, trải nghiệm của con người với thế giới khách quan thông qua các hoạt động tri giác, có thể hiểu là những vật thể cụ thể, có hình dạng, kích thước, có thể sờ, nắm hoặc cảm nhận bằng các giác quan Miền ĐÍCH là miền chứa những ý niệm trừu tượng – chỉ có thể cảm nhận và tri nhận bằng trí óc như tư tưởng, tình cảm, thời gian, cuộc đời…
ADYN là sự ý niệm hóa và sự thấu hiểu hiện tượng này thông qua hiện tượng khác Bản chất của ẩn dụ được phản ánh qua hai luận điểm cơ bản:
(i) Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu trong tư duy ý niệm của con người, phản ánh cách con người nhìn nhận thế giới qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc
Luận điểm 1: Quy định việc nghiên cứu ẩn dụ trong sự thống nhất giữa tư duy ý niệm của con người với ngôn ngữ – văn hóa dân tộc Nó là cơ sở ý niệm theo
đó ẩn dụ không chỉ là phép tu từ được ưa chuộng trong thi ca hay một phương thức chuyển nghĩa thuộc về ngôn ngữ học, mà là một cơ chế tư duy quan trọng để con người nhận thức thế giới khách quan Cơ chế này cho phép chuyển di những đối
Trang 28chiếu về những lĩnh vực, kinh nghiệm đã biết rõ sang những lĩnh vực, kinh nghiệm chưa biết hoặc biết biết ít hơn
(ii) Cấu trúc của ẩn dụ là cấu trúc hai chiều thuộc miền NGUỒN và thuộc miền ĐÍCH
Luận điểm 2: Quy định cấu trúc của ẩn dụ, trong đó tìm giả định sự tồn tại hai miền NGUỒN và ĐÍCH Theo nguyên lý tri nhận, ẩn dụ hàm ý việc hiểu một đối tượng này qua lăng kính của một đối tượng khác, nghĩa là miền NGUỒN có chức năng cung cấp tri thức đã biết cho miền ĐÍCH thông qua các ánh xạ
Ví dụ: Ẩn dụ: TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH cho phép hiểu rằng từ ý niệm NGUỒN – HÀNH TRÌNH có thể dẫn đến các thuộc tính biết về nó như “con đường (dài/ gập ghềnh); quãng đường (gần, xa); ngã rẽ (ngã ba, ngã tư); các phương tiện đi lại (tàu, thuyền, xe, cộ); đích đến được gán cho ý niệm ĐÍCH – TÌNH YÊU
Ý niệm trong miền ĐÍCH chỉ thu nhận một bộ phận chứ không thu nhận cái toàn thể những thuộc tính vốn có của ý niệm NGUỒN
ADYN có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ nói chung cũng như thơ ca nói riêng Cụ thể là nó đem đến cho thơ ca sự mới mẻ sáng tạo trong cách cảm nhận thế giới và mở ra cho con người những khả năng trao đổi, đánh giá về các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng làm cho trí tưởng tượng của con người thêm phong phú, bay bổng thoát khỏi sự phản ánh sự kiện theo lối tư duy cấu trúc ngôn ngữ thông thường
Từ ADYN, con người hiểu rõ hơn, nắm bắt nhiều hơn về quá trình tư duy khám phá thế giới khách quan được ánh xạ qua ngôn ngữ và ngược lại, sự tri nhận cũng là cơ sở giúp giải mã các tầng bậc ý nghĩa của ngôn ngữ Để hiểu được ý nghĩa đầy đủ của một hình ảnh qua thơ/ một khổ thơ/ một bài thơ/ một tập thơ, người đọc phải giải mã ẩn dụ do nhà thơ lập mã dựa trên ý niệm phổ quát Thông qua ẩn dụ, chúng ta có thể nhận ra phong cách riêng của mỗi nhà thơ cũng như những sáng tạo nghệ thuật được xây dựng từ những yếu tố chung của thơ ca dân tộc và nhân loại
Trang 29Dước góc nhìn của NNHTN, ADYN thấm sâu vào ngôn ngữ và cả tư duy, là thuộc tính không thể tách rời khỏi tu duy Ẩn dụ chính là công cụ tri nhận quan trọng nhất dùng để phạm trù hóa thế giới nói chung và những lĩnh vực vật thể riêng
lẻ, cấu trúc hóa tri giác và kinh nghiệm cảm tính Nhờ có ẩn dụ mà chúng ta có thể hiểu và diễn đạt những không gian tư duy phức tạp trở nên đơn giản và cụ thể hơn dựa trên cơ sở những trải nghiệm của mình về thế giới khách quan ADYN được ghi lại trong truyền thống ngôn ngữ và văn hóa của xã hội, được người bản ngữ tri nhận
và thể hiện qua từng ngôn ngữ nhất định
Trong những nghiên cứu gần đây, Lakoff đã tập trung vào sự liên kết hình thành ẩn dụ và các neuron thần kinh của con người, và đưa ra khẳng định mạnh mẽ hơn nữa lý thuyết “ẩn dụ thuộc về vấn đề của tư duy” Tuy nhiên, từ khi ra đời cho đến nay, lý thuyết này nhận được nhiều sự ủng hộ cũng như không tránh khỏi những lập luận chỉ trích trên các phương diện dữ liệu, phương pháp và nội dung từ
các học giả trên thế giới Bản thân tác giả cũng từng cảnh báo “Lập luận ẩn dụ phục
vụ tốt trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Nhưng nó có thể làm tổn hại nếu bạn không biết về nó.” [47] Mặc dù vậy, ADYN vẫn là một lý thuyết quan trọng
nhất và còn nhiều hứa hẹn khi tiếp cận nghiên cứu ngôn ngữ qua lăng kính của NNHTN
Tóm lại, về bản chất ADYN được xem là một trong những hình thức ý niệm hóa, hay một quá trình tri nhận, một cơ chế tri nhận với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc làm sáng rõ hơn những ý niệm mới dựa trên nền văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ Nhờ hình thức ý niệm hóa này mà ngoài tính phổ quát ra, mỗi dân tộc sẽ có những “cách nhìn” và “nếp nghĩ” khác nhau tùy vào từng nền văn hóa nhất định Vì vậy, chúng tôi đưa ADYN vào để tìm hiểu và lý giải những ý niệm được hình thành trong tư duy của các nhà thơ nói riêng và cộng đồng người Việt nói chung thông qua bộ phận cơ thể người
1.1.3 Phân biệt “ý niệm” “khái niệm”
Trên thế giới, ý nghĩa của thuật ngữ “ý niệm” – YN (concept) được khám phá trong các ngành khoa học tri nhận, siêu hình học và tâm lý học tri nhận Thuật ngữ YN bắt nguồn từ định nghĩa “Lý thuyết khái niệm cổ điển” (The classical theory of concepts) của Aristotle Từ khi xuất hiện, YN được các nhà nghiên cứu ví
Trang 30von như “sự đa chiều” (a multi-dimensional), “một phần ngữ nghĩa của cuộc sống” (a semantic slice of life, Clark 1981), “một gen văn hóa” (a gene of culture, Talmy 2000), “một tiềm năng nhất định về nghĩa” (a certain potency of meaning, Ляпин 1997), “một đơn vị ghi nhớ” (a unit of memory), “một lượng tử tri thức (a quantum
of knowledge), “một mầm mống của các hoạt động tinh thần” (a germ of mental operations), hoặc là “một cái gì đó trừu tượng” (a misty something) (Аскольдов 1997)
YN còn được các nhà nghiên cứu thuộc các ngành khoa học khác nhau như triết học, lý luận học, tâm lý học và ngôn ngữ học xem xét theo những quan điểm khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu của mình như: D.X Likhachov sử dụng thuật ngữ này để chỉ tổng quát đơn vị nhận thức, phản ánh và giải thích các hiện tượng thực tế, tùy thuộc vào nền giáo dục, kinh nghiệm cá nhân, trải nghiệm về chuyên môn và xã hội của một người bản xứ [71]; Yu.S Stepanov cho rằng YN chỉ
là một cụm từ, các mẩu hội thoại…, nhưng chúng là những cụm từ tinh tế buộc tâm trí chúng ta tạo ra những nội dung như thể nó đã quen thuộc với chúng ta từ lâu đời”,
“YN là một tế bào văn hóa cơ bản trong thế giới tinh thần của con người” (Stepanov 2007); AP Babushkin xem xét các YN như một đơn vị tinh thần rời rạc trong đó phản ánh các đối tượng của thế giới hiện thực hay tưởng tượng và được lưu giữ trong ký ức dân tộc của người bản ngữ dưới hình thức phát ngôn [70]; V Evans định nghĩa YN là trung gian giữa các từ và thực tế ngoài lĩnh vực ngôn ngữ học (Evans 2009); A Vierzbicka khẳng định rằng "YN là một đối tượng đến từ thế giới
"lý tưởng" có tên và phản ánh sự hiểu biết về văn hóa con người của thế giới hiện thực” (Wierzbicka 1980); V Nezorniak viết rằng "YN là một hình ảnh đáng chú ý được tóm tắt trong một từ và phản ánh một mảng hình ảnh của một cộng đồng dân tộc trên thế giới” (Нерознак 1997)…
Mặc dù có rất nhiều quan điểm về YN nhưng có một điểm chung cho thấy,
YN trước hết là một biểu tượng của tinh thần và được xác lập bởi các yếu tố văn hóa nhất định của từng dân tộc Với cách hiểu đó, thuật ngữ YN được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của ngôn ngữ học ngày nay, điển hình là NNHTN
Nó đã xâm nhập vào hệ thống tri nhận, ngữ nghĩa, và văn hóa ngôn ngữ học (Croft, Cruse 2004)
Trang 31“Khái niệm” – KN thường được hiểu như là “nghĩa”/ “nghĩa của từ” (meaning/ meaning of word) Trên lý thuyết của ngôn ngữ học, KN và YN đều có điểm tương đồng, đó là cả hai đều là sự phản ánh của hiện thực khách quan và có bản chất nhận thức, thể hiện kết quả của sự phản ánh, nhận thức bởi tâm trí con người Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ có sự khác biệt nhất định YN là sản phẩm của ý thức, nhận thức của con người trong khi KN là sản phẩm ý thức của ngôn ngữ Thành phần “nghĩa” của từ phản ánh những khái niệm đặc trưng có ý nghĩa nhưng không phải là tất cả; phản ánh đặc trưng nhận thức nhất định và những thành phần tạo nên YN, nhưng chỉ là một phần nội dung ngữ nghĩa của YN Ngược lại, cấu trúc
YN (concept) phức tạp và đa dạng hơn nhiều
Ở Việt Nam, tác giả Lý Toàn Thắng cũng đôi lần bàn về sự khác biệt giữa
KN và YN
KN trong ngôn ngữ học truyền thống là thuật ngữ được vay mượn từ Logic học và được hiểu như là một hình thức phản ánh khái quát nhất các sự vật và hiện tượng KN có chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ và biểu hiện nghĩa “biểu niệm” hay “sở biểu” của từ, tức là với khái niệm mà từ biểu hiện KN được xem là đơn vị của tư duy, nó thể hiện rõ tư tưởng “phản ánh luận” trong logic học, tâm lý học và cả ngôn ngữ học truyền thống
YN trước hết không phải và không chỉ là kết quả của quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người; mà nó là sản phẩm của hoạt động tri nhận, nó là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này qua đời khác YN vừa mang tính nhân loại phổ quát, vừa mang tính đặc thù dân tộc (do chỗ có sự gắn kết chặt chẽ với ngôn ngữ và văn hóa của mỗi dân tộc đó)
Nếu KN được xem là đơn vị của tư duy thì ngược lại YN là đơn vị của ý thức Chính vì vậy, trong khi nghiên cứu ý thức (bằng ngôn ngữ), người ta phải quan tâm đến các quá trình ý niệm hoá và phạm trù hoá thế giới khách quan YN cũng bao quát hơn, toàn diện hơn cái “nghĩa biểu niệm” của từ, vì nó hiện thân trong tất cả các cách sử dụng của từ (nghĩa đen hay nghĩa bóng, bình thường hay tu từ…) và không phải chỉ trong một từ YN cũng có thể được biểu hiện bằng cụm từ hay cả một câu (ví dụ: “tiếng chim hót trong bụi mận gai”), hay có thể không được biểu
Trang 32hiện bằng ngôn từ (ví dụ: ý niệm “tim đen” nói về những ý nghĩa thầm kín và xấu
xa của con người, mà không có ý niệm được sử dụng ngược lại “tim đỏ”) Thêm nữa, YN khác KN ở chỗ, YN gắn bó chắt chẽ với phạm trù và sự phạm trù hóa Thế giới xung quanh ta bao gồm vô số sự vật và hiện tượng mà con người phải nhận diện, phân loại và đặt tên cho chúng Sự phân loại này là một quá trình tinh thần (mental process) phức tạp thường được gọi là "sự phạm trù hoá" mà sản phẩm của
nó là các phạm trù tri nhận, hay các YN Chúng có cấu trúc phức tạp và có thể thay đổi tùy thuộc vào các mô hình tri nhận và văn hóa của cộng đồng bản ngữ
Theo tác giả Trần Văn Cơ [10, tr.28], KN là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong sự mâu thuẫn và phát triển của chúng KN không chỉ trừu xuất cái chung, mà còn phân xuất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm cơ sở cho việc phân loại phù hợp với những nét khu biệt của chúng (ví dụ như khái niệm
“con người” phản ánh cả nét chung cơ bản – vốn có ở tất cả mọi người – và cả những nét khu biệt người này với tất cả những người khác) KN là sự phản ánh hiện thực không mang tính hình ảnh, không mang tính ẩn dụ và được biểu hiện trong từ
Sự tồn tại hiện thực của nó được bộc lộ thông qua các định nghĩa, trong các phán đoán, trong thành phần của lí thuyết (ví dụ: mặt trời được định nghĩa: “là một thiên thể nóng sáng, ở xa Trái Đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho Trái Đất” – Từ điển tiếng Việt, 1992: 616) KN chính là đơn vị nhỏ nhất của cả quá trình nhận thức, là quá trình trải qua hai giai đoạn: giai đoạn cảm tính và giai đoạn lý tính
YN là kết quả của quá trình tri nhận, là quá trình tạo ra các biểu tượng tinh
thần (mental representation), gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí được biểu
hiện trong ngôn ngữ Tính ẩn dụ không nằm trong thuật ngữ KN khoa học mà thuộc
về YN, phản ánh đặc trưng của YN Nói rộng ra, YN là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis), của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức Các YN nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới
Trang 33tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó Các YN quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới
KN là đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức, còn YN là đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận, là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người, để rồi cuối cùng tạo ra
những YN Tác giả có cùng quan điểm với Lý Toàn Thắng khi nói rằng trong YN
có cái phổ quát (KN) và cái đặc thù (văn hoá được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau) Tác giả nhấn mạnh, YN là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức, trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Ví dụ: Trong tiếng Việt, mặt trăng vốn là một hành tinh xoay quanh Trái Đất, nhưng qua cái nhìn của con người bình thường, nó trở thành một một hình ảnh rất
gần gũi, trở thành ý niệm về thời gian của người Việt Nam (lời bài hát “Biết đâu
nguồn cội”, Trịnh Công Sơn), bởi vì trong cách nhìn đời thường, mặt trăng mới có
thể mọc, lặn, nằm ngủ, tên lãng du, trăng còn trẻ, trăng sẽ già biểu hiện cho thời
gian [10, tr.90]
Tóm lại, cho đến nay thuật ngữ YN vẫn còn nhiều tranh cãi, song nó là một thuật ngữ mang giá trị biểu đạt cao và có cấu trúc phức tạp hơn KN trong ngôn ngữ học truyền thống Nói một cách khái quát, YN thể hiện cách nhìn thế giới của con người bình thường qua lăng kính ngôn ngữ tự nhiên và văn hóa dân tộc của người bản ngữ
Tất cả những sự phân tích trên đây đã chỉ ra sự khác biệt giữa hai thuật ngữ
KN và YN, thể hiện cho hai hướng nghiên cứu ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau là ngôn ngữ học truyền thống và NNHTN Chúng tôi đã ứng dụng những tư tưởng của các tác giả vào công trình nghiên cứu của mình Nói như Lý Toàn Thắng, nếu đã bước chân vào địa hạt NNHTN cần phải chấp nhận từ bỏ một số giáo điều rất quen thuộc của ngôn ngữ học truyền thống, và dần làm quen, học hỏi những khái niệm mới, then chốt của tâm lý học và NNHTN [29, tr.290]
Trang 341.1.4 Ý niệm hóa và ý niệm h ăn h
Ý niệm hóa – YNH (conceptualization) là một trong những quá trình quan
trọng nhất của hoạt động tri nhận của con người bao gồm việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận được, dẫn tới việc cấu thành nên những ý niệm, những cấu trúc ý niệm và toàn bộ hệ thống ý niệm trong bộ não con người Mỗi một hành động riêng lẻ của việc ý niệm hóa thế giới là một ví dụ về cách giải quyết vấn đề, ở đó thể hiện những
cơ chế suy luận, suy diễn và những thao tác logic khác [9]
Nếu YN thể hiện cách nhìn thế giới của con người thì YNH thế giới cho chúng ta những “bức tranh thế giới” khác nhau tùy vào cộng đồng dân tộc mang những nền văn hóa khác nhau
Như chúng ta đã biết, NNHTN đã nhận ra rằng “ý niệm” được hình thành trong những khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đó phần lớn dựa trên một nền văn hóa cụ thể Nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Gary Palmer rất coi trọng yếu tố văn hóa trong mối liên hệ giữa ngôn ngữ – văn hoá – tri nhận, đã nhận xét
trong công trình Toward a Theory of Cultural Linguistics rằng, nền văn hóa và thế
giới quan đã cung cấp cơ sở cho con đường ngôn ngữ của thế giới theo một khuôn mẫu nhất định [56]
Tác giả Farzad Sharifian [41] cho rằng, ý niệm hóa văn hóa – YNHVN là
những ý niệm được hình thành từ sự tương tác xã hội giữa các thành viên của một
cộng đồng văn hóa qua thời gian và không gian YNHVN này được phân bổ không
đồng nhất trong tư duy của các thành viên tại bất kỳ thời điểm nào YNHVN được
xem như là một hệ thống tri nhận văn hóa nổi bật (emergent cultural cognition) của
một cộng đồng văn hóa Đây là một hệ thống phức tạp, linh hoạt và luôn phát triển trong tâm trí con người Trong đó, một cá nhân không thể nắm bắt được toàn bộ sự tri nhận của nhóm văn hóa Hơn nữa, hệ thống này phức tạp ở chỗ chúng được lồng ghép vào nhau, do vậy mà những thay đổi nhỏ trong sự tương tác của các nhóm văn hóa đã có một ảnh hưởng lớn đến định hướng tương lai trong tri nhận văn hóa của
họ Đồng thời, chúng ta cũng khá khó khăn trong việc xác định ranh giới của một hệ thống tri nhận văn hóa vì đó là một “hệ thống mở”, các quyết định đưa ra thường
Trang 35được dựa trên nhu cầu và ý kiến của người quan sát hơn là bản chất bên trong của
hệ thống đó
Sự phân bổ YNHVN được tác giả trình bày theo mô hình văn hóa như sau
Giả sử có một mô hình văn hóa toàn thể (global) của một cộng đồng văn hóa được
nổi lên từ sự tương tác giữa các thành viên là: A B C D F; và mô hình này có thể
phân bổ trong tư duy của mỗi cá nhân thành mô hình văn hóa riêng (local) thành:
BCDE, BDC, CD, A, … Điều này có nghĩa là có một số người hiểu biết nhiều
hơn người khác về một mô hình văn hóa nhất định, hay là hai người có thể chia sẻ nhiều hơn các yếu tố từ một mô hình văn hóa hơn một số thành viên khác trong cộng đồng văn hóa Một điểm khác cần phải được miêu tả ở đây là: con số chỉ người biết A và chỉ người biết CD có thể không xuất hiện trong cùng một nhóm văn hóa, bởi vì con số này chỉ đại diện cho một mô hình văn hóa Trên thực tế, hai người có thể chia sẻ nhiều hơn từ các mô hình văn hóa khác nhau nhưng vẫn thuộc
cùng một nhóm văn hóa Có thể miêu tả qua sơ đồ như sau: một mô hình văn hóa X gồm A B C D F như ở trên, và một mô hình văn hóa Y gồm f g h i j, thì các thành
viên có thể chia sẻ mô hình văn hóa thành: ABCDfh, CDEfhi, Aghi, BDfgj, …
Dĩ nhiên, tình trạng này thường dẫn đến những hiểu lầm, thậm chí có thể tạo ra các xung đột giữa con người Đặc biệt là tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn trong bối cảnh giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, trong đó mỗi người sẽ đối thoại dựa trên mô hình văn hóa đặc trưng (văn hóa “mẹ đẻ”) của mình
Khả năng ý niệm của con người, phần lớn mang tính phổ quát và bẩm sinh, xuất phát từ sự trải nghiệm đa dạng của cả cơ thể và môi trường Ý niệm hóa xuất
hiện trên nền tảng văn hóa cũng được thể hiện qua mô hình văn hóa bao gồm mạng lưới các lược đồ, chủng loại, ẩn dụ… Lược đồ văn hóa là bộ sưu tập tổng quát về
kiến thức của những trải nghiệm trong quá khứ được tổ chức thành các nhóm kiến thức có liên quan đến nhau, chúng hướng dẫn cho hành vi của chúng ta trong những
tình huống quen thuộc Chủng loại văn hóa được xem là sự phân loại của nhiều đối
tượng, sự kiện, kinh nghiệm… được xây dựng trên nền tảng văn hóa Đó là một
Trang 36trong các hoạt động nhận thức cơ bản nhất của con người Chủng loại văn hóa được
đánh dấu bằng các hạng mục từ vựng của ngôn ngữ con người hay được phân loại
bằng các danh từ, đại từ Ẩn dụ văn hóa chính là những ẩn dụ ý niệm được thể hiện
trên những tảng văn hóa cụ thể Một số nghiên cứu đã cho thấy lược đồ văn hóa và
mô hình văn hóa chính là nguồn gốc cho các ẩn dụ văn hóa này
Lấy ví dụ về mô hình văn hóa hôn nhân của Mỹ, bao gồm các ý niệm như
lược đồ “trao tặng” (giving away); loại là “quà tặng” (wedding gift); và ẩn dụ “hôn
nhân là cuộc hành trình” (marriage as journey) Ví dụ về mô hình văn hóa thân tộc,
bao gồm các loại quan hệ họ hàng như “ba”, “mẹ”, “dì”…; lược đồ là những chuẩn
mực, giá trị liên quan đến quan hệ họ hàng, chẳng hạn như thái độ “tôn trọng dành
cho cha mẹ” (respect for parents); và ẩn dụ “tất cả các thành viên là một gia đình” (members are all one hearth)… Những ý niệm hóa thông qua các mô hình, lược đồ,
loại… được hình thành trên cơ sở cá nhân cũng như trên sự phân bổ tri nhận văn
hóa nổi của một cộng đồng văn hóa nhất định
Những lý thuyết đã được miêu tả trên đây chính là những đặc điểm khái quát nhất về YNHVN trong hướng nghiên cứu tri nhận dưới góc nhìn văn hóa Những quan niệm này hoàn toàn phù hợp khi ứng dụng vào nghiên cứu các YN về bộ phận
cơ thể người, và thực tế đã cho thấy sự YNH có sự thay đổi qua từng nền văn hóa khác nhau
Như vậy, yếu tố văn hóa đóng vai trò quan trọng trong tri nhận của con
người, trong việc YNH các kinh nghiệm qua quá trình tương tác với xã hội và với thế giới khách quan dựa trên nền tảng văn hóa Việc khảo sát ý niệm của các tác giả tiêu biểu trong Phong trào Thơ mới thông qua bộ phận cơ thể người “tim”, “lòng”
“bụng”, “dạ” hy vọng sẽ khai thác được quá trình YNH được hình thành trong tư duy của mỗi tác giả và cũng như của cộng đồng người Việt ở một giai đoạn lịch sử
cụ thể (1932 – 1945)
Trang 371.2 Phong trào Thơ mới
1.2.1 Tiền đề h nh th nh á đặ điểm nổi bật c Phong tr o Thơ mới
Hoàn cảnh ra đời của phong trào Thơ mới gắn liền với lịch sử đầy biến động của dân tộc Từ nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cùng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những nhân tố mới của chủ nghĩa tư bản phương Tây cùng với nền văn minh của nó đã xâm nhập và ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam ở nhiều mặt xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa Nhiều giai cấp, tầng lớp mới như giai cấp tư sản, vô sản, tiểu tư sản, trí thức, thị dân… ra đời cùng với sự hiện diện những tư tưởng, tình cảm mang đậm tính cá nhân, cá thể Chế độ phong kiến dần trở nên lỗi thời trước khuynh hướng “văn minh Âu hóa” đầy sức cuốn hút Nền khoa cử phong kiến dần bãi bỏ, chữ quốc ngữ được thay thế cho chữ Hán và Nôm Đặc biệt, tiếng Pháp chiếm địa vị quan trọng hơn tiếng Việt trong các nhà trường và trở thành tiếng nói khá phổ biến trong các xã hội thành thị, nhất là giới trí thức và giới công chức Một tầng lớp trí thức “Tây học” được Pháp đào tạo để phục vụ trong bộ máy nhà nước thuộc địa, trong đó có một số người được du học tại Pháp Từ tầng lớp trí thức này, xuất hiện những người chuyên viết văn và làm thơ Tất cả các hoạt động kinh tế cho đến những sinh hoạt vật chất, giá trị tinh thần của con người được nâng cao đáng kể Như một điều tất yếu của lịch sử, những làn sóng tân thời từ một nước chính quốc lớn mạnh như Pháp đã tác độngtrực tiếp và tạo nên một sự biến đổi vô cùng sâu sắc đến xã hội, con người Việt Nam
Trước ngưỡng cửa của một thời đại mới, nền văn minh – văn hoá truyền thống của Việt Nam đã gặp gỡ, giao thoa với nền văn minh – văn hoá phương Tây, tạo nên một cuộc cách mạng văn hóa vô cùng mạnh mẽ của giai cấp tư sản, tiểu tư sản và tầng lớp trí thức trên mọi lĩnh vực: thi ca, văn xuôi, âm nhạc, kịch nghệ, hội họa, kiến trúc, báo chí… Theo đó, một trào lưu văn học mới ra đời hoàn toàn đáp
ứng với nhu cầu thẩm mỹ của xã hội và đã đi vào lịch sử văn học với tên gọi Phong
trào Thơ mới Cái tên Thơ mới chính thức xuất hiện vào ngày 10/03/1932 sau khi
bài thơ “Tình già” của Phan Khôi được đăng trên báo Phụ nữ tân văn (số 122) cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ gây tiếng
vang mạnh mẽ Đây cũng là bài thơ đầu tiên mở đầu cho Phong trào Thơ mới đầy tự
do và phóng khoáng Cuộc cách mạng thi ca này cùng với những phẩm chất cách
Trang 38tân của nó đã góp phần quan trọng vào việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ thi ca nói riêng trong chiều dài lịch sử phát triển văn học nước nhà
Thơ mới, mặc dù căn bản là thơ lãng mạn nhưng vẫn phản ánh được bộ mặt
xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, phản ánh thiên nhiên và đất nước, đặc biệt phản ánh cái “không khí của thời đại mới”, số phận, đời sống vật chất – tinh thần của con người Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Thơ mới chính là một làn sóng mang âm hưởng của tư tưởng, văn hóa mới với những sáng tác vô cùng độc đáo Những biến cố và ngã rẽ của lịch sử đã tác động vào những thi nhân luôn hướng về Tổ quốc, khơi dậy tinh thần dân tộc sâu sắc
và nỗi lòng yêu nước thiết tha trong mỗi tác phẩm của họ Nhà thơ Xuân Diệu nhận định “Thơ mới là một hiện tượng văn học đã có những đóng góp vào văn mạch của dân tộc” Huy Cận cũng cho rằng “Dòng chủ lưu của Thơ mới vẫn là nhân bản chủ nghĩa” [4, tr.12] Bên cạnh những tác phẩm tích cực và tiến bộ dành cho đất nước, Thơ mới cũng bộc lộ một vài hạn chế Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào
bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực Điều này đã tác động không tốt đến tư tưởng sáng tác của một bộ phận nhà thơ mới trong giai đoạn
về sau
Nhu cầu bức thiết phải đổi mới thơ ca, cùng với sự hội tụ tinh hoa về nội dung lẫn hình thức của làn gió Pháp, các thi sĩ của Phong trào Thơ mới hồ hởi đón nhận sự thay đổi như một sự tự giải thoát Lần đầu tiên ý thức về cá nhân, những quan điểm, khuynh hướng thẩm mỹ, xúc cảm cá nhân đi vào thơ ca với tư cách là một bản thể, là một đối tượng nhận thức và là nhân tố trung tâm Phong cách thơ lúc này bắt đầu chịu sự chi phối bởi mạch cảm xúc và đời sống nội tâm của chủ thể trữ tình Bước đánh dấu này đã mở đường cho sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại, điều mà chưa một lần xuất hiện trong thơ ca trung đại trước đó Nhà phê bình văn học Lê Đình Kỵ nhận xét “Thơ mới là thơ của cái Tôi” [24, tr.46], Hoài Thanh cũng khẳng định Thơ mới là sản phẩm của “khát vọng thành thật, nó đặt cái tôi cá nhân và tính chủ quan vào trung tâm của thơ ca, nó cho phép biểu đạt mọi cung bậc của cảm xúc và suy tưởng của cá nhân” Sự thay đổi mạnh mẽ từ những yếu tố tinh thần bên trong con người chính là động lực cho Thơ mới có cơ hội thoát ra khỏi
Trang 39những gò bó, khuôn khổ của chế độ phong kiến, để bước ra ngoài thời đại mới bằng
một sự khẳng định cái tôi cá nhân với nhiều màu sắc hiện đại, chân thực và đa dạng
Tuy nhiên, đằng sau cái tôi đang đứng giữa một thời đại đau khổ của dân tộc,
một giai đoạn tan vỡ của các hệ giá trị ấy là một nỗi buồn cô đơn sâu thẳm trước cuộc sống và thời cuộc Hoài Chân viết: “Đúng là Thơ mới buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc chưa tìm thấy lối ra” [4, tr.23] Các nhà Thơ mới quan niệm nỗi buồn cô đơn là cảm hứng, là cái đẹp của chủ nghĩa lãng mạn Từng sắc thái nỗi buồn là từng lời nói chân thật và sâu sắc xuất phát từ cảm quan cá nhân của mỗi nhà thơ về cuộc đời Đó là kết quả của một chuỗi cảm xúc tích cực sang tiêu cực, hướng cái nhìn của nhà thơ từ thế giới nội tâm bên trong sang thế giới khách quan bên ngoài
Một đặc điểm nổi bật khác được biểu hiện trong Thơ mới là cảm hứng về vẻ đẹp thiên nhiên và đầy đủ những cung bậc cảm xúc về tình yêu con người “Thơ mới đã đổi mới cảm xúc, đã tạo ra một cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ” [4, tr.9] Thiên nhiên chính là nguồn cảm hứng xoa dịu những tâm hồn thơ ca lãng mạn đang bất hòa với cuộc sống và muốn thoát ly với thực tại Từ những rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình yêu, người nghệ sĩ mới có thể hòa quyện cái tôi trữ tình của mình vào thế giới ước vọng đầy mộng tưởng Sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp của thế giới khách quan với thế giới nội tâm của con người đã mang về một nét đột phá độc đáo cho Thơ mới
Những thành tựu đáng kể này đã đánh dấu một bước ngoặc lớn cho nền văn học Việt Nam vì đã tạo cơ hội cho thơ ca trữ tình trong nước có thể hòa nhập vào dòng chảy quốc tế Thơ mới chính là chiếc cầu nối hài hòa giữa thơ Phương Đông thơ Phương Tây, là sự kết tinh tinh hoa của nhiều trào lưu thơ cổ điển và hiện đại thế giới, đồng thời mở ra hướng đi mới phù hợp với thời đại ngày nay và tạo tiền đề phát triển cho mai sau
Nói tóm lại, Thơ mới đặc biệt chú trọng khai thác vẻ đẹp của thế giới khách quan, cũng như phản ánh chiều sâu thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình Chính những nền tảng này đã cho phép chúng tôi dễ dàng tiếp cận Thơ mới qua lăng kính của NNHTN một cách sâu sắc hơn Thông qua các bộ phận bên trong cơ thể “TIM”,
Trang 40“LÒNG”, BỤNG”, “DẠ” và dựa trên những cơ sở lý luận đã nêu ra, chúng tôi sẽ khảo sát các ý niệm này thông qua bốn nhà thơ tiểu biểu của Phong trào Thơ mới: Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính
1.2.2 Phong á h thơ á nh thơ Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu,
Hàn Mặc Tử trên bình diện ăn hương
Hoài Thanh gọi khoảng thời gian bứt phá của Thơ mới là “Thời đại Thơ mới”, đó là một thời đại thi ca rực rỡ từ cổ chí kim chưa từng có ở Việt Nam Mặc
dù thời kỳ hoàng kim chỉ kéo dài trên dưới 10 năm (1932 – 1945), nhưng mảnh đất Thơ mới đã làm xuất hiện nhiều tài năng để lại dấu ấn, tên tuổi cho nền văn học nước nhà Mỗi thi nhân là mỗi phong cách thơ đầy sáng tạo, riêng biệt bộc lộ thiên hướng nghệ thuật cá nhân đa dạng Có thể kể đến “hồn thơ rộng mở như Thế Lữ,
mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…” [5]
Trong tất cả các thi nhân tài năng đó, khi nhắc đến Nguyễn Bính là nhắc đến
nhà thơ đại diện cho làng quê Việt Nam, đại diện cho những người nông thôn giản
dị, chất phát, mộc mạc qua các bài thơ mang sắc thái dân dã như: Chân quê, Cô
hàng xóm, Gái xuân…; Huy Cận là nhà thơ uyên bác và vô cùng tinh tế với những
tác phẩm mang đậm tính triết lý, nhân văn về sự giao cảm giữa vũ trụ, cuộc đời và
con người, qua các tác phẩm: Ngậm ngùi, Tràng Giang, Đi giữa đường thơm…;
Xuân Diệu là người bạn tâm giao của nhà thơ Huy Cận, là nhà thơ đại diện cho
những khát khao tuổi trẻ và tình yêu cuộc đời, con người mãnh liệt trong các bài
thơ: Yêu, Vội vàng, Gửi hương cho gió…; Hàn Mặc Tử có lẽ là nhà thơ kỳ dị nhất
trong Phong trào Thơ mới với lời thơ đầy màu sắc liêu trai, huyền bí và siêu thực, thể hiện khát vọng sống mãnh liệt đến đau đớn tột cùng qua các tác phẩm như:
Trăng vàng trăng ngọc, Những giọt lệ, Thi sĩ Chàm…
Cả bốn nhà thơ Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử đều mang một dấu ấn riêng vừa đại diện cho các thi nhân trong Phong trào Thơ mới vừa góp phần tạo nên sự phong phú cho nền văn học nước nhà Đó chính là lý do chúng tôi chọn bốn gương mặt tiêu biểu này để nghiên cứu cho đề tài luận văn của mình