1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng áp dụng mô hình cánh đồng mẫu lớn tại xã tuyên thạnh thị xã kiến tường tỉnh long an

118 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

31 CHƯƠNG 2 : Thực trạng áp dụng mô hình CĐML vào sản xuất lúa của nông dân và đánh giá mô hình cánh đồng mẫu lớn trên địa bàn xã Tuyên Thạnh trong thời gian vừa qua .... Tính cấp thiết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA / BỘ MÔN: ĐỊA LÝ / ĐỊA LÝ KINH TẾ - PHÁT TRIỂN VÙNG

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2014

Tên công trình:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN TẠI XÃ TUYÊN THẠNH - THỊ XÃ

KIẾN TƯỜNG - TỈNH LONG AN

Sinh viên thực hiện:

Phạm Thị Thùy_ Lớp Địa Lý KT-PTV_K31

Người hướng dẫn: TS Lê Thị Kim Thoa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu

Biển đảo, trường ĐH KHXH & NV TPHCM

Trang 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Đóng góp của đề tài 14

7 Kết cấu đề tài 15

PHẦN NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1 :Tổng quan xã nghiên cứu và tìm hiểu mô hình cánh đồng mẫu lớn ở xã nghiên cứu 16

1.1 Vị trí địa lý và phạm vi xã nghiên cứu 16

1.2 Điều kiện tự nhiên 18

1.1.1 Địa hình 18

1.1.2 Đất đai 18

1.1.3 Thủy văn 18

1.1.4 Khí hậu 19

1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 20

1.2.1 Kinh tế 20

1.2.1.1 Sản xuất nông nghiệp 20

1.2.1.2 Thương mại – dịch vụ 21

1.2.2 Dân cư – xã hội 21

1.2.2.1 Dân cư – nguồn lao động 21

1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp 21

1.2.2.3 Giao thông – các công trình cơ bản 22

1.2.2.4 Giáo dục 23

1.2.2.5 Y tế 23

Trang 3

Tường 25

1.3.1 Mô hình CĐML 25

1.3.1.1 Khái niệm 25

1.3.1.2 Tiêu chí xây dựng 25

1.3.2 Mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh 27

1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động của mô hình CĐML 27

1.3.2.2 Cơ cấu hoạt động của mô hình 29

1.3.2.3 Lợi ích của các nhà trong mô hình CĐML 31

CHƯƠNG 2 : Thực trạng áp dụng mô hình CĐML vào sản xuất lúa của nông dân và đánh giá mô hình cánh đồng mẫu lớn trên địa bàn xã Tuyên Thạnh trong thời gian vừa qua 34

2.1 Quy trình sản xuất lúa của bà con nông dân trên địa bàn xã Tuyên Thạnh theo mô hình CĐML 34

2.1.1 Công tác quản lý trong mô hình CĐML tại xã 34

2.1.2 Công tác cung cấp và tiếp nhận vật tư đầu vào đầu mỗi mùa vụ 35

2.1.3 Công tác cày bừa, dọn cỏ, vệ sinh đồng ruộng 38

2.1.4 Bơm nước nội đồng 38

2.1.5 Chọn giống và xử lý giống 38

2.1.6 Gieo sạ 39

2.1.7 Bón phân 40

2.1.8 Phun thuốc BVTV 40

2.1.9 Tổ chức tập huấn, hội thảo chuyển giao KH –KT 41

2.1.10 Công tác ghi chép sổ tay canh tác lúa trong mô hình 41

2.1.11 Công tác thu hoạch lúa 44

2.1.12 Tích điểm trong quá trình canh tác 44

2.1.13 Công tác thu mua lúa 46

Trang 4

2.2.1 Diện tích, số lượng nông hộ tham gia, cơ cấu giống gieo sạ 48

2.2.2 Tình hình tuân thủ các hạng mục trong mô hình CĐML 51

2.2.2.1 Thời vụ gieo sạ Bảng 2.6 : Tỷ lệ gieo sạ theo lịch của nông hộ 51

2.2.2.2 Mật độ gieo sạ 52

2.2.2.3 Tình hình dịch bệnh, sâu rầy, phân bón 55

2.2.2.4 Tham gia tập huấn, dự hội thảo chuyển giao KH – KT 57

2.2.2.5 Việc thực hiện ghi chép sổ tay canh tác 62

2.2.2.6 Công tác hỗ trợ vật tư đầu vào trong mô hình của công ty TNHH Hóa nông Hợp Trí 64

2.2.2.7 Công tác thu mua lúa của công ty lương thực Long An 67

2.3 Đánh giá mô hình cánh đồng mẫu lớn trên địa bàn xã tuyên thạnh trong thời gian vừa qua 69

2.3.1 Đánh giá từ phía người nông dân 69

2.3.2 Đánh giá từ chính quyền địa phương 70

2.3.3 Đánh giá từ các cán bộ KH – KT 71

2.3.4 Đánh giá từ công ty TNHH Hóa nông Hợp Trí 71

2.3.5 Đánh giá từ công ty lương thực Long An 72

2.3.6 Đánh giá chung 72

2.3.7 Đề xuất một số ý kiến đống góp 74

KẾT LUẬN 78

KIẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 85

Trang 5

ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm

BVTV : Bảo vệ thực vật

BCH TW : Ban chấp hàng Trung ương

Bộ NN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn CĐML : Cánh đồng mẫu lớn

CGH – HĐH : Cơ giới hóa - hiện đại hóa

CTT : Cục trồng trọt

Cty TNHH : Công ty trách nhiệm hữu hạn

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

GPCB : Giải pháp cơ bản

HTX : Hợp tác xã

NTM : Nông thôn mới

QĐ : Quyết định

UBMTTQ : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

UBND : Ủy Ban Nhân Dân

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) về xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 – 2020 với những mục tiêu chung nhằm xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại, gắn phát triển nông thôn với

đô thị theo quy hoạch, xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững và quan trọng nhất là xây dựng cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Một trong những nhiệm vụ xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý đó là việc đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp để phát huy tốt hất tiềm năng, lợi thế ở mỗi địa phương trong sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp Trực tiếp ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản xuất nông nghiệp một cách bền vững để nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân; đồng thời còn tạo ra sản phẩm nông sản hàng hóa mang tính chất tập trung, có sức cạnh tranh trên thị trường, có đặc điểm riêng, thương hiệu riêng và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường

Ngày 5/8/2008, BCH TW cũng đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TƯ “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong phần nhiệm vụ và giải pháp có nêu:

“Tiếp tục tổng kết, đổi mới và xây dựng các mô hình kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn Có chính sách khuyến khích phát triển các mối liên kết giữa hộ nông dân với các doanh nghiệp, HTX, tổ chức khoa học, hiệp hội ngành hàng và thị trường tiêu thụ sản phẩm để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng gia trại, trang trại có quy mô phù hợp, sản xuất hàng hoá lớn” Và giải pháp nổi bật nhất đó là mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) - một trong những mô hình sản xuất nổi bật và hiệu quả trong thời gian vừa qua, được nhiều địa phương

Trang 7

trong cả nước quan tâm Với hình thức tổ chức lại sản xuất trên cơ sở liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp dưới sự quản lý của chính quyền cùng sự hỗ trợ kỹ thuật từ những cán bộ khoa học sản xuất theo mô hình CĐML đã tập hợp những nông dân nhỏ lẻ để tạo điều kiện cho họ áp dụng những tiến bộ KH - KT mới trong thâm canh sản xuất và giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông sản một cách ổn định và có lợi cho nông dân

Trong thực tiễn, tổ chức sản xuất phát triển theo mô hình CĐML ban đầu diễn ra ở xã Vĩnh Bình – huyện Châu Thành – tỉnh An Giang Sau đó dần lan rộng khắp các tỉnh ở ĐBSCL, trong đó có các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười của tỉnh Long An Mô hình CĐML từng bước được áp dụng theo cụm, từng xã thí điểm và dần dần phát triển theo quy mô nhất định Tại tỉnh Long An, ngoài huyện Vĩnh Hưng và huyện Tân Hưng đã và đang thực hiện rất có hiệu quả mô hình này thì tại xã Tuyên Thạnh thuộc thị xã Kiến Tường cũng đã được chọn làm xã điểm,

áp dụng mô hình CĐML trong sản xuất lúa của bà con nông dân

Tại xã Tuyên Thạnh, mô hình CĐML đã được áp dụng vào sản xuất lúa trong 4 vụ mùa vừa qua Vì đây là xã điểm nên quá trình áp dụng mô hình đối với

bà con nông dân ngoài những kết quả thuận lợi đạt được thì còn nhiều bỡ ngỡ và còn nhiều điều trở ngại đáng quan tâm

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm chúng tôi đã thực hiện đề tài : “Đánh giá

thực trạng áp dụng mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến Tường – tỉnh Long An” nhằm đánh giá quá trình thực hiện chương trình CĐML, phản

ánh chân thực những khó khăn, trở ngại còn tồn đọng trong quá trình thực hiện chương trình, góp phần đưa mô hình sản xuất này đến gần bà con nông dân hơn Đồng thời, từ kết quả nghiên cứu và quá trình thu thập thông tin từ nhiều phía còn giúp cho chủ thể tham gia sản xuất là các hộ nông dân nhỏ lẻ nâng cao nhận thức trong liên kết sản xuất, nhằm tạo ra lượng hàng hóa nông sản có quy mô và chất lượng đồng đều

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu của Tiến sĩ Bảo Trung : “ Phân tích, đánh giá QĐ 80/QĐ - TTg ngày 14/6/2002 của TTCP và thực trạng kết quả thực hiện tiêu thụ lúa gạo, cá tra theo hình thức của QĐ 80 ở ĐBSCL ” đã phân tích, đánh giá việc thực hiện tiêu thụ nông sản hàng hóa dưới các hình thức khác nhau của QĐ 80 và đề xuất hướng bổ sung, chỉnh sửa, khắc phục những hạn chế về chính sách Bên cạnh đó,

đề tài cũng đề xuất một số giải pháp phát triển việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng nhằm góp phần tạo ra vùng sản xuất hàng hóa nông sản quy mô lớn với chất lượng đồng đều,đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế hiện nay Dựa trên nền tảng nghiên cứu

về QĐ 80 đó, mô hình CĐML đã ra đời đổi mới hình thức sản xuất nông nghiệp

Mô hình đã được Tiến sĩ Vũ Trọng Bình và Thạc sĩ Đặng Đức Chiến nghiên cứu thông qua đề tài “Cánh đồng mẫu lớn : Lý luận và tiếp cận thực tiễn trên Thế Giới

và Việt Nam”.Nghiên cứu khái niệm cơ bản từ nguồn gốc xưa trên thế giới cho đến nguồn gốc của CĐML ở Việt Nam Đề tài nêu lên đặc điểm cơ bản của CĐML là mô hình dựa trên cơ sở liên kết giữa 4 nhà : nhà nông - nhà doanh nghiệp - nhà khoa học - nhà quản lý Đề tài còn đề cập một số trường hợp xây dựng cánh đồng lớn ở nước ngoài và đút kết bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng mô hình CĐML dựa trên 5 nguyên tắc cơ bản.Kể từ năm 2010, mô hình chính thức được áp dụng ở tỉnh An Giang Qua một số mùa vụ áp dụng đã được tác giả Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn Ngọc Vàng đánh giá với đề tài

“Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất tiêu thụ lúa gạo - trường hợp cánh đồng mẫu lớn ở An Giang”.Thông qua đề tài, tác giả đã tập trung so sánh hiệu quả sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ trồng lúa từ đó nâng cao hiệu quả của tổ chức sản xuất lúa ở địa bàn tỉnh An Giang.Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mô hình CĐML có hiệu quả sản xuất cao hơn, làm tăng thu nhập, lợi nhuận và làm giảm rủi ro sản xuất cho nông hộ tham gia mô hình nhiều hơn so

Trang 9

với các nông hộ ngoài mô hình.Ngoài ra, đề tài còn đề ra những giải pháp cho cả 4 nhà liên kết trong mô hình CĐML để giúp mô hình phát triển đồng bộ và bền vững

 Tình hình áp dụng mô hình CĐML trong nước :

Mô hình CĐML đặc biệt được triển khai nhiều trên hầu hết các lĩnh vực nông nghiệp của nước ta Đặc biệt, trong lĩnh vực trồng lúa, lĩnh vực hàng đầu của nông nghiệp, mô hình CĐML được áp dụng với những tiêu chí riêng để liên kết nông dân, tổ chức lại sản xuất theo hướng “Nông dân nhỏ - cánh đồng lớn”, liên kết doanh nghiệp – nông dân để phục vụ đầu vào, bảo đảm đầu ra, đem lại hiệu quả cao, nâng giá trị hạt gạo, mang đến cho các bên liên kết lợi nhuận cao

Mô hình CĐML đầu tiên được triển khai thí điểm trên cây lúa Mô hình CĐML đầu tiên được triển khai tại An Giang do Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật

An Giang (AGPPS) tiên phong mở hướng từ giữa năm 2010 Từ quý III/2010, AGPPS chính thức thực hiện chương trình “Đầu tư, thu mua và chế biến lúa gạo” với mô hình đầu tiên được thực hiện tại xã Vĩnh Bình - huyện Châu Thành - tỉnh

An Giang với diện tích hơn 1.000 ha trong vụ Đông Xuân 2010 - 2011 đã cho năng suất từ 7,5 - 8 tấn/ha, đặc biệt có hộ đạt tới 9 tấn/ha Nông dân lãi hơn 150%

so với phương thức canh tác trên cánh đồng nhỏ.Và cho đến nay An Giang đã trở thành một trong những điển hình tiêu biểu nhất cho mô hình CĐML

Từ thành công này, ngày 26/3/2011, tại Cần Thơ, Bộ NN&PTNT phát động xây dựng và nhân rộng mô hình CĐML khắp các tỉnh khu vực ĐBSCL, nhằm tạo nên vùng nguyên liệu hàng hóa đồng nhất quy mô lớn, giảm chi phí, thất thoát sau thu hoạch, tạo tiền đề để xây dựng nền nông nghiệp bền vững theo hướng CGH – HĐH

Ngay trong vụ Hè - Thu năm 2011, toàn khu vực ÐBSCL đã có 12 tỉnh, với 6.400 hộ tham gia xây dựng CÐML, đạt 7.800 ha Ðến vụ Đông - Xuân 2011-

Trang 10

2012, diện tích CÐML đã tăng lên 15.500 ha, trong đó 8 tỉnh phát triển mạnh gồm : An Giang, Long An, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Tây Ninh Theo số liệu của CTT, diện tích CĐML ở khu vực Nam bộ đã tăng từ 6.000 ha (Vụ Hè - Thu 2011) lên 76.000 ha (vụ Đông - Xuân 2012 - 2013)

Tại các tỉnh, thành vùng ĐBSCL đã xây dựng được nhiều mô hình CĐML

có diện tích từ 100 - 2.000 ha Hầu hết các CÐML đã thực hiện ở khu vực ÐBSCL nói riêng, toàn Nam Bộ nói chung đều thành công tốt đẹp cả về năng suất, chất lượng, giá thành sản xuất, thu mua và tiêu thụ

Tại An Giang – tỉnh xây dựng mô hình đi đầu đã thành công và phát triển

nhiều CĐML ở huyện Thoại Sơn, Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn…CĐML có diện tích 1.073 ha thuộc 4 huyện Châu Thành, Châu Phú, Tịnh Biên và Tri Tôn (An Giang) thực hiện từ vụ Đông - Xuân 2010-2011 đã gặt hái thành công và ngày càng phát triển mạnh Riêng ở Châu Thành, vụ Đông - Xuân

2010 - 2011, AGPPS cùng với ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương đã tiến hành triển khai tại xã Vĩnh Bình và Vĩnh Nhuận với tổng diện tích 723 ha, đến vụ Đông - Xuân 2012 - 2013, diện tích lúa sản xuất trong CĐML tăng lên 2.358 ha tại 7 xã : Vĩnh Bình, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Hanh, Vĩnh An, Tân Phú, Cần Đăng và Vĩnh Lợi Tính tới hiện tại, An Giang đã có diện tích thực hiện mô hình lớn nhất là hơn 10.000 ha với tổng số khoảng 6.400 hộ nông dân tham gia

Tại Đồng Tháp có gần 10 CĐML với tổng diện tích hơn 1.500 ha áp dụng

tiêu chuẩn VietGAP tập trung ở huyện Tam Nông, Tháp Mười Điển hình qua 3 năm thực hiện ở Đồng Tháp, từ 2009 - 2012, tỉnh đã xây dựng CĐML ở các HTX Tân Cường (Tam Nông) với diện tích 430 ha, 273 hộ tham gia ; HTX Thắng Lợi (Tháp Mười) với diện tích 260 ha, 120 hộ tham gia ; cánh đồng 959 kinh tế quốc phòng 118 ha Cánh đồng này thực hiện với tiêu chí nhằm chuyển giao tiến bộ KH

- KT ứng dụng trong sản xuất để nâng cao chất lượng lúa Từ khi tham gia CĐML, nông dân ứng dụng kỹ thuật tốt hơn, sử dụng chủ yếu giống xác nhận do

Trang 11

các công ty hỗ trợ cấp và thực hiện quy trình sản xuất đồng loạt dẫn đến thu hoạch đạt năng suất cao, mang lại lợi nhuận cao

Long An triển khai các CĐML sản xuất lúa chất lượng cao từ vài trăm đến

một ngàn ha tại huyện Mộc Hóa, Đức Huệ, Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh Ngay trong năm đầu tiên (2010) triển khai CĐML, tỉnh Long An đã xây dựng mô hình này tại các huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười, tiếp đó, CĐML được nhân rộng ra tại nhiều địa phương với diện tích hơn 2000 ha Trên diện tích này, đã có

882 hộ tham gia

Đến nay tỉnh Long An đã triển khai thực hiện thêm 6 CĐML, như vậy, toàn tỉnh Long An có 14 CĐML tại các huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh Đây là những huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười trù phú, phù sa bồi đắp quanh năm Trong đó, huyện Vĩnh Hưng có 8 CĐML, là địa phương có số CĐML nhiều nhất tỉnh

Tỉnh Hậu Giang đã xây dựng 5 mô hình CĐML ở 5 huyện, thị có diện tích

hơn 1300 ha với trên 1400 hộ tham gia, trong đó có 2 cánh đồng mẫu thuộc diện điểm của tỉnh với trên 300 ha Cụ thể, CĐML tại xã Trường Long Tây - huyện Châu Thành A và xã Vị Thanh - huyện Vị Thủy là 2 cánh đồng điểm của tỉnh Hậu Giang Còn lại là CĐML do các huyện, thị xã chỉ đạo gồm CĐML thị trấn Long

Mỹ - huyện Long Mỹ ; xã Tân Bình - huyện Phụng Hiệp và phường Hiệp Thành - thị xã Ngã Bảy cũng đang phát triển và đạt được hiệu quả rất tích cực

Tại Cần Thơ cũng đã triển khai thực hiện CĐML, trong vụ Hè - Thu 2011,

Cần Thơ đã thực hiện thành công mô hình CĐML theo hướng VietGAP Việc sản xuất theo mô hình CĐML bắt đầu từ năm 2010 tại ấp Thầy Ký - thị trấn Thạnh An

- huyện Vĩnh Thạnh – TP Cần Thơ với 208 hộ đã tự nguyện đăng ký danh sách, trao đổi về mục đích và nội dung hợp tác với nhau trong sản xuất hình thành CĐML qui mô 396,33 ha Từ đó, khi đã thấy được lợi ích của mô hình, từ những thành công của mô hình mang lại, ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ tiếp tục

Trang 12

hoàn thiện và triển khai kế hoạch mở rộng diện tích CĐML trong vụ lúa Đông - Xuân 2011-2012 tại huyện Vĩnh Thạnh (ấp Thầy Ký - thị trấn Thạnh An), Thới Lai (ấp Đông Giang ; Đông Phước - xã Đông Bình và ấp Trường Thạnh A xã Trường Thành), Cờ Đỏ (ấp Thới Phước và Thới hòa C ; xã Thới Xuân) và quận Thốt Nốt (phường Trung Kiên và phường Thạnh Hòa) lên 1.832 ha, nâng diện tích CĐML lớn tại các huyện đó lên 3000 ha Đến năm 2013, tổng diện tích CĐML toàn thành phố Cần Thơ lên 8000 ha

Tại Trà Vinh cũng hưởng ứng phong trào phát động của Bộ NN&PTNT, vụ

lúa Hè - thu 2011, CTT và BVTV tỉnh Trà Vinh kết hợp cùng các doanh nghiệp thực hiện mô hình CĐML sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP Tỉnh đã vận động nông dân xây dựng 5 mô hình CĐML vụ Đông - Xuân 2011-2012, với diện tích trên 510 ha, 810 hộ của 5 xã thuộc 2 huyện Càng Long và Châu Thành cùng diện tích hơn 460 ha của nông dân xã Tân Sơn - huyện Trà Cú và xã Phong Phú - huyện Cầu Kè tham gia Kết quả, sau 5 tháng thực hiện nông dân đã gặt hái thành công vụ mùa Hiện nay lúa trên CĐML sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap ở Trà Vinh đã và đang phát triển tốt, giúp cho nông dân hướng đến nền sản xuất hiện đại theo tiêu chuẩn VietGap để đáp ứng nhu cầu gạo xuất khẩu Từ đó phát triển vùng lúa chất lượng cao mà tỉnh đã phê duyệt giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn 41 xã thuộc 6 huyện : Cầu Kè, Tiểu Cần, Càng Long, Trà

Cú, Châu Thành và Cầu Ngang Với diện tích qui hoạch đến năm 2015 là 74.451

ha, năng suất 6,57 tấn/ha ; năm 2020 phát triển lên 122.600 ha, năng suất 6,93 tấn/ha

Tỉnh Kiên Giang cũng đã mở rộng diện tích, nhân rộng mô hình này trong

vụ Đông - Xuân 2012 - 2013 Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Kiên Giang triển khai 10 CĐML sản xuất theo hướng VietGAP ở các huyện Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Hòn Đất, An Biên và An Minh với hơn 1.770 ha, tăng hơn 1.000 ha so với vụ Hè - Thu 2012 người tham gia được hỗ trợ 4.150 đ/kg

Trang 13

lúa giống (chênh lệch giữa lúa giống lúa thường và giống lúa xác nhận), 586.000 đ/ha tiền mua vật tư…

Tại Bạc Liêu từ năm 2009, đã thực nghiệm CĐML trên diện tích hơn 30

ha.Và vụ Đông - Xuân vừa qua, tỉnh Bạc Liêu đã nhân rộng mô hình này đến các huyện Hòa Bình và Hồng Dân, Phước Long và Vĩnh Lợi.Đến vụ Hè - Thu này, tổng cộng có 300 nông hộ liên kết với 150 ha

Tây Ninh cũng thực hiện mô hình liên kết 4 nhà, thâm canh lúa hiệu quả,

bền vững theo hướng VietGAP trong vụ lúa Đông - Xuân 2010-2011 trên địa bàn

6 huyện với hơn 650 hộ nông dân tham gia

Sóc Trăng,Vĩnh Long,Tiền Giang…cũng có từ 800 – 1500 ha lúa tham gia CĐML Các tỉnh còn lại cũng thực hiện mô hình CĐML từ 300 – 500 ha trong những vụ lúa vừa qua

Tổng thể khắp khu vực ĐBSCL đã có 12/13 tỉnh cùng với Tây Ninh đã tham gia mô hình này và đã mang lại rất nhiều lợi ích cho bà con nông dân Từ thành công bước đầu của mô hình CĐML ở ĐBSCL và ở Tây Ninh, năm 2012, mô hình được triển khai ở một số tỉnh khu vực miền Trung và miền Bắc và cả ở vùng miền núi Cùng với các tỉnh phía Nam, khu vực phía Bắc đang tiếp tục xây dựng kế hoạch, triển khai CĐML trong vụ mùa 2012 và vụ Đông 2012 - 2013 Đối với sản xuất lúa gạo vụ mùa 2012, tỉnh Nam Định có kế hoạch triển khai khoảng 4.000 ha;

TP Hà Nội triển khai khoảng 3.600 ha; Thanh Hóa 700 ha; Thái Bình 400 ha; Bắc Giang 50 ha; Hải Phòng 90 ha.Đối với vụ Đông 2012 - 2013, Nam Định có kế hoạch triển khai khoảng 1.040 ha cây hoa màu các loại; Bắc Giang triển khai khoảng 50 ha mô hình sản xuất khoai tây

Tháng 5/2012, tỉnh Nghệ An đã có chủ trương xây dựng và phát triển mô

hình CĐML trong sản xuất nông nghiệp Nghệ An đã đề ra mục tiêu đến năm

2015, có 4000 ha triển khai mô hình CĐML Để thực hiện được mục tiêu trên, căn

Trang 14

cứ vào đặc điểm tự nhiên và tình trạng sản xuất còn manh mún, ruộng không liền

bờ, liền thửa nên Nghệ An đang tập trung giải quyết đồng bộ công tác dồn điền đổi thửa, cơ chế hỗ trợ vốn, giống cho nông dân, cơ chế liên kết của các doanh nghiệp trong việc bao tiêu sản phẩm sau thu hoạch cho nông dân

Tại huyện Bắc Quang, Hà Giang cũng đã có đề án thí điểm thực hiện mô

hình CĐML Vụ Đông - Xuân 2011-2012, huyện đã triển khai thí điểm mô hình này với diện tích gần 210 ha tại 5 xã

Ở Thái Bình, mô hình này được thực hiện theo hướng đa dạng hóa cây

trồng Thái Bình đã triển khai thực hiện thí điểm mô hình CĐML với 9 mô hình trong 2 năm (2012 - 2013), trong đó có 4 mô hình về sản xuất lúa và 5 mô hình về sản xuất rau màu, dựa vào điều kiện tự nhiên của từng vùng Với 4 mô hình sản xuất lúa, ở huyện Vũ Thư - Thái Bình thực hiện mô hình CĐML với công thức luân canh rất hiệu quả

Theo Bộ NN&PTNT, sau 2 năm triển khai, mô hình CĐML đã được triển khai ở 27 tỉnh với gần 100.000 ha Có nhiều hình thức, quy mô khác nhau nhưng

cơ bản CĐML đều thỏa mãn các tiêu chí như : diện tích ít nhất hơn 300 ha, nông dân tự nguyện tham gia, dựa trên nền tảng của liên kết 4 nhà

- Mô hình HTX nông nghiệp ở Đức

Mô hình HTX nông nghiệp tại Đức hay cụ thể là các HTX trồng trọt và chăn nuôi, cung cấp cho người nông dân rất nhiều thứ để hỗ trợ sản xuất như dịch vụ tư vấn, hỗ trợ kĩ thuật, công nghệ mới (giống cây trồng, vật nuôi, phân bón…), nhà kho, máy móc và cả dịch vụ tài chính, thương hiệu Điều này làm cho các HTX hoạt động có hiệu quả.Tiêu chí của các HTX này là giảm chi phí, từ đó đem lại nhiều lợi ích cho người nông dân

Trang 15

Về mặt chính sách, vì các HTX nông nghiệp tại Đức được tạo điều kiện và không bị phân biệt với doanh nghiệp tư nhân nên họ hoàn toàn có khả năng vay vốn mà không bị bất kì cản trở hay ràng buộc nào Mọi hoạt động trong quản lý, điều hành đều hướng tới làm sao cho minh bạch và hiệu quả nhất Chính vì thế, các HTX nông nghiệp tại Đức nhận được sự ủng hộ của người nông dân và thu hút nhiều người tham gia

Ở Đức, sự liên kết xuyên suốt của những thành phần trong HTX nông nghiệp chính là mắc xích quan trọng dẫn đến thành công trong sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả cao về cả mặt kinh tế và xã hội

- Mô hình trang trại gia đình ở Mỹ

Hiện nay tại Mỹ, sản xuất nông nghiệp hầu như được thực hiện trong các trang trại rộng lớn.Những trang trại tại Mỹ có thể thuộc sở hữu của một gia đình, của một doanh nghiệp hay của nhiều người cùng góp lại Những trang trại khổng

lồ này đã tạo ra những vùng sản xuất nông nghiệp lớn cho nước Mỹ Việc áp dụng

KH - KT, cải tiến máy móc… khiến sản lượng nông nghiệp của Mỹ tăng nhanh

Từ đó mô hình trang trại đã biến ngành nông nghiệp Mỹ thành một ngành kinh doanh thực sự

- Mô hình kinh tế trang trại ở Hà Lan

Trên thị trường thế giới, Hà Lan có nhiều mặt hàng nông sản và hàng thực phẩm có sức cạnh tranh cao : khoai tây, cà chua, trứng gà, phomat, bia…Những thành tựu nông nghiệp được thế giới hâm mộ ấy có liên quan đến cơ cấu và hình thức sản xuất của Hà Lan Góp phần vào thành công đó chính là mô hình kinh tế trang trại trong nông nghiệp

Quy mô trang trại ở Hà Lan ngày càng được mở rộng, các trang trại được tích tụ ruộng đất để có quy mô lớn Ở Hà Lan đã trải qua quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Thoạt đầu là kinh tế tiểu nông, sản xuất tự cấp, tự túc, nhỏ lẻ,

Trang 16

hiệu suất rất thấp Do phân công xã hội ngày càng rõ, hiệu suất lao động ngày càng tăng, công nghệ ngày càng tiến bộ, đô thị ngày càng phát triển, giao thông đi lại ngày càng thuận tiện, kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, vốn được tích lũy, kinh tế hộ tiểu nông chuyển dần sang hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, tiếp đó chuyển sang hộ sản xuất hàng hóa chuyên môn hóa rồi dần dần chuyển thành trang trại lớn hiện đại, sản xuất tập trung vì lợi nhuận, tạo nên dạng kinh tế tổ hợp nông – công – thương

- Mô hình trồng rau sạch ở Thái Lan

Từ năm 2006, Bộ NN&PTNT và HTX Thái Lan dựa trên nguyên tắc cơ bản của GlobalGAP đã xây dựng và đưa ra chương trình ThaiGAP để đảm bảo cung ứng cho thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu, các sản phẩm trái cây an toàn, có thể truy nguyên nguồn gốc

Đây là trang trại quy mô lớn không những sản xuất đồng loạt, áp dụng các tiêu chí về ThaiGAP mà còn là nơi sản xuất trái cây sạch với các nguyên tắc thống nhất

Sản xuất theo mô hình trang trại tập trung với quy mô lớn và đồng loạt theo nguyên tắc nhất định đã giúp cho Thái Lan tạo ra nhiều nguồn sản phẩm nông sản xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu cao của nhiều thị trường trên thế giới

- Mô hình sản xuất lúa ở Malaysia

Sản xuất lúa ở Malaysia trước đây cũng gặp tình trạng đất nhỏ lẻ và manh mún, bình quân 0.1-0.5 ha/hộ.Công cuộc thay đổi để cải thiện năng suất lúa gạo ở Malaysia được thực hiện từng bước qua nhiều năm bằng cách tác động vào nhiều lĩnh vực khác nhau Mô hình tiêu biểu sản xuất lúa trên quy mô lớn của Maylaysia

Trang 17

là ở Seberang Perak được quản lý bởi Federal Land Consolidation and Rehabilitation Authority (FELCRA) trong khuôn khổ một dự án của chính phủ với Ngân hàng thế giới Các hoạt động được điều phối bởi FELCRA nhằm đảm bảo tính thống nhất và kịp thời vụ Nông dân tham gia với tư cách là người lao động nhận lương và được chia lợi tức Mô hình ở Seberang Perak được nhân rộng ra nhiều vùng khác nhau do các công ty tư nhân thực hiện

3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Tìm hiểu và phân tích những thuận lợi, khó khăn của việc áp dụng mô hình CĐML vào sản xuất lúa của bà con nông dân tại xã Tuyên Thạnh Từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần làm cho mô hình CĐML được hoàn thiện và ngày càng thu hút sự hưởng ứng tham gia của bà con nông dân

Tìm hiểu mô hình CĐML việc triển khai thực hiện chương trình CĐML ở xã Tuyên Thạnh

Đánh giá tình hình triển khai thực hiện chương trình CĐML ở xã Tuyên Thạnh thông qua việc phân tích việc canh tác lúa của bà con nông dân trước và sau khi tham gia mô hình để thấy được những thay đổi mang tính tích cực Từ đó, Phản ánh những vấn đề còn tồn đọng trong quá trình thực hiện chương trình CĐML từ

4 phía liên kết tại xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến Tường – tỉnh Long An

Đưa ra những đề xuất nhằm giúp cho mô hình CĐML ngày càng được hoàn thiện

và được bà con nông dân áp dụng rộng rãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 18

Các hộ nông dân tham gia vào mô hình Cánh đồng mẫu lớn tại xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến Tường – tỉnh Long An

5 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập số liệu thứ cấp :

- Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội thị xã Kiến Tường năm 2010 – 2013 (huyện Mộc Hóa cũ) tại Phòng Kinh tế và Cục Thống kê

- Số liệu hành chính thị xã Kiến Tường tại phòng Nội vụ thị xã

- Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội xã Tuyên Thạnh năm 2010 -2013 tại văn phòng xã Tuyên Thạnh

- Số liệu về mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh

- Số liệu về mô hình CĐML tại trạm Khuyến nông và trạm Bảo vệ thực vật

- Các tài liệu liên quan đến mô hình CĐML (tình hình triển khai áp dụng, tiêu chí, các mô hình thành công tiêu biểu…)

- Các bài báo, tạp chí khoa học, các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo

- Các thông tin liên quan đến mô hình CĐML ở tỉnh Long An, vùng ĐBSCL

và trên khắp cả nước thông qua báo chí, internet…

Trang 19

- Áp dụng phương pháp bảng hỏi với những hộ nông dân tham gia trong mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến Tường

- Số lượng : 50 hộ nông dân

- Áp dụng đối với các cán bộ :

 Cán bộ phòng kinh tế thị xã Kiến Tường

 Cán bộ trạm Khuyến nông và trạm Bảo vệ thực vật huyện Mộc Hóa

 Chủ tịch và phó Chủ tịch xã Tuyên Thạnh

 Cán bộ trực tiếp theo dõi trong mô hình CĐML của xã

 Cán bộ công ty lương thực Long An

- Áp dụng đối với các hộ nông dân xã Tuyên Thạnh, các tổ trưởng tổ canh tác trong mô hình

Mục đích : nhằm tìm hiểu thực tế tình hình canh tác của bà con nông dân áp dụng mô hình CĐML và những khó khăn và trở ngại trong việc áp dụng mô hình Quan sát và kiểm chứng thực tế mô hình CĐML được áp dụng tại xã Tuyên Thạnh

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS ver 16.0

6 Đóng góp của đề tài

- Phân tích việc canh tác lúa của bà con nông dân trước và sau khi tham gia

mô hình CĐML để thấy được những thay đổi tích cực trong thói quen canh tác lúa của bà con nông dân

- Trình bày những vấn đề khó khăn còn tồn đọng trong bước đầu triển khai

áp dụng mô hình CĐML ở xã Tuyên Thạnh để dễ dàng xử lý, khắc phục

Trang 20

- Trình bày nguyện vọng và mong muốn của 4 nhà liên kết trong mô hình để thấy được phương hướng trong tương lai về việc thu hút bà con nông dân tham gia vào mô hình CĐML

- Mang đến cái nhìn tích cực cho bà con nông dân đối với mô hình CĐML, vận động bà con tham gia để đạt được những lợi ích bền vững

- Gián tiếp thu hẹp khoảng cách giữa 4 nhà liên kết trong mô hình CĐML

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần tóm tắt và những danh mục liên quan Đề tài gồm 3 phần chính :

- Phần mở đầu

- Phần nội dung

đồng mẫu lớn ở xã nghiên cứu

cứu

cứu

Trang 21

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 :Tổng quan xã nghiên cứu và tìm hiểu

mô hình cánh đồng mẫu lớn ở xã nghiên cứu

Tuyên Thạnh là một đơn vị hành chính của thị xã Kiến Tường – tỉnh Long

An Xã Tuyên Thạnh nằm ở phía tây của tỉnh Long An được bao bọc bởi hệ thống sông Vàm Cỏ Có tọa độ địa lý : 10°46'43"N 105°53'12"E

Xã Tuyên Thạnh cách Thành phố Hồ Chí Minh về phía đông 120 km và cách thị xã Kiến Tường về phía đông 7 km

Xã Tuyên Thạnh với 3463,77 ha diện tích tự nhiên và 5.020 nhân khẩu Bao gồm 5 ấp là :

Địa giới hành chính của xã Tuyên Thạnh :

- Phía Đông giáp với phường 3

- Phía Tây giáp với huyện Vĩnh Hưng

- Phía Nam giáp với xã Thạnh Hưng

- Phía Bắc giáp với xã Bình Hiệp và xã Bình Tân

Trang 22

BẢN ĐỒ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH XÃ TUYÊN THẠNH

Nguồn : Địa chính xã Tuyên Thạnh

Trang 23

1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Địa hình

Xã Tuyên Thạnh nằm ở vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ với vùng thượng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh đó còn nằm trong khu đất trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, vùng đất trũng thấp ngập nước, chịu ảnh hưởng của lũ hằng năm Địa hình xã tương đối thấp dần từ Đông sang Tây, tức thấp dần từ phía ấp Cái Sậy qua ấp Gò Ớt, ấp Bình Tây Chính vì thế đã tạo nên những vùng trũng phía ấp Gò Ớt, khó khăn trong việc tiêu thoát nước

1.1.2 Đất đai

Đất đai chủ yếu trên địa bàn xã là loại đất trủng phèn Loại đất có tầng phèn sâu trong điều kiện có nước tưới thì khả năng sản xuất lúa 2 vụ không thua kém nhiều so với đất phù sa Ngoài ra, loại đất này còn thích hợp cho việc trồng tràm

và các loại hoa màu quanh năm

1.1.3 Thủy văn

Phía Bắc xã Tuyên Thạnh được bao bọc bởi con sông Vàm Cỏ Tây - trục tiêu nước chính của xã nói riêng và toàn khu vực thị xã nói chung trong mùa lũ và vào mùa khô lại là trục dẫn nước từ sông Tiền bổ sung qua các kênh rạch trên địa bàn xã Bên cạnh con sông lớn đó, xã Tuyên Thạnh có hệ thống kênh rạch tự nhiên khá rộng và chằng chịt : rạch Bắc Chan, rạch Gò Ớt, rạch Cái Sậy, rạch Cái Cát, rạch Bình Tây, kênh Đồng Đưng, kênh Ốp trên, kênh Ốp dưới,kênh Ngọn Cai, kênh Đường Trâu và kênh Đồng Đưng Đây là những kênh rạch dẫn nước dồi dào và tiêu thoát nước chính cho các hộ nông dân canh tác nông nghiệp trên địa bàn xã Tuyên Thạnh.Tuy nhiên dù có hệ thống sông, rạch, kênh mương chằng chịt như trên nhưng so với nhu cầu thực tế về nguồn nước phục vụ sản xuất vẫn chưa đáp ứng đầy đủ do một số đã bị bồi lắng sau nhiều mùa lũ lớn, việc nạo vét chưa kịp thời Do vậy, thuỷ lợi đang là nội dung quan trọng hàng đầu đối với nông –

Trang 24

lâm – ngư nghiệp rất cần được tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển nông nghiệp bền vững

Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có nguồn nước ngầm có chất lượng tốt ở tầng thứ 2, cách mặt đất từ 150 - 200m, giá thành khai thác cao.Ở tầng 1, nước ngầm

có độ PH < 4, nên có vị chua, nhiều chất sắt, không sử dụng được cho sinh hoạt

1.1.4 Khí hậu

Xã Tuyên Thạnh nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, với nền nhiệt cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, nhiệt độ ôn hòa nắng nhiều và gắt tốt sẽ giúp ích cho sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.Khí hậu được chia làm hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ khoảng tháng 5 đến tháng 11 hàng năm với lượng mưa khá lớn, chiếm 90% lượng mưa cả năm; mùa khô trong khoảng tháng 12 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 270C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất vào khoảng 310C (tháng 5) và thấp nhất khoảng 24.80C (tháng giêng)

- Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 79.4 – 80.9%, số giờ nắng trung bình hàng năm từ 2.454 – 2.669 giờ, đây là những điều kiện lý tưởng để sản xuất

và canh tác quanh năm

- Lượng mưa trung bình năm đạt khoảng 1.347 - 2.464 mm

- Gió thịnh hành trong năm la gió mùa Tây Nam, từ tháng 5 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc từ tháng 1 đến tháng 4 với tốc độ gió trung bình 2 – 2.5 m/s

Đặc biệt, vùng đất nằm ở trung tâm khu vực Đồng Tháp Mười này còn có thêm mùa lũ hay còn gọi là mùa nước nổi Mùa lũ – mùa nước nổi thường xuất hiện vào khoảng tháng 8 hàng năm, đỉnh lũ thường xuất hiện từ cuối tháng 9, đầu tháng 10, mức nước lũ giảm dần vào tháng 11, có năm kéo dài đến tháng 12, thời gian ngâm lũ trung bình hàng năm từ 3- 4 tháng và lũ mang đến một lượng lớn phù sa giúp đất đai nơi đây thêm màu mỡ Hàng năm lũ đổ về đem theo những

Trang 25

nguồn lợi to lớn về thuỷ sản, ph

không nhỏ trong sinh hoạt, đời sống v

Hình 1.3 : Mùa nước nổi ở x

1.2 Điều kiện kinh tế - xã

chiếm một phần trong cơ c

các gia đình đều chăn nuôi heo, g

nhưng nhờ vào chăn nuôic

bền vững, giúp các hộ nông dân ng

Về trồng lúa, mỗi năm, b

và vụ hè – thu Tổng diện tích gieo xạ lúa cả năm 2013 l

hoạch, năng suất bình quân là 6,9 t

ồn lợi to lớn về thuỷ sản, phù sa nhưng lũ lớn cũng gây nên những khó khăn

ạt, đời sống và sản xuất của nhân dân

ớc nổi ở xã Tuyên Thạnh (Ảnh : Chụp khi đi khảo sát)

xã hội

ản xuất nông nghiệp

ồnglúa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp ở x

ã còn trồng được một số loại cây trồng khác nh

à các loại rau màu thì chăn nuôi cũng là một hoạt động

ơ cấu sản xuất nông nghiệp Tại xã Tuyên Thạnh, hầu hết

ều chăn nuôi heo, gà, vịt là chủ yếu Tuy chiếm tỷ trọng không cao

ào chăn nuôicũng đã góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình m

ền vững, giúp các hộ nông dân ngày càng ít phụ thuộc vào cây lúa

ề trồng lúa, mỗi năm, bà con nông dân gieo sạ 2 vụ chính : vụ đông

ổng diện tích gieo xạ lúa cả năm 2013 là 5.590 ha đình quân là 6,9 tấn/ha/năm Tổng sản lượng lương th

ững khó khăn

ạnh (Ảnh : Chụp khi đi khảo sát)

ồnglúa chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp ở xã Tuyên

ợc một số loại cây trồng khác như: sen, rau

ột hoạt động ạnh, hầu hết

ủ yếu Tuy chiếm tỷ trọng không cao

ình một cách

ạ 2 vụ chính : vụ đông – xuân

à 5.590 ha đạt 100% kế ương thực của xã

Trang 26

đạt 38.571 tấn đạt 120,9% so với kế hoạch của thị xã giao là 31.885 tấn, lợi nhuận trung bình cả năm tăng đều qua các năm Chương trình CĐML với diện tích 435,5

ha, cơ bản đã hoàn thiện hệ thống thủy lợi kết hợp giao thông nông thôn, lợi nhuận sản xuất trong mô hình ngày càng được chú trọng để nâng cao, thu hút bà con nông dân tham gia

Hằng năm, UBND xã Tuyên Thạnh phối hợp với các ngành chức năng tổ chức nhiều cuộc tập huấn chuyển giao KH - KT với nội dung, kỹ thuật chăm sóc lúa, phòng trừ dịch hại, phòng chống dịch cúm gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản, triển khai thực hiện các mô hình "3 giảm 3 tăng" – "1 phải 5 giảm" Gần đây, phát triển mô hình trồng nấm rơm trên lục bình, thu hút đông đảo bà con nông dân tham dự, học hỏi kinh nghiệm để thực hiện

1.2.2 Dân cư – xã hội

1.2.2.1 Dân cư – nguồn lao động

Xã Tuyên Thạnh hiện có 1.108 hộ gia đình với dân số là 5.020 người; chiếm 7.78% tổng dân số của thị xã Kiến Tường

1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp

Trang 27

Về xây dựng hệ thống thủy lợi, tưới tiêu : hệ thống kênh nội đồng ngày càng

được hoàn thiện để giúp bà con nông dân dễ dàng canh tác lúa Hầu hết các kênh nội đồng của xã đều đã ổn định và đang hoạt động rất tốt Đặc biệt,công trình được xây dựng tuyến kênh rạch Gò Ớt nằm trong địa bàn xã Tuyên Thạnh là một tuyến kênh cũ có sẵn bắt đầu từ Sông Vàm Cỏ Tây và kết thúc tại Kênh Lộ Ốp với tổng chiều dài là 5.214m với tổng kinh phí 1.360 triệu đồng (xây lắp là 1.068 triệu đồng) nhằm đáp ứng mục tiêu khai thác triệt để tiềm năng đất mặt nước và lao động có sẵn để phát triển sản xuất năng cao đời sống nhân dân Hiện nay, xã cũng

đã và đang ráo riết thực hiện cải tạo kênh nội đồng – kênh Đồng Đưng để thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng mô hình CĐML trên địa bàn ấp Gò Ớt Ngoài

ra, xã còn đầu tư vào việc nạo vét kênh Cái Cát ngoài việc cung cấp tốt nguồn nước tưới cho khoảng 1.120 ha đất sản xuất nông nghiệp, tiêu úng xả phèn cho 1.400 ha đất tự nhiên nó còn mang lại lợi ích về mặt vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân trong khu vực tạo điều kiện phát triển văn hóa, xã hội, cải tạo môi trường và tạo vẻ mỹ quan trong khu vực Đồng thời phần đất nạo vét làm đê bao còn có tác dụng ngăn lũ, làm đường giao thông nông thôn liên ấp, xã Bề mặt kênh thông thoáng cho ghe tàu có tải trọng 15 tấn lưu thông vận chuyển hàng hóa quanh năm trong khu vực

Về quản lý đất công : tổng diện tích đất công xã quản lý là 12,86 ha đất sản

xuất nông nghiệp, đã tổ chức đấu giá cho thuê 11,6 ha đúng theo quy định và hợp đồng cho thuê đất với 05 hộ dân, thời hạn hợp đồng là 5 năm (từ năm 2011 đến năm 2016) thanh lý hợp đồng theo từng năm là 200.663.000đ/năm

1.2.2.3 Giao thông – các công trình cơ bản

Hiện nay, gần như 80% đường giao thông nông thôn ở xã Tuyên Thạnh đã được hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nông dân trong việc di chuyển

Trang 28

Hai công trình xây dựng cơ bản năm 2013 là 2 công trình với tổng số vốn đầu tư 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng) là đường Tây Bắc Chan (kênh Ốp – Sồ Đô)

và đường Ngọn Nhỏ xã Tuyên Thạnh đến nay đã hoàn thành và đã nghiệm thu đưa vào sử dụng

1.2.2.4 Giáo dục

Công tác giáo dục đặc biệt được quan tâm, trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên điều đạt chuẩn theo quy định Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy

và học được chú trọng đầu tư và phát triển

Trong năm vừa qua, các trường đã tổ chức tổng kết năm học 2012-2013 với

tỷ lệ học sinh khá, giỏi tăng so với năm trước (trường Mẫu Giáo 85/78; Tiểu Học 473/461; THCS 185/179) học sinh bỏ học bậc THCS 2,46% (8 em) giảm so với năm trước 3,1% (10 em) Tỉ lệ xét tốt nghiệp THCS đạt 98,18% (54/55 em) Duy trì tốt kết quả phổ cập Giáo dục, 1/3 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ một (trường Tiểu Học)

Tổ chức tốt khai giảng năm học 2013-2014 ở các điểm trường, huy động trẻ đến tuổi ra lớp đạt tỷ lệ 100%, tỷ lệ học sinh vào lớp 6 đạt 98%

1.2.2.5 Y tế

Công tác y tế : Trạm y tế xã Tuyên Thạnh đã thực hiện rất tốt công tác khám

và điều trị bệnh cho cho bà con nông dân Các cán bộ y tế xã thực hiện tốt công tác tuyên truyền và thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh Trạm y tế

xã còn thực hiện khám miễn phí, khám và điều trị bệnh cho người nghèo, cận nghèo thường xuyên được triển khai tổ chức giúp nhằm tăng cường việc chăm sóc sức khỏe cho bà con nông dân xã Trạm y tế xã tổ chức công tác khám, điều trị và chăm sóc sức khỏe 10.582 lượt người trong đó Đông tây y kết hợp 2618 lượt và bảo hiểm trẻ em 619 lượt Khám và điều trị bệnh cho người nghèo, cận nghèo

Trang 29

được 1.781 đối tượng, khám từ thiện được 105 người với tổng số tiền

20.174.000đ

Tổ chức và triển khai thực hiện tốt các chương trình Quốc gia về y tế, trẻ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi là 93 trẻ, chiếm tỷ lệ 13,06% Số trẻ được tiêm chủng đủ 8 bệnh đạt 100%

Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm : Trạm y tế xã đã phối hợp đoàn

liên ngành kiểm tra thường xuyên 42 cơ sở kinh doanh đang quản lý trên địa bàn

xã, nhắc nhở các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện tốt vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời phối hợp với Trung Tâm y tế thị xã tổ chức tập huấn về ATVSTP cho các cơ sở

Dân số - KHHGĐ : Trạm y tế xã tổ chức các hoạt động theo quy định, kế

hoạch của ngành cấp trên, thực hiện khám sàng lọc trước sinh cho các bà mẹ; cấp

và đổi giấy chứng nhận thôi đẻ hẳn cho nhiều trường hợp Duy trì và nhân rộng

mô hình ấp không có người sinh con thứ 3 trở lên, tiến đến xây dựng mô hình xã đạt tiêu chuẩn không có người sinh con thứ 3 trở lên

1.2.2.6 Văn hóa – thông tin – truyền thông

Phối kết hợp với UBMTTQ và ban ngành đoàn thể đẩy mạnh thực hiện các phong trào thi đua yêu nước; … Các chủ đề Học tập làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh; chiến dịch vì Môi trường xanh - sạch - đẹp, phòng chống cháy rừng; phòng chống dịch cúm gia cầm; phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gắn liền xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa Qua bình xét có 2118/2229 hộ đạt 95,02% hộ đạt Gia đình văn hóa

Tổ chức thành công Đại hội Thể dục – Thể thao cấp xã; có 252 vận động viên tham gia; tổ chức thi đấu ở 5 bộ môn Xã Tuyên Thạnh tham gia Đại hội

Trang 30

TDTT Mộc Hóa – Kiến Tường năm 2013 với 176 VĐV, thi đấu 12/12 môn, đạt giải Nhì toàn đoàn

Đài truyền thanh xã và các cụm đài ấp thực hiện tốt các chương trình thời sự địa phương hằng ngày.Thực hiện tốt việc cộng tác tin, bài với đài Thị xã, đã đăng được 60 tin và 5 mẫu chuyện.Hệ thống truyền thanh được cũng cố và duy trì hoạt động thường xuyên từ xã đến ấp

1.2.2.7 Công tác tôn giáo

Trên địa bàn xã hiện nay chưa có cơ sở thờ tụ, chỉ có tín đồ các tôn giáo, chủ yếu tham gia sinh hoạt ở thị xã Kiến Tường Xã cũng thường xuyên tổ chức tuyên truyền và thực hiện đúng pháp lệnh của chính phủ về tự do tín ngưỡng tôn giáo cho nhân dân và các tín đồ tôn giáo

1.3 Tìm hiểu mô hình CĐML trên địa bàn xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến Tường

1.3.1 Mô hình CĐML

1.3.1.1 Khái niệm

Thật sự, chưa có một khái niệm chính xác nào về mô hình CĐML được định nghĩa bày bản trên văn kiện, sách vở Theo ông Tăng Minh Lộc – Cục trưởng cục kinh tế hợp tác và PTNN thì mô hình CĐML là một hình thức tổ chức lại sản xuất trên cơ sở liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, tập hợp những nông dân nhỏ lẻ lại tạo điều kiện áp dụng những kỹ thuật mới và giải quyết đầu ra ổn định cho nông dân

1.3.1.2 Tiêu chí xây dựng

Mô hình CĐML được xây dựng trên những tiêu chí căn cứ vào “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt – VietGAP cho lúa” theo Quyết định số 2998/QĐ-BNN-TT của Bộ trưởng Bộ NN&PTNN vào ngày 09/11/2010

Trang 31

 Tiêu chí của mô hình

Cánh đồng mẫu lớn: phải nằm trong quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông

thôn theo chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động của địa phương, có điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn…) phù hợp, hạ tầng kinh tế xã hội (hệ thống thủy lợi, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, trình độ, tập quán canh tác của nông dân) tương đối tốt

Quy mô diện tích: Mô hình “cánh đồng mẫu lớn” : 300 - 500 ha Việc lựa

chọn cánh đồng liền canh với diện tích từ 300 – 500 ha xuất phát từ thực tiễn sản xuất lúa ở ĐBSCL với những cánh đồng tương đối lớn, phổ biến trung bình khoảng 500 - 1000 ha Mặt khác trong nhiều năm qua, các vùng đã xây dựng và thực hiện nhiều mô hình cánh đồng ứng dụng tiến bộ KHKT với nhiều tên gọi khác nhau: cánh đồng “3 giảm - 3 tăng, “1 phải 5 giảm”, “cánh đồng hiện đại”,

“cánh đồng 1 giống”… với quy mô từ 50 – 100 ha là phổ biến

 Yêu cầu của mô hình

Điều kiện tự nhiên

Diện tích thực hiện mô hình phải có hệ thống đê bao, cống bọng hoàn chỉnh,

an toàn, chủ động hoàn toàn về thủy lợi bao gồm cả việc tưới và tiêu thoát nước

Vị trí địa lý thuận tiện cho việc tổ chức sản xuất và thu mua : trong bước đầu của việc xây dựng mô hình vị trí càng thuận lợi càng dễ dàng thực hiện các nội dung theo yêu cầu, khi tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu những vùng khó khăn cần từng bước đầu tư cơ sở hạ tầng cho phù hợp

Trang 32

Điều kiện kinh tế - xã hội

Nông dân tự nguyện tham gia, đảm bảo quyền lợi cho nông dân, nông dân phải hoàn toàn tự giác và chủ động trong thực hiện mô hình.Trong mô hình phải

có một hình thức liên kết có pháp nhân : hợp tác xã hoặc tổ hợp tác

Có hạ tầng giao thông tốt phục vụ được cho công tác cơ giới hóa các khâu trong sản xuất lúa từ làm đất, đến thu hoạch, bảo quản tồn trữ

Kỹ thuật canh tác

Nông dân phải được tập huấn kỹ thuật canh tác trước và sau thu hoạch, phải

áp dụng triệt để theo 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, xuống giống đồng loạt, tập trung né rầy, sử dụng giống xác nhận Điều kiện phơi sấy, tồn trữ, bảo quản lúa sau thu hoạch tốt

Phải ghi chép sổ tay sản xuất lúa, sổ tay ghi chép sản xuất lúa theo VietGAP

do CTT ban hành Đây là cơ sở và nền tảng bước đầu cho việc tiến tới sản xuất lúa theo VietGAP

1.3.2 Mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh

1.3.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động của mô hình CĐML

Trang 33

triển khai áp dụng trên địa

- Toàn bộ hoạt động của Ban chỉ đạo (các cấp tỉnh, huyện, x

quy chế làm việc phân công nhiệm vụ các th

báo cáo… Các bộ phận dựa tr

& PTNT Tỉnh Long An ra ng

 Cơ cấu tổ chức quản

Cấp tỉnh còn có Phó chi c

ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí, Phó Giám đốc Công ty L

ỉ thị số 24/2003/CT-TTg ngày 8/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về ùng nguyên liệu gắn với chế biến tiêu thụ để hình thành mô hình

ết định số 1493/QĐ - SNN ngày 03/11/2011 cành lập Ban chỉ đạo mô hình “ Liên kết bốn nh

ã Tuyên Thạnh - huyện Mộc Hóa - tỉnh Long An nay l

ã Kiến Tường - tỉnh Long An, mô hình CĐML đ bàn ấp Gò Ớt - xã Tuyên Thạnh – thị xã Kiến

ộ hoạt động của Ban chỉ đạo (các cấp tỉnh, huyện, xã) đều thông qua

ệc phân công nhiệm vụ các thành viên, chế độ sinh hoạt, hội họp,

ộ phận dựa trên quy chế làm việc số : 1947/ QC-BCĐ do Sỉnh Long An ra ngày 17/11/2011

ấu tổ chức quản lý

òn có Phó chi cục trưởng chi cục BVTV Long An, Giám đốc Công

ợp Trí, Phó Giám đốc Công ty Lương thực Long An v

ớng Chính phủ về ình thành mô hình

SNN ngày 03/11/2011 của Sở

ết bốn nhà xây dựng ỉnh Long An nay là ĐML đã được

ến Tường

ều thông qua

ế độ sinh hoạt, hội họp,

BCĐ do Sở NN

ởng chi cục BVTV Long An, Giám đốc Công

ực Long An và

Trang 34

Trưởng Phòng Kinh Doanh Công Ty Lương thực Long an là các thành viên của Ban chỉ đạo

Tại cấp xã,tổ giúp việc cho mô hình còn có tổ kỹ thuật gồm 13 thành viên của các đơn vị như Trạm KN, Trạm BVTV, Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí, Công Ty Lương thực Long An

Đến nay, việc thành lập thị xã Kiến Tường – tỉnh Long An đã có những thay đổi về mặt nhân sự trong Ban chỉ đạo thực hiện mô hình CĐML tại xã Tuyên Thạnh Chủ tịch UBND xã Tuyên Thạnh là ông Huỳnh Thanh Thiện làm Trưởng ban chỉ đạo và các cán

bộ Phó Chủ tịch xã, Phó Bí thư Đảng ủy cùng nhau chỉ đạo quản lý mô hình CĐML ở

1.3.2.2 Cơ cấu hoạt động của mô hình

Trang 36

1.3.2.3 Lợi ích của các nhà trong mô hình CĐML

Nông dân bán lúacho cácth ơng lái bênngoài

Trang 37

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

1 Thị xã Kiến Tường là một đơn vị hành chính của tỉnh Long An, được thành

lập vào ngày 18/3/2013 theo NQ số 33/NQ-CP bao gồm 8 đơn vị hành chính Trong đó có xã Tuyên Thạnh – xã điểm đầu tiên đã và đang triển khai áp dụng mô hình sản xuất lúa mới – mô hình CĐML trong sản xuất lúa trong 4 vụ mùa canh tác vừa qua của bà con nông dân (kể từ vụ lúa Đông – Xuân 2011 – 2012)

2 Xã Tuyên Thạnh nằm về phía Tây của thị xã Kiến Tường, được bao bọc

bởi dòng sông Vàm Cỏ, xã có hệ thống kênh rạch chằng chịt và khá rộng với diện tích tự nhiên 3463,77 ha và 5.020 nhân khẩu Xã có 5 ấp : Bắc Chan 1, Bắc Chan 2, Bình Tây, Cái Sậy và Gò Ớt Cơ cấu kinh tế chính của

xã là nông nghiệp, trong đó trồng lúa chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nông nghiệp xã Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, mỗi năm có 2 mùa khô – mùa mưa rõ rệt, nền nhiệt cao, độ ẩm tương đối tốt, hệ thống kênh rạch chằng chịt, hệ thống thủy lợi tương đối và trên nền đất phèn là chủ yếu, nông dân xã canh tác lúa rất thuận lợi với 2 vụ chính trong năm : vụ lúa đông – xuân và vụ lúa hè – thu

3 Về mặt xã hội, các lĩnh vực giao thông, văn hóa - giáo dục, y tế, phát thanh

– truyền thông, thể dục – thể thao, văn nghệ…đều được chính quyền địa phương đảm bảo đầy đủ, phục vụ cho nhu cầu của người dân

4 Kể từ vụ lúa đông – xuân 2011 – 2012, ấp Gò Ớt của xã Tuyên Thạnh với 4

tổ nông hộ đã và đang được triển khai áp dụng mô hình CĐML trong canh tác lúa cho nông dân – một mô hình sản xuất theo hướng VietGAP

5 Mô hình là một hình thức sản xuất đồng loạt với quy trình khép kín, cung

cấp đầu vào, bao tiêu đầu ra sản phẩm cho bà con Với cơ cấu hoạt động cụ thể và rõ ràng, có lợi ích chung và lợi ích riêng cho mỗi bên tham gia vào

mô hình nên chính quyền xã Tuyên Thạnh đã và đang triển khai áp dụng rộng rãi cho bà con nông dân canh tác trong mô hình này Qua 4 mùa vụ

Trang 38

thực hiện mô hình đã đánh giá đ ợc những kết quả thể hiện đ ợc hai mặt tích cực cần phát huy và tiêu cực cần khắc phục hạn chế của mô hình này

Trang 39

CHƯƠNG 2 : Thực trạng áp dụng mô hình CĐML vào sản xuất lúa của nông dân và đánh giá mô hình cánh đồng mẫu lớn trên địa bàn xã Tuyên Thạnh

trong thời gian vừa qua

2.1 Quy trình sản xuất lúa của bà con nông dân trên địa bàn xã Tuyên Thạnh theo mô hình CĐML

2.1.1 Công tác quản lý trong mô hình CĐML tại xã

Tại ấp Gò Ớt áp dụng mô hình CĐML được chia làm 4 tổ để quản lý Mỗi tổ bầu ra một tổ trưởng là nông dân sản xuất giỏi, có năng lực giúp hỗ trợ cho bà con trong công tác nhận vật tư và các vấn đề liên quan khác như : theo dõi canh tác của các hộ nông dân trong tổ, phân phát và thu nhận sổ tay ghi chép, tổ chức và vận động bà con nông hộ tham gia quá trình tập huấn, hội thảo KH – KT…

Tổ trưởng sẽ là người phản ánh trực tiếp những mong muốn của bà con nông hộtrong tổ mình với Ban chỉ đạo thực hiện mô hình từ cấp Xã

Ban chỉ đạo của xã Tuyên Thạnh

Trang 40

 Quy trình canh tác trong mô hình CĐML

2.1.2 Công tác cung cấp và tiếp nhận vật tư đầu vào đầu mỗi mùa

vụ

Hiện nay, vào đầu mỗi vụ mùa, Công ty TNHH Hóa nông Hợp Trí sẽ là doanh nghiệp cung cấp toàn bộ vật tư đầu vào cho nông hộ canh tác trong mô hình CĐML, bao gồm : giống, phân bón các loại và thuốc BVTV Nếu là trước đây, việc chuẩn bị vật tư đầu vào của các nông hộ là tự túc, tự mỗi nông hộ sẽ đến các đại lý, cửa hàng khác nhau để mua vật tư đầu vào thì trong mô hình, việc này sẽ được công ty cung cấp đồng loạt dưới hình thức đăng ký

Quy trình canh tác trong mô hình CĐML

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w