1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Thầy” – người gìn giữ chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào người nùng ở thị trấn liên nghĩa, huyện đức trọng, tỉnh lâm đồng

85 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc nghiên cứu về nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng cũng như tầm quan trọng và giá trị văn hóa của hệ thống chú ngữ, nhóm tác giả đã đưa ra một số quan điểm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2015

Tên công trình:

“THẦY” – NGƯỜI GÌN GIỮ CHÚ NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG Ở THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC

TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Ngọc Khánh Lớp: Trung Quốc 11 Khóa: 2011 – 2015 Thành viên: Dương Thúy Hương Lớp: Trung Quốc 11 Khóa: 2011 – 2015

Trần Thị Ngọc Huệ Lớp: Trung Quốc 11 Khóa: 2011 – 2015

Nguyễn Phương Thảo Lớp: Trung Quốc 11 Khóa: 2011 – 2015 Phan Thị Ngọc Trâm Lớp: Trung Quốc 11 Khóa: 2011 – 2015

Người hướng dẫn: Tiến Sĩ Hồ Minh Quang – Khoa Đông Phương học

– ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 3/ 2015

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

7 Kết cấu đề tài 7

CHƯƠNG 1 8

1.1 Vài nét về Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 8

1.2 Tổng quan về dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng 11

1.2.1 Lịch sử hình thành và ngôn ngữ - chữ viết của dân tộc Nùng 11

1.2.2 Đời sống văn hóa vật chất 13

1.2.2.1 Nhà cửa 13

1.2.2.2 Trang phục 14

1.2.2.3.Ẩ m thực 16

1.2.3 Phong tục tập quán 17

1.2.3.1 Lễ hội 17

1.2.3.2 Các nghi thức và tục lệ 20

1.2.4 Tín ngưỡng tôn giáo 21

Tiểu kết: 23

CHƯƠNG 2 25

Trang 3

2.1 Nghề “thầy” và hệ thống chú ngữ 25

2.1.1 Nghề “thầy” 25

2.1.2 Hệ thống chú ngữ 30

2.2 Tầm quan trọng của nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng 37

2.2.1 Sự phổ biến của chú ngữ trong các tập tục văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào người Nùng 37

2.2.2 Sự kính trọng của đồng bào người Nùng đối với đội ngũ chức sắc hành nghề tín ngưỡng 43

Tiểu kết: 47

CHƯƠNG 3 49

3.1 Vai trò của “thầy” trong việc giữ gìn giá trị văn hóa 49

3.1.1 Góp phần bảo tồn ngôn ngữ dân tộc 50

3.1.2 Góp phần gìn giữ, bảo lưu các thuần phong mỹ tục 51

3.1.3 Góp phần làm nên sự đa dạng văn hóa ở địa phương 54

3.1.4 Góp phần cân bằng đời sống tinh thần, ổn dịnh xã hội 55

3.2 Vai trò của “thầy” trong việc phát huy giá trị văn hóa 57

Tiểu kết: 62

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 1

Trang 4

1.4 “Thầy” hướng dẫn các nghi thức trong đám tang 21

1.5 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của đồng bào Nùng Thị trấn Liên

2.1 Các “thầy” trong tục lệ ma chay của người Nùng 29

2.3 Chữ Nôm Nùng trong kinh sách của đồng bào người Nùng 35

2.4 “Thầy” chủ trì tang lễ trong tập tục ma chay của đồng bào

Trang 5

1

TÓM TẮT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Quá trình hình thành cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng với những biến chuyển lịch sử mang tính chất đặc thù đã tạo nên những nét văn hóa khác biệt trong dòng chảy chung của văn hóa dân tộc Nùng ở Việt Nam Theo đó, sự hình thành và phát triển của nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào nơi đây cũng mang những nét rất riêng, giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa và tinh thần của đồng bào dân tộc Nùng Bài nghiên cứu bước đầu đưa ra khái niệm cụ thể về chú ngữ và hệ thống chú ngữ, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Nghề “thầy” cùng với sự đa dạng

và phong phú trong hệ thống chú ngữ chính là kết quả tất yếu của một nền văn hóa với tín ngưỡng đa thần đặc sắc của đồng bào dân tộc Nùng Giá trị văn hóa và tinh thần của hệ thống chú ngữ được thể hiện thông qua những hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Từ việc nghiên cứu về nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng cũng như tầm quan trọng và giá trị văn hóa của hệ thống chú ngữ, nhóm tác giả đã đưa ra một số quan điểm trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của

hệ thống chú ngữ trong đời sống hiện nay

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa Mỗi một dân tộc là một bức tranh đầy màu sắc không chỉ về ngôn ngữ mà còn cả những nét đặc trưng về truyền thống văn hóa, lịch sử hình thành của các dân tộc Trải qua các giai đoạn phát triển, bản sắc của các dân tộc ngày càng hòa quyện, đan xen vào nhau, hình thành nên một

sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam Quá trình giao thoa đó làm cho nền văn hóa riêng của các dân tộc tuy hòa nhập nhưng không hòa tan Từ đó, góp phần làm cho nền văn hóa của nước Việt Nam bốn nghìn năm văn hiến thêm phong phú, đa dạng và độc đáo

Dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mỗi một dân tộc có những bản sắc văn hóa riêng Trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn những nét văn hóa truyền thống mang một ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì đang có không ít những thế lực bên ngoài luôn từng ngày từng giờ lợi dụng vấn đề này gây xung đột chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc là một vấn đề cấp thiết của mỗi cá nhân nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung

Trong 54 dân tộc của Việt Nam, dân tộc Nùng chiếm một số lượng tương đối đông đảo, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc, Thành phố Hồ Chí Minh, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng bào dân tộc Nùng lưu giữ một kho tàng văn hóa vô cùng quý báu và đặc sắc, với những nét đa dạng trong phong tục tập quán, thể hiện những quan niệm tâm linh phong phú trong tín ngưỡng tôn giáo, được tổ tiên cha ông tích lũy từ thời xa xưa cho đến nay Nhắc đến đồng bào dân tộc Nùng là nhắc đến một cộng đồng người với quá trình hình thành tương đối phức tạp, ít nhiều có những nét khác biệt giữa các nhóm người sinh sống ở những vùng khác nhau và tạo thành những đặc trưng riêng Nhóm đồng bào người Nùng sinh sống ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng hiện nay chính là một cộng đồng người như thế

Trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thì “thầy” đóng một vai trò vô cùng đặc biệt,

có ảnh hưởng sâu rộng đến các hoạt động nghi lễ truyền thống cũng như đời sống tinh thần của đồng bào người Nùng ở đây “Thầy” là trung gian gắn kết đồng bào với tổ

Trang 7

Đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, vốn có mối quan hệ mật thiết với dân tộc Choang (Trung Quốc), việc nghiên cứu tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào người Nùng có ý nghĩa quan trọng và mang tính thực tiễn cao cho quá trình học tập nghiên cứu của những sinh viên thuộc chuyên ngành Trung Quốc học Đồng thời, với mong muốn giới thiệu rộng rãi hơn nữa nét văn hóa

đặc sắc này đến người đọc, nhóm tác giả quyết định thực hiện đề tài ““Thầy” - người

gìn giữ chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng”

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc phân tích một số nét trong phong tục tập quán và tín ngưỡng tôn

giáo của đồng bào người Nùng, mà cụ thể là sự tồn tại của nghề “thầy” cũng như vai trò của “thầy” trong các nghi thức và tục lệ cúng bái của họ, từ đó tạo cái nhìn khái

quát về hình ảnh “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Thông qua đó, nhóm tác giả muốn giới thiệu đến người đọc những nét đặc sắc trong văn hóa tinh thần của đồng bào người Nùng nói riêng và người Việt Nam nói chung

Đồng thời, từ việc nghiên cứu nghề “thầy” và vai trò của “thầy” trong đời sống tâm linh của dân tộc Nùng, đề tài còn nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy những nét

văn hóa đặc sắc để nó không bị mai một bởi sự phát triển ngày càng nhanh chóng của

xã hội hiện đại

Ngoài ra, việc nghiên cứu còn nhằm tăng thêm nguồn tư liệu cho người đọc có quan tâm và các công trình nghiên cứu có liên quan sau này

3 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề phong tục tập quán và tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng đã được đề cập đến trong một số công trình Có công trình nghiên cứu đề cập toàn diện đến văn hóa của người Nùng, có những công trình lại đi sâu nghiên cứu đến một lĩnh vực văn hóa chuyên biệt Hầu hết các công trình này đều có một điểm chung là nghiên cứu

Trang 8

tổng thể về toàn bộ cộng đồng người Nùng tại Việt Nam Riêng đối với việc nghiên cứu nghề “thầy” hay chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng thì gần như rất ít được đề cập đến Đối với vấn đề phong tục tập quán và tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng nói chung, đã có một số công trình đề cập tới ở những mức độ khác nhau, cụ thể là:

- Cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội Hà Nội, 1968; Các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978; Văn hóa truyền thống Tày – Nùng của các tác giả Hoàng Quyết, Ma

Khách Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn, NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1993 Các quyển sách này đều mang đến cho người đọc một cái nhìn khái quát về đồng bào người Nùng trong tổng thể các dân tộc Việt Nam

- Cuốn Sli, lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng của Vi Hồng, NXB Văn hóa ấn hành

năm 1979 Đây là quyển sách đào sâu tìm hiểu về dân ca trữ tình – một trong những nét nghệ thuật độc đáo của đồng bào Tày – Nùng

- Cuốn Văn hóa Tày – Nùng của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, NXB Văn hóa, xuất

bản năm 1984 Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về xã hội, con người, văn hóa của hai dân tộc Tày – Nùng

- Cuốn Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam do Viện Dân tộc học xuất bản năm

1992 Đây cũng là một công trình nghiên cứu có tính chất toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân cư Tày – Nùng, lịch sử hình thành tộc người, các hình thái kinh tế, hình thái văn hóa vật chất, tổ chức xã hội – gia đình, hôn nhân, các tục lệ như: cưới xin, sinh đẻ,

ma chay, làm nhà mới và tôn giáo tín ngưỡng Đồng bào Nùng ở huyện Đức Trọng nói riêng cũng được tác giả đề cập đến mặc dù không nhiều

- Đề tài cấp bộ năm 2004 Văn hóa dân tộc Nùng ở Cao Bằng của tác giả Đàm Thị

Uyên, đề cập đến các nét văn hóa truyền thống của cộng đồng người Nùng ở tỉnh Cao Bằng

- Đề tài cấp bộ năm 2004 Tang ma của dân tộc Nùng ở Việt Nam của tác giả

Nguyễn Thị Ngân, đã trình bày tương đối kỹ về phong tục tang ma đặc trưng của người Nùng ở Việt Nam

Từ năm 1997 đến năm 2006 huyện ủy Đồng Hỷ lần lượt biên soạn và cho xuất bản cuốn:

Trang 9

5

- Nguyễn Anh Tuấn (2003), Tang ma người Nùng Phàn Slình ở xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, luận văn cử nhân chuyên ngành Dân tộc học, Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

- Phan Đình Thuận (2006), Tìm hiểu tôn giáo – tín ngưỡng của người Nùng ở xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành lịch sử, Đại học

Sư phạm Thái Nguyên

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần, vật chất, những phong tục tập quán của hai dân tộc là Tày và Nùng trên phương diện rộng (phạm vi cả nước) và cả phương diện hẹp (phạm vi một tỉnh) Tuy nhiên, trong nền văn hóa chung đó, lại có sự giao thoa của những nét riêng biệt Mỗi một vùng có những nét đặc sắc riêng để phù hợp với vị trí địa lý và văn hóa ở khu vực đó Tất cả những công trình nghiên cứu trên tạo cơ sở nền tảng để chúng tôi khai thác một

đề tài ở phạm vi hẹp, làm rõ hơn đời sống văn hóa của dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, mà cụ thể là nghề “thầy” trong đời sống tâm linh của họ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: những người hành nghề “thầy” của đồng bào người Nùng

ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Phạm vi nghiên cứu: đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Giới hạn nghiên cứu: do khả năng có hạn, đề tài chỉ đi sâu vào một số người hành nghề “thầy” và vai trò của “thầy” trong đời sống tinh thần của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

Phương pháp tổng hợp tư liệu: nhóm tác giả tiến hành tìm kiếm, tham khảo các

tư liệu, sách vở, tạp chí, các đề tài nghiên cứu khoa học và những luận văn có liên

quan đến đề tài ““Thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào Nùng ở Thị trấn Liên

Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng”, sau đó trích xuất những thông tin chính xác và

cần thiết, hình thành cơ sở lý luận làm nền tảng cho đề tài nghiên cứu; phương pháp này chúng tôi chủ yếu sử dụng phục vụ cho chương 1 của đề tài

Trang 10

Phương pháp điều tra xã hội học: nhóm tác giả thực hiện điều tra thông qua hình

thức phỏng vấn sâu một số “thầy”, cán bộ và một số người dân ở địa phương để có những thông tin chính xác nhất về nghề “thầy” cũng như các vấn đề có liên quan đến nghề “thầy” Phương pháp này giúp chúng tôi có một hệ thống tư liệu phong phú về nghề “thầy”, vai trò của “thầy” trong đời sống tinh thần của đồng bào người Nùng cũng như quan điểm của người Nùng về nét văn hóa truyền thống này Kết quả thu được từ phương pháp này, chúng tôi dùng để phục vụ cho chương 2, cũng là một trong những nội dung chính của đề tài

Phương pháp phân tích, đánh giá: tiến hành phân tích những nét văn hóa chứa

đựng trong chú ngữ thông qua sự xuất hiện của chúng ở các nghi lễ, các hoạt động cúng bái – cầu an của người Nùng, qua đó đưa ra giá trị văn hóa đặc sắc mà những hoạt động này mang lại; tìm hiểu, đánh giá tình hình hoạt động của các “thầy” trong các nghi lễ, các hoạt động cúng bái – cầu an, tình hình truyền nghề “thầy” cho các thế

hệ sau trong đồng bào người Nùng để nắm rõ hơn sự duy trì và bảo tồn giá trị văn hóa trong đời sống sinh hoạt cũng như đời sống tinh thần của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng Chúng tôi chủ yếu sử dụng phương pháp này trong chương 2 và chương 3

Ngoài ra, nhóm tác giả cũng sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ như:

Phương pháp so sánh, đối chiếu (sinh hoạt tín ngưỡng của người Nùng xưa và nay,

một số khác biệt trong phong tục tập quán giữa cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên

Nghĩa và người Nùng ở phía bắc Việt Nam), Phương pháp thống kê toán học (thu thập

và xử lí các thông tin liên quan đến chú ngữ, từ đó thống kê nên một hệ thống hoàn chỉnh các loại chú ngữ thường gặp trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Nùng)

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào người

Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, có ý nghĩa chiến lược trong việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc Đặc biệt, đề tài sẽ là nguồn tư liệu có giá trị đối với những nhà Dân tộc học, Nhân học, Châu Á học trong việc nghiên cứu văn hóa tộc người của họ

Ý nghĩa thực tiễn: việc nghiên cứu nghề “thầy” cũng như chú ngữ trong đời sống

tâm linh của đồng bào người Nùng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn, tổng quan

Trang 11

7

và chi tiết hơn về văn hóa tinh thần của đồng bào người Nùng, từ đó có giải pháp phát huy và gìn giữ những giá trị văn hóa tốt đẹp đang bị mai một dần theo thời gian

7 Kết cấu đề tài

Nội dung đề tài gồm 3 phần chính như sau:

Chương 1: Tổng quan về đồng bào dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Trong chương này, nhóm tác giả giới thiệu đến người đọc vài nét về vùng đất Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Trên cơ sở đó, cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành dân tộc Nùng tại Việt Nam nói chung và cộng đồng người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nói riêng, cũng như những nét sơ lược về văn hóa của đồng bào người Nùng ở đây

Chương 2: Đặc điểm của “thầy” trong đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Chương này định hướng cho người đọc một khái niệm cụ thể về nghề “thầy” cũng như hệ thống chú ngữ của đồng bào người Nùng tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Song song đó, nhóm tác giả cũng đưa ra những nhận định

về tầm quan trọng của “thầy” trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng ở đây thông qua quá trình khảo sát điền dã

Chương 3: Vai trò của “thầy” trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của đồng bào người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Nội dung chương này chủ yếu đề cập đến những nhận định của nhóm tác giả về vai trò của “thầy” trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa Đồng thời, nhóm tác giả cũng đưa ra một số quan điểm về thực trạng cũng như giải pháp trong việc giữ gìn

và phát huy giá trị văn hóa của chú ngữ trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng ở đây

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG Ở THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Tộc người Nùng là một dân tộc có dân số tương đối đông và đã xuất hiện rất lâu trên lãnh thổ Việt Nam Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có số dân chiếm hàng thứ 7 với 968.800 người và có mặt gần như hầu hết ở

63 tỉnh thành trong cả nước như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Giang, Hà Giang, Đắk Lắk, Lào Cai, Lâm Đồng, Bình Phước, Trong đó, cộng đồng người Nùng hình thành tại huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng là cộng đồng người hình thành khá muộn Những điều kiện khách quan tại địa bàn cư trú này cũng góp phần hình thành nên những đặc trưng cho cộng đồng người Nùng tại đây

1.1 Vài nét về Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng

Đức Trọng là huyện nằm ở vùng giữa của Lâm Đồng – tỉnh miền núi phía nam Tây Nguyên, có độ cao từ 600 m – 1000 m so với mực nước biển Huyện có diện tích

tự nhiên 90.180 ha, chiếm 9,23 % diện tích tự nhiên toàn tỉnh Lâm Đồng, dân số đứng thứ nhì sau Thành phố Đà Lạt Phía bắc giáp Thành phố Đà Lạt, phía nam giáp huyện

Di Linh và tỉnh Bình Thuận, phía đông giáp huyện Đơn Dương, phía tây giáp huyện Lâm Hà, Đức Trọng có 15 đơn vị hành chính bao gồm 1 Thị trấn Liên Nghĩa và 14 xã: Hiệp An, Hiệp Thạnh, Liên Hiệp, Phú Hội, Tân Hội, Tân Thành, N’Thol Hạ, Bình Thạnh, Ninh Gia, Tà Hine, Ninh Loan, Đà Loan, Tà Năng, Đa Quyn Trung tâm huyện cách Thành phố Đà Lạt 26 km về hướng nam Nằm ở vị trí đầu mối giao thông đi Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Phan Rang, nên Đức Trọng có điều kiện thuận lợi cho mở rộng giao lưu với bên ngoài, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hướng ngoại với cả 3 thế mạnh: nông, lâm nghiệp – công nghiệp – dịch vụ

Là thị trấn duy nhất tại huyện Đức Trọng, Liên Nghĩa có vị trí địa lý cách trung tâm Thành phố Đà Lạt 30 km về phía đông nam, diện tích của thị trấn là 7 km2, chiếm khoảng 0,8 % diện tích của toàn huyện Đức Trọng Phía đông thị trấn giáp với xã Tu Tra của huyện Đơn Dương, phía tây giáp với xã N’thoi Hạ và xã Tân Hội, phía nam giáp với xã Phú Hội và xã Tân Hội, phía bắc giáp với xã Liên Hiệp và xã Hiệp Thạnh

Trang 13

9

Hiện nay, Thị trấn Liên Nghĩa có tổng cộng 12 khu phố: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 11, 12,

có hai trục đường giao thông chính đi qua là Quốc lộ 20 nối Thành phố Hồ Chí Minh với Đà Lạt, Quốc lộ 27 nối Đắk Lắk với Ninh Thuận rất thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và giao lưu kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội cho toàn huyện với vùng lân cận

Hình 1.1 Bản đồ huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (Nguồn: Internet)

Huyện Đức Trọng có 3 dạng địa hình chính là núi dốc, đồi thấp và thung lũng ven sông Đây cũng là vùng đất tiếp giáp giữa cao nguyên Lang Biang và cao nguyên Di Linh Trong đó, Thị trấn Liên Nghĩa nằm trên đồi đất đỏ bazan với tầng phủ dày 2 m –

7 m, bên dưới là sạn kết, nền đá gốc ở tầng sâu 15 m – 20 m, cường độ chịu nén tốt Tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là 3770.7 ha, chiếm khoảng 4 % diện tích đất

tự nhiên của huyện1 Đất đai tại thị trấn chủ yếu là đất nâu hình thành trên cơ sở đất bazan, có độ dày trên 100 cm, độ phì nhiêu của đất khá cao, độ PH từ 5 – 6,5 Nơi đây chủ yếu có thành phần cơ giới từ đất thịt trung bình đến thịt nặng, rất phù hợp để phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày 2

Trang 14

Huyện Đức Trọng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở độ cao trên 900 m nên khí hậu có những nét độc đáo, với những đặc trưng cơ bản riêng Chính vì lẽ đó, Thị trấn Liên Nghĩa cũng không nằm ngoài đặc điểm khí hậu của huyện Nơi đây ít gió bão, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5oC; lượng mưa trung bình 1.860 mm; lượng bốc hơi trung bình 700 mm Tại Thị trấn Liên Nghĩa, khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 11; mùa khô từ tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau, khí hậu khô và lạnh hơn mùa mưa Chế

độ gió được chia thành hai mùa: mùa khô có gió Bắc, Đông Bắc; mùa mưa có gió Tây, Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mặc dù có khí hậu như thế nhưng so với những nơi khác trong huyện, Thị trấn Liên Nghĩa nằm ở độ cao trung bình 900 m cho nên khí hậu ở đây khá ôn hòa, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không lớn, nắng nhiều,

ẩm độ không khí thấp Nhiệt độ trung bình ban đêm là 18oC, và ban ngày là 26oC Nguồn nước mặt chủ yếu của thị trấn là hệ thống sông Đa Nhim, đây là một con sông lớn ở phía đông thị trấn, có chiều dài 15 km, rộng 20 m – 25 m Ngoài ra, thị trấn còn có mạch nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 12 m – 15 m và dao động 1,5 m – 2 m theo mùa mưa, nắng Nước ngầm mạch sâu qua các giếng khoan ở độ sâu > 80 m kể từ mặt đất Công trình thủy lợi và cũng là hồ chứa nước lớn của Thị trấn Liên Nghĩa chính là đập tràn Liên Khương đã được kiên cố hóa, có khả năng tưới tiêu trên 600 ha

Với 360 ha đất lâm nghiệp, Thị trấn Liên Nghĩa có một nguồn tài nguyên sinh vật rất phong phú gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm như hổ, voi, khỉ, tê giác, nai,… các loại gỗ quý như trầm hương Tuy nhiên, do tình trạng săn bắt và khai thác một cách bừa bãi nên dẫn đến tài nguyên sinh vật ở đây trở nên cạn kiệt và nhiều loại động vật đã bị tuyệt chủng

Chính bởi những đặc điểm tự nhiên như thế, Liên Nghĩa đã trở thành thị trấn của huyện Đức Trọng với những tiềm lực hết sức to lớn cho việc phát triển kinh tế khi là một đầu mối rau quả lớn của khu vực, có sản phẩm được xuất đi các tỉnh lân cận với khối lượng không hề nhỏ Tổng số dân cư của thị trấn là 45.845 người Trong đó, người Kinh chiếm 50 % dân số toàn thị trấn, ngoài ra còn có dân tộc Hoa, Nùng, Tày, Thái… 3 Với 14 dân tộc chung sống trên địa bàn, Thị trấn Liên Nghĩa đã trở thành nơi hội tụ cả 3 dòng ngôn ngữ chính trên đất nước Việt Nam: Nam Á, Nam Đảo, Hán –

3 Nguồn: Phòng Dân tộc – Ủy ban nhân dân huyện Đức Trọng, 2014

Trang 15

11

Tạng 4 Tuy có sự giao lưu tiếp xúc văn hóa các tộc người trên địa bàn, thế nhưng điều

đó không có nghĩa các dân tộc bị mất đi hoàn toàn nền văn hóa truyền thống của mình

mà đã tạo nên nét đặc trưng trong đa dạng, mang lại những bản sắc độc đáo cho Thị trấn Liên Nghĩa nói riêng và huyện Đức Trọng nói chung

1.2 Tổng quan về dân tộc Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng

1.2.1 Lịch sử hình thành và ngôn ngữ - chữ viết của dân tộc Nùng

Nói đến lịch sử hình thành tộc người Nùng trên lãnh thổ Việt Nam không thể không nói đến những tộc người ở Trung Quốc và đã có một số nhận định như sau:

- Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, cũng đã đưa ra những nghiên cứu cho rằng: “Nguồn

gốc người Nùng thuộc nhóm Tày – Thái miền Đông với địa bàn cư trú chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng (bao gồm tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Quốc) và Đông Bắc Việt Nam Người Nùng có nhiều mối quan hệ về lịch sử văn hóa với người Choang ở Trung Quốc Tộc danh Nùng theo hai ông bắt nguồn từ tên gọi của một trong bốn dòng họ lớn: Nùng, Hoàng, Chu, Vy thống trị ở 2 bờ Tả Hữu Giang, tức các miền biên giới Cao Bằng và Quảng Tây.” 5

- Theo Tuấn Quỳnh, trong Đồng bào các tộc Nùng ở Việt Nam (năm 1968) cho

rằng người Nùng di cư từ phương Bắc tới từ thế kỉ VIII, do điều kiện địa lý tự nhiên không thuận lời và do không chịu khuất phục người Hán Ông cho rằng người Nùng ở nước ta chia thành 3 nhóm: nhóm Cao Bằng, Lạng Sơn và Hà Giang đều từ Quảng Tây sang

- Theo sách Người Nùng của Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn, cho rằng: “Từ

xa xưa, địa bàn cư trú của người Nùng chủ yếu ở vùng Lưỡng Quảng; một phần vùng Đông Nam của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và vùng Đông Bắc bộ Việt Nam Dân tộc Nùng có chung nguồn gốc lịch sử với dân tộc Tày ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc Vào thời Nam Bắc triều (420 – 581) đến thời Đường (618 – 907) có các tộc người Di (theo cách gọi của người Hán): Lý, Lão, Lãng, Ô Hử và các nhóm người Man: Man Hoàng Động, Man Nùng Động, Man Tây Nguyên, họ sống phân bố dọc

4Đại học Đà Lạt, Khoa Đông phương học, Đào Thị Hằng (2010), Tìm hiểu người Thổ ở Thị trấn Liên Nghĩa –

Đức Trọng – Lâm Đồng, 2010.

5 Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, 1968

Trang 16

theo biên giới Việt – Trung ngày nay Những tộc người và các nhóm người này trong tiến trình lịch sử đã biến đổi ít nhiều cùng với sự phân hóa đã tạo thành tổ tiên của các nhóm ngôn ngữ, văn hóa Tày – Nùng – Choang Từ thế kỉ thứ VII trở đi, một số dòng

họ có thế lực đã nổi dậy chống lại sự kìm kẹp của nhà Đường Sang thể kỉ thứ X, một thủ lĩnh họ Nùng là Nùng Dân Phú đã đảm nhiệm việc quản lí 10 châu vùng Quảng Uyên Đến năm 1038, ông thành lập nước Trường Sinh đống đô tại Nà Lự, huyện Hòa

An, tỉnh Cao Bằng ngày nay Năm 1041, thủ lĩnh Nùng Trí Cao lại lập ra nước Đại Lịch ở châu Thảng Đo, kế tiếp lại liên kết với những người đồng tộc vùng Tả Giang (Quảng Tây) lập ra nước Thiên Nam, lấy hiệu là Cảnh Thụy, sau đổi thành Nam Việt, cai quản cả một vùng rộng lớn gồm Cao Bằng và một phần miền Tây tỉnh Quảng Tây Năm 1048, Nùng Trí Cao tổ chức cuộc chiến tranh chống lại Tống và đã làm chủ một khu vực rộng lớn từ Ung Châu (Quảng Tây) đến Quảng Châu (Quảng Đông) làm chấn động cả cõi Lĩnh Nam Cuối cùng, họ bị nhà Tống trấn áp và thất bại phải chạy sang Đại Việt lánh nạn và định cư ở đây Từ thế kỉ XIII, các nhóm người Nùng khác không chịu nổi chính sách phân biệt đối xử của nhà Nguyên (Mông Cổ), sau đó là nhà Minh (Hán) và nhà Thanh (Mãn Châu) đã từng đợt di cư vào Việt Nam, hội nhập với các nhóm Tày và Thái cùng hệ ngôn ngữ đã có mặt từ trước và phân bố chủ yếu ở các tỉnh Đông Bắc bộ, sau đó một bộ phận di cư vào các tỉnh Tây Nguyên” 6

Nói tóm lại, thông qua nhiều thư tịch cổ cũng như gia phả các dòng họ, có thể kết luận rằng tộc người Nùng có mặt ở Việt Nam có hai bộ phận do di cư theo từng nhóm:

bộ phận thứ nhất cư trú lâu đời ở Việt Nam khoảng thế kỉ VIII, bộ phận thứ hai mới di

cư vào Việt Nam, sớm nhất vào thế kỉ thứ XVI hoặc giữa thế kỉ XIX Nguyên nhân của các cuộc di cư này chủ yếu do bị áp bức bóc lột, bị chèn ép, nhất là bị tàn sát sau các cuộc khởi nghĩa không thành công hoặc do loạn lạc, cướp bóc, thiếu ruộng đất,… Như vậy, người Nùng ở Việt Nam là một chỉ hệ của dân tộc Choang ở Trung Quốc và cũng là hậu duệ của Bách Việt, họ chủ yếu sinh sống tại những vùng Đông Bắc, và do những nguyên nhân khác nhau, một phần trong số đó đã di cư vào miền Nam vào năm

1954 với khoảng 45.000 người, trong số đó đã đặt chân đến huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tiếp theo từ năm 1975 đến nay, một bộ phận đồng bào Nùng lại tiếp tục di

cư vào miền Nam

6 Chu Thái Sơn và Hoàng Hoa Toàn (2006), Người Nùng, NXB Trẻ

Trang 17

Dựa theo những tư liệu tổng hợp trong cuốn Dân số - dân cư Lâm Đồng, cũng như tình

hình khảo sát thực tế tại huyện mà nhóm tác giả thu thập được, đồng bào Nùng từ tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang đã di cư và định cư tại huyện sau khi hiệp định Giơnevơ giữa Việt Nam và Pháp được kí kết năm 1954, bao gồm những người dân thường và “thầy” – người không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào Nùng 7

Theo lịch sử nghiên cứu, dân tộc Nùng ở Việt Nam nói chung và Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nói riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái của hệ ngôn ngữ Thái – Kadai Tộc người này dùng chữ Hán và chữ Nôm Nùng Đây

là loại chữ được phát triển vào thế kỉ thứ XVII, dùng để ghi chép thơ ca và truyện cổ dân gian, đồng thời cũng để ghi chép những quyển sách kinh của “thầy” Chữ Nôm Nùng chịu nhiều ảnh hưởng của chữ Nôm Choang ở Trung Quốc Cùng văn tự Hán nhưng người Nùng đọc theo giọng Nùng và người ta hay lầm tưởng là tiếng Pạc Và 8

Âm đọc của họ cũng rất khác so với âm đọc của người Quảng Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh Đồng bào Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa chủ yếu đều là xuất thân từ những người nông dân, chính vì lẽ đó trước đây hầu hết họ đều mù chữ Riêng chỉ những người giàu có trong tộc người này mới được đi học tiếng Hán hoặc tiếng Pháp với mục đích làm “thầy”, thông ngôn Hiện nay, phần lớn người Nùng đều không biết viết và đọc chữ của dân tộc mình mà thay vào đó họ chỉ biết viết chữ Quốc ngữ của Việt Nam Theo khảo sát tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, chỉ có những “thầy” và “đệ tử” của họ mới có thể đọc được loại chữ Nôm Nùng

1.2.2 Đời sống văn hóa vật chất

1.2.2.1 Nhà cửa

Nói đến nơi ở của người Nùng, người ta thường nghĩ ngay đến những căn nhà sàn

và nhà nửa sàn nửa đất, trong đó nhà sàn là kiểu nhà truyền thống ưa thích của họ Nhưng hiện nay một số gia đình người Nùng sử dụng nhà đất khá phổ biến

7 Dân số - dân cư Lâm Đồng, NXB Thống kê, 1999

8 Theo Nguyễn Thị Yên (2009), Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội

Trang 18

Nhà sàn của người Nùng thường khá to và rộng, chúng đều có kiến trúc kiểu 4 mái, 2 mái dài và 2 mái đầu hơi ngắn Thông thường nhà sàn của người Nùng rộng từ

1 gian 2 chái, 3 gian 2 chái thậm chí là 5 gian 2 chái Nhà được chia làm hai phần bởi vách ngăn, chủ yếu chúng được làm bằng gỗ, trừ một lối đi ở gian giữa Phần trong đặt bếp, là nơi sinh hoạt của phụ nữ trong gia đình; phần ngoài, dành cho nam giới và đặt bàn thờ tổ tiên Phía sau nhà có cầu thang phụ, nơi đây thường chứa máng nước dùng

để tắm rửa Cách phân chia này cũng áp dụng đối với khách là nam hay nữ

Mái nhà của người Nùng thường lợp ngói âm dương, vách thưng bằng gỗ theo chiều dọc Toàn bộ hệ thống khung, kèo, cột, vách, sàn đều được làm bằng gỗ tốt: trai, đinh, nghiến,… hệ thống xà được bào trơn đóng bén, kết cấu chắc chắn, tạo cho ngôi nhà có độ bền vững, có thể sử dụng cho nhiều thế hệ nối tiếp sinh sống, do đó có những ngôi nhà sàn có độ tuổi từ 200 – 300 năm

Nói đến nhà cửa của người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, từ khi đến định cư nơi đây, những ngôi nhà của họ đã không còn mang đặc trưng của nhà người Nùng truyền thống nữa mà thay vào đó là những ngôi nhà tường hoặc gỗ lợp mái ngói tương tự như những ngôi nhà của đồng bào khác tại nơi đây

1.2.2.2 Trang phục

Trên phương diện trang phục của người Nùng có thể nói là khá chân phương Thế nhưng, màu sắc trên trang phục dân tộc Nùng lại khá đa đạng, từ màu xanh nhạt, đến xanh thẫm, tím than, xanh đen trong đó phổ biến nhất là màu chàm Phần lớn trang phục của tộc người Nùng không có nhiều hoa văn và đường nét Cả nam và nữ đều mặc một loại quần cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân và các đường viền chỉ màu tập trung rõ nhất ở tà và gấu áo

Đối với trang phục nam, kiểu dáng giống với nhiều dân tộc khác, nam giới người Nùng thường mặc áo dài tứ thân, ngang hông, may áo gần sát người, tay áo dài và rộng,

cổ áo khoét tròn, áo có 7 cúc và thường có 4 túi hoặc 2 túi Trong khi đó, trang phục của phụ nữ Nùng phong phú và đa đạng hơn Trang phục của họ thường là loại năm thân màu chàm, cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải Áo ngắn đủ che mông và được may rất rộng cả phần thân và tay giúp cho cử động được thoải mái, đồng thời ở đoạn cổ tay và phía trước ngực bao giờ cũng đắp một miếng vải đen, 4 túi

áo không có nắp Quần của phụ nữ người Nùng là loại quần ít trang trí Phụ nữ Nùng thường mang một dạng phụ kiện nhỏ tựa như tạp dề trước bụng, khi gồng gánh còn

Trang 19

15

mang thêm miếng nệm vai Ngày nay, họ mặc cả loại áo 5 thân và 4 thân Áo ngắn 4 thân có cổ áo tròn, xẻ ngực, nẹp và gấu áo rộng, hai túi nhỏ ở vạt trước, cài 9 hàng cúc vải ở nẹp áo Loại áo này phần lớn dùng mặc trong nhà, đi lao động hay mặc bên trong

áo dài năm thân

Hình 1.2 Trang phục đồng bào Nùng Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng

(Nguồn: tác giả)

Bên cạnh áo, váy cũng là một bộ phận quan trọng, tạo nên nét đặc sắc của trang phục truyền thống Nùng Váy của người Nùng phân rõ thành cạp váy, dây buộc váy, thân váy và gấu váy Nhiều khi họ gọi cạp váy là đầu váy, còn gấu váy là chân váy Thân váy được ghép lại từ 4 mảnh, gấu váy được đáp thêm vải khác màu, vừa cho gấu váy cứng vừa làm đẹp Khi mặc, người ta gấp phần váy thừa ra phía trước hoặc phía hông Khi đi chợ, đi thăm viếng, người ta để gấu váy phủ thấp đến mắt cá chân, còn khi đi làm thì kéo gập váy lên cao cho tiện và sạch sẽ hơn

Trang 20

Kết hợp với quần áo hoặc váy, dây lưng cũng là một bộ phận quan trọng để hoàn thiện bộ trang phục người Nùng Loại phụ kiện này có sự khác nhau giữa các nhóm người Nùng

Không chỉ có thế, để góp phần cho sự đặc sắc của bộ trang phục của phụ nữ Nùng, những cô gái còn mang khăn, tạp dề, xà cạp, đệm vai, giày vải và một số đồ trang sức làm bằng kim loại đeo trên người Trong đó, họ thường dùng hai loại khăn đội đầu thường gọi là bẩu quạ, còn trong hội hè thì gọi là bẩu chịp Loại phụ kiện tựa như tạp dề là miếng vải thường đồng màu với quần áo, chiều dài phủ từ thắt lưng tới qua gối, chiều rộng che kín thân váy hoặc ống quần mặc bên trọng Đối với xà cạp, đây là vật được làm từ vải bông để trắng hay nhuộm chàm, nó vừa có tác dụng chống lạnh, muỗi khi đi rừng hay làm rẫy vừa giữ cho người phụ nữ được trắng trẻo

Tại Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng trang phục truyền thống của đồng bào Nùng từ khi đến đây định cư đã không còn được mọi người sử dụng nữa Mà thay vào đó, trang phục của họ đã giống với trang phục của đồng bào người Kinh Chỉ có trang phục của các thầy cúng là vẫn còn giữ nguyên kiểu dáng, nhưng cũng đã lược bỏ bớt một số chi tiết

1.2.2.3.Ẩ m thực

Những món ăn của đồng bào Nùng tại Việt Nam nói chung và đồng bào Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nói riêng cũng không có khác biệt nhiều Trong những bữa ăn chính của người Nùng thường có cơm tẻ, đây chính là món

ăn chủ yếu của họ đồng thời, cũng có thể làm các món bánh như: bánh đúc, bánh gai, bánh tẻ,… Vào những ngày hè nóng bức, đồng bào Nùng thích ăn cháo loãng, bỏ thêm

ít muối uống thay nước để hạn chế mất nước trong cơ thể, cũng như giảm bớt mệt mỏi sau những buổi lao động vất vả Bên cạnh gạo tẻ, đồng bào cũng tương đối ăn nhiều ngô Ngô thường được xay thành bột nấu cháo và làm bánh đúc, bánh dày, rất ít khi ăn chung với cơm Mỗi một bữa ăn, ngoài rau, dưa, măng rừng, đậu phụ,… còn có thịt cá nhưng không nhiều Những món ăn của người Nùng thường xào, rán rất ít luộc Họ không ăn trầu như những dân tộc khác

Vào những dịp lễ tết, cúng bái, sinh đẻ, đầy tháng, cưới xin, tang ma,… đồng bào người Nùng thường dùng gạo nếp để làm ra các loại bánh: bánh chưng, bánh khảo, bánh chè lam nhân lạc, chè lam nhân ngũ vị, bánh bột, bánh rán đường vào dịp Tết Nguyên Đán, hay bánh sừng bò khi cúng đầy tháng cho trẻ sơ sinh, Tết Xo Lộc (tết thu

Trang 21

17

vía, trả công trâu bò, mục đồng vào ngày mồng 6 tháng 6 Âm lịch), bánh trôi nước trong ngày Tết Đông Chí, món bánh dày vào dịp sinh nhật, mừng thọ Đối với dịp Tết Thanh Minh mồng 3 tháng 3 Âm lịch, đồng bào Nùng thường chế biến nhiều xôi nhiều màu để cúng tổ tiên và cúng thần9

Hình 1.3 Xôi nếp của đồng bào người Nùng (Nguồn: Internet)

Cách phân phối trong bữa ăn gia đình người Nùng mang tính bình đẳng thân ái Mọi thành viên đều ngồi chung một mâm, cùng ăn và không phân biệt trai, gái, dâu, rể, nội, ngoại, chỉ phân biệt chủ khách Đối với khách, người già, trẻ em, người ốm, phụ

nữ mang thai, sinh nở được ưu tiên hơn trong khẩu phần ăn

Trang 22

Lễ hội là sinh hoạt thường thấy của các đồng bào dân tộc, hòa chung vào nền văn hóa đặc sắc đó, đồng bào Nùng ở Liên Nghĩa cũng có những lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc mình, nó đánh dấu những sinh hoạt đời sống con người từ khi sinh

đẻ, cưới hỏi, mừng sức khỏe, tới lúc chết, là sinh hoạt mang tính cộng đồng cao

Những ngày đầu năm, tết đến, xuân về là dịp mỗi dân tộc anh em trên đất nước thể hiện một cách sinh động nét văn hóa, phong tục tập quán riêng của đồng bào mình qua các lễ hội và các hoạt động Đối vối đồng bào dân tộc Nùng, Tết là một dịp rất quan trọng, rất thiêng liêng nên tất cả mọi người phải sum họp vui cùng với gia đình Nhà nào cũng sửa soạn trang hoàng đẹp đẽ Cái tết của đồng bào Nùng ở huyện Đức Trọng cũng thật tươm tất và ấm áp Họ sống trong một cộng đồng và mối quan hệ khăng khít hữu cơ, với sự giao lưu của cộng đồng với nhau

Lễ hội như một nghi lễ thường xuyên và đặc biệt trong nét văn hóa riêng biệt của

dân tộc Người Nùng có một số tục lệ khá độc đáo trong ngày Tết như: lễ Xưởng cồng, tục Gánh nước hoa hồng, ăn chay ngày đầu xuân, quét nhà xua nghèo đón giàu (tống bần nghinh phú), lễ Lồng tồng

Lễ Xưởng cồng có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, được tổ chức không cầu kì nhưng

rất trang nghiêm vào ngày 25 tháng Chạp hàng năm Đây là lễ thờ cúng tổ tiên của người Nùng nhằm tưởng nhớ công lao của các bậc tiền nhân khai sinh ra dòng họ, tôn sùng sự nghiệp của tổ tiên đã để lại tiếng thơm cho con cháu sau này, nhắc nhở mọi người trong gia đình phải sống sao cho xứng đáng với các bậc tiền nhân Lễ vật cúng đặt ở bàn thờ tổ tiên gồm 6 bánh chưng và 3 bát gạo nếp xào chung với đường thẻ Loại bánh được người Nùng dùng trong lễ cúng và những ngày tết là bánh chưng (gọi

là “chông ệt”)

Trong đêm trừ tịch, sau khi cúng giao thừa, các gia đình thức đến khoảng 5 giờ sáng thì mang thùng cùng với ba cây nhang, giấy tiền, vàng ra sông, suối gần đó lấy nước Sau khi đứng giữa trời khấn vái tứ phương, đốt nhang, giấy tiền, vàng, họ múc đầy nước và bẻ vài cành hoa, lộc cho vào thùng mang về Nước lấy về được để riêng dùng pha trà, làm bánh cúng tổ tiên trong những ngày tết Người Nùng gọi tục lệ này

là Gánh nước hoa hồng với quan niệm sẽ mang sự may mắn, thịnh vượng về cho gia

đình trong năm mới

Ngày mùng một tết, theo tục lệ người Nùng, mọi người trong gia đình đều phải

ăn chay (tuyệt đối chay tịnh) Sau khi ăn mặc chỉnh tề, mọi người vái lạy tổ tiên rồi

Trang 23

19

chúc tết bố mẹ, tiếp đến là những người lớn tuổi, anh chị em trong gia đình Những lời chúc có ý nghĩa tốt đẹp, làm ăn phát đạt, thịnh vượng trong năm mới

Mùng ba tết là ngày người Nùng kiêng cữ thận trọng nhất Khi quét nhà, họ vừa

quét vừa hò hét: “Quỷ nghèo xéo đi, quỷ giàu bước vào” với ý nghĩa xua đuổi sự

nghèo thiếu, túng quẫn, rước sự giàu sang, phú quý vào nhà Đây là một tục lệ độc đáo

mà tất cả các gia đình người Nùng đều thực hiện để cầu mong một cuộc sống đủ đầy,

sung túc hơn mỗi độ xuân về, còn được gọi với cái tên Tống bần nghinh phú Ngày

mùng hai, mùng bốn và mùng sáu tết, mọi người ăn mặc đẹp, chỉnh tề đi thăm bà con

họ hàng, bằng hữu Con gái về thăm bố mẹ đẻ và ông bà nội, ngoại phải mang theo gà, bánh chưng

Lễ cúng thần nông và một số vị thần được người Nùng cho là có tác động tới đời

sống và hoạt động sản xuất của họ như: thiên – địa, sơn thần, thủy thần Lễ Lồng tồng

thường được tổ chức vào mùng năm tháng Giêng hàng năm, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, người người no ấm Vào ngày lễ, cả làng kéo nhau ra ruộng từ sáng sớm Nhà nào cũng chuẩn bị mâm cúng có gà luộc, thịt heo, bánh chưng, hai đĩa xôi nhuộm phẩm màu đỏ và vàng tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng với mong muốn

âm dương giao hòa để vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu Sau khi tiến hành nghi lễ cúng, mọi người cùng xuống ruộng cày theo nghi thức rồi cùng nhau ăn uống, múa hát, vui chơi đến chiều tối

Những ngày đầu xuân và trong tháng Giêng, đồng bào Nùng thường tổ chức Hội chè Thanh niên nam nữ chia làm Hội chè Lang và Hội chè Nương hát ví von theo nhịp

trống, mõ, kèn những câu hát giao duyên tình tứ nói lên mộng ước được xe duyên chỉ thắm với người mình yêu Thường sau những ngày hội xuân, nhiều cặp trai, gái đã nên

vợ nên chồng, chung sống hạnh phúc Hết trung tuần tháng Giêng, đồng bào Nùng lại trở về cuộc sống bình thường 10

Các lễ hội trên hiện nay đã ít xuất hiện trong sinh hoạt cộng đồng của đồng bào người Nùng, thay vào đó là các dịp lễ tết đơn giản và gần gũi hơn: lễ Thanh Minh (3 tháng 3 Âm lịch), tết Đoan Ngọ hay còn gọi là lễ giết sâu bọ (6 tháng 6 Âm lịch), vào tháng 10 Âm lịch người Nùng sẽ làm lễ mừng lúa, còn vào tháng 11, 12 Âm lịch sẽ là tháng cưới hỏi,

10

Theo Trang Thông tin điện tử Đà Lạt – Lâm Đồng: www.dalat.gov.vn

Trang 24

1.2.3.2 Các nghi thức và tục lệ

Nghi thức và tục lệ ra đời trong một môi trường văn hóa, hay nói cách khác bản thân những tục lệ nghi thức này chính là văn hóa, đó là bộ phận văn hóa đã trở thành quy chuẩn, tục lệ hay luật lệ

“Các nghi thức và tục lệ chính là các mối quan hệ: quan hệ giữa con người với môi trường, con người với con người, con người với cộng đồng, con người với chính bản thân mình và giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, hơn thế nữa các mối quan

hệ này đã được quy chuẩn thành những nghi thức và tục lệ” 11 Ở đây, chúng ta tìm hiểu nghi thức và tục lệ trong các mối quan hệ nội tại của đồng bào Nùng Nó cũng là phần quan trọng giúp ta tìm hiểu nội dung chính của bài nghiên cứu

Đồng bào Nùng có tổ chức mừng sinh nhật, không có tục giỗ, thông thường những người từ 60 tuổi trở lên được tổ chức lễ sinh nhật Lễ sinh nhật đầu tiên được tổ chức rất trang trọng, mời họ hàng nội ngoại, con cháu, các gia đình trong bản và bạn

bè thân thiết Tổ chức những lần sau không mời lại nữa, những ai đã được mời rồi cứ đúng ngày, tháng năm sau đến dự Lễ sinh nhật vì được tổ chức một cách trang trọng

và nghiêm túc nên sinh nhật của người Nùng phải mời “thầy” về làm lễ, vai trò của

“thầy” trong nghi lễ là cần thiết

Một trong những nghi lễ quan trọng trong cuộc đời con người mà ta phải nhắc đến đó là tục cưới hỏi Cưới hỏi là việc trăm năm của con người, do vậy đồng bào Nùng rất coi trọng việc thực hiện các nghi lễ, trai gái Nùng đến tuổi se duyên phải

được làm các lễ chính là: lễ dạm hỏi Khắm lùa là lễ thăm dò thái độ của nhà gái do nhà trai chủ động tiến hành; lễ Au mình là lúc nhà gái trả lời chính thức, nhà trai xin tuổi cô gái về để so tuổi với chàng trai; lễ Mình hom là khi hai nhà thỏa thuận về thời gian – lễ vật để làm lễ đính hôn; lễ khả cáy là lễ đính hôn chính thức Trong tục lệ cưới xin, vai

trò của ông mối, bà mối hết sức quan trọng Tổ chức xong đám cưới, theo tục lệ họ trở thành bố mẹ nuôi của cô dâu, chú rể Đôi vợ chồng này phải có trách nhiệm như đối với cha mẹ đẻ mình

Tang ma là một nghi lễ quan trọng bậc nhất trong nghi lễ vòng đời của đồng bào Nùng Nghi thức trong tang lễ cũng là những nghi thức, tục lệ mà hiện nay đồng bào

11 Theo “Vài nét văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Lâm Đồng” – Sở Văn hóa Thông tin Lâm Đồng,

năm 2005

Trang 25

sách kinh, viết và đọc các sớ, niệm chú Ngoài ra, ở mỗi khâu sẽ có trang phục khác

nhau “Thầy” sẽ hướng dẫn gia chủ các nghi thức

1.2.4 Tín ngưỡng tôn giáo

“Đồng bào Nùng quan niệm về thế giới là thế giới đa tầng và vạn vật hữu linh nên nhìn chung tín ngưỡng dân gian của người Nùng là tín ngưỡng đa thần Thờ tổ là tín ngưỡng cơ bản của dân tộc Nùng” 12

Người Nùng thờ cúng tổ tiên trong nhà Bàn thờ tổ tiên có bài vị, lư hương và được đặt vào nơi trang trọng nhất Việc thờ cúng tổ tiên xuất phát từ sự ghi nhớ công

ơn cội nguồn có gắn với quan niệm về sự bất diệt của linh hồn con người sau khi chết

12 Theo Nguyễn Thị Yên (2009), Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

Hình 1.4 “Thầy” hướng dẫn các nghi thức trong đám tang (Nguồn: do

“Thầy” Vi Quốc Phong cung cấp)

Trang 26

Xuất phát từ quan niệm đó nên tục ma chay của người Nùng rất phức tạp, trang trọng

và nghiêm ngặt Người chết dưới 3 năm phải lập bàn thờ riêng ở góc nhà, trên 3 năm mới được đưa lên thờ chung với các vị tổ tiên nhiều đời của gia đình

Hình 1.5 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của đồng bào người Nùng (Nguồn: tác giả)

Việc thờ cúng tổ tiên cũng có hai loại: nghi lễ thường kì và nghi lễ bất thường Nghi lễ thường kì là những ngày lễ tết, lễ tảo mộ mùng 3 tháng 3 Âm lịch, tết 14 tháng

7 Âm lịch Còn các dịp nghi lễ bất thường là nghi lễ tạ tổ Khi gia đình có hoạn nạn hoặc có người đau ốm, gia súc chết,… gia chủ xem bói phán rằng tổ tiên quở trách thì phải sắm lễ vật và mời “thầy” về làm lễ

Thờ tổ tiên của người Nùng theo tộc hệ 9 đời nhưng chỉ thờ đến đời thứ 3: bắt đầu từ đời cha, ông, cụ Đời thứ 4 tức kị, tổ tiên biến thành thần giữ gia súc, đồng bào thường cúng ngoài trời trong dịp Tết Nguyên Đán Thường khi cha mẹ mới mất, gia đình lập bài vị riêng, hàng ngày cúng cơm nước để tỏ lòng nhớ đến người đã mất, sau

Trang 27

23

mãn tang, người ta lập một bát hương riêng để ở bàn thờ để chỗ thấp hơn, khi cha mẹ

đã quy tiên hết thì bỏ đi, coi như đã nhập vào tổ tiên chung

Ngoài ra, mỗi nhà còn thờ bà mụ “Mẹ Hoa”, mẹ cửa Vào những ngày đầu tháng, ngày rằm, đồng bào thường đốt hương Ngày lễ, tết có cúng chè, rượu và các món ăn Người Nùng cúng ma sàn Theo lời cụ Vy Văn Dèn (Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), ma sàn chính là một vị thần, cách gọi “ma” là cách gọi từ

xa xưa truyền lại chứ không phải là “ma quỷ” như cách hiểu thông thường Đồng thời, đồng bào người Nùng còn thờ các cô hồn đầu ngõ vào dịp Tết Nguyên Đán Những gia đình cùng một dòng họ thì cùng chung một miếu thờ Thổ công, Thổ địa

Bất cứ gia đình người Nùng nào cũng thờ Quan Phật trong nhà, thờ Thế Âm Bồ Tát Đồng bào Nùng cho rằng những vị thần này rất thiêng, có thể giúp gia đình diệt trừ yêu ma

Táo quân là một vị thần được người Nùng thờ trong nhà, bàn thờ ở cạnh bếp Người Nùng còn thờ thần Thổ địa của từng gia đình mang theo từ nơi cũ khi họ di cư đến nơi đất khác Những thần này thờ ngoài sân phơi hoặc là một bát hương đặt trên bục xây ngoài trời Táo quân có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người Nùng Theo lời cụ Vy Văn Dèn, một người “thầy” có tuổi của đồng bào Nùng, bất cứ khi làm việc gì thì sau đó phải cúng bái Táo quân, nếu không sẽ bị phạt nặng, kị nhất là làm việc không xin phép Nhà có tang hay có hỉ thì sau đó đều phải cúng

Ở bản của người Nùng còn thờ Thổ công của bản, xã, thờ Thành Hoàng – vị thần

có nhiệm vụ bảo vệ mùa màng và gia súc Đồng bào thờ những người có công giúp dân khai phá ruộng nương, xây dựng mường bản

Những tục thờ cúng trên minh họa tín ngưỡng của đồng bào Nùng mang đậm màu sắc tín ngưỡng đa thần nguyên thủy Hiện nay ở vùng đồng bào Nùng sinh sống hầu như đều thờ Thổ địa, thờ các vị thần trong nhà vẫn không có gì thay đổi đã gắn liền với tập quán sinh hoạt của đồng bào từ lâu đời

Tiểu kết:

Tóm lại, cộng đồng người Nùng ở Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, cùng mang chung bản sắc văn hóa truyền thống với toàn thể đồng bào dân tộc Nùng trên cả nước, trải qua quá trình lịch sử chi phối và ảnh hưởng bởi điều kiện địa lí tự nhiên của vùng miền sinh sống nên đã tự tích lũy cho mình những nét khu biệt rất riêng Lịch sử hình thành cộng đồng người Nùng ở đây có sự liên quan sâu xa với

Trang 28

cộng đồng người Nùng ở khu vực phía bắc nước ta, đồng thời cũng có chung nguồn gốc với dân tộc Choang của Trung Quốc Vì lẽ đó mà ít nhiều bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Nùng tiếp thu văn hóa Hán từ chính người Trung Quốc Điều này khác nhiều so với dân tộc Tày, một dân tộc có cùng nguồn gốc nhân chủng với dân tộc Nùng và cùng nằm trong nhóm Tày – Thái, tiếp thu nền văn hóa Hán đã được Kinh hóa từ người miền xuôi Nền văn hóa truyền thống của người Nùng ở Liên Nghĩa ngày nay đã giản lược bớt một số nghi thức tục lệ, các nét đặc trưng về nhà cửa, trang phục cũng không còn được duy trì Hòa với xu hướng hiện đại hóa – công nghiệp hóa, các phong tục tập quán truyền thống của người Nùng đang dần bị Kinh hóa Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, các sinh hoạt tín ngưỡng của họ vẫn còn được duy trì và gần như còn nguyên vẹn Điều này chứng tỏ các quan niệm thâm căn cố đế trong đời sống tâm linh của họ vẫn còn rất đậm nét, ăn sâu và bén rễ cùng năm tháng Nói đến sinh hoạt tín ngưỡng trong văn hóa người Nùng, “thầy” cùng với hệ thống chú ngữ là điều làm nên nét đặc sắc, hình thành nên diện mạo đặc trưng trong văn hóa tín ngưỡng của họ Chú ngữ thể hiện một nền văn hóa tâm linh vừa huyền bí, vừa có ý nghĩa về ngôn ngữ học lại mang giá trị nhân văn sâu sắc Và chỉ có các “thầy” mới là người hiểu được chú ngữ, sử dụng được chú ngữ Do đó, người có đủ khả năng gìn giữ và phát huy tối đa giá trị của chú ngữ chính là các “thầy”

Trang 29

25

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA “THẦY” TRONG ĐỒNG BÀO NGƯỜI NÙNG Ở THỊ TRẤN LIÊN NGHĨA, HUYỆN ĐỨC TRỌNG,

TỈNH LÂM ĐỒNG

Song song với các đặc trưng trong đời sống vật chất và các lễ hội truyền thống, sinh hoạt tín ngưỡng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo nên bản sắc văn hóa của đồng bào người Nùng nói chung và cộng đồng người Nùng ở Liên Nghĩa nói riêng Có thể nói, sinh hoạt tín ngưỡng là một phần không thể thiếu đối với đời sống đồng bào người Nùng Tương tự như thế, đội ngũ những người làm “thầy” cùng với hệ thống các loại chú ngữ mà họ sử dụng đóng một vai trò quan trọng trong đời

sống tâm linh của dân tộc Nùng

“thầy”, là những người đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức các nghi thức cúng bái, các nghi lễ truyền thống trong các dịp lễ của đồng bào Nhìn chung, nghiên cứu về

hệ thống chú ngữ trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Nùng không thể không đi sâu tìm hiểu về đội ngũ những người làm nghề “thầy” Họ là những người tiếp xúc trực tiếp, thông thạo và có kiến thức nhất định đối với chú ngữ Tuy “thầy” không phải là khái niệm đại diện cho chú ngữ, nhưng không thể phủ định mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù này với nhau Vì vậy, trong phần này, nhóm tác giả xin được đi sâu nghiên cứu làm rõ về đội ngũ “thầy” cũng như có một sự khái quá hóa về chú ngữ của đồng bào người Nùng một cách hệ thống và chi tiết nhất

2.1.1 Nghề “thầy”

Theo thực tế khảo sát tại Liên Nghĩa cho thấy, “thầy” là một nghề được công nhận trong cộng đồng người Nùng hiện nay Trong quan niệm tín ngưỡng của đồng bào người Nùng trước đây, “thầy” là những người đại diện cho thần linh, là cầu nối

Trang 30

tâm linh thông truyền giữa thần linh và người trần “Thầy” là một đội ngũ những người gắn bó mật thiết với sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào người Nùng, và trên một khía cạnh nào đó, họ là những người trực tiếp tiếp xúc và hiểu rõ chú ngữ Vậy nên, việc tìm hiểu rõ đặc điểm khu biệt của đội ngũ chức sắc này để thông qua đó có sơ sở nền tảng đào sâu nghiên cứu về chú ngữ là điều vô cùng cần thiết

Trước hết, “thầy” phải là những người có bản mệnh phù hợp, có căn duyên và trong gia đình có truyền thống làm “thầy”, hoặc ít ra trong dòng họ từng có người làm

“thầy” Về một phương diện nào đó, “thầy” là những người chuyên nghiệp, có mệnh

số làm nghề Theo cụ Vy Văn Dèn, một người hành nghề “thầy” trên 30 năm cho biết, không phải ai cũng có số làm “thầy”, tất cả còn tùy thuộc vào bản mệnh và cơ duyên của từng người Thông thường trong một gia đình có cha hay ông hành nghề làm

“thầy” thì con cháu trong gia đình đó sẽ có căn số trở thành “thầy” Tuy nhiên, không phải cứ là con cháu trong dòng tộc có truyền thống hành nghề “thầy” thì nghiễm nhiên

sẽ trở thành “thầy” Vẫn có những trường hợp cha ông làm “thầy” truyền nghề lại cho con cháu nhưng người đó không có căn số làm “thầy”, mà theo như cách nói của đồng bào ở đây chính là “làm thầy không giỏi” Ngược lại, vẫn có những người tự có năng lực hành nghề tín ngưỡng, trở thành “thầy” như một điều hiển nhiên vì đã trở thành người được chọn Trong một số trường hợp, người được chọn nếu không tự nguyện hành nghề thì sẽ bị “cơ đày” “Cơ đày” là một cụm từ dân gian, được đồng bào người Nùng ở đây sử dụng như một cách nói để chỉ những hiện tượng đau ốm, bệnh tật của những người “làm trái ý bề trên” Như vậy, trong quan niệm tín ngưỡng của đồng bào

ở đây, đội ngũ chức sắc hành nghề “thầy” bao hàm một sự cưỡng chế: không phải ai muốn cũng có thể làm “thầy” và đã có căn số làm “thầy” thì bắt buộc phải hành nghề Nhìn chung, không thể phủ nhận một thực tế rằng, những người có căn số hành nghề đều rơi vào những gia đình có truyền thống làm “thầy” Có lẽ, theo một phương diện tâm linh nào đó, huyết thống là yếu tố quan trọng trong việc duy trì năng lực hành nghề tín ngưỡng qua các thế hệ Tuy nhiên, theo ý kiến của nhóm tác giả, hiện tượng này là kết quả truyền dạy năng lực hành nghề làm “thầy” qua các thế hệ trong gia đình, theo cách mà chúng ta vẫn hay gọi là kiểu “cha truyền con nối” Nghề làm “thầy” cũng chỉ được truyền dạy cho những người trong gia đình Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp truyền nghề cho người bên ngoài, đa phần những trường hợp như thế đều là những

“đệ tử” mà trong gia đình họ cũng có truyền thống làm “thầy” Theo ông Trương Kim

Trang 31

27

Sơn (Trưởng ban văn hóa Thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng), theo quan niệm của người Nùng, trong tổ tiên nếu có người làm “thầy” thì bắt buộc những đời sau phải có người làm “thầy”, nên họ tự giác tìm “thầy” để học nghề Thông thường, những người “thầy” sẽ truyền cho “đệ tử” mình một số kĩ năng và những hiểu biết căn bản để hành nghề Đó là những kinh nghiệm hành nghề và tri thức tín ngưỡng được ghi chép trong các sách vở cổ xưa của tổ tiên, được truyền lại cho các thế hệ qua hình thức chép tay hay truyền miệng, lưu truyền cho đến tận hôm nay Thế nên, những

kĩ năng và hiểu biết này tương đối giống nhau, đó là những điều mà ai làm “thầy” cũng phải thạo Tuy nhiên, mỗi người hành nghề “thầy” đều tự lưu giữ cho mình một quyển sách riêng, ghi chép lại những “bí quyết” tích lũy riêng của bản thân Đây là “bí quyết” chỉ riêng cá nhân mỗi người hành nghề mới có, và hiển nhiên, không truyền lại cho bất cứ ai, kể cả “đệ tử” của mình

Quá trình người “thầy” truyền dạy lại cho “đệ tử” là một quá trình biện chứng hai chiều, đòi hỏi người làm “thầy” phải tận tâm truyền thụ những hiểu biết của mình, đồng thời cũng yêu cầu người “đệ tử” phải tự có năng lực để học nghề Không phải cứ theo học nghề “thầy” thì tất yếu sẽ được làm “thầy” Vẫn có những trường hợp học nghề không thông, người “đệ tử” cứ học hoài mà vẫn chưa hành nghề được, chưa đủ năng lực để làm “thầy”

Sau khi học nghề thông thạo, người “đệ tử” phải tiến hành lễ cấp sắc Đây có thể được xem như một nghi thức quan trọng đánh dấu bước chuyển từ “đệ tử” lên người

“thầy” thực thụ, đủ năng lực hành nghề Theo lời bác Vy Nhật Phong, một người

“thầy” hành nghề đã gần 30 năm, trước khi diễn ra lễ cấp sắc, “đệ tử” phải thụ giới đọc kinh trong 4 tháng Bác còn cho biết thêm, lễ cấp sắc diễn ra trong 2 ngày, trong lễ này,

người “thầy” sẽ phải đọc 36 bộ sớ Trong Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng, tác giả

Nguyễn Thị Yên cũng có đề cập đến nghi lễ này: “Sau khi xong thủ tục cấp sắc, thụ giới, đệ tử sẽ ra lạy tạ và tặng lại miếng vải hồng (quá hồng) làm khước cho các thầy”.13

Nếu như “then” thường là do phụ nữ đảm nhận, thì “thầy” chính là do đàn ông hành nghề Muốn trở thành “thầy”, ngoài việc phải có cơ số, còn yêu cầu người đó phải là người đã lấy vợ Điều này rất khác với “then” Những người phụ nữ hành nghề

13 Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009

Trang 32

“then”, do những đòi hỏi khách quan của việc hành nghề tín ngưỡng và cả những điều kiện chủ quan trong cái nhìn của đồng bào người Nùng, các “then” thường không lấy chồng Trong khi đó, các “thầy” phải bắt buộc lập gia đình thì mới có thể hành nghề Nếu chưa có vợ mà muốn làm “thầy” thì phải làm lễ rước trái bí đao về làm vợ, từ đó lấy họ là “Tống Quát” mà hành nghề và cả đời không được ăn đến bí đao nữa

Những người làm “thầy” còn phải tuân theo những quy định bắt buộc của nghề này Theo quan niệm của đồng bào người Nùng, các “thầy” chính là những thầy thuốc chữa bệnh tâm linh Thế nên họ rất xem trọng những giới luật trong quá trình hành nghề, tuân thủ nghiêm ngặt những phẩm chất đạo đức bắt buộc phải có của người làm

“thầy” Trong Tín ngưỡng dân gian Tày Nùng có nhắc đến những quy định đó như sau:

“Phục vụ vô tư không điều kiện, không phân biệt giàu nghèo; không đòi hỏi sách nhiễu lễ vật; không tham lam; không tham ô háo sắc,…” Trong quy định của đội ngũ những người làm “thầy”, chỉ cần là người có việc cần nhờ thì phải đến giúp, bất kể xa gần, giàu nghèo

Trong đội ngũ những người hành nghề tín ngưỡng cũng có cho họ những điều

cấm kị không thể vi phạm Một trong những điều đó là không được dùng bùa chú để

hại người Theo lời kể của cụ Vy Văn Dèn: “Từ những năm 1957 – 1958, sách bùa hại người đã bị vứt hết Nếu làm phép hại người sẽ bị trời phạt” Đồng bào người Nùng

cho rằng, việc “thầy” dùng bùa chú làm phép hại người là vi phạm nghiêm trọng điều

cấm kị, sẽ bị “thánh vật” Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại những câu chuyện về những người “thầy” bị “thánh vật” do hại người Cũng giống như “cơ đày”, “thánh vật” cũng là một từ ngữ được truyền miệng, được dùng như một từ loại trong lĩnh vực tâm linh tín ngưỡng dân gian Khác với “cơ đày”, “thánh vật” tuy cũng chỉ những hiện tượng bệnh tật đau ốm của con người nhưng ở một mức độ nặng hơn, thể hiện mức độ nghiêm trọng hơn trong việc làm trái ý thần linh Có lẽ, quan niệm hại người bị “trời phạt” hay “thánh vật” của đồng bào người Nùng cũng giống như quan niệm “Ở hiền gặp hiền, ở ác gặp ác” của người Kinh Nó chính là biến thể của một cách nói khác, một lời răn dạy về lẽ thiện ác, về phẩm chất đạo đức cần phải giữ gìn của tổ tiên truyền lại

Mặc khác, vì trong suy nghĩ của đồng bào người Nùng, “thầy” là đại diện cho thần linh hoặc tổ tiên, nên họ phải giữ mình theo những điều cấm kị, chẳng hạn như không được ăn cơm thừa, không được chui vào nơi tối tăm bẩn thỉu, không chui qua

Trang 33

29

dây treo quần áo,… Xuất phát từ quan niệm xem “thầy” là hiện thân cho thần linh và

tổ tiên, là người được thần linh và tổ tiên phù hộ, thế nên nếu “thầy” làm trái với những điều cấm kị chính là xúc phạm thần linh và tổ tiên Khi đó, thần linh hay tổ tiên

sẽ trừng phạt họ bằng cách khiến họ bị đau ốm hoặc có những hành động tự trừng phạt mình trong một khoảng thời gian Vì vậy, những điều cấm kị này được chính các

“thầy” và cả những đồng bào khác thực hiện triệt để Điều này thể hiện sự kính trọng của đồng bào người Nùng đối với thần linh và tổ tiên

Hình 2.1 Các “thầy” trong tục lệ ma chay của người Nùng (Nguồn: do “Thầy” Vi

Quốc Phong cung cấp)

Hiện nay, trong hầu hết các sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào người Nùng ở đây, chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy sự xuất hiện của các “thầy” Họ luôn đứng vào những

vị trí trung tâm, đích thân chủ trì các nghi thức cúng bái Có thể thấy, trong các tập tục còn duy trì đến nay của đồng bào người Nùng, đội ngũ những người hành nghề tín ngưỡng vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng Vị trí của họ trong đời sống tâm linh của đồng bào người Nùng là một điều không thể nghi ngờ Theo khảo sát cho thấy, đa

số đồng bào người Nùng hiện nay vẫn còn duy trì các tục lệ cúng bái và tin vào điều

Trang 34

đó như một niềm tin tín ngưỡng với tổ tiên Riêng đối với các “thầy”, những người trực tiếp hành nghề cúng bái, họ có một sự tự ý thức về năng lực của bản thân mình, và tin vào những nghi lễ cúng bái mà mình thực hiện Niềm tin đó bén rễ từ sâu trong tiềm thức, và quan niệm tín ngưỡng được truyền từ nghìn đời của đồng bào ở đây Nó không dính dáng gì đến cái mà người ta hay gọi là mê tín dị đoan Đội ngũ những người làm “thầy” không phải là những kẻ trá hình thực hiện những điều mê hoặc con người Hiểu theo một cách đơn giản nhất, họ là những người thực hiện các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Nói theo như lời ông Trương Kim Sơn, hiện nay trong các tập tục của người Nùng đã lược bỏ những điều lạc hậu cổ xưa, những người hành nghề “thầy” được mời đến để làm tang sự, mừng thọ, cầu an,… và được Nhà nước cho phép Điều này cho thấy, việc hành nghề của các “thầy” hiện nay chính là tiến hành các nghi thức tục lệ, bởi đơn giản một điều, họ chính là những người thông hiểu các nghi thức tục lệ này nhất

Nhìn từ góc độ văn hóa mà nói, đội ngũ các chức sắc hành nghề tín ngưỡng chính

là một khía cạnh không thể thiếu trong một thể thống nhất của văn hóa tâm linh Như

đã nói ở trên, nghề làm “thầy” được truyền lại trong gia đình, từ các bộ sách được ghi chép từ thời xa xưa cho đến những bản chép tay được lưu truyền qua các thế hệ Nói cách khác, đó là những giá trị văn hóa từ nghìn xưa do tổ tiên cha ông truyền lại, và

“thầy” chính là những người nắm giữ và hiểu rõ những giá trị ấy Đó là những tri thức

về phong tục tập quán, về văn hóa tín ngưỡng, về tục lệ nghi thức của cả một tộc người Những điều mà đến nay, nếu không có đội ngũ các vị chức sắc hành nghề tín ngưỡng này, có lẽ chúng ta sẽ không hề biết đến chúng Đứng dưới góc độ khách quan mà nói, đội ngũ những người làm “thầy” chính là những người đã góp phần giữ gìn và lưu truyền những giá trị ấy cho đến ngày hôm nay

2.1.2 Hệ thống chú ngữ

Tương tự như đội ngũ các chức sắc làm “thầy”, chú ngữ cũng là một trong những yếu tố tạo nên diện mạo văn hóa một nền tín ngưỡng dân gian đa màu sắc của cộng đồng các dân tộc anh em Việt Nam nói chung và đồng bào người Nùng nói riêng Như

đã nói ở trên, đội ngũ hành nghề tín ngưỡng không phải là những người lấy việc mê tín

dị đoan lừa gạt xã hội Họ là những người thực hiện, gìn giữ và duy trì các giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc Họ làm việc trực tiếp với chú ngữ và hiểu rõ chú ngữ Thông

Trang 35

Chú ngữ, hay theo cách gọi trong tín ngưỡng dân gian, còn có tên là bùa chú Tuy nhiên, nói đến chú ngữ không phải chỉ là nói đến bùa và chú, càng không phải nói đến cách tạo thành hoặc sử dụng bùa chú Đó là những điều thần bí của lĩnh vực thần học,

mà với phạm vi kiến thức cũng như thời gian nghiên cứu hạn hẹp của đề tài này không

cho phép chúng tôi có khả năng lí giải được những điều đó Hơn nữa, việc làm ra bùa chú hay làm phép trong các nghi thức tục lệ là những điều chỉ có người trong nghề

mới biết, tức là chỉ có những người hành nghề làm “thầy” mới được truyền thụ và biết đến những tri thức đó Họ giữ bí mật về điều này như một điều cấm kị và không cho phép truyền ra bên ngoài

Vậy, chú ngữ thực sự là gì? Thực chất đó là cách mà đội ngũ những người hành nghề tín ngưỡng giao tiếp, thông truyền với tổ tiên và các đáng thần linh Trong các nghi thức tục lệ của người Nùng, sinh hoạt tín ngưỡng dưới hình thức cúng bái vô cùng phổ biến Các buổi nghi lễ cúng bái đó không nằm ngoài mục đích muốn thông báo hay thỉnh cầu tổ tiên hoặc các đáng thần linh, thể hiện mong muốn hoặc xin tội với đấng bề trên Chính trong những lúc cúng bái như thế, người ta cho rằng cần phải có một cách thức thông truyền những điều đó, và thế là chú ngữ hình thành như một điều tất yếu

Chú ngữ, về mặt ngôn ngữ, đó là những câu nói hoặc câu chữ, được đọc thầm trong suy nghĩ khi các “thầy” thực hiện việc hành nghề tín ngưỡng của mình Chú ngữ của dân tộc Nùng được viết bằng thể chữ Nôm Nùng, một thể loại chữ có nguồn gốc liên quan đến chữ Nôm Choang của Trung Quốc và chịu ảnh hưởng khá đậm nét từ

Trang 36

Hán tự Như đã giới thiệu qua ở chương trước, từ rất lâu trước đây người Nùng đã dùng loại chữ này để ghi chép lại các bài thơ ca, truyện cổ dân gian, và tất nhiên là cả những quyển sách kinh của đội ngũ các vị hành nghề tín ngưỡng Các chú ngữ này được đọc theo âm Hán phương Nam của Trung Quốc, nhưng nó rất khác so với âm tiếng Hán của người Hoa gốc Quảng Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hệ thống chú ngữ bao gồm các loại chú và bùa Tùy theo từng trường hợp mà

chúng có những diện mạo khác nhau, được hình thành dưới các hình thức không giống nhau và mang ý nghĩa chuyên biệt riêng

Chú là hình thức thể hiện chú ngữ bằng câu chữ mà chỉ riêng người “thầy” mới biết Chú thường được các “thầy” mô phạm âm thanh trong tưởng tượng mà không

phát ra tiếng Có lẽ bởi vì không muốn cho người khác nghe thấy và học theo Tùy

theo từng nghi thức cúng bái trong những dịp khác nhau mà có những lời niệm chú

khác nhau Thông thường trong tất cả những buổi lễ, các “thầy” trước khi vào nhà dân

làm lễ phải niệm chú để gọi 25 vạn quân binh đến giải trừ yêu ma Họ quan niệm 25

vạn quân binh này chính là thế lực phò trợ họ trong việc giải trừ yêu ma trước khi làm

lễ 25 vạn quân binh trong quan niệm của đồng bào người Nùng ở đây bao gồm: Đông phương có 9 vạn binh, Nam phương có 3 vạn binh, Tây phương có 7 vạn binh, Bắc

phương có 5 vạn binh và Trung ương có 1 vạn binh Nếu không niệm chú để giải yêu

thì người dân trong nhà sẽ gặp nạn, bệnh hoạn ngay tức khắc, hoặc có thể sẽ chết

Ngoài ra, sau khi vào nhà, các “thầy” sẽ an vị và lập một bàn cúng, niệm chú để mời

thần về, nếu thần không về thì không thể tiến hành được bất cứ buổi lễ nào Ngoài ra,

việc niệm chú của các “thầy” còn được thực hiện trong các nghi lễ vòng đời của con

người, mà điển hình nhất là trong các tục cưới hỏi và ma chay Trong một số nghi thức

và tục lệ, đội ngũ những người hành nghề tín ngưỡng này thường được mời đến để

niệm chú xua đuổi tà ma, gọi hồn hoặc phù phép các đồ vật trong lễ cưới,…

Những thứ đã được niệm chú và làm phép theo một phương thức nhất định gọi là bùa, chúng luôn được người ta giữ bên mình vì một mục đích nào đó tùy thuộc vào nguyện vọng của họ Suy cho cùng, hiểu theo một cách đơn giản nhất, bùa chính là

một vật thể tùy thân được phù phép Trong quan niệm của đồng bào dân tộc Nùng, họ cho rằng khi mang các vật thể đó thường xuyên chính là cách để duy trì tác dụng của

bùa phép Một khi bùa được tháo gỡ khỏi cơ thể con người chính là lúc thần chú mất

linh Bác Vy Nhật Phong có kể rằng, theo thông tục ngày xưa của người Nùng, muốn

Trang 37

33

trẻ con được bình an và khỏe mạnh, họ thường tự làm những chiếc vòng bạc và nhờ

“thầy” niệm chú vào chiếc vòng ấy rồi vào tay đứa trẻ đó, nhằm bảo vệ trẻ con tránh

khỏi sự quấy phá của tà ma Chúng tôi cho rằng, thông tục này thực ra là một biến thể khác của một niền tin về tâm linh Nó thể hiện ước muốn của đồng bào người Nùng, mong muốn con cháu trong gia đình được bình an khỏe mạnh Chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những phong tục tương tự như thế ở các đồng bào dân tộc khác Có lẽ từ nghìn đời xưa, cha ông ta đã cho rằng trẻ con, nhất là những đứa trẻ mới sinh, là những linh

hồn yếu ớt, dễ bị tà ma quấy phá, thường hay bệnh tật đau ốm Thế nên làm bùa cho

trẻ con mang theo bên người đã trở thành một thông tục thường thấy ở hầu khắp các dân tộc Việt Nam Hiện nay, phong tục này không còn phổ biến nữa, gần như là biến mất trong nếp sống của cộng đồng người Nùng tại Đức Trọng Có thể thấy, khi xã hội

phát triển và điều kiện y tế được nâng cao, người ta không còn cần đến bùa – một vật

thể được phù phép – để giữ cho cơ thể khỏe mạnh nữa

Cùng xuất hiện với bùa và chú trong các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng của đồng bào người Nùng còn có một loại văn bản gọi là sớ Tuy nhiên, sớ không phải là một loại hình của chú ngữ Đứng trên phương diện văn hóa, sớ là văn bản chuyển tải

chú ngữ nhằm để báo cáo, thông truyền với tổ tiên hay các đấng thần linh, trình bày lại một sự việc hay thể hiện một nguyện vọng thỉnh cầu nào đó Nếu như hai loại hình của

chú ngữ vừa nêu ở trên là chú và bùa được làm phép dưới hình thức niệm hoặc yếm,

tức là một cách thức thể hiện ngôn ngữ bằng âm thanh, dù rằng đó là loại thanh âm hình thành trong tưởng tượng của người hành nghề cúng bái chứ không phát ra tiếng

thực sự, thì sớ được thể hiện một cách trực tiếp bằng những văn tự cụ thể thông qua hình thức viết tay Sớ thường được các “thầy” viết bằng thể chữ Nôm Nùng, dùng bút

lông mực đen viết trên các trang giấy Trong các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng,

không giống như chú, sớ được các “thầy” đọc ra tiếng Vào cuối năm, đồng bào người

Nùng thường có tập tục tổ chức lễ Khao tổ Trong lễ này, người ta sẽ mời “thầy” xem

ngày, chọn ngày tốt để tổ chức và viết sớ Sau đó, đúng ngày đã chọn, “thầy” sẽ được mời đến nhà làm lễ cúng và dâng sớ cầu bình an Tùy theo các nghi thức cúng bái

trong những dịp khác nhau hoặc tùy vào những vị thần linh khác nhau mà có những

loại sớ tương ứng khác nhau Chúng ta có thể biết đến một số loại sớ như: sớ Công Đức, sớ Tam Giới Chiêu Hồn Sứ Giả, sớ Bí Giải Độ,… Có thể thấy rằng, so với bùa hoặc chú, sớ được sử dụng phổ biến hơn trong các thông tục hoặc nghi thức tín

Trang 38

ngưỡng Xuất phát từ quan niệm phàm làm việc gì cũng phải báo cáo với tổ tiên và các

đấng thần linh, người ta cảm thấy viết sớ trình lên là một điều vô cùng cần thiết Điều

này thể hiện sự kính trọng của đồng bào người Nùng đối với thần linh và tổ tiên mà họ thờ phụng

Hình 2.2 Sớ viết tên người chết trong lễ mãn tang (Nguồn: tác giả)

Nói đến chú ngữ, không thể không đề cập đến một loại hình văn bản gọi là kinh sách Kinh sách cũng là một phần của chú ngữ nhưng không được nhóm tác giả xếp chung vào hệ thống chú ngữ Bởi vì kinh sách không phải là một loại hình của chú ngữ Kinh sách thực chất chính là những bản ghi chép từ xa xưa, ghi lại cách thức tổ chức

các nghi lễ cúng bái và cả cách làm ra bùa, các câu chú hay các bản sớ Chữ Nôm

Nùng chính là loại văn tự được dùng trong các bản kinh sách này Xét trên phương diện ngôn ngữ học và lịch sử học, kinh sách chính là những bản lưu giữ một thể loại văn tự của đồng bào người Nùng từ thời xa xưa, có giá trị trong nghiên cứu lịch sử hình thành tộc người Nùng trong các mối quan hệ với các dân tộc khác như dân tộc Tày của Việt Nam, dân tộc Choang của Trung Quốc hoặc dân tộc Hoa gốc Quảng Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Nhìn từ phương diện văn hóa, kinh sách

Trang 39

35

đã lưu giữ được cho hậu thế những phong tục tập quán, các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng từ nghìn xưa của cha ông Hệ thống chú ngữ, trải qua bao thăng trầm của lịch

sử, đã tồn tại và truyền lưu đến ngày nay chính là nhờ vào các bản kinh sách đó

Như thế, kinh sách chính là một hình thức lưu truyền của chú ngữ Nói đến điều này không thể không đề cập đến việc truyền lưu các tri thức của những người hành nghề tín ngưỡng Từ xa xưa, trong cộng đồng dân tộc Nùng đã hình thành sự phân chia giàu nghèo giữa các tầng lớp xã hội Không phải ai cũng có thể được học hành, được biết cái chữ Chỉ có những gia đình giàu có mới có đủ điều kiện mời thầy về dạy chữ cho con em mình Chữ Nôm Nùng chính là được truyền dạy dưới hình thức này Đồng bào người Nùng ngày trước cho rằng, học chữ là vì muốn làm “thầy”, và chỉ những người hành nghề tín ngưỡng mới cần học chữ Chữ ở đây chính là chữ Nôm Nùng, thể loại chữ được ghi chép trong các bản kinh sách Học biết chữ để có thể đọc hiểu các bản kinh sách, đọc hiểu các bản kinh sách thì mới có thể làm “thầy” Cũng không có gì đáng ngạc nhiên lắm khi mà đội ngũ các vị chức sắc hành nghề tín ngưỡng từ xa xưa luôn xuất thân trong những gia đình khá giả, giàu có

Đến ngày nay, cũng chỉ có đội ngũ những người hành nghề làm “thầy” mới biết đọc và viết chữ Nôm Nùng, và cũng chỉ những người “đệ tử” muốn làm “thầy” mới

Hình 2.3 Chữ Nôm Nùng trong kinh sách của đồng bào người Nùng (Nguồn: tác giả)

Trang 40

học loại chữ này Tuy nhiên, tiếng Nùng thì vẫn duy trì và tương đối phổ biến trong đồng bào Đến nay, trong cộng đồng người Nùng tại Liên Nghĩa vẫn còn những gia đình giao tiếp với nhau bằng tiếng Nùng Như vậy, việc học chữ Nôm Nùng chỉ là việc dành cho đội ngũ các vị chức sắc hành nghề tín ngưỡng Điều này từ trước đến nay không có gì thay đổi Đó chính là lí do vì sao những bản kinh sách này cũng chỉ có các

“thầy” mới đọc hiểu Và như một lẽ tất nhiên, những tri thức về hệ thống chú ngữ nằm trong các bản kinh sách quý báu kia cũng chỉ có những người hành nghề làm “thầy” mới biết

Kinh sách ở đây không hoàn toàn giống như các pho kinh trong Phật giáo, cũng không phải chỉ được tụng niệm trong các nghi lễ như các loại hình sinh hoạt tín ngưỡng thường thấy ở người Kinh Như đã nói ở trên, kinh sách còn là những bản ghi chép lại các phong tục tập quán, các thông tục nghi lễ của đồng bào người Nùng Đó là

lí do tại sao đội ngũ những người hành nghề tín ngưỡng là những người nắm rõ nhất việc tổ chức các nghi lễ cúng bái của đồng bào người Nùng Đồng thời, trong các bản

kinh sách này còn ghi chép lại cách thức làm ra bùa, trong những trường hợp thỉnh cầu nào thì dùng vật thể gì làm bùa là phù hợp, cách thức lập đàn làm phép ra sao và phải niệm chú gì Hiển nhiên, các câu chú cũng được ghi chép rõ ràng trong kinh sách, chú nào dùng để yếm bùa, chú nào dùng để gọi hồn, chú nào dùng để thỉnh thần hoặc triệu tập quan binh,… Theo lời của bác Vy Nhật Phong, các loại sớ trong các nghi lễ cúng

bái cũng chính là chép từ trong các bản kinh sách này mà ra

Trải qua thăng trầm cùng năm tháng, kinh sách được truyền lưu qua các thế hệ đội ngũ chức sắc hành nghề tín ngưỡng dưới hình thức các bản chép tay Những bản kinh sách còn tồn tại đến nay mà nhóm tác giả có dịp được tiếp xúc qua đều là những bản chép tay của các “thầy” chứ không phải bản nguyên gốc của thuở ban sơ nữa Nói cách khác, sao chép các bản kinh sách chính là một trong những hình thức lưu truyền của hệ thống chú ngữ trong cộng đồng người Nùng

Ngoài ra, truyền miệng cũng là một hình thức lưu truyền của chú ngữ Đội ngũ những vị chức sắc hành nghề tín ngưỡng, trải qua quá trình học nghề từ “đệ tử” trở

thành “thầy”, đã truyền lưu cho nhau cách thức niệm chú, yếm bùa hay viết sớ Thế

nhưng, hình thức này chỉ phần nào lưu truyền một số thủ thuật hoặc kinh nghiệm về chú ngữ chứ không thể nào truyền tải hết toàn bộ một hệ thống đồ sộ các dạng chú ngữ với những loại hình khác nhau Tất cả vẫn phải dựa vào kinh sách, bởi kinh sách là bản

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w